Hiện nay, cơ quan quản lý nhà nước về công nghệ Sở Khoa học và Công nghệ và cơ quan quản lý nhà nước về công nghiệp Sở Công thương của tỉnh Bạc Liêu chưa thực hiện việc đánh giá năng lực
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ SỐ: 60.34.04.12
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Xuân Quang
Hà Nội, 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 4
LỜI CẢM ƠN 5
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Mẫu khảo sát 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Phương pháp nghiên cứu 10
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 11
10 Kết cấu luận văn 12
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ 13
1.1 Dẫn nhập 13
1.2 Các khái niệm có liên quan đến đề tài 14
1.2.1 Khái niệm công nghệ 14
1.2.2 Năng lực công nghệ 18
1.2.2.1 Khái niệm năng lực 18
1.2.2.2 Khái niệm năng lực công nghệ 18
1.2.2.3 Phân loại năng lực công nghệ 21
1.2.2.4 Các yếu tố tác động đến năng lực công nghệ 21
1.2.3 Tiêu chí Đánh giá năng lực công nghệ 22
1.2.3.1 Tiêu chí là gì ? 22
1.2.3.2 Đánh giá là gì? 22
1.3.3.3 Đánh giá năng lực công nghệ 23
Kết luận Chương 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN 32
2.1 Tổng quan về DN CBTS tỉnh Bạc Liêu 32
2.2 Thực trạng đánh giá NLCN các DN CBTS 34
Trang 42.3 Kết quả khảo sát thực trạng NLCN các DN CBTS 36
Kết luận Chương 2 50
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NLCN DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TỈNH BẠC LIÊU 51
3.1 Xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 51
3.1.1 Tính cấp thiết phải hình thành hệ thống tiêu chí đánh giá 50
3.1.2 Nguyên tắc xây dựng 51
3.1.3 Cấu trúc của hệ thống tiêu chí đánh giá 52
3.1.4 Điều kiện áp dụng 52
3.1.5 Các nội dung cần đánh giá 52
3.2 Kết quả áp dụng các tiêu chí để đánh giá năng lực công nghệ các doanh nghiệp chế biến thủy sản 58
Kết luận Chương 3 61
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 66
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Sự khác nhau của năng lực công nghệ và trình độ công nghệ… 20
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả khảo sát 46
Bảng 3.1 Tổng hợp các tiêu chí đánh giá NLCN các DN CBTS 57
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1: Biểu đồ tỷ lệ nguồn gốc công nghệ, thiết bị sản xuất 36
Hình 2.2: Biểu đồ tỷ lệ tính đồng bộ của dây chuyền công nghệ sản xuất 38
Hình 2.3: Biểu đồ tỷ lệ tình trạng thiết bị công nghệ 39
Hình 2.4: Biểu đồ tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ 40
Hình 2.5: Biểu đồ tỷ lệ hình thức đổi mới công nghệ của doanh nghiệp 41
Hình 2.6: Biểu đồ tỷ lệ doanh nghiệp có xưởng R&D 42
Hình 2.7: Biểu đồ tỷ lệ doanh nghiệp có đầu tư nghiên cứu KHCN 43
Hình 2.8: Biểu đồ tỷ lệ DN tập huấn nâng cao năng lực vận hành 44
Hình 2.9: Biểu đồ tỷ lệ DN có đầu tư xây dựng nguồn nhân lực KHCN 45
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
HACCP Hazard Analysis and Critical Control Points - Phân tích mối
nguy và điểm kiểm soát tới hạn
IQF Individually Quick Frozen – Đông lạnh nhanh riêng lẻ
ISO Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ( International Organization for
USD Đồng Dollar Hoa kỳ
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện được luận văn này, tôi xin bày tỏ sự kính trọng tới TS Vũ Xuân Quang, người đã giảng dạy và là cán bộ hướng dẫn khoa học đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo chân tình của các thầy cô giáo Trường Đại học Bạc Liêu; thầy cô giáo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Tôi xin trân trọng cản ơn các đồng chí lãnh đạo, các đồng nghiệp công tác tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bạc Liêu đã hỗ trợ, chia sẽ công việc để tôi yên tâm theo học khóa học này Đồng thời, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp tại các sở, ban, ngành tỉnh Bạc Liêu, các doanh nghiệp đã hỗ trợ tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc điều tra, thu thập tài liệu phục vụ cho việc viết và hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Thắng
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công
cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm (Luật Khoa học
và Công nghệ - Việt Nam năm 2000) Hay nói cách khác, công nghệ là một công
cụ để biến đổi tài nguyên thiên nhiên thành hàng hoá có ích Bằng lao động và
óc sáng tạo của mình con người tạo ra nhiều thành quả về khoa học và công nghệ ứng dụng vào mọi lĩnh vực để biến đổi nguồn tài nguyên thiên nhiên thành những sản phẩm phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng hàng ngày Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, các quốc gia trên thế giới coi công nghệ là một biến số chiến lược quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Công nghệ cho phép ta tạo ra môi trường sống nhân tạo đầy đủ và tiện nghi hơn, quan hệ giữa công nghệ và quá trình biến đổi xã hội đã tăng thêm sức mạnh cho nhau
Bạc Liêu là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, giáp các tỉnh
Hâ ̣u Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau và có 56km bờ biển ở phía đông và đông nam Cơ cấu kinh tế của Ba ̣c Liêu : khu vực nông nghiệp chiếm 51,7%; công nghiệp - xây dựng chiếm 24,52% và dịch vụ chiếm 23,78% trong GDP Hiện nay tỉnh Bạc Liêu có 22 nhà máy chế biến thủy sản với công suất trung bình từ 3000 – 6000 tấn sản phẩm/năm/doanh nghiệp, tổng công suất chế biến khoảng 100.000 tấn/năm, giá trị xuất khẩu hàng năm đạt trên 100 triệu USD Chế biến thủy sản là ngành kinh tế chủ lực của tỉnh Bạc Liêu hiện nay và trong thời gian tới Trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay tạo ra cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh những áp lực rất lớn trước sự đòi hỏi của thị trường
Hiện nay, cơ quan quản lý nhà nước về công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ) và cơ quan quản lý nhà nước về công nghiệp (Sở Công thương) của tỉnh Bạc Liêu chưa thực hiện việc đánh giá năng lực công nghệ của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp chế biến thủy sản nói riêng trên địa bàn tỉnh nhằm để
Trang 9xác định điểm mạnh, điểm yếu một cách đầy đủ nhất về năng lực công nghệ của doanh nghiệp Nguyên nhân chủ yếu là chưa có bộ tiêu chí phù hợp với thực tế
và mang tính khách quan để đánh giá năng lực công nghệ của từng doanh nghiệp Việc thiếu một hệ thống tiêu chí sẽ khiến cho các cơ quan chức năng không đánh giá được hiện trạng của các doanh nghiệp thuộc một số ngành sản xuất chủ lực trọng điểm trên địa bàn tỉnh về năng lực công nghệ, cơ sở hạ tầng khoa học công nghệ, tình hình đổi mới công nghệ và đổi mới sản phẩm từ đó dẫn đến gặp nhiếu khó khăn trong việc đề xuất các biện pháp, chính sách, giải pháp hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao năng lực công nghệ và đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm trong hoạt động sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Vì vậy, việc xây dựng các tiêu chí để đánh giá năng lực công nghệ của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu có ý nghĩa rất quan trọng nhằm xác định năng lực công nghệ hiện nay của doanh nghiệp, phát hiện những điểm mạnh để phát huy, những điểm còn yếu kém từ đó đề ra các biện pháp khắc phục, định hướng được các giải pháp nâng cao năng lực công nghệ cho doanh nghiệp chế biến thủy sản một cách chính xác là thật sự cần thiết hiện nay ở tỉnh Ba ̣c Liêu
Trên cơ sở đó, với cương vị phụ trách công tác quản lý công nghệ tại Sở
Khoa học và Công nghệ, tác giả đã chọn đề tài “Xây dựng hệ thống tiêu chí
đánh giá năng lực công nghệ các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu” với mục đích là tìm hiểu và xây dựng hệ thống tiêu chí phù hợp
để áp dụng đánh giá năng lực công nghệ hiện nay của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Trang 10đầu tiên đã cố gắng xác định và đánh giá năng lực công nghệ của các nước đang phát triển Ông cho rằng bất kỳ sự đánh giá năng lực công nghệ nào cũng phải bao gồm những yếu tố sau đây:
- Năng lực tìm kiếm các công nghệ khác hiện có để thay thế và lựa chọn công nghệ thích hợp nhất để nhập khẩu
- Năng lực nắm vững công nghệ nhập khẩu và sử dụng có hiệu quả để chuyển đổi đầu vào thành đầu ra
- Năng lực thích nghi công nghệ nhập khẩu cho phù hợp với điều kiện sản xuất ở địa phương
- Năng lực phát triển cao hơn nữa công nghệ đã có, thể hiện khả năng đổi mới trong nước tăng lên
- Năng lực thể chế hóa việc tìm kiếm những đổi mới và những đột phá quan trọng hơn nhờ phát triển các phương tiện nghiên cứu và triển khai trong nước
- Tiến hành nghiên cứu cơ bản để tiếp tục nâng cấp công nghệ
Ở Việt Nam trong những năm gần đây có ít công trình nghiên cứu về đánh giá năng lực công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp mà chỉ tập trung vào đánh giá trình độ công nghệ Một số công trình tiêu biểu về đánh giá năng lực công nghệ ở nước ta đã thực hiện gần đây như sau:
- Đề tài “Đánh giá trình độ và năng lực công nghệ của các lĩnh vực sản
xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, Chủ nhiệm đề tài: KS Nguyễn
Duy Sách, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương, thực hiện
từ 2003 – 2004 Đề tài thực hiện việc đánh giá năng lực công nghệ theo tổng thể các chỉ tiêu thuộc về năng lực công nghệ hầu hết các doanh nghiệp thuộc 5 lĩnh vực điều tra đều đạt loại khá trở lên với 19 chỉ tiêu Năng lực công nghệ của doanh nghiệp, lĩnh vực công nghiệp hoặc toàn ngành công nghiệp thể hiện chủ yếu phụ thuộc vào vai trò tổ chức quản lý, nguồn nhân lực Trình độ và năng lực công nghệ của phần lớn các doanh nghiệp mới ở các giai đoạn thích nghi công
Trang 11nghệ được chuyển giao hoặc lặp lại quy trình công nghệ được chuyển giao và những thay đổi, cải tiến nhỏ về quy trình công nghệ Hầu như chưa có doanh nghiệp nào tiến hành nghiên cứu - triển khai để thực sự để có được quy trình công nghệ của mình cũng như các sản phẩm hoàn toàn mới
- Đề tài “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ
trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp” của tác giả Nguyễn Hoàng Anh
(2009) Nội dung của đề tài là trình bày cơ sở lý luận về đánh giá năng lực đổi mới công nghệ, vai trò của năng lực đổi mới công nghệ với đổi mới công nghệ; công nghệ với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Tính tất yếu của đổi mới công nghệ Phân tích thực trạng hoạt động đổi mới công nghệ và hoạt động đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn Phú Thọ Những khó khăn trong việc đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn và hướng tháo gỡ khó khăn này Nêu cơ sở, quan điểm, lý do đề xuất lựa chọn và xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ trong doanh nghiệp công nghiệp Áp dụng thử hệ thống tiêu chí vào đánh giá năng lực đổi mới công nghệ tại một số doanh nghiệp cụ thể
Bạc Liêu có lợi thế về ngành chế biến thủy sản, vì thế có rất nhiều doanh
nghiệp chế biến thủy sản đang hoạt động Sự khác biệt của đề tài “Xây dựng hệ
thống tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu” là nghiên cứu ở một lĩnh
vực cụ thể, từ đó đề xuất các tiêu chí đánh giá năng lực riêng cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản nhằm xác định được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp
3 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng các tiêu chí để áp dụng vào việc đánh giá năng lực công nghệ của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung xây dựng các tiêu chí dùng để đánh giá năng lực công
Trang 12nghệ của các doanh nghiệp chế biến thủy sản
Quy mô và loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp nhỏ và vừa
Phạm vi địa lý: trên toàn bộ tỉnh Ba ̣c Liêu
Phạm vi thời gian: Đề tài tực hiện trong thời gian 06 tháng, từ 6 – 12/2013
6 Câu hỏi nghiên cứu
Có thể áp dụng các tiêu chí đánh nào để đánh giá năng lực công nghệ của các doanh nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh Bạc Liêu hiện nay?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Vấn đề cơ bản của việc phân tích và đánh giá năng lực công nghệ là chọn các tiêu chí nào phản ánh một cách đầy đủ năng lực công nghệ của một doanh nghiệp chế biến thủy sản
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
- Thống kê tổng hợp kế thừa và sử dụng tài liệu, kết quả nghiên cứu của các công trình đã được công bố có liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn
- Phân tích, tổng hợp các số liệu thu thập từ các nguồn: các website của các tổ chức có liên quan
- Nghiên cứu, tổng hợp, phân tích các lý thuyết về quản lý công nghệ, năng lực công nghệ, tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ cơ sở
- Các cơ sở dữ liệu về hiện trạng hoạt động của các doanh nghiệp chế biến thủy sản địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Trang 138.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi:
Lập phiếu khảo sát hiện trạng năng lực công nghệ các doanh nghiệp chế biến thủy sản điển hình
Tổng số phiếu khảo sát là 20, mỗi doanh nghiệp được gửi 01 phiếu
Phiếu khảo sát được gửi đến đối tượng là cán bộ phụ trách kỷ thuật là Phó giám đốc phụ trách chất lượng hoặc quản đốc phân xưởng
Nội dung khảo sát thu thập các thông tin về nguồn gốc công nghệ, chế độ vận hành, bảo trì và sửa chữa thiết bị, đổi mới công nghệ, đầu tư xây dựng xưởng thực nghiệm, tiêu chuẩn quản lý chất lượng sản phẩm…của doanh nghiệp
8.3 Phương pháp phân tích SWOT:
Phương pháp phân tích SWOT (còn gọi là ma trận SWOT) là phương pháp phân tích các điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) Công cụ này thường dùng để đánh giá tổng quan một đối tương cụ thể (một doanh nghiệp, một lĩnh vực, một vùng, một
dự án…) Trong nghiên cứu này, khung phân tích SWOT được dùng để tìm hiểu những điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 14thủy sản, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực công nghệ cho các doanh nghiệp này Hệ thống tiêu chí đánh giá không chỉ áp dụng ở tỉnh Bạc Liêu mà còn có thể nhân rộng ra cho các địa phương khác trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long nhằm để đánh giá năng lực công nghệ cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản
10 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương sau :
- Chương 1: Cơ sở lý luận của tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ
- Chương 2: Thực trạng đánh giá năng lực công nghệ các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Bạc Liêu
- Chương 3: Đề xuất các tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ các doanh nghiệp chế biến thủy sản
CHƯƠNG 1 :
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ 1.1 Dẫn nhập
Trong quá trình lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rỏ
Trang 15từng bước chuyển dịch xã hội loài người từ phụ thuộc vào thế giới tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức, mở ra cơ hội cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong xã hội hiện đại, vai trò của công nghệ ngày càng tăng lên Nó đã và đang trở thành hàng hoá được chuyển giao, mua bán trên thị trường và được bảo
hộ bằng pháp luật Những tiến bộ như vũ bão của KH-CN trong hai thập kỷ qua, đặc biệt là trong các lĩnh vực Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano, tự động hoá đã làm thay đổi tư duy và chiến lược của nhiều nước Không ai còn có thể hoài nghi về vai trò của công nghệ trong phát triển kinh tế toàn cầu và của mỗi quốc gia Trong xu thế ấy, bất kỳ quốc gia nào hay địa phương nào khi xây dựng chính sách trong chiến lược phát triển công nghiệp hóa cũng phải chú ý tới vai trò đặc biệt của công nghệ và mối quan hệ mật thiết của chúng với cơ cấu kinh tế với mô hình đầu tư và thương mại
Sức mạnh của mỗi quốc gia tùy thuộc phần lớn vào năng lực khoa học và công nghệ Lợi thế của nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan trọng hơn Vai trò nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao,
có năng lực sáng tạo, ngày càng có ý nghĩa quyết định trong đời sống kinh tế xã hội của mọi quốc gia
Thực tiễn chứng minh rằng những doanh nghiệp biết đầu tư khai thác công nghệ mới, nâng cao năng lực công nghệ để tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của khách hàng sẽ tăng sức cạnh tranh
và liên tục phát triển Ngược lại, những doanh nghiệp không đầu tư đổi mới công nghệ thì sẽ giảm sức cạnh tranh, sẽ bị lạc hậu và dẫn đến suy vong
Ở nước ta hiện nay đang ở trong chế thị trường và hội nhập thì việc cần phải quan tâm đến nâng cao năng lực công nghệ cụ thể là luôn hoàn thiện công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển là điều tất yếu Nếu không làm như vậy sẽ bị thụt lùi so với các nước trên thế giới, làm cho nền kinh tế ngày càng yếu kém
Trang 16Muốn nâng cao năng lực công nghệ, trước hết các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp cần phải đánh giá tổng quan năng lực công nghệ của doanh nghiệp
để tìm hiểu các điểm mạnh, điểm yếu của mình, các cơ hội và thách thức phải đối mặt để từ đó đề ra các giải pháp nâng cao năng lực công nghệ của các doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1 Khái niệm công nghệ
Thuật ngữ công nghệ đã du nhập vào Việt Nam trong quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở Việt Nam, chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang
cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Có thể nói công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài người Từ “Công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp (τεκηνε - Tekhne) có nghĩa là một công nghệ hay một kỹ năng và (λογοσ - logos) có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu Như vậy thuật ngữ technology (Tiếng Anh) hay technologie (Tiếng Pháp) có nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về
kỹ thuật - thường được gọi là công nghệ học
Ở Việt Nam, cho đến nay công nghệ thường được hiểu là quá trình tiến hành một công đoạn sản xuất, là thiết bị để thực hiện một công việc (do đó công nghệ thường là tính từ của cụm thuật ngữ như: qui trình công nghệ, thiết bị công nghệ, dây chuyền công nghệ) Cách hiểu này có xuất xứ từ định nghĩa trong từ điển kỹ thuật của Liên Xô trước đây: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên, vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh” Theo những quan niệm này, công nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khởi đầu từ Mỹ rồi Tây Âu đã sử dụng thuật ngữ “công nghệ” để chỉ các hoạt động ở mọi lĩnh vực, các hoạt động này
áp dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng - một sự
Trang 17phát triển của khoa học trong thực tiễn - nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người
Khái niệm công nghệ này dần dần được chấp nhận rộng rãi trên thế giới,
ví dụ thể hiện ở việc thay đổi tên gọi của các tạp chí lớn trên thế giới như “Tạp chí khoa học và kỹ thuật – Science et technique” đổi thành “Khoa học và công nghệ - Scince et technogie” ([1], chương 1)
Ở Việt Nam, Nghị quyết 26 của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VI (1991) mang tên “Nghị quyết về khoa học – công nghệ” Như vậy thuật ngữ công nghệ đã được sử dụng chính thức ở nước
ta Năm 1992, Uỷ ban khoa học - kỹ thuật Nhà nước đổi thành Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ)
Mặc dù đã được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới, song việc đưa ra một định nghĩa công nghệ lại chưa có được sự thống nhất Đó là do số lượng các công nghệ hiện có nhiều đến mức không thể thống kê được Công nghệ lại hết sức đa dạng, khiến những người sử dụng một công nghệ cụ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau sẽ dẫn đến sự khái quát của họ về công nghệ sẽ khác nhau Bên cạnh đó sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ làm thay đổi nhiều quan niệm cũ tưởng như vĩnh cửu, cũng là nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất trên
Các tổ chức quốc tế về khoa học, công nghệ đã có nhiều cố gắng trong việc đưa ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hoà các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hòa nhập của các quốc gia trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu
Có bốn khía cạnh cần bao quát trong định nghĩa công nghệ đó là:
- Khía cạnh “công nghệ là máy biến đổi”
- Khía cạnh “công nghệ là một công cụ”
- Khía cạnh “công nghệ là kiến thức”
- Khía cạnh “công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó”
Trang 18Khía cạnh thứ nhất đề cập đến khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào thành một sản phẩm cụ thể ở đầu ra của công nghệ, đồng thời công nghệ nếu nó muốn được áp dụng trên thực tế thì phải đáp ứng mục tiêu đặt ra khi sử dụng và thõa mãn yêu cầu về mặt kinh tế Đây là điểm khác biệt giữa khoa học và công nghệ
Khía cạnh thứ hai nhấn mạnh rằng công nghệ là một sản phẩm do con người tạo ra, phục vụ cuộc sống con người nên có thể làm chủ được nó Vì là một công cụ nên công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ đối với con người
Khía cạnh kiến thức của công nghệ đề cập đến cốt lõi của mọi hoạt động công nghệ là kiến thức Nó bác bỏ quan niệm công nghệ phải là các vật thể, phải nhìn thấy được Đặc trưng kiến thức khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ, đồng thời nhấn mạnh rằng không phải ở các quốc gia có các công nghệ giống nhau sẽ đạt được kết quả như nhau Việc sử dụng một công nghệ đòi hỏi con người cần phải được đào tạo về kỹ năng, trang bị kiến thức và phải luôn cập nhật những kiến thức đó
Khía cạnh thứ tư đề cập đến vấn đề: công nghệ dù là kiến thức song vẫn
có thể được mua, được bán Đó là do công nghệ hàm chứa trong các vật thể tạo nên nó
Xuất phát từ các khía cạnh trên, chúng ta thừa nhận định nghĩa công nghệ
do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP) đưa ra khái niệm:
“Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm toàn bộ các kiến thức, kỹ năng, thiết bị, và phương pháp dùng trong sản xuất, thông tin, dịch vụ công nghiệp và dịch vụ quản lý”
Định nghĩa công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà khái niệm công nghệ đuợc mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội Những lĩnh vực công nghệ mới dần trở thành quen thuộc như công
Trang 19nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng…
Luật khoa học và công nghệ của Việt Nam năm 2000, định nghĩa: “Công
nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” ([6], trang 1)
Theo quan niệm của Shariff ([9], trang 4), cựu giám đốc Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á và Thái Bình Dương, bất cứ công nghệ nào, dù đơn giản cũng phải gồm có bốn thành phần cơ bản sau:
- Phần kỷ thuật (Technoware - ký hiệu T): bao gồm các công cụ, thiết bị máy móc, phương tiện và các cấu trúc hạ tầng khác Đây là phần vật chất, “phần cứng của công nghệ”
- Phần con người (Humanware - ký hiệu H): bao gồm đội ngũ nhân lực để tiếp nhận, vận hành, điều khiển và quản lý dây chuyền, thiết bị
- Phần tổ chức (Orgaware - ký hiệu O): bao gồm các hoạt động, các liên
hệ về phân bổ nguồn lực, tạo lập mạng lưới sản xuất, tuyển dụng, trả lương, chế
độ phúc lợi, chính sách khích lệ, kiểm tra, giám sát…
- Phần thông tin của công nghệ (Inforware - ký hiệu I): bao gồm tư liệu,
dữ liệu, thiết bị, bí quyết, catalo, tài liệu chỉ dẫn, đặc tính kỹ thuật…
Bốn thành phần của một công nghệ có quan hệ mật thiết bổ sung cho nhau, không thể thiếu bất cứ thành phần nào Nếu như thiếu một thành phần nào
đó thì công nghệ không thực hiện chức năng biến đổi để tạo ra giá trị
Bốn thành phần này quan hệ chặt chẽ với nhau và luôn xuất hiện đồng thời trong mọi giai đoạn của công nghệ Trong một công nghệ vai trò cơ bản thuộc về phần vật tư kỹ thuật (T) Chức năng của nó làm tăng sức mạnh cho con người nói chung, kể cả sức mạnh cơ bắp và sức mạnh trí tuệ Phần con người (H) đóng vai trò cơ cấu chấp hành với chức năng là vận hành vật tư kỹ thuật Vai trò động lực thuộc về phần tổ chức (O); còn vai trò truyền động là thành phần của thông tin (I)
Trang 20Công nghệ được xem như là một loại hàng hóa và được mua bán, chuyển nhượng trên thị trường như các loại hàng hóa khác Tuy nhiên công nghệ là một loại hàng hóa đặc biệt, có các tính đặc thù riêng sau đây:
- Tính hệ thống: điều này có nghĩa là không thể đánh giá công nghệ thông qua các thành phần riêng lẻ Vì thế các yếu tố cấu thành công nghệ có mối quan
hệ hữu cơ và đồng bộ để tạo ra sự gắn kết trong một hệ thống
- Tính sinh thể: công nghệ cũng có một chu kỳ sống Vòng đời đó bao gồm năm giai đoạn: ấp ủ, giới thiệu, tăng trưởng, trưởng thành và suy tàn
- Tính đặc thù về mục tiêu và địa điểm: công nghệ là một khái niệm rất rộng và đụng chạm đến nhiều khía cạnh kỹ thuật, kinh tế, tổ chức và xã hội, nhưng nó lại giải quyết các mục tiêu cụ thể Công nghệ nào thì sản phẩm ấy và mỗi công nghệ cho phép đạt được một loại sản phẩm nhất định, với số lượng, chất lượng và một lượng tiêu hao vật tư nhất định Mặt khác, mỗi công nghệ chỉ thật sự vận hành tốt nếu có một môi trường thích nghi và thuận lợi Vì vậy, mỗi công nghệ thực sự phù hợp với quốc gia này lại không phát huy tác dụng ở quốc gia kia, vì khi thay đổi địa điểm thì yếu tố đầu vào và môi trường cũng thay đổi
Từ đặc điểm này mà xuất hiện một khái niệm mới được nhiều người nhắc tới là
“ công nghệ thích hợp” Đó là sự thích hợp của công nghệ với các mục tiêu kinh
tế xã hội, các điều kiện về lao động, trình độ quản lý, tài nguyên thiên nhiên và
hạ tầng kỹ thuật
- Tính thông tin: Do công nghệ là một hệ thống kiến thức về qui trình và
kỹ thuật chế biến vật chất/thông tin nên bản thân công nghệ có tính thông tin
1.2.2 Năng lực công nghệ
1.2.2.1 Khái niệm năng lực
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học “Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao”
Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự
Trang 21nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hóa Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên luôn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát
triển của năng lực chung
1.2.2.2 Khái niệm năng lực công nghệ
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, việc phát triển công nghệ chủ yếu tập trung vào nhập khẩu công nghệ nước ngoài Chuyển giao công nghệ trong tình hình như vậy làm phát sinh nhiều vấn đề như: giá công nghệ quá cao; công nghệ không phù hợp với nguồn lực, điều kiện và mục tiêu; phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài … dẫn đến việc sử dụng công nghệ kém hiệu quả Từ thực tế như vậy, các nước đang phát triển nhận thấy cần phải xây dựng và phát triển năng lực công nghệ quốc gia (National Technological Capability – NTC)
Đây là nhiệm vụ cơ bản của các nước đang phát triển, không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế, mà còn xuất phát từ quan điểm xã hội, vì những tài sản phi vật chất như kỹ năng và kiến thức đóng góp đáng kể vào sự phát triển văn hoá –
xã hội của đất nước Hơn nữa, người ta có thể khẳng định rằng có nguồn tài nguyên lớn mà năng lực công nghệ yếu kém thì không thể đảm bảo cho quá trình phát triển
Năng lực công nghệ quốc gia là một vấn đề phức tạp, đã có nhiều tác giả
nghiên cứu Theo S.Lall, “Năng lực công nghệ quốc gia (ngành hoặc cơ sở) là
khả năng của một nước triển khai các công nghệ hiện có một cách có hiệu quả
Trang 22và ứng phó được với những thay đổi công nghệ.” Theo định nghĩa này có hai
mức hoạt động phát triển công nghệ, cũng là hai cơ sở để phân tích năng lực công nghệ, đó là :
- Sử dụng có hiệu quả công nghệ có sẵn
- Thực hiện đổi mới công nghệ thành công
Khái niệm này cũng đã khái quát được hai mặt cơ bản của năng lực công nghệ mà nhiều chuyên gia đã đề cập là khả năng đồng hoá công nghệ và khả năng phát triển công nghệ nội sinh
Theo Vũ Cao Đàm “Năng lực công nghệ là sức tồn tại, phát triển và sự tác động thực hiện chức năng công nghệ”
Năng lực nói đến mạnh yếu, trình độ nói đến cao thấp Năng lực công nghệ là kỹ năng con người, năng lực công nghệ nằm ở con người, năng lực công nghệ có tác dụng duy trì thế cạnh tranh Trình độ công nghệ nằm ở máy móc, thiết bị
Ta hãy so sánh sự khác nhau của năng lực công nghệ và trình độ công nghệ như sau:
Bảng 1.1 Sự khác nhau của năng lực công nghệ và trình độ công nghệ
- Khả năng của chủ thể, quốc gia,
doanh nghiệp, cá nhân thực hiện được
các nhiệm vụ sáng tạo công nghệ
- Kỹ năng con người là chính
- Đời của máy móc, thiết bị
- Suất tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng
- Máy móc, thiết bị
1.2.2.3 Phân loại năng lực công nghệ
Khi xác định ảnh hưởng của năng lực công nghệ đến kết quả của hoạt động công nghệ,người ta thường phân ra ba cấp năng lực công nghệ như sau:
Trang 23- Năng lực công nghệ cơ sở
- Năng lực công nghệ ngành
- Năng lực công nghệ quốc gia
Năng lực công nghệ cấp cơ sở được coi là quan trọng nhất vì vậy việc đánh giá năng lực công nghệ cũng bắt đầu từ việc đánh giá năng lực cơ sở Trên
cơ sở tổng hợp năng lực công nghệ của các cơ sở và một số yếu tố khác nữa sẽ đánh giá được năng lực công nghệ ngành và quốc gia
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ tập trung vào việc đánh giá năng lực cơ sở
1.2.2.4 Các yếu tố tác động đến năng lực công nghệ
Năng lực công nghệ phụ thuộc vào nhiều yếu tố và chúng có quan hệ biện chứng với nhau, đó là
- Năng lực nghiên cứu và triển khai (năng lực R&D)
Hạ tầng thông tin
Hạ tầng thông tin gồm nhiều yếu tố, từ các thiết bị thông tin, cơ sở dữ liệu đến năng lực cập nhật, năng lực dịch vụ thông tin và tổ chức mạng thông tin sao cho thiết lập được kênh thông tin tin cậy, chuẩn xác
Trang 24Theo Vũ Cao Phan, tiêu chí được hiểu là: “Tính chất, dấu hiệu đặc trưng
để nhận biết, xem xét, hoặc phân loại một vật, sự vật” 1
Theo định nghĩa của Bộ Khoa học và Công nghệ (Thông tư số
04/2013/TT-BKHCN ngày 20/01/2013) thì tiêu chí gồm tập hợp các chỉ tiêu
dùng để đánh giá mục tiêu, nội dung, kết quả và trình độ, năng lực của tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân
Mỗi một tiêu chí phải phản ánh được một yêu cầu của nội dung cần đánh giá, một chỉ báo cụ thể, một tính chất của sự vật, hiện tượng hoặc một dấu hiệu nhận biết sự vật, hiện tượng đó
Theo Vũ Cao Đàm ([3], trang 152) “Đánh giá (evaluation) là sự xem xét,
so sánh về mặt lượng và chất của một sự vật so với một sự vật khác được chọn
Trang 25
làm chuẩn” Ví dụ, đánh giá kết quả kết qủa học tập của sinh viên, đánh giá hiệu
quả thực hiện một dự án, đánh giá năng lực công nghệ
Như vậy có thể hiểu: Đánh giá là những hoạt động nhằm xem xét, so sánh
sự vật cần đánh giá với những tiêu chí chuẩn mực để xác định giá trị của sự vật
đó Cần phân biệt giữa đánh giá với thẩm định (Assessment) Thẩm định có thể được coi là sự đánh giá sơ bộ trước khi công việc được thực hiện, còn đánh giá
là sự đánh giá sau khi công việc được thực hiện
1.2.3.3 Tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ
1 Năng lực công nghệ doanh nghiệp:
Theo Trần Ngọc Ca [2] năng lực công nghệ của một doanh nghiệp bao gồm các loại năng lực sau đây:
Năng lực đầu tư, gồm các giai đoạn:
- Giai đoạn tiền đầu tư: chuẩn bị nghiên cứu tiền khả thi và khả thi, lựa chọn nhà tư vấn, lựa chọn địa điểm đầu tư, quy mô công suất, công nghệ sản
xuất, nguồn cung cấp nguyên vật liệu…
- Giai đoạn đầu tư: xây dựng nhà máy, đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ, lựa chọn máy móc thiết bị, tuyển dụng nhân sự và tổ chức sản xuất
Năng lực cải tiến nhỏ:
Nhằm thay đổi máy móc để hoạt động có hiệu qủa hơn, tăng năng suất, tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng Các hoạt động cải tiến nhỏ thường là thay thế nguyên vật liệu hoặc cấu kiện, thay đổi quy trình sản xuất cho sản phẩm
Trang 26mới, điều chỉnh thiết kế, cải tiến cấu trúc, chức năng sản phẩm, thay đổi cơ cấu chủng loại sản phẩm
Năng lực marketing:
Thu thập tin tức về xu hướng, cơ cấu phát triển của thị trường, thông tin
về đối thủ cạnh tranh, các bạn hàng và nhà cung cấp
Năng lực liên kết:
- Liên kết nội bộ doanh nghiệp: chia sẻ thông tin hành động giữa các bộ phận/phòng/ban trong cùng doanh nghiệp, luân chuyển cán bộ, trao đổi kinh nghiệm
- Liên kết giữa các doanh nghiệp: Trao đổi thông tin với các nhà cung cấp nguyên vật liệu, phụ tùng, dịch vụ Chia sẻ các thông tin về marketing và phân phối, cùng thực hiện các R&D thiết kế sản phẩm, quy trình công nghệ sản xuất
- Liên kết giữa các hệ thống khoa học và công nghệ: Liên kết để sử dụng nguồn nhân lực, kinh nghiệm, các kết quả nghiên cứu và triển khai công nghệ mới, phát triển các mối quan hệ gần gũi với các đơn vị R&D (các Viện , trường, trung tâm…) hoặc với cá nhân nhà khoa học
Năng lực đổi mới lớn/thiết kế
Thiết kế sản phẩm mới đòi hỏi công cụ sản xuất mới, phát triển các công nghệ sản xuất mới, lựa chọn được các máy móc thiết bị mới, tổ chức việc mua sắm; có chương trình phát triển nguồn cung cấp cấu kiện nội địa, đưa ra được kết quả mới trong R&D (ứng dụng hoặc nghiên cứu cơ bản) có thể đăng ký patent
Theo S Lall, cho rằng năng lực công nghệ của doang nghiệp được phản ánh bởi năng lực tổng hợp để thực hiện những nhiệm vụ trong chuỗi hoạt động
“mua - sử dụng – thích nghi - cải tiến” Năng lực công nghệ ở cấp doanh nghiệp chia làm các loại như sau:
Trang 27- Năng lực chuẩn bị đầu tư: bao gồm năng lực phân tích sơ bộ lợi ích của đầu tư, phân tích chi tiết dự án, tìm kiếm công nghệ, mua công nghệ và nghiên cứu kỹ thuật
- Năng lực thực hiện dự án: gồm năng lực để thực hiện các công việc như: thiết kế kỹ thuật, xác định các loại thiết bị cần phải có, tìm mua và thử nghiệm; xây dựng, lắp đặt; giám sát dự án; đào tạo vận hành
- Năng lực thực hiện các công việc về công nghệ sản phẩm (Product Technology): bao gồm năng lực thiết kế, cải tiến và đổi mới sản phẩm
- Năng lực thực hiện các công việc về công nghệ quá trình (Process Technology): gồm năng lực đảm bảo quá trình hoạt động hiểu quả, năng lực thay đổi, cải tiến và đổi mới quá trình
- Năng lực lập kế hoạch tổng thể và điều hành sản xuất
- Năng lực chuyển giao công nghệ: gồm năng lực hỗ trợ kỹ thuật, cấp license, xây dựng nhà máy theo hợp đồng chìa khoá trao tay, cung cấp các dịch
vụ
- Năng lực đổi mới về tổ chức để phát triển công nghệ: tăng thêm quyền
tự trị và quản lý tài chính cho bộ phận chịu trách nhiệm về công nghệ, đưa thêm cán bộ kỹ thuật vào ban quản trị cấp cao, truyền bá thông tin công nghệ khắp các
bộ phận của doanh nghiệp, tạo các mối quan hệ với bên ngoài như các nhà cung cấp công nghệ, các trường đại học, các hiệp hội công nghiệp
Theo phân loại của viện nghiên cứu phát triển Thái Lan (TDRI): năng lực công nghệ của một doanh nghiệp là năng lực tiến hành các hoạt động liên quan đến công nghệ hoặc những hoạt động nhằm áp dụng tri thức một cách có hệ thống biến đổi đầu vào thành đầu ra Có bốn năng lực loại công nghệ chủ yếu:
- Năng lực tiếp nhận: bao gồm năng lực tìm kiếm, đánh giá, đàm phán, mua bán, chuyển giao, thiết kế nhà xưởng, lắp đặt các phương tiện sản xuất
- Năng lực vận hành: gồm năng lực thao tác, bảo dưỡng, đào tạo, quản lý, kiểm tra chất lượng
Trang 28- Năng lực thích nghi: gồm tiếp thu kiến thức, hấp thụ công nghệ, thích nghi và cải tiến sản phẩm và qúa trình
- Năng lực đổi mới: gồm R&D, đổi mới sản phẩm và quá trình
Vấn đề cơ bản của phân tích và đánh giá năng lực công nghệ là chọn những chỉ tiêu nào phản ánh một cách đầy đủ năng lực công nghệ của một doanh nghiệp và những chỉ tiêu đó có thể đo lường được Trên cơ sở xác định các loại năng lực công nghệ có thể rút ra một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực công nghệ của một cơ sở bao gồm: năng lực vận hành, năng lực tiếp nhận công nghệ, năng lực hổ trợ cho tiếp nhận công nghệ và năng lực đổi mới công nghệ
- Năng lực vận hành: Năng lực vận hành giúp doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất có hiệu quả, gồm những năng lực sau:
+ Năng lực chọn đúng đầu vào cho công nghệ
+ Năng sử dụng hiệu quả thiết bị và nhà máy hiện có
+ Năng lực hoạch định và điều hành sản xuất
+ Năng lực sữa chữa và bảo hành máy móc, thiết bị
+ Năng lực thay đổi nhanh chuyển sang các model sản phẩm mới
+ Năng lực sử dụng các hệ thống thông tin và điều khiển dựa trên máy tính
- Năng lực tiếp nhận công nghệ: Năng lực này giúp doanh nghiệp hoạch định và thực hiện có hiệu quả các hoạt động chuyển giao công nghệ, bao gồm:
+ Năng lực tìm kiếm, đánh giá và xác định công nghệ thích hợp với yêu cầu của doanh nghiệp
+ Năng lực lựa chọn phương thức chuyển giao và tiếp nhận công nghệ phù hợp nhất (liên doanh, nhượng quyền )
+ Năng lực đàm phán về giá cả, các điều kiện đi kèm trong hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trang 29+ Khả năng học tập, tiếp thu công nghệ mới được chuyển giao
+ Khả năng triển khai nhanh công nghệ đã tiếp nhận
+ Khả năng tìm kiếm thị trường cho sản phẩm mới
- Năng lực hỗ trợ, gồm các loại sau:
+ Năng lực hoạch định và thực hiện dự án chuyển giao công nghệ
+ Năng lực làm chủ công nghệ được chuyển giao
+ Năng lực thăm dò và báo thị trường
+ Năng lực tiếp cận có hiệu quả các nguồn nguyên liệu
+ Năng lực tìm được nguồn cung cấp vốn
+ Năng lực hoạch định và thực hiện chương trình phát triển nguồn nhân lực
- Năng lực đổi mới: Thuật ngữ đổi mới (Innovation) ở đây ám chỉ đổi mới dựa trên công nghệ (Technology – Based Innovation) hay đổi mới công nghệ (Tecnological Innovation) Năng lực đổi mới là năng lực giúp doanh nghiệp thực hiện các đổi mới về công nghệ và áp dụng vào sản xuất nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiện tại, tạo ra những hoạt động kinh doanh mới và khai thác các công nghệ mới Năng lực đổi mới gồm các năng lực như sau:
+ Khả năng hoàn thiện công nghệ đã tiếp nhận (có những thay đổi nhỏ về sản phẩm, thay đổi nhỏ về thiết kế sản phẩm và nguyên liệu )
+ Khả năng sao chép có thể có những thay đổi nhỏ về quy trình công nghệ
+ Khả năng thích nghi công nghệ được chuyển giao bằng thay đổi cơ bản
về quy trình công nghệ
+ Khả năng tiến hành nghiên cứu và triển khai
Trang 30+ Khả năng đổi mới hệ thống: đưa ra những hệ thống mới thông qua việc tích hợp nhiều hệ thống phụ và bao gồm những đổi mới sản phẩm, quá trình và ứng dụng ([1], trang 32)
2 Tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ:
Từ khái niệm về tiêu chí đã trình bày ở phần trên, trong khuôn khổ của luận văn này tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ có thể được hiểu là những dấu hiệu dùng để làm căn cứ nhận biết, xếp loại năng lực công nghệ mạnh hay yếu
Tiêu chí và đánh giá bao giờ cũng có mối quan hệ với nhau Muốn thực hiện việc đánh giá một đối tượng nào đó thì phải có công cụ, phương tiện phù hợp để đánh giá Các công cụ để đánh giá là tiêu chí, nếu thiếu tiêu chí thì sẽ không thực hiện được việc đánh giá Vì vậy, mối quan hệ giữa tiêu chí và đánh giá là mối quan hệ hữu cơ Dựa vào mục tiêu, tính chất của đối tượng để xác định tiêu chí đánh giá phù hợp với đối tượng đó, nếu tiêu chí không phù hợp thì
sẽ đánh giá không chính xác Như vậy, có thể xem tiêu chí không chỉ là công cụ, phương tiện dùng để đánh giá mà nó còn có ý nghĩa quyết định đến hiệu quảcủa
có 400 lao động thu nhập bình quân đầu người 1.500 USD/năm
Trang 31Như vậy cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và hoạt động nghiên cứu ở Thái Lan cao hơn Việt Nam Điều này cho thấy sức cạnh tranh của doanh nghiệp ở Việt Nam không bằng doanh nghiệp sản xuất thủy sản ở Thái Lan
- Cơ hội người lao động tiếp nhận giáo dục đặc biệt là giáo dục bậc cao, chú trọng giáo dục khoa học và công nghệ
- Số lượng nhà khoa học, kỹ sư của doanh nghiệp/tổng số lao động: ở các nước phát triển như Nhật, Đức, Mỹ, Hàn Quốc, các doanh nghiệp có số lượng nhà khoa học và kỹ sư rất đông đảo, họ là những người giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra các sáng chế hữu ích mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Trong khi đó số lượng nhà khoa học và kỹ sư của các doanh nghiệp Việt Nam rất hạn chế
- Có xưởng thực nghiệm: ở các nước phát triển và các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapor Malaysia… các doanh nghiệp đều chú trọng đến việc đầu tư xây dựng xưởng thực nghiệm (xưởng pilot) để tiến hành việc cải tiến, đổi mới sáng tạo nhằm duy trì sự phát triển của doanh nghiệp Ở Việt Nam có rất ít doanh nghiệp có xưởng thực nghiệm, các xưởng này thường nằm ở các Viện, trường
- Chi phí cho nghiên cứu và triển khai: thường được ngân sách nhà nước
hổ trợ và trích từ doanh thu của doanh nghiệp Đối với những doanh nghiệp có xưởng thực nghiệm thì chi cho hoạt động của xưởng Ví dụ, theo thống kê các doanh nghiệp tại Thái Lan thường chi 5% trên tổng doanh thu cho hoạt động nghiên cứu và triển khai công nghệ
- Số bằng sáng chế đăng ký: có thể dựa vào số bằng sáng chế được đăng
ký mà đánh giá tính cạnh tranh trong công nghệ Ví dụ, theo báo cáo tổng kết hoạt động công tác năm 2012 của Bộ Khoa học và công nghệ, năm 2012 số lượng sáng chế công bố quốc tế của Việt Nam là 1761, tăng 7% so với năm
2011 (1556), số lượng đơn đăng ký sáng chế là 4257 và văn bằng bảo hộ độc quyền được cấp là là 1112 (số liệu tương ứng năm 2011 là 3995 và 1054) Năm
2011, Trung Quốc được cấp 526.000 bằng sáng chế, tức 1/4 số lượng bằng sáng
Trang 32chế trên toàn cầu trong khi Mỹ chỉ có 503.000 bằng sáng chế Số lượng bằng sáng chế được cấp của Việt Nam không bằng các nước Trung Quốc và Hoa Kỳ, qua đó có thể thấy tính cạnh tranh trong công nghệ của nước ta thấp hơn so với Trung Quốc và Hoa Kỳ
- Hợp tác nghiên cứu với các Viện nghiên cứu và và các doanh nghiệp trong nước và trên thế giới
Đánh giá năng lực công nghệ của một doanh nghiệp công nghiệp có thể dựa vào 03 nhóm chỉ tiêu trên (gồm có 07 chỉ tiêu) Nhưng các chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối
Khi đánh giá năng lực công nghệ của một doanh nghiệp công nghiệp cần đưa thêm chỉ tiêu số lượng xưởng thực nghiệm và chi phí dành cho hoạt động của xưởng thực nghiệm, bởi vì xưởng thực nghiệm đóng vai trò quyết định cho việc nâng cao năng lực công nghệ của một doanh nghiệp Thực tế hiện nay, các doanh nghiệp công nghiệp ở các nước phát triển đều có xưởng thực nghiệm và chi phí dành cho hoạt động của các xưởng thực nghiệm là rất lớn
Ví dụ, trong năm tài chính 2012, Apple đã chi 3,4 tỉ USD cho các hoạt động của các trung tâm R&D, chiếm 2% tổng doanh thu của công ty, tăng 39%
so với năm 2011 Microsoft chi 9,7 tỉ USD, Google chi 5,2 tỉ USD, Nokia chi 7,3 tỷ USD cho các trung tâm R&D của mình
Các tiêu chí trên chỉ mang tính tương đối, chưa phản ánh đầy đủ năng lực công nghệ của doanh nghiệp Tiêu chí dùng để đánh giá phải thể hiện đầy đủ các năng lực công nghệ của một doanh nghiệp đó là: năng lực tiếp nhận công nghệ, năng lực vận hành, năng lực hổ trợ và năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
4 Phương pháp đánh giá năng lực công nghệ hiện hành:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp bảng hỏi
- Phương pháp phân tích SWOT
Trang 33Kết luận Chương 1
Trên đây đã trình bày cơ sở lý luận của luận văn gồm các nội dung giới thiệu về công nghệ, năng lực công nghệ và các tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp, các thuật ngữ có liên quan trong các nội dung của luận văn
Ở chương 1 đã giới thiệu nhiều tiêu chí dùng để đánh giá năng lực công nghệ của một cơ sở (một doanh nghiệp cụ thể) Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, việc xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ của các doanh nghiệp chế biến thủy sản ở tỉnh Bạc Liêu trong nội dung của các chương tiếp theo dựa trên các nhóm chỉ tiêu cơ bản: năng lực tiếp nhận công nghệ, năng lực vận hành, năng lực hổ trợ và năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
Ở nội dung chương 2 và chương 3 tiếp theo sẽ trình bày thực trạng việc đánh giá và đề xuất các tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ của các doanh nghiệp chế biến thủy sản ở tỉnh Bạc Liêu
Trang 34CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ
CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TỈNH BẠC LIÊU 2.1 Tổng quan về doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Bạc Liêu
Bạc Liêu là tỉnh có thế mạnh về nuôi và đánh bắt thủy sản Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh với diện tích nuôi tôm đứng thứ nhì cả nước và
có 56 km chiều dài bờ biển với nhiều loài thủy sản phong phú có giá trị cao như tôm, cua, cá kèo, cá giò, cá mú, cá chẽm, cá chim
Trong năm 2012, tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác đạt hơn 259.000 tấn, đạt 101,70% so với kế hoạch (trong đó tôm trên 92.000) Riêng về lĩnh vực nuôi trồng thủy sản diện tích canh tác 126.132 ha, diện tích thả giống 129.268
ha, diện tích cho thu hoạch 122.198 ha, đạt 95,91% kế hoạch và 99,23% cùng
kỳ Sản lượng đạt cao với con số đầy ấn tượng trên 159.000 tấn (trong đó tôm
76.757 tấn, cá và thủy sản khác 83.093 tấn) (nguồn: www.baclieu.gov.vn)
Được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, hiện nay ngành công nghiệp chế biến thủy sản đang chiếm tỷ trọng lớn trong công nghiệp tỉnh Bạc Liêu Các sản phẩm thủy sản của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Bạc Liêu hiện có mặt tại rất nhiều khu vực trên thị trường khác nhau và đang được tiêu thụ mạnh tại Bắc Mỹ, Nhật Bản, Trung Đông và EU.
Các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tình Bạc Liêu đa số được thành lập sau năm 2003, trước đó trên địa bàn tỉnh chỉ có 07 nhà máy chế biến thủy sản của 06 doanh nghiệp Đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu đã có có 22 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu đang hoạt
động, gồm các loại hình như sau:
- Công ty Cổ phần: 8 doanh nghiệp
- Công ty TNHH: 14 doanh nghiệp, trong đó 03 doanh nghiệp FDI
Trang 35Tổng công suất thiết kế đến năm 2013 khoảng 100.000 tấn sản phẩm/năm
Hệ số sử dụng công suất hiện nay vẫn còn thấp, chỉ chiếm khoảng 50 – 70% do
thiếu nguồn nguyên liệu (nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2013, kế
hoạch hoạt động 2014 - Sở Công thương tỉnh Bạc Liêu)
Hầu hết các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu đều sản xuất mặt hàng bán thành phẩm theo đơn đặt hàng của khách hàng nước ngoài Chỉ có một doanh nghiệp duy nhất là Công ty TNHH Thủy sản NIGICO (100% vốn Nhật Bản) là có sản xuất một số mặt hàng giá trị gia tăng
Về công nghệ, các doanh nghiệp đều sử dụng công nghệ như nhau, gồm công nghệ sản xuất tôm đông block và tôm đông IQF Có 8 doanh nghiệp có trang bị dây chuyền công nghệ đông IQF Đây có thể coi là dây chuyền công nghệ chế biến thủy sản đông lạnh hiện đại nhất hiện nay Do thời gian cấp đông nhanh (3-5 phút) nên sản phẩm giữ được chất lượng, vì vậy có giá trị cao hơn đông block
Lao động làm việc tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản chiếm đa số là lao động phổ thông, chiếm tỷ lệ từ 85 – 90 % (trong đó lao động nữ chiếm 95%), lao động có trình độ chuyên môn chiếm 10 – 15% (chủ yếu là công nhân
kỹ thuật, quản lý sản xuất và nhân viên văn phòng)
Sản lượng chế biến thủy sản không ngừng tăng lên hàng năm, năm 2001 đạt 13.451 tấn (với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 63,62 triệu USD), đến năm 2005 tăng lên đạt 19.772 tấn (với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 112,123 triệu USD), đến năm 2010 đạt 32.400 tấn (với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 174,01 triệu USD); tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005 – 2011 là 11% Năm 2013 giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 284 triệu USD và sản lượng chế biến thủy sản là
34.700 tấn (nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động năm 2013, kế hoạch hoạt động
2014 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu)
Sản phẩm chính của các doanh nghiệp chế biến thủy sản hiện nay gồm các loại tôm sú (Tiger shrimp) và thẻ chân trắng (Vannamei shrimp) đông lạnh xuất khẩu, gồm các loại như sau:
Trang 36- Tôm đông lạnh nguyên con (Raw HOSO)
- Tôm lặt đầu đông lạnh (Raw HLSO)
- Tôm lặt đầu, bóc vỏ chừa đuôi đông lạnh (Raw PTO)
- Tôm lặt đầu, bóc vỏ đông lạnh (Raw PD)
- Tôm Nobashi đông lạnh
- Tôm xẻ lưng đông lạnh
- Tôm luộc đông lạnh: Cooked HOSO
- Tôm luộc đông lạnh: Cooked HLSO, Cooked PTO, cooked PD
sơ chế tôm nguyên liệu khác, chế biến thủy sản là ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh Bạc Liêu, kim ngành xuất khẩu đứng đầu
Hiện nay nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới Điều này vừa mang lại cơ hội vừa đặt ra các thách thức đối với ngành chế biến thủy sản của tỉnh Bạc Liêu Thị trường được mở rộng nhưng yêu cầu về chất lượng sản phẩm cũng tăng cao, đặc biệt là những thị trường khó tính như EU,
Mỹ, Nhật Để tồn tại và phát triển thì yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp chế biến thủy sản ở tỉnh Bạc Liêu là phải nâng cao năng lực sản xuất, trong đó quan trọng nhất là năng lực công nghệ của doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường