ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN QUANG GIAO XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC CÁC MÔN CHUYÊN NGÀNH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ CHUYÊN NGÀNH:
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN QUANG GIAO
XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC CÁC MÔN CHUYÊN NGÀNH
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 62 14 05 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 GS TS Nguyễn Đức Chính
2 PGS TS Bùi Văn Quân
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN QUANG GIAO
XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC CÁC MÔN CHUYÊN NGÀNH
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Quang Giao
Trang 5Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng hệ thống đảm bảo chất
lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở trường Đại học
1.3.3 Cấp độ quản lý chất lượng phù hợp với điều kiện
thực tiễn của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
1.6 Hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn
chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
65
1.6.1 Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong trường đại
học
65
1.6.2 Hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học
các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN
69
Trang 6Chương 2: Thực trạng đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các
môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ và kinh nghiệm
2.3 Khái quát về tổ chức khảo sát thực trạng ĐBCL QTDH các
môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
2.5 Khảo sát ý kiến về cấp độ QLCL phù hợp với điều kiện các
trường Đại học Ngoại ngữ hiện nay
108
Trang 72.5.1 Cấp độ QLCL phù hợp với điều kiện các trường
Đại học Ngoại ngữ hiện nay
Chương 3: Hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các
môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
128
3.1 Các định hướng về xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng
bên trong trường đại học
128
3.2 Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng
QTDH các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
131
3.2.4 Đảm bảo kết hợp hài hòa lợi ích của các bên 133 3.3 Xây dựng hệ thống ĐBCL QTDH và qui trình dạy học các
môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
133
3.3.1 Các bước xây dựng và vận hành hệ thống ĐBCL
QTDH các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN
133
3.3.2 Xây dựng qui trình dạy học các môn chuyên ngành
ở trường Đại học Ngoại ngữ
157
3.4 Trưng cầu ý kiến về hệ thống ĐBCL QTDH các môn 172
Trang 83.4.1 Mục đích trưng cầu ý kiến 172 3.4.2 Lựa chọn đối tượng được trưng cầu ý kiến 173
3.5 Thử nghiệm qui trình dạy học các môn chuyên ngành ở
trường Đại học Ngoại ngữ - ĐH Đà Nẵng
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng cấp độ QLCL các trường Đại học Ngoại
ngữ áp dụng quản lý QTDH các môn chuyên ngành 90
Bảng 2.2 Thực trạng ĐBCL chương trình giáo dục và tài liệu
chuyên môn ở các trường Đại học Ngoại ngữ 93
Bảng 2.3 Thực trạng ĐBCL quá trình dạy học các môn chuyên
Bảng 2.4
Đánh giá của CBQL, GV các trường ĐHNN về thực trạng thực hiện qui trình dạy học các môn chuyên ngành ở các trường Đại học Ngoại ngữ
101
Bảng 2.5
Đánh giá của SV các trường ĐHNN về thực trạng thực hiện qui trình dạy học các môn chuyên ngành của giảng viên các trường Đại học Ngoại ngữ
103
Bảng 2.6 Cấp độ quản lý chất lượng phù hợp với điều kiện của
134
Bảng 3.2
Đánh giá tính cấp thiết và khả thi các bước xây dựng và vận hành hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
174
Trang 11Bảng 3.3
Đánh giá thứ tự các bước xây dựng và vận hành hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
175
Bảng 3.4
Đánh giá tính cấp thiết và khả thi của hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
Trang 12Mối quan hệ giữa các môn thực hành tiếng với các môn
lý thuyết tiếng và văn hóa - văn học trong việc hình
thành khả năng giao tiếp của SV trường ĐHNN
chuyên ngành ở các trường Đại học Ngoại ngữ 107
Hình 3.1 Sơ đồ các lĩnh vực cần quản lý của hệ thống ĐBCL
Hình 3.2 Qui trình xây dựng chương trình giáo dục 139 Hình 3.3 Qui trình biên soạn tài liệu chuyên môn 140
Hình 3.5
Đánh giá chất lượng giờ giảng học phần Phiên dịch 1
Lớp 07CNA08, Khoa tiếng Anh, Trường ĐHNN - ĐH
Đà Nẵng
181
Trang 13MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Giáo dục từ lâu là đòn bẩy của sự phát triển nền kinh tế quốc gia,
và là niềm hy vọng thay đổi số phận của hàng triệu con người trên thế giới Trong đó, GDĐH luôn đóng một vai trò quan trọng bởi lẽ chính GDĐH đóng góp phần lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước với phẩm chất đạo đức tốt, giỏi về chuyên môn, nhạy bén, giàu óc sáng tạo,
có đủ năng lực bắt kịp với tốc độ hội nhập và phát triển của thế giới Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là phát triển GDĐH Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư, Ban chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người" [52] Đồng thời “Giáo dục và đào tạo là một trong 3 lĩnh vực then chốt cần đột phá để làm chuyển động tình hình kinh tế - xã hội, tạo bước chuyển mạnh nguồn nhân lực” [15]
Chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng GDĐH nói riêng được xem là một trong những yếu tố quan trọng vào bậc nhất thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước và luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của toàn xã hội Sản phẩm đào tạo của các trường ĐH quyết định gần như toàn bộ chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Nhiệm vụ cơ bản nhất trong mười nhiệm
vụ của trường ĐH được xác định là: “Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho người khác, có khả năng hợp tác bình
Trang 14đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [36]
Hiện nay, hơn bao giờ hết, chất lượng GDĐH ở Việt Nam đang là đề tài được mọi người quan tâm bởi các lý do: Số lượng các trường ĐH tăng nhanh trong vòng 5 năm trở lại đây do nhu cầu học ĐH ngày càng lớn dẫn đến mâu thuẫn cần được giải quyết giữa sự gia tăng số lượng các trường ĐH
và chất lượng sản phẩm đào tạo, đặc biệt là với các trường ĐH mới thành lập trong điều kiện nguồn lực còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, sự phân cấp quản
lý đối với các trường ĐH ngày càng lớn đòi hỏi các trường phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về chất lượng đào tạo của đơn vị Mặt khác, các SV và cha
mẹ SV đã tốn kém rất nhiều chi phí cho việc học của họ và con cái họ, vì vậy,
họ mong muốn nhận được một nền GD có chất lượng Hơn thế nữa, một câu hỏi đặt ra với các trường ĐH là liệu nhà trường có thể phân phối một chất lượng như nhau theo một cơ cấu chung hay không trong điều kiện các trường phải làm việc nhiều nhưng với một chi phí đầu tư thấp, cùng lúc đó chất lượng phải được đảm bảo, duy trì và cải tiến Việc trao đổi SV và hợp tác quốc tế đòi hỏi các trường ĐH phải hiểu biết về chất lượng của nhau Tuy trao đổi SV thường diễn ra giữa các nước, nhưng trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, rõ ràng là hiểu biết về chất lượng của các trường ĐH khác là vô cùng quan trọng
1.2 Ngày nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO), để tiến kịp tiến trình hội nhập quốc tế đòi hỏi thanh niên Việt Nam nói chung, SV Việt Nam nói riêng phải có trình độ học vấn cao, có năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, năng lực làm việc, có kỹ năng sống và đặc biệt phải sử dụng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ
Trang 15Trong môi trường hội nhập hiện nay, vai trò của ngoại ngữ trở nên hết sức cần thiết bởi giờ đây, nó không chỉ là phương tiện để giao lưu và thu nhận kiến thức mà còn là phương tiện để giới thiệu và quảng bá hình ảnh của đất nước Việt Nam ra thế giới Học tốt ngoại ngữ đồng nghĩa với việc bản thân
SV trang bị cho mình một lợi thế cạnh tranh to lớn
Đối với SV các trường Đại học ngoại ngữ, học tốt ngoại ngữ trong đó
cụ thể là học tốt các môn chuyên ngành, không những là quyền lợi thiết thực của bản thân, đảm bảo việc làm khi ra trường mà còn là nghĩa vụ nhằm góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước Học tốt các môn chuyên ngành có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành, sử dụng thành thạo các kỹ năng ngoại ngữ cũng như các phẩm chất của nhà nghiên cứu ngôn ngữ và được sử dụng trong suốt quá trình học tập, nghề nghiệp sau này của SV các trường ĐHNN Trong xu thế cạnh tranh đào tạo ngoại ngữ hiện nay, đối với các trường ĐHNN, việc đào tạo SV sử dụng thành thạo, lưu loát các kỹ năng ngoại ngữ, có năng lực nghiên cứu chuyên sâu về ngoại ngữ
SV theo học hay nói cách khác chất lượng QTDH các môn học chuyên ngành
là yếu tố quyết định thương hiệu, ảnh hưởng đến số lượng thí sinh đăng ký dự thi tuyển sinh cũng như chất lượng đầu vào của nhà trường Chính vì vậy, chất lượng QTDH các môn chuyên ngành có ý nghĩa thiết thực đồng thời đối với bản thân SV và các trường ĐHNN
1.3 Trên thực tế, chất lượng GD nói chung và chất lượng GDĐH nói riêng còn thấp, trong đó “Giáo dục và đào tạo chưa thực sự là quốc sách hàng đầu Chất lượng giáo dục còn thấp và không đồng đều giữa các vùng, miền; quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa; nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp, chưa chú trọng
Trang 16Đồng thời “ Chất lượng giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, hiệu quả giáo dục còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho
sự nghiệp phát triển đất nước " [92]
Đối với các trường Đại học Ngoại ngữ hiện nay, trên thực tế, chất lượng SV tốt nghiệp chưa đáp ứng được mục tiêu đào tạo của nhà trường cũng như nhu cầu của xã hội và nhà tuyển dụng Một trong những nguyên nhân chính khiến cho chất lượng đào tạo của các trường còn thấp là do những yếu kém trong công tác quản lý trong đó có quản lý chất lượng như nhận định của Bộ GD & ĐT trong báo cáo trình Quốc hội về Sự phát triển của hệ thống GDĐH, các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo “ Thực tế gần 30 năm chúng ta chưa thực sự quản lý được chất lượng GDĐH” [29]
Để nâng cao chất lượng GD, các trường ĐH cần phải có những đổi mới
cơ bản và toàn diện, trong đó “ Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân ” và “Xây dựng
và hoàn thiện các giải pháp ĐBCL và hệ thống kiểm định GDĐH " [38] Đồng thời, các trường ĐH cần “Có tổ chức ĐBCL GDĐH, bao gồm trung tâm hoặc bộ phận chuyên trách; có đội ngũ cán bộ có năng lực để triển khai các hoạt động đánh giá nhằm duy trì, nâng cao chất lượng các hoạt động của nhà trường” [12] Tại hội nghị Giáo dục đại học tổ chức vào tháng 11 năm 2001,
Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo đã khẳng định để sớm xây dựng được một nền GDĐH chất lượng cao ngang tầm khu vực và từng bước vươn dần tới trình độ quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hội nhập, Bộ GD & ĐT sẽ xây dựng và phát triển hệ thống ĐBCL theo chuẩn mực và tiêu chí quốc tế như một công cụ kiểm soát, đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo làm nòng cốt cho việc cải tiến dần dần và liên tục chất lượng trong mọi hoạt động trong từng cơ sở đào tạo và trong toàn ngành GD
Trang 17Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý chất lượng đào tạo song chưa có công trình nghiên cứu, luận án tiến sĩ nào đi sâu nghiên cứu
và vận dụng trong thực tiễn hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở các trường ĐH nói chung và các trường ĐHNN nói riêng
Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Đại học Ngoại ngữ, chúng tôi chọn đề
tài “Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ” để nghiên cứu
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về QLCL; hệ thống QLCL GDĐH, xây dựng hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ và bước đầu thử nghiệm quản lý QTDH các môn chuyên ngành ở Trường ĐHNN - ĐH Đà Nẵng theo cách tiếp cận QLCL
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình đào tạo cử nhân ngoại ngữ ở trường Đại học Ngoại ngữ
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống ĐBCL đối với QTDH các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Hiện nay, chất lượng QTDH các môn chuyên ngành ở các trường Đại học Ngoại ngữ do nhiều nguyên nhân chưa đáp ứng được mục tiêu đào tạo của nhà trường, nhu cầu của xã hội và nhà tuyển dụng Một trong những nguyên nhân chính khiến cho chất lượng QTDH các môn chuyên ngành ở các
Trang 18trường ĐHNN còn hạn chế là do những bất cập trong công tác quản lý, trong
đó có quản lý chất lượng
Nếu xây dựng và vận hành hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN theo lý thuyết ĐBCL có hướng đến một số thành tố của triết lý QLCL tổng thể phù hợp với điều kiện của các trường ĐHNN thì
có thể ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN, góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân ngoại ngữ của nhà trường
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về QLCL, hệ thống QLCL GDĐH
5.2 Đánh giá thực trạng ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở các trường ĐHNN
5.3 Đề xuất các bước xây dựng và vận hành hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN
5.4 Bước đầu thử nghiệm quản lý QTDH các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN theo cách tiếp cận QLCL
6 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
6.1 Về nội dung nghiên cứu
Vấn đề giải quyết của luận án chỉ đề cập ở cấp độ ĐBCL và bước đầu hướng đến một số thành tố đặc trưng của QLCL tổng thể phù hợp với QTDH các môn chuyên ngành cho SV hệ chính quy tập trung các trường ĐHNN
6.2 Về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu thực tiễn tại 3 trường ĐHNN trên toàn quốc, bao gồm: Trường ĐHNN - ĐHQG Hà Nội; Trường ĐHNN - ĐH Huế; Trường ĐHNN -
ĐH Đà Nẵng
Trang 197 NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
7.1 Xây dựng hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đào tạo và thương hiệu của các trường ĐHNN
7.2 Hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN được xây dựng và vận hành đảm bảo theo trình tự các bước: Xác định các lĩnh vực cần quản lý của hệ thống; Xây dựng qui trình cho từng lĩnh vực quản lý; Xây dựng chuẩn, tiêu chí đánh giá cho từng lĩnh vực quản lý; Vận hành hệ thống; Đánh giá hệ thống; Điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống
7.3 Chứng minh tính ưu việt của quản lý QTDH theo cách tiếp cận QLCL so với mô hình quản lý truyền thống theo chức năng
8 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
- Góp phần hệ thống hóa các quan điểm cơ bản về QLCL trong GDĐH
- Xây dựng hệ thống ĐBCL QTDH và bước đầu thử nghiệm quản lý QTDH các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN theo cách tiếp cận QLCL
- Hệ thống ĐBCL được đề xuất có thể ứng dụng trong các trường ĐHNN và các trường ĐH có đào tạo SV ngoại ngữ hệ chính quy tập trung nhằm ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân ngoại ngữ
9 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
9.1 Cơ sở phương pháp luận
9.1.1 Tiếp cận hệ thống
Theo cách tiếp cận này, hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học
Trang 20toàn diện nhiều mặt, nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái vận động
và phát triển, để xác định cấu trúc, các thành phần của hệ thống cũng như xác lập mối liên hệ giữa các thành phần trong hệ thống Đồng thời tìm ra quy luật vận hành của hệ thống và các tác động quản lý nhằm điều chỉnh, cải tiến, hoàn thiện hệ thống
9.1.2 Tiếp cận thực tiễn
Sử dụng cách tiếp cận này, khi nghiên cứu xây dựng hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN, luận án cần chú trọng đến yếu tố lịch sử, chính trị, truyền thống, văn hóa, điều kiện kinh tế - xã hội của giáo dục đào tạo, đặc biệt là đặc trưng của quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ, để làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN
9.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
9.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các tri thức chủ yếu trong các công trình nghiên cứu, các tác phẩm kinh điển đã có trong và ngoài nước, các văn kiện của Đảng và Nhà nước liên quan đến vấn đề chất lượng, đảm bảo chất lượng giáo dục đại học để xác định cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
9.2.2 Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế
Tổng kết các kinh nghiệm quốc tế về hệ thống ĐBCL cấp hệ thống và ở trường ĐH nhằm tham khảo và xác định thêm cơ sở để tiến hành xây dựng và vận hành hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
Trang 219.2.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
9.2.3.1 Điều tra khảo sát
Xây dựng phiếu hỏi để thu thập ý kiến của các đối tượng khảo sát (CBQL, GV, SV) về thực trạng ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở các trường Đại học Ngoại ngữ
Tiến hành khảo sát tại 3 trường ĐHNN trên toàn quốc: Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐH Huế, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐH Đà Nẵng
9.2.3.2 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các Nghị quyết, chiến lược phát triển, báo cáo tổng kết và phương hướng năm học trong các năm 2006 - 2009, Báo cáo tự đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục của các trường ĐHNN để có cơ sở đối sánh với thực trạng thông qua kết quả khảo sát Đồng thời nghiên cứu khung chương trình giáo dục của các ngành, danh mục tài liệu chuyên môn, kế hoạch dạy học của
GV, đề cương môn học, kế hoạch bài dạy của GV
9.2.3.3 Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành trao đổi với các GV, SV các trường ĐHNN để tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn của họ khi thực hiện qui trình dạy học các môn chuyên ngành, đồng thời những đánh giá của họ về thực trạng ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở các trường ĐHNN hiện nay nhằm thu thập những thông tin cần thiết bổ sung cho phương pháp điều tra khảo sát
9.2.3.4 Phương pháp chuyên gia
Tiến hành lấy ý kiến chuyên gia và các nhà quản lý thực tiễn (qua hội thảo, phỏng vấn, tọa đàm) về hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành
Trang 22các bước xây dựng và vận hành hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN
9.2.4 Nhóm các phương pháp xử lý thông tin
- Sử dụng một số công thức toán học áp dụng trong nghiên cứu giáo dục Phương pháp này được sử dụng với mục đích xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời để đánh giá mức độ tin cậy của phương pháp điều tra, phương pháp thử nghiệm
- Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu
- Sử dụng mô hình, sơ đồ, đồ thị
10 CẤU TRÖC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, luận án có 3 chương và phần kết luận, khuyến nghị
Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
Chương 2: Thực trạng đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ và kinh nghiệm quốc tế
Chương 3: Hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ
Trang 23Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG
QUÁ TRÌNH DẠY HỌC CÁC MÔN CHUYÊN NGÀNH
Chính vì vậy, chất lượng GD nói chung, chất lượng GDĐH nói riêng từ lâu đã là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà giáo, các nhà quản lý giáo dục trong và ngoài nước
* Ở nước ngoài, về mặt lý luận, đã có nhiều tác giả đề cập tới khái niệm chất lượng, chất lượng GDĐH, ĐBCL, hệ thống ĐBCL Chất lượng là khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường, và cách hiểu người này khác cách hiểu người kia Chất lượng được định nghĩa như một quá trình thanh tra mà ở đó mỗi một sản phẩm, hay một mẫu sản phẩm, được kiểm soát [142, tr.23] Định nghĩa khác, coi chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu [132, tr.60] Ngoài ra, chất lượng còn được hiểu theo nghĩa tương đối và nghĩa tuyệt
Trang 24mang ý nghĩa tuyệt đối, đề cập đến những thứ tuyệt hảo, hoàn mỹ Chất lượng hiểu theo nghĩa này chính là chất lượng cao, hay chất lượng cao nhất Ngược lại, quan niệm chất lượng theo nghĩa tương đối không xem chất lượng là thuộc tính của đồ vật hoặc dịch vụ mà là cái người ta gắn cho nó Chất lượng không được coi là cái đích mà nó được coi là phương tiện, theo đó sản phẩm hoặc dịch vụ được đánh giá [143]
Đối với chất lượng trong GDĐH, các nhà nghiên cứu phân ra ba trường phái lý thuyết: Lý thuyết về sự khan hiếm; lý thuyết về sự gia tăng giá trị và
lý thuyết về sứ mệnh và mục tiêu [dẫn theo 79, tr 44-45]
Trước tiên, trường phái lý thuyết về sự khan hiếm chứng minh chất lượng tuân thủ theo quy luật hình chóp Chất lượng chỉ có ở số lượng sản phẩm rất hạn chế và nó phụ thuộc vào: Chi phí, nguồn lực; quy mô của trường ĐH; sự tuyển chọn; sự công nhận trong phạm vi toàn quốc
Lý thuyết về sự gia tăng giá trị với Astin (1985) là đại diện cho rằng các trường ĐH có chất lượng cao tập trung vào làm tăng sự khác biệt về kiến thức, kỹ năng và thái độ của SV từ khi nhập trường đến khi ra trường
Đại diện của trường phái lý thuyết về sứ mệnh và mục tiêu Bogue và Saunders (1992) cho rằng "Chất lượng là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mạng và kết quả đạt được của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai" Đồng quan điểm này, Green (1994) trong định nghĩa trường ĐH chất lượng cao là "nơi tuyên bố sứ mệnh và mục tiêu đã chứa đựng ý nghĩa chất lượng và được thực hiện một cách có kết quả và hiệu quả"
Trong ba trường phái lý thuyết vừa nêu trên thì trường phái lý thuyết về
về sứ mệnh và mục tiêu có rất nhiều ưu điểm và được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ
Trang 25Luis Eduarda Gonzalez vào năm 1998 đã đưa ra mô hình kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục trong các trường ĐH Trong mô hình này, chất lượng được xem như một hệ thống gồm các khía cạnh gắn kết với nhau: Sự phù hợp; hiệu quả; nguồn lực; hiệu suất; sự công hiệu và quá trình Các khía cạnh này lại được xem xét trong tất cả các lĩnh vực của giáo dục: Sự phát triển học vấn nền tảng; chức năng dạy học; nghiên cứu và sáng tạo tri thức; dịch vụ và quản lý
Trong hai thập kỷ vừa qua, có nhiều thuyết ĐBCL GDĐH bắt đầu xuất hiện ở châu Âu và một vài thuyết trong số đó đã trở thành nổi tiếng trên thế giới Trước đây, mô hình kiểm soát chất lượng thường được sử dụng để kiểm tra chất lượng và mô hình này có nguồn gốc từ sản xuất hàng hóa Lý thuyết chủ đạo của hệ thống ĐBCL xuất phát từ lĩnh vực kinh doanh sau đó được đưa vào GD Hiện nay, các lý thuyết có liên quan đến ĐBCL như Tiêu chuẩn hóa quốc tế dành cho các cơ quan, tổ chức (ISO) xuất phát từ kinh doanh và công nghiệp đã được đưa vào GD, đặc biệt là GDĐH
ISO 9000 là bộ tiêu chuẩn về quản lý chất lượng được hình thành từ năm 1955 và được soát xét nhiều lần Đến nay, bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 được chính thức ban hành vào ngày 15 tháng 12 năm 2000, bao gồm 4 tiêu chuẩn cốt lõi với mục đích là đảm bảo cung cấp cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ không những đáp ứng được những nhu cầu đã đề ra mà còn cao hơn nữa là thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng trong tương lai
Hiện nay, một vài phiên bản của các mô hình ĐBCL đã xuất hiện như Giải thưởng chất lượng quốc gia Baldrige ở Hoa kỳ, các giải thưởng chất lượng ở Châu Âu hoặc một số nước khác như Giải thưởng chất lượng Deming (Nhật Bản); Giải thưởng chất lượng Hàn Quốc; Giải thưởng chất lượng
Trang 26Singapore; Giải thưởng chất lượng Philippines; Giải thưởng chất lượng Quốc
tế châu Á - Thái Bình Dương , đặc biệt có một số đã được áp dụng vào GD
Trong xu thế hội nhập và phát triển, chất lượng GDĐH không đơn thuần là vấn đề của riêng một quốc gia mà có tính khu vực và quốc tế Ngày
19 tháng 6 năm 1999, các Bộ trưởng Bộ Giáo dục của 29 quốc gia châu Âu đã họp tại Bologna (Ý) để ký Tuyên ngôn Bologna về tương lai GDĐH tại Châu
Âu, khởi đầu cho một quá trình cải cách rộng lớn và quan trọng trong lĩnh vực GDĐH Mục tiêu của các quốc gia này là làm thế nào đến 2010 thành lập được không gian GDĐH châu Âu trong đó GV, SV và những học viên đã tốt nghiệp có thể di chuyển dễ dàng từ nơi này sang nơi khác trong cộng đồng Điều này có nghĩa là quá trình và chất lượng đào tạo của họ phải được các quốc gia châu Âu công nhận
Trong các thập kỉ gần đây, các thay đổi chính đã diễn ra trong GDĐH phương Tây với tốc độ không thể lường trước được Các phong trào phát triển này đã đem lại sự thay đổi trong phương pháp dạy và học cũng như trong việc kiểm tra chất lượng các khóa học Chất lượng, khi xảy ra các thay đổi này, được xem là các vấn đề nổi bật ở các trường ĐH châu Âu Các trường ĐH đã
cố gắng xây dựng các cơ chế ĐBCL Có nhiều lí do khác giải thích cho khuynh hướng này, bao gồm cả các nhu cầu sau đây:
- Chứng minh cho công chúng và Chính phủ rằng các trường ĐH có thể cung cấp một nền giáo dục cao;
- Đảm bảo rằng chất lượng là xứng đáng với các kinh phí nhận được từ Chính phủ và các nhà hưởng lợi và SV là đối tượng chủ yếu;
- Thu hút cả SV địa phương và SV quốc tế;
- Cải tiến hình ảnh của các trường ĐH;
Trang 27- Tham gia vào khuynh hướng thị trường hóa GDĐH
Về mặt thực tiễn, trên thế giới hiện nay có nhiều tổ chức tham gia công tác KĐCL và ĐBCL GDĐH như: Tổ chức Mạng lưới đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAHE - Internatioanl Network of Quality Assurance in Hingher Education), Hiệp hội chất lượng các trường đại học Úc (AUQA - The Australian Universities Quality Agency), Hội đồng kiểm định giáo dục đại học (CHEA - Council for Higher Education Accreditation), UNESCO, SEAMEO, Hội liên hiệp châu Âu về đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học (ENQA), Mạng lưới Đảm bảo chất lượng ASEAN (AUN - ASEAN University Network), Mạng lưới Chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương (APQN - The Asia - Pacific Quality Network)
Trong các tổ chức kể trên, hai ĐHQG của Việt Nam là: ĐHQG Hà Nội
và ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh là thành viên tích cực của Mạng lưới đảm bảo chất lượng ASEAN
Mạng lưới đảm bảo chất lượng ASEAN được thành lập vào năm 1998
và ở cuộc họp lần thứ 16 vào tháng 11 - 2004 tại Campuchia, Hội đồng Quản trị AUN đã thông qua tài liệu “Hướng dẫn AUN - QA” được xem là một cẩm nang và tài liệu tham chiếu cho phong trào ĐBCL trong ASEAN [dẫn theo
49, tr.54] Trong tài liệu này đã đề cập đến các khái niệm về chất lượng, chất lượng trong GDĐH; ĐBCL; tự đánh giá của hệ thống ĐBCL bên trong trường ĐH; tự đánh giá ở cấp độ chương trình và cấp độ nhà trường cũng như đề cập đến các tiêu chí chất lượng [117]
Các vấn đề về ĐBCL GDĐH nói chung, hệ thống ĐBCL trường ĐH nói riêng được đề cập đến trong hầu hết các tài liệu của các tổ chức kiểm định chất lượng hoặc đảm bảo chất lượng trên thế giới: [117]; [118]; [127]; [136]
Trang 28Đề cập đến hệ thống ĐBCL cấp quốc gia khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tác giả Len M P trong bài viết “Đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học khu vực châu Á - Thái Bình Dương” cho rằng hầu hết các cơ quan ĐBCL quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đều do Nhà nước thành lập, được Nhà nước cấp kinh phí và chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ kiểm định [139, tr.14-16]
Cùng đề cập đến hệ thống đảm bảo chất lượng GDĐH của các nước nền kinh tế APEC, bài viết “Đẩy mạnh hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục đại học của các nước nền kinh tế APEC” đã khẳng định hệ thống ĐBCL GDĐH của các nước nền kinh tế APEC được hình thành bằng các cách khác nhau nhưng tựu trung lại có 4 con đường dẫn đến sự hình thành hệ thống ĐBCL của các nước ở khu vực này, bao gồm [118, tr 4-5]:
- Là một tổ chức của Chính phủ, có thể là một đơn vị của Bộ GD & ĐT;
- Là một đơn vị độc lập với Chính phủ, ví dụ như một nhóm các trường
Trang 29đào tạo và bằng cấp; Đánh giá SV; ĐBCL đội ngũ GV; Nguồn tài liệu học tập
và điều kiện hỗ trợ SV; Hệ thống thông tin; Công bố thông tin
Chất lượng của các chương trình và các khóa học ở ĐH đang thành vấn
đề chủ yếu để hệ thống giáo dục tồn tại Các hệ thống GD đang cạnh tranh và đòi hỏi của khách hàng (SV, nhà tuyển dụng ) ngày càng cao trước các thị trường khác nhau và nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Trong những trường ĐH, việc kiểm định các khóa học phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Chất lượng của giáo viên, các nguồn lực chuyên môn sẵn có dành cho SV và văn hóa cũng như kinh nghiệm chuyên môn mà SV có được trong quá trình học tập và nghiên cứu trong thời gian ĐH [dẫn theo 87, tr.2]
Bên cạnh đó, chính sách chất lượng cũng như các qui trình ĐBCL của các trường ĐH đều được đều công bố trên các trang web của đơn vị Trong tài liệu “Những hướng dẫn về đảm bảo chất lượng khóa học” được công bố trên trang web của Trường ĐH Công nghệ Queensland đã đề cập đến quá trình ĐBCL khóa học trong đó bao gồm các thành tố [152]: Thu thập dữ liệu; Phân tích dữ liệu và thu thập thêm dữ liệu; Thiết lập qui trình cải tiến khóa học bao gồm việc đánh giá sau khi sự cải tiến được thực hiện; Tiến hành sự cải tiến; Đánh giá sự cải tiến; Lập báo cáo; Bắt đầu qui trình mới
* Ở Việt Nam, vấn đề chất lượng và chất lượng GDĐH được sự quan tâm đông đảo các nhà giáo và các nhà khoa học giáo dục Đến nay đã có nhiều tác giả, các nhà khoa học đã nghiên cứu và xuất bản các giáo trình, các tài liệu tham khảo về chất lượng giáo dục nói chung, về chất lượng GDĐH nói riêng Có thể kể đến một số nghiên cứu về loại này của các tác giả: Nguyễn Đức Chính [41], [42], [43]; Trần Khánh Đức [54], [55]; Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo [62]; Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Quý Thanh (đồng chủ biên), Trịnh Ngọc Thạch, Lê Đức Ngọc, Nguyễn Công
Trang 30Khanh, Mai Thị Quỳnh Lan [78]; Phạm Thành Nghị [79]; Lê Đức Ngọc [82]; Các công trình này đã đề cập đến các khái niệm về chất lượng, chất lượng GDĐH và các cách tiếp cận khác nhau về chất lượng, trong đó các tác giả đều thống nhất khái niệm chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu
Trong cuốn sách “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học”, tác giả Nguyễn Đức Chính đã khái quát cơ sở lí luận khoa học về đánh giá và KĐCL GDĐH, những kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới và các nước phát triển trong khu vực về lĩnh vực đồng thời giới thiệu cho người đọc
Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện ĐBCL dùng cho các trường ĐH Việt Nam [41]
Ở cấp độ vĩ mô, Bộ GD & ĐT đã ban hành một số văn bản liên quan đến chất lượng GDĐH như: [12]; [13]; [18]; [19]; [20]; [21]; [25]; [29] Những văn bản trên thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với công tác KĐCL, ĐBCL với đòi hỏi việc thực hiện theo một qui trình khoa học, nghiêm túc “Xây dựng và củng cố hệ thống các đơn vị làm công tác đánh giá và KĐCL giáo dục tại các ĐH, học viện, trường ĐH, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, sở giáo dục và đào tạo Hướng dẫn các ĐH, học viện, trường ĐH, cao đẳng thành lập trung tâm (hoặc đơn vị chuyên trách trong phòng chuyên môn) về ĐBCL giáo dục, triển khai xây dựng hệ thống ĐBCL bên trong của nhà trường ” [20, tr.2-3]
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về mặt lí luận, nhiều công trình nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn của các nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý
đã được thực hiện công phu Các công trình nghiên cứu này đề cập công tác quản lý và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng GDĐH nói riêng [31]; [57]; [64]; [80]; [85]
Tác giả Nguyễn Hữu Châu trong Báo cáo tổng kết đề tài B2004 - CTGD (Hà Nội, 2006) “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và
Trang 31đánh giá chất lượng giáo dục” đã phân tích một số thành tố chất lượng GD, xác lập bộ tiêu chí và những chỉ số cơ bản đánh giá chất lượng GD của hệ thống GD và cơ sở GD cũng như sự phù hợp, cần thiết và khả năng đo lường của 2 bộ tiêu chí và chỉ số cơ bản đánh giá chất lượng giáo dục [31, tr.132-134]
Trong báo cáo tổng kết đề tài B2004 - CTGD (Tp Hồ Chí Minh, 2006),
“Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn từ nay đến năm 2010”, tác giả Bùi Mạnh Nhị và các cộng sự đã đề cập đến các mô hình ĐBCL của các quốc gia phát triển trên thế giới, kết quả khảo sát về đánh giá thực trạng chất lượng GDĐH ở Việt Nam hiện nay đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng GDĐH Việt Nam [85, tr.93-96]
Những nhà nghiên cứu giáo dục và quản lý giáo dục thực tiễn rất quan tâm đến vấn đề tìm kiếm và đề xuất mô hình ĐBCL bên trong các trường ĐH Tác giả Lê Văn Hảo trong báo cáo tổng kết đề tài B2002 - 33 - 18 (Nha Trang, 2004) “Xây dựng hệ thống ĐBCL đào tạo hệ đại học ở trường Đại học Thủy sản”, đã đề xuất mô hình ĐBCL đào tạo đáp ứng được những yêu cầu của GDĐH Việt Nam, vừa phù hợp với tình hình thực tế của Trường ĐH Thủy sản Nha Trang [57, tr.43-44]
Bắt đầu từ năm 2004, nhiều bài báo của các nhà quản lý, các nhà khoa học đăng tải trên các tạp chí giáo dục đã đề cập đến các mô hình QLCL, vấn
đề ĐBCL GDĐH ở Việt Nam [2]; [46]; [47]; [48]; [74]; [96]; [97]
Trong bài viết “ĐBCL giáo dục đại học: Sự vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam”, tác giả Phạm Xuân Thanh đã trình bày khái niệm chất lượng là
“sự phù hợp với mục tiêu” trên cơ sở phân tích các định nghĩa của các tác giả
và các tổ chức chất lượng trên thế giới Tác giả cũng đề cập đến các mô hình
Trang 32Tác giả Nguyễn Kim Dung trong bài viết “Bộ tiêu chuẩn KĐCL giáo dục đại học: Đánh giá đầu vào hay đầu ra?” trên cơ sở so sánh Bộ tiêu chuẩn kiểm định đang áp dụng tại Việt Nam với của một cơ quan KĐCL GDĐH của Hoa Kỳ đã đưa ra sự khác biệt đồng thời gợi ý cho sự phát triển của Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng GDĐH Việt Nam trong tương lai [47]
Bài viết “ĐBCL giáo dục đại học tại Việt Nam với yêu cầu hội nhập” của tác giả Vũ Thị Phương Anh đã tóm lược quan điểm chất lượng trong giáo dục ĐH Việt Nam qua các giai đoạn; đề cập đến hệ thống, cơ chế, các thành quả và vấn đề còn tồn tại của hoạt động ĐBCL GDĐH tại Việt Nam hiện nay, đồng thời chỉ rõ “Việc ĐBCL bên trong còn mang tính đối phó với yêu cầu bên ngoài chứ chưa phải là một nhu cầu từ bên trong với mục đích tự cải thiện” [2]
Nhiều cuộc Hội thảo bàn về chất lượng GDĐH, KĐCL, ĐBCL ở trường ĐH đã được thực hiện [5]; [6]; [24]; [26]; [27]; [28]; [49]; [114] Nhìn chung, nội dung các cuộc Hội thảo tập trung vào việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDĐH Việt Nam, đề cập đến công tác KĐCL, ĐBCL GD trường ĐH thông qua các bài học kinh nghiệm từ các nước tiên tiến trên thế giới và trong khu vực cũng như từ thực tiễn của công tác triển khai tự đánh giá của các trường ĐH
Tháng 3 năm 2006, Hội thảo “Đảm bảo chất lượng trong đổi mới giáo dục đại học” tổ chức tại ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút sự tham gia đông đảo của đội ngũ GV, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia về ĐBCL GDĐH của các trường ĐH, các viện nghiên cứu trong toàn quốc Các báo cáo bàn về “Chất lượng sản phẩm đào tạo của các trường đại học Việt Nam” (Bùi Mạnh Nhị), “Một số vấn đề lý luận về bảo đảm chất lượng đào tạo trong giáo dục đại học” (Lê Vinh Danh), “Kiểm định chất lượng trường đại học”
Trang 33(Nguyễn Thị Ngọc Lan), là những đóng góp có nhiều ý nghĩa Đồng thời các bài viết đề cập đến kinh nghiệm quốc tế trong ĐBCL GDĐH như: “Phong trào đảm bảo chất lượng ASEAN” (Nguyễn Hội Nghĩa), “Chất lượng giáo dục: Kinh nghiệm từ Úc” (Nguyễn Xuân Thu), “Chất lượng giáo dục đại học
và đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở Mỹ” (Trần Thị Bích Liễu), [49]
Nhằm hướng đến việc hình thành các tổ chức kiểm định độc lập trong thời gian tới, Viện nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm thành phố
Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Vai trò của các tổ chức kiểm định độc lập trong kiểm định chất lượng giáo dục đại học Việt Nam” [114] Các báo cáo tham luận tập trung trao đổi kinh nghiệm của các nước trong việc thành lập và duy trì các hiệp hội KĐCL độc lập cũng như vai trò của các cơ quan này trong hệ thống giáo dục quốc dân; sự cần thiết và vai trò của các cơ quan đánh giá chất lượng giáo dục độc lập và khả năng thành lập các cơ quan này ở Việt Nam, đồng thời đề cập đến vai trò của Cục Khảo thí
và Kiểm định chất lượng giáo dục trong thập kỷ đến và mối tương quan giữa các đơn vị giáo dục - đào tạo, các cơ quan quản lý và các cơ quan đánh giá chất lượng độc lập trong tương lai
Với mục đích hỗ trợ 5 trường ĐH ở Việt Nam bao gồm: ĐH Thái Nguyên, ĐH Vinh, ĐH Huế, ĐH Đà Nẵng và ĐH Cần Thơ thành lập Trung tâm ĐBCL; đồng thời hỗ trợ Bộ GD & ĐT phát triển sâu hơn hệ thống ĐBCL GDĐH, từ năm 2005 đến năm 2008, Dự án Profqim được Tổ chức Hà Lan NUFIC tài trợ đã được triển khai Tại Hội nghị tổng kết dự án Profqim “Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học ở Việt Nam: Các bài học kinh nghiệm
và con đường phía trước”, đã có nhiều tham luận trao đổi những “Lưu ý về các lựa chọn cơ bản trong việc thiết kế một cơ cấu quốc gia về ĐBCL GDĐH của Việt Nam” [145]; vấn đề “Việt Nam đang đứng giữa các câu đố về xếp
Trang 34phát triển của hệ thống ĐBCL tại Việt Nam và các bước khả thi tiếp theo” [149] Trong tham luận này, các tác giả đã phân tích khá kỹ các giai đoạn phát triển và các bước tiếp theo của hệ thống ĐBCL tại Việt Nam
Trong chương trình đào tạo sau ĐH chuyên ngành quản lý giáo dục, đã
có nhiều luận văn tốt nghiệp; luận án nghiên cứu về vấn đề chất lượng giảng dạy, chất lượng đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo ở trường ĐH [3]; [45]; [64]; [75]; [77]; [116]; Các đề tài tập trung vào các vấn đề: Xác định các yếu tố liên quan đến chất lượng đào tạo; Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo; Đo lường và đánh giá chất lượng đào tạo; Hệ thống quản lý chất lượng đào tạo; Mô hình quản lý chất lượng đào tạo theo quan điểm QLCL tổng thể; Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng quá trình dạy học các môn chuyên ngành, đặc biệt là các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ chưa được đề cập trong các luận văn của các học viên cao học cũng như các luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục
Tổng quan các nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Nghiên cứu về chất lượng GDĐH được triển khai ở nhiều bình diện khác nhau và đặc biệt được quan tâm trên bình diện quản lý giáo dục, quản lý
cơ sở đào tạo đại học
- Các nghiên cứu về chất lượng GDĐH tập trung chủ yếu vào các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDĐH, vấn đề KĐCL; QLCL đào tạo ở trường ĐH
- ĐBCL bên trong trường ĐH là vấn đề còn khá mới mẻ, việc nghiên cứu xây dựng hệ thống ĐBCL ở trường ĐH chưa được nghiên cứu đầy đủ và
có hệ thống
- Nhìn chung, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chất lượng, chất lượng GDĐH, QLCL GDĐH Song chưa có công
Trang 35trình nghiên cứu nào đề cập đến việc xây dựng hệ thống ĐBCL QTDH các môn chuyên ngành, đặc biệt là các môn chuyên ngành ở trường ĐHNN
1.2 CHẤT LƢỢNG
Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ thời cổ đại, tuy nhiên khái niệm chất lượng nói chung, chất lượng GDĐH nói riêng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi Nguyên nhân bắt nguồn từ nội hàm phức tạp của khái niệm “Chất lượng” với sự trừu tượng và tính đa diện,
đa chiều của khái niệm này Ví dụ, đối với cán bộ giảng dạy và SV thì ưu tiên của khái niệm chất lượng phải là ở quá trình đào tạo, là cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quá trình giảng dạy và học tập Còn đối với những người sử dụng lao động, ưu tiên về chất lượng của họ lại ở đầu ra, tức là ở trình độ, năng lực
và kiến thức của SV khi ra trường,
Do vậy không thể nói đến chất lượng như một khái niệm nhất thể, chất lượng cần được xác định kèm theo mục tiêu hay ý nghĩa của nó Điều này đặt
ra một yêu cầu phải xây dựng một hệ thống rõ ràng, mạch lạc các tiêu chí với những chỉ số được lượng hóa, nêu rõ các phương thức ĐBCL và QLCL sẽ được sử dụng trong và ngoài GDĐH với xu hướng tiếp cận dần với chuẩn của khu vực và thế giới Nói chung, khái niệm “chất lượng” được xem là “khó nắm bắt” và “khó có sức thuyết phục” [146, tr.7]
Chất lượng GDĐH được định nghĩa rất khác nhau tùy theo từng thời điểm và giữa những người quan tâm: Sinh viên, giảng viên, người sử dụng lao động, các tổ chức tài trợ và các cơ quan kiểm định [123, tr.44-49]; trong nhiều bối cảnh, nó còn phụ thuộc vào tình trạng phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước
Harvey và Green [133, tr.9-34] đề cập đến năm khía cạnh chất lượng
Trang 36- Chất lượng là sự vượt trội (hay sự xuất sắc);
- Chất lượng là sự hoàn hảo (kết quả hoàn thiện, không có sai sót);
- Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (đáp ứng nhu cầu của khách hàng);
- Chất lượng là sự đáng giá về đồng tiền (trên khía cạnh đáng giá để đầu tư);
- Chất lượng là sự chuyển đổi (sự chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác)
Ở Anh quốc, các khái niệm “chất lượng” và “đáng giá đồng tiền” đã trở thành những điểm trọng tâm của GDĐH Các khái niệm này và các nguyên tắc chất lượng được thể hiện rất rõ ràng trong các mục tiêu GDĐH của Chính phủ Bộ Thương mại và công nghiệp Anh quốc định nghĩa chất lượng trong quyển “Quản lý chất lượng tổng thể” như sau: “Chất lượng đơn giản là đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng” Ở Úc, một trong những định nghĩa về chất lượng GDĐH được nhiều người đồng ý nhất là: “một đánh giá về mức độ mục tiêu đạt được và các giá trị, sự xứng đáng với mức độ đạt được đó (Chất lượng) là sự đánh giá về mức độ đạt được của các đặc điểm mong muốn
từ các hoạt động và kết quả có được theo một số chuẩn mực và đối chiếu với một số các tiêu chí hay mục tiêu cụ thể nào đó” [dẫn theo 85, tr.23-24]
Ở Việt Nam, khái niệm “chất lượng” và các cách tiếp cận khác nhau về chất lượng được nhiều nhà nghiên cứu GD đề cập trong các ấn phẩm của mình [32, tr.5-9]; [41, tr.22-32]; [51, tr.30-31]; [62, tr.257-259]; [79, tr.31-41]; [82, tr.14-15]; Các định nghĩa về khái niệm chất lượng đều thể hiện
“chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu”
Trang 37Theo tác giả Nguyễn Đức Chính hiện nay trên thế giới có sáu quan điểm về chất lượng GDĐH như sau [41, tr.23-26]:
(1) Chất lượng được đánh giá “đầu vào”: Theo quan điểm này, một trường ĐH có chất lượng cao nếu tuyển được nhiều SV giỏi, có đội ngũ cán
bộ giảng dạy có uy tín, có cơ sở vật chất tốt và trang thiết bị hiện đại Tuy nhiên, theo quan điểm này, sẽ khó giải thích trường hợp một trường ĐH có nguồn lực dồi dào nhưng chỉ có những hoạt động đào tạo hạn chế; hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho SV một chương trình đào tạo hiệu quả
(2) Chất lượng được đánh giá “đầu ra”: Trường ĐH có chất lượng cao nếu đào tạo được nhiều SV tốt nghiệp giỏi, thực hiện được nhiều công trình khoa học có giá trị, nhiều khóa học thu hút người học Trên thực tế, quan điểm này chưa hoàn toàn phù hợp vì một trường có khả năng tiếp nhận các
SV xuất sắc, không có nghĩa là SV của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc Hơn thế nữa cách đánh giá đầu ra của các trường rất khác nhau
(3) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”: Trường ĐH có chất lượng cao nếu tạo được sự khác biệt lớn trong sự phát triển về trí tuệ và
cá nhân SV sau quá trình đào tạo tại trường Điểm hạn chế của quan điểm này
là khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó
(4) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”: Trường ĐH có chất lượng cao nếu có được đội ngũ cán bộ giảng dạy, các nhà khoa học có uy tín lớn Tuy nhiên điểm yếu của quan điểm này là ở chổ, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khi có
Trang 38xu hướng chuyên ngành hóa ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng
(5) Chất lượng được đánh giá bằng “văn hóa tổ chức riêng”: Trường
ĐH có chất lượng cao nếu có được một truyền thống tốt đẹp về hoạt động không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này được mượn từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực GDĐH
(6) Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm toán”: Trường ĐH có chất lượng cao nếu kết quả kiểm toán chất lượng cho thấy nhà trường có thu thập
đủ thông tin cần thiết và những người ra các quyết định có đủ thông tin cần thiết, sự hợp lý và hiệu quả của quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng Điểm yếu của quan điểm này là sẽ khó lý giải những trường hợp khi một cơ sở ĐH có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có thể có những quyết định chưa phải là tối ưu
Trên cơ sở phân tích sáu quan điểm nêu trên, tác giả Nguyễn Đức Chính nêu rõ “chất lượng là một khái niệm tương đối, động, đa chiều” và
“chất lượng là sự phù hợp với mục đích - hay đạt được các mục đích đề ra trước đó” [41, tr.29-32]
Trong văn bản Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường ĐH, Bộ Giáo dục & Đào tạo nêu rõ “chất lượng GD trường ĐH là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu GDĐH của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho
sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước” [19, tr.1]
Chất lượng GDĐH được quan niệm là sự phù hợp với mục tiêu của cơ
sở GDĐH; mà mục tiêu theo nghĩa rộng bao gồm sứ mạng (hay mục tiêu chung và dài hạn), mục đích, đối tượng và các đặc trưng khác của nhà trường
Trang 39Sứ mạng và mục tiêu GDĐH của một quốc gia nói chung được xác định là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo ở những trình độ nhất định
Sứ mạng trên của trường ĐH có thể không đổi; nhưng để đáp ứng được mục tiêu của GDĐH, chất lượng GDĐH phải là một khái niệm động, không thể bất biến do sự vận động không ngừng của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội của đất nước Tiến trình phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi ngày càng cao hơn về chất lượng nguồn nhân lực; do đó đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng GD là yêu cầu bắt buộc đối với một trường ĐH
Hơn thế nữa, trong giai đoạn hội nhập quốc tế toàn diện và sâu sắc, quan tâm và tập trung vào chất lượng là vấn đề sống còn của bất kì cơ sở đào tạo, dù đó là nhà trường phổ thông hay trường ĐH Bản chất của phong trào này là sự chuyển động từ ĐBCL tiến dần sang chất lượng thỏa mãn nhu cầu của “khách hàng” và thông qua “khách hàng” Sự chuyển động đó không phải xuất phát từ ĐBCL với một vài yếu tố của chất lượng thông qua “khách hàng”
mà chủ yếu từ khái niệm chất lượng thông qua “khách hàng” có sự hỗ trợ của ĐBCL Bởi do “khách hàng” hiện nay không chỉ đơn thuần mong chờ họ được cung ứng cái gì, mà được cung ứng như thế nào, bao giờ và ở đâu với những kỹ năng và con người cung ứng như thế nào Điều này làm thay đổi quan điểm về chất lượng, thay vì khái niệm do chuyên gia xác định, chuyển dần sang khái niệm trong đó vấn đề đáp ứng nhu cầu, kì vọng của “khách hàng” được ưu tiên hàng đầu
Đề cập đến cách tiếp cận chất lượng thông qua khách hàng, trước hết cần làm rõ khái niệm khách hàng Khách hàng được hiểu là toàn bộ những đối tượng có liên quan trực tiếp đòi hỏi về chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà tổ chức phải đáp ứng nhu cầu của họ Với cách nhìn nhận đó, khách hàng bao
Trang 40gồm khách hàng bên trong và khách hàng bên ngoài Khách hàng bên trong là toàn bộ mọi thành viên, mọi bộ phận trong tổ chức có tiêu dùng các sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp nội bộ của tổ chức Mỗi người vừa là người cung ứng vừa là người sản xuất, đồng thời là khách hàng Khách hàng bên ngoài là toàn
bộ những cá nhân, tổ chức có những đòi hỏi trực tiếp về chất lượng sản phẩm dịch vụ mà đơn vị phải đáp ứng
Đối với GD, “khách hàng” được hiểu theo nghĩa rộng nhất là những người sử dụng sản phẩm GD Như vậy, có khách hàng bên ngoài và khách hàng bên trong dịch vụ Theo đó, “khách hàng” bên ngoài của trường ĐH là nhà tuyển dụng; cha mẹ SV; SV tốt nghiệp “Khách hàng” bên trong là GV và
SV của nhà trường có mối liên hệ thông qua QTDH
Tóm lại, khái niệm chất lượng được trình bày ở trên theo 3 trường phái
lý thuyết: Lý thuyết về sự khan hiếm; lý thuyết về sự gia tăng giá trị và lý thuyết về sứ mệnh và mục tiêu Đồng thời khái niệm chất lượng còn được thể hiện với cách tiếp cận hướng tới thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
Từ những định nghĩa và phân tích nêu trên, chúng tôi quan niệm chất lượng là:
- Khái niệm tương đối, động, đa chiều;
- Phù hợp với mục tiêu và mục tiêu đó phải phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội;
- Thỏa mãn nhu cầu, kì vọng của khách hàng
Trên cơ sở khái niệm chất lượng được nêu ở trên, chất lượng quá trình dạy học được đề cập trong phạm vi luận án được hiểu là việc thực hiện đầy đủ nội dung các bước của qui trình dạy học và thường xuyên được điều chỉnh, cải tiến để phù hợp với mục tiêu dạy học