1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triều Lý với sự khởi lập nền giáo dục nho học Việt Nam.PDF

12 217 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 4,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà sử học Lê Văn Hưu nói: “Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng 8 chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu: chùa quán ở các lộ và độ

Trang 1

"tt VN _ TRIEU LY VOI SU KHOI LAP

NEN GIAO DUC NHO HOC VIET NAM

Dé Thi Huong Thao"

Nho giáo du nhập vào Việt Nam thời Bac thuộc trong mưu

đồ đồng hoá dân tộc Việt của phong kiến Trung Quốc Nhiều quan

lại Trung Quốc tham gia vào mở mang việc học ở Việt Nam như: Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp Thời Đường, hai anh em Khương Công Phục, Khương Công Phụ đã đỗ kỳ thi Tiến sĩ tại

Trường An và được bổ làm quan tại triều đình Việc học mới dừng

lại ở phạm vi nhỏ hẹp là đào tạo những người giúp việc cho chính

quyền cai trị Nho giáo bị coi là vũ khí của kẻ xâm lược nên chưa

tìm được chỗ đứng trong đời sống tư tưởng của nhân dân

Trong buổi đầu độc lập, các triều đại Ngô (939 - 944), Định (968 — 980), Tiền Lê (980 - 1009) phải dành nhiều thời gian cho việc củng cố chính quyền, chống lại các thế lực cát cứ, đuổi thù trong giặc ngoài và cũng do thời gian trị vì quá ngắn (từ 5 đến khoảng 30 năm) nên không có điều kiện tổ chức các hoạt động

giáo dục, thi cử >

Nam 1009, triéu Ly thanh lap, mở đầu cho thời kỳ độc lập tự

chủ lâu dài của đất nước

Thời Lý, Phiật giáo được coi trọng Hầu hết những người nắm cương vị trọng yếu trong xã hội đều là các nhà sư, chùa chiển được xây dựng khắp nơi Năm 1014, triều đình phát 310 lạng vàng trong

` Ths Trung tâm Văn Miếu - Quốc Tử Giám

382

Trang 2

th đớn chuông treo ở chùa Thiên Hưng Năm 1035, xuống

phát 6.000 cân đồng để đúc chuông ở chùa Trùng Quang

1041, xuống chiếu phát 7.560 cân đồng trong kho để đúc

tượng Phật Di Lặc và 2 vị Bỏ Tát để ở viện Từ Thị Thiên Phúc

Nhà sử học Lê Tung nhận xét : “chùa Phật khắp trong thiên hạ, sư

sai chiém nửa số Ti

Các sử gia đời sau nhiều lần lên án việc nhà Lý sùng đạo

Phật và chưa quan tâm đến Nho Nhà sử học Lê Văn Hưu nói: “Lý

Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng 8 chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng

tu: chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở kinh

sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể "?

Qua 60 năm tớ tiễn phát triển xã hội, triều Lý nhận thấy

rằng, không thể hoàn toàn dựa vào những giáo lý của Phật giáo mà

cần phải có một học thuyết chính trị tư tưởng khác để có thể cai trị đất nước, xây dựng chế độ trung ương tập quyền Và không có

một học thuyết nào phù hợp hơn lúc bấy giờ là Nho giáo Việc

thành lập Văn Miếu năm 1070 là điểm mốc đầu tiên chứng tỏ Nhà nước chính thức sử dụng Nho giáo và để đến thời Lê, Nho giáo thực sự phát triển và ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội

Đại Việt sử ký toàn thư ghi: năm Canh Tuất, niên hiệu Thần

Vũ thứ 2, đời vua Lý Thánh Tông (1070): “Mùa thư, tháng Tám

làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế Hoàng thái tứ đến học

ở đây"©)

Văn Miếu là nơi thờ Khổng Tử, người sáng lập ra học thuyết _ Nho giáo Theo từ điển Từ nguyên của Trung Quốc: “Văn Miếu là miếu Khổng Tử Năm thứ 27 niên hiệu Khai Nguyên thời Đường

383

Trang 3

phong Khổng Tử là Văn Tuyên vương, gọi miếu Khổng Tử là y

Tuyén vuong miéu Tit thoi Nguyén, Minh vé sau phổ biến gọi là -

Van miéu’® Văn Miếu của nước ta cũng được gọi theo cách này | Muốn có nhân tài thì cần phải đào tạo, vì vậy Quốc Tử Giám

đã ra đời Theo sử liệu, “Quốc Tử Giám” lần đầu tiên xuất hiện

trong Đại Việt sử ký toàn thư là năm 1076: “cho quan viên văn

chức, người nào biết chữ vào Quốc Tử Giám”°' Khâm định Việt

sử thông giám cương mục chép năm 1076, “Lập nhà Quốc Tử Giám, tuyển trong các văn thần lấy những người có học bổ vào trong đó”,

Nếu theo Khám định Việt sử thông giám cương mục thì sau

khi xây dựng Văn Miếu năm 1070, triều Lý cho thành lập Quốc

Tử Giám, trường học cao cấp đầu tiên do Nhà nước thành lập

Theo Đại Việt sử ký toàn thư ghí chép thì có lẽ Quốc Tử Giám được xây dựng sớm hơn, năm 1076, chỉ là thời điểm triểu đình quyết định cho học trò vào học Tuy nhiên đến nay, nhiều người

vẫn lấy năm 1076 làm mốc khởi đầu cho sự phát triển của trường

Giám

Rõ ràng triều Lý đã có sự thay đổi trong nhận thức và đã có cái nhìn chiến lược cho sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam

Có lẽ các bộ sử cũ hoặc chép quá sơ lược hoặc đề cập đến sự

kiện này không rõ ràng nên đã c6 một số quan điểm chưa thống

nhất về niên đại ra đời của Văn Miếu - Quốc Tử Giám A.B

Pôliacốp, nhà sử học Nga trong tác phẩm Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X — XIV đã tỏ ý nghi ngờ về thời điểm thành lập

Văn Miếu vào thời Lý Những lý do mà ông đưa ra nổi lên một số vấn để như sau: Ông cho rằng tất tả các vua Lý đều là những môn

đồ nhiệt thành của đạo Phật, không hiểu biết những quy định kinh điển của Nho giáo Trong triểu đình, không có một Nho thần cao

384

Trang 4

es có ảnh hưởng lớn và có những người ủng hộ để tiến hành

thui củ trên Việc Lê Văn Thịnh với âm mưu dùng phép phù đề! hoá hồ để mưu giết vua đoạt ngôi là điều Nho giáo luôn lên án vì đã không giữ trọn đạo vua tôi Văn Miếu xây dựng năm

1070, lúc đó hoàng thái tử, vua Lý Nhân Tông, mới 4 tuổi, khó có thể tín vào lứa tuổi đó hoàng thái tử đã có thể tiếp thu nổi những giáo lý cao siêu và khó hiểu của Nho giáo

Cũng theo ông, nhà sử học Lê Văn Huu (thé ky XIII) khong

hề có một lời bàn nói đến khởi đầu có tính khai sáng Nho giáo của

Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông Trong tác phẩm Lịch triều hiến

chương loại chí của Phan Huy Chú, có nhắc tới Văn Miếu nhưng

vào thời kỳ muộn hơn nhiêu (Thế ky XVI — XVII), không viết là Văn Miếu được xây dựng vào thế kỷ XI Trong Vi¿i sử lược, mục năm 1156, có nhấc đến việc xây dựng miếu Khổng Tử Ngô Sĩ Liên cũng chép sự kiện này Căn cứ vào thời điểm và tên gọi miếu, thì điều này có vẻ hợp lý hơn Thời đó các quan lại Nho học bắt đầu giữ những chức vụ cao cấp trong triều đình, còn việc gọi nhà tưởng niệm Khổng Tử là miếu Khổng Tử khi ấy cũng đang thịnh hành ở Trung Quốc Poliacốp cho rằng bản thân từ “Văn Miếu” chỉ xuất hiện ở Trung Quốc vào đâu thế kỷ XV Vì vậy, miếu Khổng Tử không thể mang tên gọi này ở Đại Việt vào thế kỷ XI

Từ đó, ông đưa ra giả thuyết hoặc việc xây dựng Văn Miếu vào thời Lý là sự nguy tạo để chứng minh ràng Việt Nam ngay từ đầu thời kỳ phục hưng đã là một quốc gia văn hiến theo chuẩn mực của Nho giáo, hoặc có thể dưới thời Lý Thánh Tông và Lý

Nhân Tông chỉ tuyên bố một cách hình thức về việc xây dựng miếu thờ Khổng Tử (nhwng dứt khoát không phải là Văn Miếu) Pôliacốp nghiêng nhiều theo giả thuyết thứ nhất

Việc Pôliacốp cho rằng từ “Văn Miếu” chỉ xuất hiện ở Trung Quốc vào đâu thế kỷ XV là không chính xác Trong định nghĩa về

385

Trang 5

Văn Miếu (đã trình bày ở phần trên) từ đời nhà Đường (H

gọi này phổ biến hơn vào thời Nguyên, Minh Pôliacốp p nhậi

về sự ra đời của miếu thờ Khổng Tử, tuy nhiên ông chỉ không cha

nhận tên gọi Văn Miếu và cho rằng đó là tên gọi của thời sau

gọi ngược lại cho nó Mọi lập luận mà ông nêu ra chỉ nhằm

mục đích là chứng minh tên gọi Văn Miếu ở thời điểm 1( 70 |

không chuẩn xác mà chỉ thừa nhận sự ra đời của Khổng Tử m

ve

Nếu đã có miếu thờ Khổng Tử do Nhà nước xây dựng có _

nghĩa là Nho giáo đã được chấp nhận và có vị trí nhất định re :

xã hội Việt Nam Hơn nữa, ngoài Văn Miếu xây dựng năm l

năm 1156, Tô Hiến Thành đã xin với vua cho lập miếu riêng

Khổng Tử ở phía nam thành Thăng Long Miếu này được sửa lại

vào năm Đại Định thứ 17 (1171) Sử thân Lê Tung đánh giá: “( Thánh Tông thương dân, coi trọng nghề nông , đặt khoa bác học, đặt quan bí các, làm nhà Minh Luân, sửa sang việc văn là bậc

va hiển vậy”U)

Như vậy, Nho giáo có mật tại Việt Nam từ thời Bắc thuộc,

nhưng phải đến thế kỷ XI mới được Nhà nước chính thức sử dụng

trong việc xây dựng và phát triển đất nước, đánh dấu bằng sự kiện

nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu —- Quốc Tử Giám

Khi đánh giá về sự kiện nàyŸcác sử gia tiêu biểu của thời kỳ

Nho giáo chiếm vị trí độc tôn đã nhận xét: “Họ Lý được nước, đến

đây là 5Š năm, mới bắt đầu thấy thờ tự Thánh hiền Chẳng phải là

coi trong đạo Phật trước rồi san mới đến Nho học đó w ?99: Hay

` quá sng đạo Phật, chưa thoát ra được cái hủ lậu theo thối `

cũ, đó là điều kém thôi *"' Có thể nói, những nhận xét của các nhà

sử học thời phong kiến là khá khát khe, bởi họ nhìn nhận ở vị trí, thời điểm khi Nho giáo đã thực sự phát triển, giữ vai trò độc tôn

386

Trang 6

: ha được đó chính là những tư tưởng đầu tiên đặt nền

lá 9 đục Nho học các giai đoạn sau phát triển

+ ys hus seul

_ „Từ ảnh hưởng, ng qua sự thống trị của Trung Quốc, Nho

giáo đã được người Việt Nam chấp nhận và sử dụng làm chỗ dựa

vững chắc trong việc xây dựng và củng cố chế độ trung ương tập

quyền Đây là sự lựa chọn có ý thức và đúng đắn của nhà Lý để

xây dựng thiết chế chính trị — xa hội cho đất nước Việc học hành

thi cir theo Nho học chính thức bát đâu từ đây

Tuy mới giành được độc lập, nhưng trong thời kỳ xây dựng

đất neat triều Lý đã nhận thức đúng đắn vai trò của giáo dục Nho

học và một trong những biện pháp lựa chọn nhân tài hiệu quả là

thông qua khoa cử

Trong lịch sử chế độ phong kiến, trước khi có chế độ khoa

cử, chế độ tiến cử tôn tại khá lâu dài Tức là việc sử dụng hay bãi miễn phụ thuộc chủ yếu vào người làm nhiệm vụ tiến cử và người

sử đụng (nhà vua) mà không phụ thuộc vào người được tiến cử Từ thời Đường về sau, khoa cử mới được sử dụng là chính, còn tiến cử

là phụ

Chỉ thông qua khoa cử, tuyển dụng nhân tài dựa vào ưu thế học thức mà không dựa vào thành phần xuất thân mới có thể thấy hết được tài năng còn tiềm ẩn trong các tầng lớp của xã hội Đúng

theo nghĩa của chữ khoa cử là: “phản biệt khoa mục, cử tuyển nhan tai”

Dưới thời Lý, các quy định về giáo duc khoa cử tuy chưa được đây đủ như thời Trần và hoàn bị như thời Lê nhưng lại là nền tảng cơ bản cho sự phát triển của giáo dục Việt Nam

Quốc Tử Giám thời Lý ban đầu là trường dành cho hoàng

thái tử đến học, đến thời Trần, Lê mới mở rộng cho con em quan

387

Trang 7

lại và con em thường dân tuấn tú vào học Quốc Tử Giám thời thực sự là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của nền học

nước nhà Với những ghi chép ngắn gọn, sơ lược của Đại Việt sit

ký toàn thư, chúng ta mới chỉ có thể khẳng định rằng Văn Miếu ~ Quốc Tử Giám được thành lập từ thời Lý, còn quy mô và cách thức hoạt động của nó như thế nào thì chưa biết được hột cái

£

Tuy nhiên, sự hoạt động và phát triển của Văn Miếu - Quốc

Tử Giám thời Lê đã giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về

chức năng, đóng góp của trường Giám thời Lý: “Đằng sau nhà

Thái học, dựng cửa Thái học, nhà Minh Luân Giảng đường phía

Đông và giảng đường phía Tây thì để làm chỗ giảng dạy các học sinh Lại đặt thêm kho bí thư để chứa ván gỗ đã khắc thành sách; bên Đông, bên Tây nhà Thái học làm nhà cho học sinh trong ba

xá, môi bên 3 dãy, môi dãy 25 gian, để làm chỗ nghỉ ngơi của

sinh; bên Đông, bên Tây đều có l' nhà bia, quy mô có phần rộng lớn khang trang lam”

Ngoài việc xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám, triểu Lý

còn tổ chức các khoa thi kén chọn nhân tài cho đất nước

Năm 1075, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu “thi Minh kinh bác học và Nho học tam trường” Đây là khoa thi đầu tiên trong

lịch sử khoa cử Việt Nam, người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh, người

làng Đông Cứu, huyện Gia Định nay thuộc tỉnh Bắc Ninh Khoa

cử Việt Nam bat dau tir day

Nam 1068, thời Lý Nhân Tông, tổ chức thi những người có

văn học trong nước, bổ vào Viện Hàn lâm Khoa này có Mạc Hiển Tích, viên tổ của Mạc Đĩnh Chi dé

388

Trang 8

Nam 1152, tổ chức thi Điện Theo Ngô Thì Sĩ: “Bấy giờ chưa

có thể thức thi cố định Có lẽ là xuống chiếu cử học trò trong nước, rồi đích thân vua hỏi thi ở điện đình”©')

_ Năm 1165, tổ chức thi Thái học sinh

'Năm 1185, thi sĩ nhân trong nước để bổ làm Ngự điện thi học

sĩ Người nào 10 tuổi thông Thi, Thư thì được bổ chọn Đỗ Thế Diên (Hưng Yên), Bùi Quốc Khái (Hải Dương), Đặng Nghiêm (Thái Bình) và 30 người khác đỗ trong kỳ thi này

Nam 1193, lay hoc trò vào nơi ngự học

Năm 1195, thi Tam giáo, Phật, Đạo, Lão

Dưới thời Lý, các khoa thi được tổ chức không theo một thời

gian hạn định, khoảng cách giữa các khoa thi thưa (15 đến 20

năm) Thậm chí trong 66 năm (từ 1086 đến 1152) không thấy sử sách ghi lại triều đình tổ chức một khoa thi nào Chỉ có 3 khoa thi được tổ chức vào các năm 1075, 1086 và 1 185, tên người đỗ được chép trong Đăng khoa lục Các kỳ thi không có thể thức nhất định, nội dung của các kỳ thi không thống nhất, gồm cả Phật giáo, Đạo

giáo, Lão giáo và Nho giáo

Thời Lý, quy chế về việc dùng người, điều mục tuy chưa đầy

đủ, rõ ràng nhưng điều quan trọng ở chỗ lấy khoa cử làm trọng,

mở đầu cho tư duy chọn người bằng phương pháp đào tạo và sử

dụng nhân tài thông qua thi cử Có thể mượn lời thông luận của sử

thần Ngô Thì Sĩ bàn để thấy vai trò, vị trí quan trọng của triều Lý

trong việc khởi lập nền giáo dục Nho học ở Việt Nam: “(Lý)

Thánh Tông sửa Văn Miếu để chấn hưng phong hoá đạo Nho, lại

còn làm đây đủ những điển lễ đời trước còn thiếu sót”°”' và “(Lý) Nhân Tông lại vì phép thì cử chưa đây đủ đã tuyển những người biết rõ về kinh điển để hâu hạ, chọn người có học thức vào Quốc

389

Trang 9

Tử, thì văn học sung vào Hàn lâm Tuy rằng điều lệ khoa hục chưa được hoàn bị bằng đời sau, nhưng về ý tốt trong bậc tìm hiển

tài, kén chọn kẻ sĩ thì cũng đủ để khen day” tO

So với các triều Đinh, Lê về trước, khi khoa cử cồn thiếu,

việc dùng người còn dựa vào hình thức tiến cử, thì việc tổ chức các

kỳ thi, xây dựng Văn Miếu thờ ông tổ của Nho giáo, mở trường

Nho học cao cấp của triều Lý là bước tiến vượt bậc, tạo ra sự chuyển biến quan trọng đối với lịch sử Việt Nam lah

Đối với các triều dai sau, sự lựa chọn của triều Lý là sự lựa chọn đúng đắn, tạo bước đệm cho sự phát triển hoàn thiện về sau

Như vậy triểu Lý là triều đại mở đầu cho thời kỳ độc lập lâu dài và cũng là triều đại mở đầu cho nền giáo dục khoa cử Việt Nam

Kế thừa tư tưởng của nhà Lý, triều Trần và đặc biệt là triều

Lê hết sức quan tâm đến việc giáo dục Nho học Nhà Trần cho xây dựng Quốc Tử Viện và Quốc Học Viện là nơi đành cho con em

quan lại và kẻ sĩ trong nước đến học tập Thời Lý chưa có đanh hiệu Tiến sĩ Năm 1246, triều Trần mới quy định cứ 7 năm thi Tiến sĩ một lần Năm 1247, đặt danh hiệu Tam khôi (Trạng

nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) Thời Lê, khoa thi Tiến sĩ rút xuống 3 năm tổ chức một lần, các khoa thi Hội, thi Đình tổ chức

đều đặn, quy định về giáo dục khoa cử được bổ sung và dần hoàn thiện, bởi triều đình nhận thức được rằng: “hán tài với quốc gia

quan hệ rất lớn Tất có đào tạo, sau mới có nhân tài, tất có cắt

đặt trong nước mới không sót người hiển"“"*° Cùng với thời gian, chế độ khoa cử Việt Nam ngày càng phát triển và hoàn thiện

Khó có thể phủ nhận được vai trò và ảnh hưởng to lớn của

Nho giáo, Nho học đối với nền văn hoá Việt Nam trong suốt thời

kỳ phong kiến Từ khoa thi đầu tiên 1075, đời Lý cho đến khoa thi

Hôi cuối cùng dưới triều vua Khải Định, 1919, kết thúc chế độ thí

Trang 10

x -

cử theo Nho học, cả nước có 2898 vị đỗ đại khoa những người

6 2898 vị Tiến sĩ chỉ là những người đỗ mà tên tuổi của họ còn ghi lại trong các sách Đăng khoa lục Số người đỗ Tú tài, Cử nhân và đi học thì rất nhiều, không thể tính hết Sự lựa chọn của triểu Lý đã đưa tới định hướng và sự phát triển nền giáo dục ở Việt

im Đó là lựa chọn nhân tài của đất nước thông qua khoa cử

Mã nở Thing trái hiện đầu tiên là việc cho xây dựng Văn

- Miếu - Quốc Tử Giám, nơi thờ ông tổ của đạo Nho và trường đào

tạo nhân tài cao cấp của Nhà nước Đúng như nhà sử học Phan

Huy Chú đã viết: “Con đường tìm đến người tài giỏi, trước hết là

khoa mục Phàm muốn thu hút người tài năng tuấn kiệt vào trong phạm vì của mình, thì người làm vua một nước không thể nào

không có khoa cử"0?

ấT lai

391

Ngày đăng: 16/03/2015, 18:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w