1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận vấn đề giảng viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học việt nam nói chung và hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập nói riêng

32 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề giảng viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam nói chung và hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập nói riêng
Tác giả Trần Công Bình, Nguyễn Trung Cang, Nguyễn Ngọc Bảo Châu, Vũ Hoàng Lan Chi, Nguyễn Thành Công, Dương Bảo Cường, Trần Cao Cường, Nguyễn Thị Anh Đào, Trần Tiến Đạt, Phan Thị Diễm, Đỗ Thị Ngọc Diệp, Vũ Thị Kim Liên, Trần Thị Thu Nhi, Nguyễn Thị Thu Thanh
Người hướng dẫn PGS. TS. Phạm Lan Hương
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân Văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo dục đại học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 381 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Chương II: Vấn đề Giảng viên, Sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học Việt N am nói chung và hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập nói riêng .... Giảng viên và sinh viên trong hệ

Trang 1

2 N guyễn Trung Cang

3 N guyễn Ngọc Bảo Châu

4 Vũ H oàng Lan Chi

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 03

Trang 3

MỤC LỤC

Chương I: Giới thiệu đề tài 1

Chương II: Vấn đề Giảng viên, Sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học Việt N am nói chung và hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập nói riêng 2

I Tình hình chung về giáo dục Đ ại học ở Việt Nam 2

1 Khái niệm giáo dục 2

2 Tình hình chung giáo dục Đ ại học ở Việt Nam 2

2.1 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất 1950 2

2.2 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2 1956 2

2.3 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 1979 2

2.4 Nền giáo dục nước nhà sau cải cách kinh tế - xã hội 1986: có những tay đổi đáng kể 3

2.5 Tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay 4

II Giảng viên và s inh viên trong hệ thống giáo dục đại học việt nam 6

1 Giảng viên 6

1.1 Số lượng giảng viên 6

1.2 Chất lư ợng giảng viên 8

2 Sinh viên 11

2.1 Một số đặc điểm của sinh viên 11

2.2 Số lượng sinh viên 12

2.3 Chất lư ợng s inh viên 13

III Giảng viên và sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập 15

1 Giảng viên 15

1.1 Số lượng giảng viên 15

Trang 4

1.2 Chất lư ợng giảng viên 17

2 Sinh viên 19

2.1 Số lượng s inh viên 19

2.2 Chất lư ợng s inh viên 21

Chương III: Giải pháp và kiến nghị 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 5

Chương I: Giới thiệu đề tài

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đầu tư nhiều hơn vào giáo dục, tương đương một phần trăm trong tổng sản phẩm quốc nội Tuy nhiên, Giáo dục Việt N am nói chung và đại học nói riêng đang được xem là “thời đại khủng hoảng giáo dục” chính là do việc quản lý yếu kém chứ không phải do thiếu đầu tư

H ầu hết chúng ta đang có sự bất mãn đối với thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay, trong đó kể cả người có điều kiện kinh tế và chính trị cao hơn lẫn những người bình dân đại chúng N hiều trường đại học chỉ quan tâm đến chuyện làm sao để tuyển dụng được nhiều sinh viên nhất chứ không hề quan tâm đến rồi đây các cử nhân, kỹ sư

sẽ đi về đâu? Họ có thể tìm được công ăn việc làm không sau khi ra trường không?

N guyên nhân này đã dẫn đến tình trạng lao động trong nước “cằn cỗi” ảnh hưởng đến

sự phát triển của nước nhà

Đ ứng trước tình trạng trì trệ và lạc hậu của giáo dục làm cản trở sự tăng trưởng của nền kinh tế nước nhà, nhóm 3 lớp Nghiệp vụ sư phạm giảng viên khoá 19 quyết

định chọn đề tại: “Vấn đề Giảng viên, Sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học Việt

N am nói chung và hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập nói riêng” Trong đề tài

này, nhóm đi sâu tìm hiểu, phân tích và đưa ra giải pháp về tình trạng giáo dục đại học hiện nay tại Việt N am Trong đó, nhóm chú trọng phân tích về khía cạnh giảng viên và sinh viên trong các trường đại học ngoài công lập

Thông qua tiểu luận này, nhóm mong rằng sẽ đóng góp một phần ý tưởng về phát triển giáo dục đại học về mặt giảng viên và sinh viên hiện nay ở các trường trường đại học Việt N am nói chung và đại học ngoài công lập nói riêng

Trang 6

Chương II: Vấn đề Giảng viên, Sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học Việt

N am nói chung và hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập nói riêng

I Tình hình chung về giáo dục Đại học ở Việt N am

1 Khái niệm giáo dục

G iáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực N ghĩa là hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại

2 Tình hình chung giáo dục Đại học ở Việt Nam

2.1 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất 1950

Tháng 7/1950 bản đề án cải cách giáo dục đã được Hội đồng chính phủ thông qua Bản đề án mới đã nêu rõ: Nền giáo dục mới phải là nền giáo dục của dân, do dân

và vì dân, được thiết kế trên nguyên tắc “ Dân tộc, khoa học và đại chúng” Mục tiêu của giáo dục là giáo dục thế hệ trẻ thành những công dân trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, có phẩm chất, nghị lực phục vụ kháng chiến, phục vụ đất nước Cơ cấu nhà trường cải cách gồm hệ thống phổ thông 9 năm và hệ thống giáo dục bình dân, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục cao đẳng và đại học

2.2 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2 1956

Sau ngày giải phóng 1954, Miền Bắc có hai hệ thống giáo dục phổ thông cùng tồn tại: hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm do ta xây dựng và hệ thống giáo dục 12 năm ở vùng mới giải phóng do Pháp để lại Vì vậy tháng 3/1956, Chính phủ đã thông qua đề án cải cách giáo dục lần thứ 2 Mục tiêu của lần này là: đào tạo, bồi dưỡng thế

hệ trẻ thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt, cán bộ tốt trung thành với nhà nước Về hệ thống giáo dục, hình thành hệ thống giáo dục 10 năm gồm

3 cấp và giáo dục – đào tạo chuyên nghiệp

2.3 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 1979

Trang 7

Trong điều kiện đất nước đã thống nhất, cùng đi lên xã hội chủ nghĩa, với nhận thức giáo dục là “nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, là cơ sở ban đầu rất trọng yếu trong sự phát triển con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa,” ngày 11/01/1979, Bộ Chính trị Trung ương Đ ảng đã ra Nghị quyết số 14/N Q-

TW về cải cách giáo dục lần thứ ba, trong đó tập trung cải cách cả cơ cấu hệ thống giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục Cuộc cải cách này nhằm mục đích thống nhất hai hệ thống giáo dục tồn tại ở hai miền Bắc - Nam (hệ thống giáo dục 10 năm của miền Bắc và hệ 12 năm của miền Nam) trong thời kỳ 1954-1975 và từng bước phổ cập giáo dục trong toàn dân (thông qua chương trình giáo dục liên tục cho trẻ em và bổ túc văn hóa cho người lớn) Đ ể thực hiện cuộc cải cách này, trước hết đòi hỏi nỗ lực xây dựng trường sở, giáo trình, phương tiện sư phạm cần thiết để kéo dài cấp tiểu học thêm 1 năm và cấp THCS thêm 1 năm đối với hàng triệu học sinh miền Bắc Trong điều kiện thiếu thốn chung của nền kinh tế đất nước, việc đầu tư thực hiện cuộc cải cách hệ thống giáo dục đã khiến chất lượng giáo dục giảm sút trong suốt thập niên 80 của thế kỷ X X, những dấu hiệu khủng hoảng giáo dục xuất hiện với tình trạng

bỏ học gia tăng, vị thế xã hội và kinh tế của người giáo viên sa sút…

2.4 Nền giáo dục nước nhà sau cải cách kinh tế - xã hội 1986: có những tay đổi đáng kể

Thay đổi trong cách nhìn nhận vai trò của giáo dục - đào tạo Quan niệm “giáo dục như một bộ phận của cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa” đã được thay thế bởi cách hiểu “đầu tư cho giáo dục là nguồn đầu tư cho phát triển” Trong Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” (Hội nghị lần thứ tư của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tháng 01/1993), Đảng và N hà nước đã khẳng định quan điểm: “G iáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ được xem là quốc sách hàng đầu Coi đầu tư cho giáo dục, đào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển”

Chính sách xã hội hóa giáo dục Khi nền kinh tế nhiều thành phần ra đời và chế

độ “bao cấp” dần bị xóa bỏ, thì vai trò độc quyền của nhà nước trong cung cấp các dịch vụ y tế và giáo dục dần dần giảm bớt, đồng thời các dịch vụ này không còn miễn

Trang 8

phí Thông qua Nghị quyết số 90/CP ngày 21/08/1997 về phương hướng và chủ trương

xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, Nhà nước khuyến khích mở rộng nhiều hình thức giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các loại trường, lớp bán công, dân lập, tư thục tại thành phố, thị xã, thị trấn và những vùng có kinh tế thuận lợi Chính sách đã thành công, thể hiện ở việc ra đời ngày càng nhiều trường tư thục, dân lập, từ mầm non đến đại học, làm giảm sức ép cho giáo dục công lập trong khi ngân sách nhà nước còn rất eo hẹp

H ệ thống giáo dục quốc dân N ghị định số 90/CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ là văn bản đầu tiên thể chế hóa các quy định về hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống bằng cấp và chứng chỉ cho giáo dục - đào tạo ở Việt N am trong thời kỳ đổi mới

Đ ặc biệt, Luật Giáo dục đã được Quốc hội thông qua ngày 11/12/1998, trở thành bộ luật đầu tiên quy định cụ thể về hoạt động giáo dục của Việt Nam, tạo ra khung khổ pháp lý cho hoạt động giáo dục của Việt N am

Từ những năm 2000 trở lại đây quy mô giáo dục Đ H và sau ĐH đã tăng đáng

kể N ăm học 2003-2004 có hơn 1.032.000 sinh viên, gần 33.000 học viên cao học và nghiên cứu sinh H àng năm, số sinh viên từ khu vực nông thôn, miền núi đều chiếm khoảng 70% tổng số tuyển mới

2.5 Tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay

G iáo dục đại học đóng vai trò quan trọng là nhân tố làm thúc đẩy nền kinh tế, văn hoá, khoa học và xã hội phát triển H iện nay, Việt Nam cũng đang chú trọng phát triển Giáo dục đại học, các trường đại học đã được lập ra ngày càng nhiều ở các vùng miền của đất nước nhằm đáp ứng nhu cầu của sinh viên Tuy nhiên, sự quản lý yếu kém của bộ máy quản lý nhà nước trong giáo dục đã dẫn đến tình trạng “bạo phát bạo tàn”, số lượng trường tăng lên nhưng chất lượng giáo dục lại giảm xuống Chúng ta có thể hình dung giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục Đại học nói riêng hiện nay được xem là “lạm phát giáo dục” Khi nền kinh tế Việt N am lún sâu vào trạng thái đình lạm (hoạt động sản xuât- kinh doanh đình đốn trong bối cảnh lạm phát vẫn tăng cao), ngành giáo dục đại học cũng đã đi xuống Chúng ta khó có thể xác định được phong trào đóng cửa ngành học đã bắt đầu từ đâu, nhưng điều chắc chắn là phong trào

Trang 9

này đang lan rộng ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc Chẳng hạn, tại miền Trung là trường hợp của Đại học Đà Nẵng (đóng ngành kinh tế chính trị và thống kê tin học)

Đ ại học Phạm Văn Đồng (đóng ngành tài chính ngân hàng) Tại Tp.H CM , với số lượng hơn nửa triệu sinh viên và thuộc loại cao nhất nước về sức cầu học tập cũng có một số trường đóng cửa ngành học như Đại học Văn Hiến, Đại học Hùng Vương

N gay cả một trường công lập có bề dày truyền thống như Đại học N ông lâm cũng đã tuyên bố có thể phải đóng cửa nhóm ngành cơ khí, nông nghiệp Ở khu vực phía Bắc,

Đ ại học Chu Văn An tại Hưng Yên cũng không phải là ngoại lệ Hiện tượng đóng cửa ngành học nói lên điều gì? N hững trường hợp nêu trên chỉ mang tính minh họa, trong khi còn khá nhiều trường đại học cũng lâm vào tình trạng như thế Q ua đó cho thấy, trường Đ ại học tăng lên trong khi lượng thí sinh tăng không đáng kể, hoặc chủ trương đại học hóa các trường cao đẳng đã dẫn đến tình trạng mạng lưới bị thừa và lẫn lộn…Cung tăng trong khi cầu không thỏa mãn được cung, một quy luật tự nhiên mà giáo dục đại học không được xem là ngoại lệ Thậm chí trong những năm tới tình hình tuyển sinh của khối đại học ngoài công lập còn bi đát hơn hiện thời

Cùng với hiện tượng đóng cửa ngành học của nhiều trường đại học, vào tháng 10/2011, Nam Định đã trở thành tỉnh đầu tiên khi chính quyền của địa phương này công khai thông báo không tuyển dụng công chức là những người tốt nghiệp đại học dân lập, tư thục hay tại chức X in lưu ý, tính chất dân lập hay tư thục là như nhau ở Việt Nam, được nhìn nhận chung là trường ngoài công lập

Đ ây cũng là lần đầu tiên văn bằng của khối trường ngoài công lập bị xúc phạm đến như vậy Sự xúc phạm này ngay lập tức đã làm dấy lên một làn sóng phản đối từ phía hội đồng quản trị và ban giám hiệu của nhiều trường đại học dân lập Hiểu theo nghĩa thông thường, hành động của chính quyền tỉnh Nam Định không khác gì một sự phân biệt đối xử trên phương diện xã hội học

N hưng ở một góc cạnh khác, người ta lại nhận ra rằng đã đến lúc gióng lên tiếng “chuông gọi hồn ai” về thực trạng đào tạo tại nhiều trường đại học ngoài công lập Khởi đầu của “đường dây giáo dục phí” dẫn đến Bộ G iáo dục và Đào tạo cũng là logic cho sự tiếp nối về cách làm ăn ẩu tả của nhiều trường đại học ngoài công lập

Trang 10

H oàn toàn không khác với trường ngoài công lập, ngay các trường cao đẳng công lập được “nâng cấp” thành đại học và trường trung cấp phát triển thành cao đẳng, cũng rơi vào tình trạng bình mới rượu cũ H iển nhiên, giáo dục là một trong những lĩnh vực được chú trọng về lượng hơn là chất ở Việt Nam trong vài chục năm qua, dẫn đến hậu quả là từ năm 2000 đến năm 2011, trong khi số lượng trường đại học từ 69 trường tăng đến trên 160 trường, thì lượng giáo viên được chuẩn đào tạo công nhận vẫn chỉ gần như một hằng số

Còn về chất, có thể lấy sự so sánh giữa hoạt động giáo dục đại học ở Việt N am với Thái Lan trong giai đoạn 2007-2008 như một bằng chứng Vào thời gian đó, số trường đại học ở Việt N am đã vào khoảng 150 trường, so với chỉ 112 trường ở Thái Lan Tuy nhiên, người Thái lại có đến 14.000 tiến sĩ, 35.000 thạc sĩ, trong khi người Việt chỉ có 5.600 tiến sĩ và 15.000 thạc sĩ

Thế nhưng tiêu chí so sánh thực chất nhất chính là số bài báo khoa học trên tập san quốc tế giữa hai quốc gia: ngành giáo dục Việt N am chỉ có 959 bài, trong khi các nhà khoa học Thái có đến 4.527 bài, tức gấp gần 5 lần

N hư vậy, chỉ cần so sánh với một trường hợp phát triển trung bình như Thái Lan, đã có thể thấy thực chất ngành giáo dục Việt Nam ra sao khi số lượng trường đại học nhiều hơn hẳn, nhưng chất lượng đào tạo lại kém hơn hẳn

II Giảng viên và sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học việt nam

1 Giảng viên

M ột trong những yếu tố hàng đầu tạo nên chất lượng đào tạo của một trường đại học là số lượng và chất lượng hàng ngũ giảng viên Ở đây, số lượng rất quan trọng, nhưng chất lượng (hay cơ cấu thành phần - phần trăm tiến sĩ, giáo sư …) còn quan trọng hơn

1.1 Số lượng giảng viên

Theo số liệu thống kê của Bộ GD &Đ T thì số lượng giảng viên tăng lên rất nhiều trong những năm gần đây Vào năm 1987 số lượng giảng viên cả nước là 20.212 người Vào tháng 8/2008, cả nước có khoảng 52.000 giảng viên Đ ến tháng 6/2012 số

Trang 11

lượng giảng viên cả nước tăng lên đến 77.500 giảng viên Lượng giảng viên tăng lên này góp phần không nhỏ vào công tác giáo dục đào tạo của nước ta hiện nay

Số lượng giảng viên tăng lên rất nhiều trong vài năm trở lại đây là bởi vì số lượng các trường đại học, cao đẳng thành lập một cách ồ ạt Và để đáp ứng nhu cầu về đội ngũ giảng dạy vì vậy họ phải tuyển một lượng lớn giảng viên Theo thống kê của ngành giáo dục, trong hai năm 2006-2007 có 39 trường được thành lập, bình quân mỗi năm gần 20 trường Trong 4 năm, từ 2008 đến 2011, có 45 trường được thành lập, bình quân mỗi năm là 11 Còn trong 5 năm, từ năm 2006 đến 2011, có 84 trường mới thành lập, nâng cấp 51 trường (chiếm 61%), thành lập mới 33 trường (39%) H iện nay, Việt

N am có 440 trường đại học, cao đẳng, trong đó, có 77 trường ngoài công lập

Bên cạnh đó, các trường đại học, cao đẳng muốn có lực lượng kế thừa để thay thế lượng giảng viên về hưu, cũng như là đáp ứng việc mở ngành mới, tăng số lượng tuyển sinh Họ đã và đang thực hiện áp dụng chính sách giữ lại các sinh viên tốt nghiệp loại khá giỏi làm giảng viên Mặt khác, một số trường đại học, cao đẳng có các chính sách ưu đãi để thu hút nhân tài từ nguồn sinh viên du học nước ngoài

Tuy nhiên, so với tốc độ phát triển của các trường đại học và cao đẳng như hiện nay thì lượng giảng viên đang thiếu hụt một cách trầm trọng

Theo quy định mới của Bộ Giáo dục & Đ ào tạo (GD&ĐT), các trường đại học phải dựa vào tiêu chí: Đội ngũ giảng viên cơ hữu (chính thức) của trường phải đạt từ

25 sinh viên/giảng viên N ếu xét đúng như tiêu chí trên thì sẽ có rất nhiều trường phải tạm ngưng tuyển sinh vì hiện nay đa số các trường đại học đều có tỷ lệ giảng viên/sinh viên khá thấp ĐH D L N goại ngữ tin học TP H CM : 47,3 SV/GV, Đ H Tây Đô: 44,2 SV/G V, ĐH M ở TP HCM : 41,2 SV/GV, Đ H Hồng Bàng: 40,2 SV/GV…;

N hư vậy, số sinh viên trên một giảng viên SV/GV trung bình là 28 Với nhiều trường ngoài công lập, con số này chắc chắn còn cao hơn nhiều, đó là chưa kể sự sai lệch bởi những con số ảo trong những báo cáo hoặc thuyết minh xin thành lập trường mới, ngành mới

Trang 12

M ột mặt số trường, lớp, ngành nghề đào tạo và nhu cầu lực lượng giảng viên tăng lên vùn vụt Mặt khác số lượng giảng viên nói chung hoặc giảng viên có trình độ cao (cử nhân khá giỏi, tiến sĩ và giáo sư) lại tăng lên chậm chạp Theo N ghị quyết 14-2005/NQ -CP, ngoài một số trường phải đạt đẳng cấp quốc tế với tỉ lệ SV/GV không quá 20, đến năm 2010 có ít nhất 40% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ và 25% đạt trình

độ tiến sĩ Và đến năm 2020, chỉ tiêu này cao hơn với ít nhất 60% giảng viên đạt trình

độ thạc sĩ và 35% đạt trình độ tiến sĩ

1.2 Chất lượng giảng viên

Chất lượng đội ngũ giảng viên đại học được thể hiện chủ yếu qua chất lượng hoạt động giảng dạy và chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên

Liên quan đến hoạt động giảng dạy, thực trạng hiện nay cho thấy có tình trạng quá tải giờ dạy của đội ngũ đội ngũ giảng viên do việc thành lập ồ ạt các cơ sở giáo dục đại học cùng với sự gia tăng nhanh chóng về quy mô đào tạo trong khi số lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy không tăng kịp theo tốc độ tăng quy mô Thực tế này diễn ra phổ biến, đặc biệt là đối với giảng viên những môn chung như triết học, ngoại ngữ, kinh tế chính trị… và giảng viên nhóm ngành hấp dẫn như công nghệ thông tin, ngân hàng, tài chính kế toán Có những giảng viên dạy 1.000 tiết/năm trong khi quy định là

260 tiết/năm D o thiếu giảng viên, nhiều trường buộc phải sử dụng giáo viên thỉnh giảng từ các trường Đ H, CĐ khác nên việc giảng viên “chạy sô” là chuyện không còn hiếm

Trong khi đó, công tác nghiên cứu khoa học chưa được chú trọng; nội dung công tác nghiên cứu khoa học không có chất lượng, hiệu quả, không có tính thực tiễn

và khả năng ứng dụng mà chỉ nhằm đối phó hoặc để chấm điểm bình xét thi đua, xét phong danh hiệu

Công bố công trình khoa học trên tạp chí quốc tế ngày càng được quan tâm và chấp nhận như một tiêu chí đánh giá khách quan chất lượng nghiên cứu khoa học Công bố quốc tế của Việt N am được chia thành hai loại tùy theo tác giả đầu mối (coresponding author) trong nước hay nước ngoài Loại thứ nhất, gọi là công bố quốc

Trang 13

tế do nội lực, được trích dẫn ít hơn hẳn so với loại thứ hai Bài báo do nội lực liên quan trực tiếp đến đầu vào và đầu ra trong nghiên cứu khoa học, do đó có thể dùng làm cơ

sở để đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học và giúp hình dung cấu trúc các ngành khoa học nước nhà hiện nay Để biết khoa học và đại học Việt Nam đang ở đâu, dưới đây sẽ so sánh công bố quốc tế của một số trường đại học hàng đầu ở Việt Nam với Thái Lan

N ăng suất nghiên cứu khoa học tính bằng số bài báo quốc tế trên một triệu dân được dùng để so sánh các nước về mặt số lượng Về chất lượng có thể dựa trên số lần trích dẫn trung bình các bài báo công bố năm 2004

D ựa vào bảng 1 ta thấy, năng suất nghiên cứu khoa học công bố quốc tế của các nước tăng đều hằng năm theo cấp số nhân Việt N am, Thái Lan và Malaysia tăng trưởng khá nhanh, 16% hàng năm Tuy nhiên, số công trình Việt Nam vẫn luôn kém Thái Lan 6,5 lần, Malaysia 9,5 lần

Bảng 1 Tổng số bài báo quốc tế và tốc độ tăng trưởng của 11 nước và vùng lãnh

thổ Đông Á trong hai năm 2002 và 2007

Nguồn: ISIKOWLEDG E ( http://db.vista.gov.vn/ ) cập nhật ngày 30/10/2008

Trang 14

Việt Nam 324 691 16

Về cơ cấu, tỉ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên chiếm chưa tới 50% tổng

số giảng viên đại học, trong đó trình độ tiến sĩ chiếm 10,16% (giảm so với thời điểm năm 1997) và chỉ có 3,74% giảng viên có chức danh Phó Giáo sư, G iáo sư Con số này còn quá thấp so với mục tiêu của Bộ G iáo dục và Đ ào tạo đề ra là đến năm 2020 phải đạt ít nhất 35% giảng viên có trình độ tiến sĩ Đ ội ngũ giảng viên đại học có trình độ cao, đặc biệt là các Phó Giáo sư, G iáo sư có độ tuổi trung bình khá cao, phân bố tập trung chủ yếu ở một số trường đại học lớn tại các khu vực trung tâm

Theo thống kê của Bộ G D-Đ T, tổng số giảng viên đại học, cao đẳng ở nước ta đến nay là 77.500 người, trong đó giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư chiếm

tỷ lệ 3,5%; giảng viên có trình độ tiến sĩ chiếm tỷ lệ khoảng 10% và giảng viên có trình độ thạc sĩ chiếm tỷ lệ khoảng 40% Như vậy còn khoảng 50% giảng viên ở các

cơ sở giáo dục đại học (GD ĐH ) chưa có bằng Tiến sĩ, Thạc sĩ Vì vậy nếu qui định cứng trong Luật G DĐ H là giảng viên Đ H phải có trình độ Thạc sĩ trở lên thì khi Luật

có hiệu lực sẽ có khoảng 50% số cán bộ giảng dạy hiện nay không được dạy, đồng nghĩa với việc giảm 50% qui mô đào tạo

Từ năm 1976 đến hết năm 2013, sau 37 năm, tổng số GS, PG S đã được công nhận ở nước ta là 10.453, trong đó có 1.569 GS và 8.884 PGS, nhiều người đã mất và

về hưu Theo thống kê của Bộ G D-ĐT, đến năm 2012, tính tỉ lệ bình quân cả nước chỉ

có xấp xỉ 1 GS hoặc PG S trên 2 vạn dân, không quá 5% giảng viên ĐH là GS hoặc PGS và 560 (nếu kể cả G V thỉnh giảng nữa thì khoảng 300) sinh viên trên 1 G S hoặc PGS

G S.TS N gô Văn Lệ cho biết: “Muốn có được chất lượng tốt trong đào tạo thì phải xây dựng được một đội ngũ giảng viên đảm bảo cả về chất lượng, số lượng và cơ

sở vật chất phục vụ đào tạo cũng phải đáp ứng đúng nhu cầu Tuy nhiên, hiện nay số

Trang 15

người có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ lại chiếm tỷ lệ rất thấp nên buộc các trường phải sử dụng giảng viên có trình độ đại học để dạy đại học”

2 S inh viên

2.1 Một số đặc điểm của sinh viên

Sinh viên là một nhóm xã hội đặc biệt, đang tiếp thu những kiến thức, kỹ năng chuyên môn ở các trường cao đẳng, đại học để chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường

M ỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu sự chi phối của hoạt động chủ đạo Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên - sinh viên là sự phát triển tự ý thức Nhờ có tự ý thức phát triển, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Chẳng hạn sinh viên đang học ở các trường cao đẳng, đại học sư phạm, họ nhận thức rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của nghề nghiệp, qua đó họ sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lên lớp, thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học N hờ khả năng tự đánh giá phát triển mà sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương pháp học tập của họ

Ở sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Sinh viên là những trí thức tương lai, ở các

em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt H ọc tập ở đại học là cơ hội tốt để sinh viên được trải nghiệm bản thân, vì thế, sinh viên rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang

bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình

M ột đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của sinh viên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp - một động lực giúp họ học tập một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn

Trang 16

Sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách thức giáo dục khác nhau, không phải bất cứ sinh viên nào cũng được phát triển tối ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản thân mỗi sinh viên Bên cạnh đó, sự quan tâm đúng mực của gia đình, phương pháp giáo dục phù hợp từ nhà trường sẽ góp phần phát huy ưu điểm

và khắc phục những hạn chế về mặt tâm lý của sinh viên

Bên cạnh những mặt tích cực trên đây, mặc dù là những người có trình độ nhất định, sinh viên không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên Đó là

sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi những cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hoá của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới, kể cả văn hoá phương Đ ông và phương Tây Việc học tập, tiếp thu những tinh hoa, văn hoá của các nền văn hoá khác là cần thiết Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do đó, sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hoá không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợi cho bản thân họ

Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song,

do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới N hững yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên

2.2 Số lượng sinh viên

Theo thống kê của Bộ G D-Đ T, năm học 2011-2012, cả nước có 2.204.313 sinh viên, tăng 2% so với năm học trước và giảm 3,5 lần so với mức tăng quy mô đào tạo

Ngày đăng: 03/07/2014, 15:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phạm Lan Hương, “Giáo dục hội nhập quốc tế”, N XB Đ ại học Quốc gia Tp.HCM , năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hội nhập quốc tế
[2]. Ths. Đ ỗ Thị Hòa, “Chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ngoài công lập”, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ngoài công lập
Tác giả: Ths. Đ ỗ Thị Hòa
Năm: 2009
[3]. Phạm D uy Hiển, “Khoa học và đại học Việt Nam qua những công bố quốc tế gần đây”, báo tia sáng online, ngày 10/11/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và đại học Việt Nam qua những công bố quốc tế gần đây
[4]. Bài: “Số lượng giảng viên nhiều trường ĐH quá thấp ”, w ebsite: kenhtuyensinh.vn, ngày 04/05/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số lượng giảng viên nhiều trường ĐH quá thấp
[5]. ThS. Lê Thị Phương Nam, ThS. H oàng Văn Lợi, “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học giai đoạn 2010- 2015”, website Viện nghiên cứu lập pháp, ngày 09/06/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học giai đoạn 2010- 2015
[6]. Hồng H ạnh, “Giải quyết bài toán 50% giảng viên chưa có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ”, báo dân trí online, ngày 13/06/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết bài toán 50% giảng viên chưa có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ
[7]. Đan Nguyên, “Giảng viên đại học vừa m ỏng, vừa yếu”, báo tin tức online, ngày 26/06/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng viên đại học vừa m ỏng, vừa yếu
[8]. Bài: " Khủng hoảng giáo dục Đ ại học Việt Nam", báo giáo dục việt nam online, ngày 08/09/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng giáo dục Đ ại học Việt Nam
[9]. An Hoàng, “Vì sao sinh viên chê đại học ngoài công lập?”, w ebsite: new s.zing.vn, ngày 27/09/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sao sinh viên chê đại học ngoài công lập
[10]. Bài: “Trường Đ ại học dân lập thấp thỏm xét tuyển”, w ebsite: kenhtuyensinh.vn, ngày 28/09/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đ ại học dân lập thấp thỏm xét tuyển
[11]. Khánh An, “Tuyển sinh 2013: Trường ngoài công lập ế hàn g”, w ebsite: petrotimes.vn,ngày 10/11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển sinh 2013: Trường ngoài công lập ế hàn"g
[12]. Chi Mai, “Những thống kê thú vị về giáo sư Việt Nam”, báo vietnamnet online, ngày 18/11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thống kê thú vị về giáo sư Việt Nam

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1. Tổng  số bài báo  quốc  tế và tốc  độ  tăng  trưởng  của  11 nước và  vùng  lãnh - Tiểu luận vấn đề giảng viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học việt nam nói chung và hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập nói riêng
ng 1. Tổng số bài báo quốc tế và tốc độ tăng trưởng của 11 nước và vùng lãnh (Trang 13)
Bảng  2: Cơ cấu  giảng viên  cơ  hữu và  giảng viên  thỉnh giảng - Tiểu luận vấn đề giảng viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học việt nam nói chung và hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập nói riêng
ng 2: Cơ cấu giảng viên cơ hữu và giảng viên thỉnh giảng (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w