Khóa luận tốt nghiệp: 2014 Tìm hiểu về công tác thu hút và sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại tỉnh Ninh Bình nhằm tìm hiểu, phân tích và đánh giá tình hình sử dụng vốn ODA trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tỉnh Ninh Bình, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ODA cho công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của tỉnh.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
Trí Tuệ Và Phát Triển
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TÌM HIỂU VỀ CÔNG TÁC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN
HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) TRONG XÂY DỰNG
CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI TỈNH NINH BÌNH
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thế Hùng Sinh viên thực hiện : Trần Ngọc Anh
Chuyên ngành : Kinh Tế Đối Ngoại
HÀ NỘI - NĂM 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài khóa luận là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả và số liệu nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Sinh viên
Trần Ngọc Anh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài 2
3.Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5.Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
6.Kết cấu bài khóa luận 4
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT 5
1.1TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN ODA 5
1.1.1Khái niệm, đặc điểm và phân loại ODA 5
1.1.1.1 Khái niệm 5
1.1.1.2 Đặc điểm 7
1.1.1.3 Phân loại 12
1.1.2Lịch sử hình thành và phát triển ODA 14
1.1.3Vài nét về cộng đồng tài trợ vốn ODA 15
1.1.3.1 Nguồn cung cấp viện trợ song phương 15
1.1.3.2 Nguồn cung viện trợ đa phương 16
1.1.3.3 Xu thế ODA trên thế giới 17
1.1.4Khái niệm, đặc điểm của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật 18
1.1.4.1 Khái niệm 18
1.1.4.2 Đặc điểm 19
1.2VAI TRÒ CỦA ODA TRONG XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT 20
1.2.1Mục tiêu của các nhà tài trợ vốn ODA 20
1.2.2Vai trò của vốn ODA trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật 21
1.3QUY TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA CÁC DỰ ÁN ODA 24
Tóm tắt chương 1 27
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CHO PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ
THUẬT TỈNH NINH BÌNH 28
2.1TỔNG QUAN VỀ VỐN ODA Ở VIỆT NAM 28
2.2KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH NINH BÌNH 35
2.2.1Điều kiện tự nhiên, xã hội 35
2.2.2Đặc điểm kinh tế - xã hội 36
2.3THỰC TRẠNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỈNH NINH BÌNH 37
2.3.1Về cơ sở hạ tầng giao thông vận tải 39
2.3.2Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật hệ thống công trình thiết bị truyền tải và cung cấp năng lượng 40
2.3.3Về hệ thống cấp thoát nước 40
2.3.4Về hệ thống mạng lưới thông tin liên lạc 41
2.4KẾT QUẢ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA TRONG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỈNH NINH BÌNH 41
2.4.1Kết quả thu hút và sử dụng vốn ODA trên địa bàn tỉnh 41
2.4.1.1 Tổng quan 41
2.4.1.2 Thực trạng thu hút và sử dụng vốn ODA theo đối tác 44
2.4.1.3 Thực trạng thu hút và sử dụng vốn ODA theo địa bàn 47
2.4.1.4 Kế hoạch giải ngân vốn ODA và nhu cầu vốn đối ứng giai đoạn 2013-2015 48
2.4.2Tình hình vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tỉnh Ninh Bình 48
2.4.3Vốn đầu tư theo lĩnh vực chính trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật 50
2.4.3.1 Lĩnh vực giao thông vận tải 50
2.4.3.2 Lĩnh vực cấp thoát nước 53
2.4.3.3 Xử lý rác thải, vệ sinh môi trường 55
2.4.3.4 Truyền tải và cung cấp năng lượng 57
2.5ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGUỒN VỐN ODA TRÊN ĐỊA BÀN, ĐẶC BIỆT TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỈNH 59
2.5.1Thành tựu đạt được 59
2.5.2Những bất cập, khó khăn, hạn chế 63
2.5.3Đánh giá hiệu quả chung 66
Trang 5CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM THU HÚT VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CHO
PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỈNH NINH BÌNH 68
3.1MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT CỦA TỈNH TRONG THỜI GIAN TỚI 68
3.2TIỀM NĂNG THU HÚT VỐN ODA TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỈNH NINH BÌNH NHỮNG NĂM TỚI 70
3.3MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM THU HÚT, SỬ DỤNG HIỆU QUẢ VỐN ODA TRONG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TỈNH NINH BÌNH 71
3.3.1Các giải pháp nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tỉnh Ninh Bình 71
3.3.1.1 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức, quản lý, điều phối vốn ODA 71
3.3.1.2 Nhóm giải pháp tăng cường khả năng huy động vốn ODA cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật 75
3.3.1.3 Nhóm giải pháp về thông tin , tuyên truyền qu ảng bá hình ảnh địa phương nhằm xúc tiến thu hút vốn ODA 77
3.3.1.4 Nhóm giải pháp về tăng cường quan hệ đối tác với các nhà tài trợ 77
3.3.1.5 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tiến độ công tác chuẩn bị đầu tư 78
3.3.1.6 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án 79
3.3.1.7 Nhóm giải pháp tăng cường quản lý và đánh giá dự án sau đầu tư 81
3.3.2Kiến nghị 81
Tóm tắt chương 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 85
PHỤ LỤC 88
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
CG Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam
CSHTKT Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
DAC Uỷ ban hỗ trợ phát triển (Development Assistant Committee) FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
IMF Quỹ tiền tệ thế giới
JBIC Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (The Japan Bank for
International Cooperation) JICA Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (The Japan International
Cooperation Agency) NGOs Hỗ trợ của các tổ chức phi Chính phủ
ODA Viện trợ phát triển chính thức (Official Development
Assistance) ODF Tài chính phát triển chính thức
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (Organization for
Economic Cooperation and Development) OECF Quỹ Hợp tác Kinh tế Hải ngoại Nhật Bản
UNDP Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
VNĐ Việt Nam đồng
WB Ngân hàng thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
1 Danh mục các bảng
Bảng 1.1: Xác định yếu tố không hoàn lại của vốn ODA 8
Bảng 2.1: Các nhà tài trợ vốn ODA vào Việt Nam 29
Bảng 2.2: Một số nhà tài trợ lớn và các lĩnh vực ưu tiên 29
Bảng 2.3: Vốn ODA cam kết, ký kết và giải ngân cho VN 1996-2013 31
Bảng 2.4: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (tính theo GDP giá thực tế) 36
Bảng 2.5: Cơ cấu vốn ODA trong tổng vốn đầu tư giai đoạn 2006-2013 42
Bảng 2.6 Tình hình cam kết và ký kết ODA tại tỉnh Ninh Bình từ 2006-2013 43
Bảng 2.7: Các nhà tài trợ chính vào tỉnh Ninh Bình 45
Bảng 2.8: Vốn đầu tư phát triển tỉnh Ninh Bình tính đến tháng 01/2014 49
Bảng 2.9: Một số dự án xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải nổi bật 51
Bảng 2.10: Một số kết quả phát triển hạ tầng giao thông đường bộ tỉnh 51
Ninh Bình 52
Bảng 2.11: Các dự án cấp nước và vệ sinh môi trường đang thực thi trên địa bàn tỉnh 57
Bảng 3.1 Cơ cấu vốn đầu tư hạ tầng do địa phương quản lý có ý nghĩa liên vùng đang tập trung triển khai thực hiện đến năm 2020 70
2 Danh mục biểu đồ Biểu đồ 2.1: Cơ cấu vốn tài trợ theo nhà tài trợ 45
3 Danh mục hình Hình 2.1: Tình hình cam kết và ký kết vốn ODA tại tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2006-2013 44
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật và những thành tựu rực
rỡ về kinh tế -văn hoá-giáo dục nhờ quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa, thì trên thế giới vẫn còn có tới khoảng 2/3 dân số thế giới sống trong cảnh nghèo đói, thiếu nước sạch, thiếu sự chăm sóc y tế, giáo dục, thiếu những điều kiện sinh hoạt tối thiểu… Trong nỗ lực chung nhằm xoá bỏ nghèo đói, xây dựng phát triển kinh tế
và giảm dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đã có những đóng góp tích cực vì mục tiêu phát triển toàn cầu
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh
mẽ nhằm giảm bớt và xóa bỏ khoảng cách kinh tế - xã hội giữa các quốc gia, các dân tộc Xác định đây là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và toàn thế giới cũng như mong muốn hòa mình với xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hòa nhập kinh tế quốc tế Nhờ sự nhanh nhạy và nỗ lực, Việt Nam đã nhìn ra những yếu tố góp phần xây dựng thành công cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nước mình chính là vốn đầu tư phát triển, đặc biệt là nguồn vốn ODA và đã tranh thủ giành được khá nhiều sự ủng hộ mạnh
mẽ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế Thực tế đã chứng minh, đối với Việt Nam nguồn vốn ODA có vai trò rất quan trọng, có đóng góp không nhỏ vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Thời gian qua Vi ệt Nam đã đạt được khá nhiều thành tựu trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA, đặc biệt trong một vài năm gần đây, ngay cả khi tình hình thế giới có nhiều biến đổi không có lợi cho việc gia tăng nguồn vốn viện trợ, nền kinh tế Việt Nam vẫn thu được những kết quả đáng khả quan như tốc độ tăng trưởng nhanh, lạm phát ở mức có thể kiểm soát được
Hòa mình vào sự phát triển chung của toàn quốc, Ninh Bình đã và đang tiến hành công cuộc xây dựng phát triển kinh tế xã hội địa bàn tỉnh Xác định mục tiêu
Trang 9cơ sở hạ tầng nhằm phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho xây dựng kiến trúc thượng tầng xã hội, Ninh Bình cần chú trọng đến việc thu hút và sử dụng các nguồn vốn đầu tư Đối với Ninh Bình, trong số các nguồn vốn từ bên ngoài, ODA chiếm một vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình, đây là nguồn vốn chính bổ sung cho ngân sách Nhà nước để đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt như: xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường
Tuy nhiên trong bối cảnh nguồn cung cấp ODA không ngừng giảm sút, sự cạnh tranh quốc tế trong việc thu hút, sử dụng vốn ODA ngày càng diễn ra gay gắt thì việc phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng vốn ODA cho phát triển kết cấu cơ
sở hạ tầng kỹ thuật ở Ninh Bình, để tìm ra những tồn tại, khó khăn, có biện pháp kịp thời tháo gỡ giải quyết là hết sức cần thiết Nhận thức được tầm quan trọng của việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA - một nguồn vốn rất cần thiết góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam nói
chung và tại tỉnh Ninh Bình nói riêng tôi mong muốn được tìm hiểu về đề tài: “Tìm
hiểu về công tác thu hút và sử dụng nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại tỉnh Ninh Bình”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài
Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA cho phát triển kinh tế xã hội là một vấn
đề luôn được quan tâm, nhất là việc thu hút sử dụng ODA cho xây dựng cơ sở hạ
Trang 10tầng kỹ thuật nhằm phát triển kinh tế xã hội Liên quan đến đề tài này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố, tiêu biểu như:
- Vũ Ngọc Uyên (2006), “Vai trò của Viện trợ phát triển chính thức trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Viện Kinh tế Việt Nam
- Nguyễn Ngọc Vũ, “Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong việc huy động và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và công
nghệ, Đại học Đà Nẵng số 5(40)/2010
- Phan Trung Chính (2008), “Đặc điểm nguồn vốn ODA và thực trạng quản
lý nguồn vốn này ở nước ta”, Tạp chí Ngân hàng
- Nguyễn Đình Hoan (2006), “Một số giải pháp quản lý sử dụng vốn vay ODA ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế - Đại học
Quốc gia, Hà Nội
- Lương Mạnh Hùng (2006), “Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam”,
Luận văn Thạc sĩ kinh tế
- Nguyễn Thị Minh Hòa (2012), “Nguồn vốn ODA với vấn đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế
Các công trình nghiên cứu trên đây, đã phần nào làm rõ về nội dung thu hút
và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng chủ yếu là về vốn ODA nói chung ở Việt Nam hoặc ở một lĩnh vực, một vài ngành ngành cụ thể như: cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, điện, nước, nông nghiệp nông thôn, xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu đầy đủ về vấn đề thu hút và sử dụng vốn ODA ở tỉnh Ninh Bình trong xây dựng
cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
3 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Tìm hiểu, phân tích và đánh giá tình hình sử dụng vốn ODA trong xây dựng
cơ sở hạ tầng kỹ thuật tỉnh Ninh Bình, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ODA cho công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của tỉnh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 11- Phân tích về thực trạng thu hút và sử dụng vốn ODA trong xây dựng cơ sở
hạ tầng kỹ thuật tỉnh Ninh Bình
- Đưa ra một vài giải pháp nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tỉnh Ninh Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tập trung nghiên cứu việc sử dụng vốn ODA trong xây dựng cơ sở hạ tầng
kỹ thuật tỉnh Ninh Bình; Thực trạng sử dụng, những thành tựu và khó khăn vướng mắc còn tồn tại và xúc tiến thu hút vốn ODA trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của tỉnh
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, khóa luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp khái quát; Phương pháp điều tra thu thập số liệu phân tích định tính để đánh giá thực trạng thu hút, sử dụng ODA trong xây dựng cơ
sở hạ tầng kỹ thuật tại Ninh Bình; Phương pháp thống kê học để xử lý số liệu; Phương pháp dự báo kinh tế để đánh giá triển vọng thu hút vốn ODA trong xây dựng cơ sở hạ tầng tỉnh Ninh Bình
6 Kết cấu bài khóa luận
Ngoài lời mở đầu, lời kết, nội dung thì khóa luận gồm 03 phần chính:
Chương 1: Tổng quan về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và vai trò
của nguồn vốn đối với đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Chương 2: Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả
nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tỉnh Ninh Bình
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ
TẦNG KỸ THUẬT 1.1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN ODA
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại ODA
1.1.1.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế thế giới, Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức (ODA) tùy theo từng phương thức, vị trí của nhà tiếp cận
mà có nhiều cách hiểu khác nhau, cụ thể như sau:
Theo quan điểm của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP): ODA
là nguồn viện trợ phát triển chính thức bao gồm các khoản cho không và các khoản cho vay dành cho các nước đang phát triển; Được cung cấp bằng các điều khoản tài chính ưu đãi (nếu là khoản vay sẽ có yếu tố cho không ít nhất 25%); Nhằm mục đích cơ bản là phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội
Theo Ngân hàng thế giới (WB): ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức (ODF) bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại cộng với các khoản vay ưu đãi có thời gian dài và lãi suất thấp hơn so với mức lãi suất của thị trường Mức độ ưu đãi của ODA được đo lường bằng yếu tố cho không: ODA không hoàn lại có yếu tố cho không là 100%, ODA vay ưu đãi phải có yếu tố cho không ít nhất
là 25%
Theo Uỷ ban hỗ trợ phát triển (DAC) của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh
tế (OECD) xây dựng như sau: ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại, các khoản viện trợ có hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi của Chính phủ các nước, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho Chính phủ và nhân dân các nước đang và chậm phát triển ODA cũng chính là những giao dịch trao đổi với mục đích thúc đẩy phát triển kinh tế và
xã hội của các nước đang phát triển, vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên (bên nhận vốn và
Trang 13bên hỗ trợ vốn) ký kết Hiệp định quốc tế hỗ trợ này được chi phối bởi Công pháp quốc tế mà mỗi giao dịch, trao đổi phải thỏa mãn điều kiện:
- Mục tiêu chính là nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng cường phúc lợi
CP ngày 04/05/2001 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng
nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) quy định: “Hỗ trợ phát triển chính thức được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ, bao gồm: Chính phủ nước ngoài, Các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia; Hình thức cung cấp vốn ODA bao gồm: ODA không hoàn lại; ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại (còn gọi
là "thành tố hỗ trợ") đạt ít nhất 25%”
Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ quy định
“Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ”
Tóm lại, khái niệm về ODA có thể hiểu một cách chung nhất như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là các khoản viện trợ không hoàn lại (hay yếu tố cho không phải chiếm ít nhất 25% tổng số vốn vay) hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi (ưu đãi
về lãi suất, thời gian ân hạn, thời gian trả nợ, ) được các quốc gia, các tổ chức tài chính, các tổ chức quốc tế và các cơ quan đại diện hợp tác phát triển quốc tế của các nước tài trợ cho các nước đang phát triển hoặc kém phát triển nhằm mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và góp phần phát triển bền vững”
Trang 141.1.1.2 Đặc điểm
Bên cạnh những tính chất chung giống như các nguồn vốn đầu tư khác, ODA còn mang trong mình những đặc tính riêng Trước những năm 70-80, ODA được coi là nguốn vốn viện trợ của các nước phát triển cho các nước đang và kém phát triển, nó chủ yếu là viện trợ không hoàn lại (cho không) dưới hình thức viện trợ bằng hàng hoá là chủ yếu Ngày nay, ODA được hiểu là “Hỗ trợ phát triển chính thức”, là hình thức hợp tác phát triển giữa các nước đã công nghiệp hoá, các tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển Hòa theo sự phát triển kinh tế xã hội toàn thế giới, dòng vốn ODA đã có một vài nét thay đổi về sự vận động, tính chất đặc điểm của cả nước viện trợ và tiếp nhận viện trợ; Vì vậy, việc nắm được những đặc điểm
và xu hướng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết đối với nước tiếp nhận Nhìn dưới góc độ của nhà quản lý nhà nước về nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì vốn ODA mang những đặc trưng chủ yếu sau:
1) Vốn ODA mang tính ưu đãi:
Xuất phát từ góc nhìn của nước tiếp nhận vốn ODA, ta có thể nhận thấy vốn ODA có đặc điểm ưu đãi cụ thể sau:
- Vốn ODA mang tính ưu đãi được thể hiện ở chỗ nó chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển và vì mục tiêu phát triển của xã hội
- Lãi suất thấp: dưới 3%/năm, trung bình thường là: 1-2 %/năm, có nhiều khoản từ 0,25%/năm – 1%/năm, thậm chí không phải trả lãi Ví dụ: Lãi suất của Nhật Bản tùy vào từng thời kỳ và từng dự án, của ADB là 1%/năm; của WB là 0,75% /năm…
- Thời gian cho vay dài: Vốn ODA thường có thời hạn vay dài, thường từ 10 – 30 năm, thậm chí có thể 40 – 50 năm Điển hình như vốn ODA của WB, ADB, Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) thường có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm
- Ưu đãi về thời hạn trả nợ: thời gian ân hạn (chưa phải trả nợ gốc) của các khoản vay ODA tương đối dài từ 3 – 10 năm Hết thời gian ân hạn khoản vay sẽ được trả dần theo điều kiện trả nợ của bên cho vay đã được ghi trong hợp đồng vay
Dưới đây sẽ là bảng thể hiện những đặc điểm về thời gian cho vay, thời gian
ân hạn và mức lãi suất của nguồn vốn ODA
Trang 15Bảng 1.1: Xác định yếu tố không hoàn lại của vốn ODA
Mức lãi suất
Thời gian (năm)
Yếu tố cho không (%)
Thời gian hoàn trả
Thời gian
ân hạn
Nguồn: Tài liệu tập huấn ODA ngành Kế hoạch và Đầu tư, 2001
- Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD
- Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại (tức là
cho không) thấp nhất là 25% của tổng gói hỗ trợ ODA Yếu tố này được xác định dựa trên lãi suất (so sánh mức lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại), thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, số lần trả nợ trong năm và tỷ lệ chiết khấu
(Sự ưu đãi ở đây là so sánh với tín dụng thương mại trong tập quán quốc tế)
- Những ưu đãi khác: Chính phủ còn có thể hưởng các ưu đãi khác như không phải thế chấp tài sản, có thể được xem xét để hoãn nợ, giảm nợ, hoặc có thể
xóa nợ khi không có điều kiện trả nợ đúng hạn
2) Vốn ODA mang tính rằng buộc:
Song song với những ưu đãi mà ODA đem lại, nguồn vốn ODA còn có tính rằng buộc về một vài điều kiện đối với các nước tiếp nhận, trong đó có 2 điều kiện cơ bản tiên quyết nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:
Thứ nhất: GDP bình quân đầu người thấp (GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưu đãi càng nhiều) Khi các nước này đạt trình độ phát triển nhất định qua ngưỡng đói nghèo thì sự ưu đãi này sẽ giảm đi
Trang 16Thứ hai, mục tiêu sử dụng vốn ODA của nước nhận ph ải phù hợp với chính sách, phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bên nhận vốn ODA
Bên cạnh đó, căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước kết hợp với những mục tiêu mong muốn của nước mình mà hàng năm các nước tài trợ định lượng khoản ODA cam kết cho các nước nghèo và thường sẽ đưa ra những ràng buộc khác nhau (ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc, đôi khi rất chặt chẽ) đối với nước nhận viện trợ
Nguồn ODA viện trợ ẩn chứa trong đó là sự ràng buộc về kinh tế lẫn yếu tố chính trị, mang cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ
Vốn ODA gắn liền với chính trị:
Viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là việc trợ giúp hữu nghị, mà còn là một công cụ, phương tiện để thực hiện ý đồ chính trị nhằm thiết lập
và duy trì vị thế, lợi ích chính trị cho nước tài trợ Nhờ vào tiềm lực kinh tế, những nước cấp viện trợ đòi hỏi các nước tiếp nhận phải thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của bên tài trợ Không những thế, ODA còn phải chịu ảnh hưởng bởi các rằng buộc của các quan hệ sẵn có của bên cấp viện trợ cho nước nhận viện trợ bởi sự tương hợp về thể chế chính trị, hay quan hệ địa dư gần gũi Quan hệ
hỗ trợ phát triển chính thức giúp ích cho việc giảm dần khoảng cách giữa các quốc gia, tuy nhiên mối quan hệ “viện trợ - tiếp nhận viện trợ” giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi
Vốn ODA gắn với các điều kiện kinh tế:
Về phía các nhà tài trợ, khi cung cấp nguồn vốn ODA cho các nước đang phát triển thường phải gắn với những ràng buộc cụ thể mà thực chất là nhằm đạt được các mục đích mang tính kinh tế chính trị Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành lợi ích cho bản thân quốc gia mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện các công cuộc kinh tế đem lại lợi ích như:
- Mở cửa thị trường cho hàng hóa của nhà cung cấp, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ, xóa bỏ hàng rào thuế quan bảo hộ các
Trang 17nước tài trợ bằng các phương thức như: Yêu cầu nước tiếp nhận ODA từng bước
mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; Có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao.…
- Đưa ra các ràng buộc về kinh tế gắn với cải cách cơ cấu kinh tế và các khoản chi tiêu, nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này nhất là đối với hàng hoá là công nghệ, thiết bị và dịch vụ đều phải do nước tài trợ cung cấp, tuy nhiên chúng không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Điển hình như: Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa
và dịch vụ của nước mình; Canada yêu cầu cao nhất, tới 65%; 22% viện trợ của Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC) phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia viện trợ; Thụy Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%, Hà Lan 2,2%, … Họ gắn quỹ viện trợ với việc mua hàng hóa và dịch vụ của nước họ như là một biện pháp tăng cường khả năng làm chủ thị trường xuất khẩu và giảm bớt tác động của viện trợ đối với cán cân thanh toán; Đây giống như hình thức nhằm thúc đẩy thị trường sản xuất trong nước của nước viện trợ
- Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA như thông thường, đồng thời các danh mục dự án ODA phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia
Vấn đề đặt ra đối với Chính phủ các nước tiếp nhận ODA là phải cân đối được những mặt được về mặt kinh tế - xã hội và cái sẽ phải mất (mang tính vô hình) đối với những ràng buộc mà các nhà tài trợ đưa ra; Và cần hạn chế những sự áp đặt của các nhà tài trợ Khi nhận viện trợ, các nước nhận cần cân nhắc kĩ lưỡng những điều kiện của các nhà tài trợ, không nên chỉ vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài; Hướng tới hợp tác quốc tế bền vững giúp ích cho sự phát triển kinh tế xã hội
3) ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ:
Những đặc điểm mang tính chất ưu đãi của vốn ODA đã làm mờ gánh nặng
nợ nần của các khoản vay, gây tâm lý ảo cho các nước tiếp nhận vốn ODA rằng khả
Trang 18năng trả nợ của quốc gia là cao Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, nước tiếp nhận
do sử dụng không hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian sẽ lại lâm vào vòng nợ nần bởi không có khả năng trả nợ
Do vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu, trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu để thu ngoại tệ mà trong nhiều thời điểm, tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên gây khó khăn trong việc trả nợ Đồng thời tình trạng xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; Trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp, gây thất thoát, lãng phí nguồn vốn ODA có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần
Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), xác định một quốc gia có khả năng trả nợ nước ngoài là khi nước này có thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nợ nước ngoài hiện tại và tương lai mà không cần dựa vào việc giảm, bố trí lại lịch trả nợ hoặc chồng chất thêm nợ, mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nước đó cần phải đạt các tiêu chí sau:
- Tỷ lệ giữa nợ hiện tại theo thời giá so với xuất khẩu trong khoảng 250% (Tỷ lệ nợ tồn đọng)
200 Tỷ lệ giữa dịch vụ trả nợ so với tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ trong khoảng 22-25% (Tỷ lệ thanh toán tiền mặt )
ODA phải được hiểu là các “khoản vay”, không có nghĩa là “cho không”, do
đó các nước tiếp nhận viện trợ cần phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi lựa chọn mỗi khoản vay, đồng thời phải quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay này, tạo lực hút để thu hút những nguồn vốn khác (FDI, tín dụng thương mại quốc tế v.v ),
là cơ sở, tiền đề cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước
Đồng thời khi hoạch định chính sách sử dụng ODA cần phải có sự phối hợp với các loại nguồn vốn khác nhằm tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu để trả nợ
Trang 19cả hai phía đó là bên nước cung cấp cũng như bên nước tiếp nhận ODA
Mục đích thực của vốn ODA về cơ bản là nhằm phục vụ cho lợi ích của nhà tài trợ mặc dù mục tiêu chính của việc tài trợ ODA đó là để phát triển kinh tế xã hội
ở các nước đang phát triển
1.1.1.3 Phân loại
Nguồn vốn ODA có thể được cung cấp dưới các hình thức sau:
1) Theo tính chất tài trợ: Gồm có viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại
- Viện trợ hỗn hợp ODA là khoản viện trợ bao gồm cả khoản viện trợ không hoàn lại và khoản viện trợ hoàn lại mà tổng các thành tố ưu đãi phải trên 25%
2) Theo nhà tài trợ: Gồm có hỗ trợ song phương, đa phương và của các tổ chức
- Hỗ trợ của các tổ chức phi Chính phủ (NGOs): Hội chữ thập đỏ quốc tế, Trăng lưỡi liềm, Tổ chức hòa bình xanh,
Trang 203) Theo mục đích sử dụng: Gồm có hỗ trợ cơ bản, hỗ trợ kỹ thuật
- Hỗ trợ cơ bản: Là các khoản ODA dành cho việc thực hiện nhiệm vụ chính của các chương trình, dự án đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, thường là các khoản vay ưu đãi
- Hỗ trợ kỹ thuật: Hỗ trợ kỹ thuật chuyển giao tri thức, công nghệ, kỹ thuật, bên cung cấp ODA hỗ trợ về mặt kỹ thuật trong việc xây dựng năng lực cho bên tiếp nhận trong các dự án ODA về đào tạo hoặc dịch vụ tư vấn Mục đích của viện trợ kỹ thuật là giúp các cơ quan quản lý nhà nước ở các nước tiếp nhận vốn nâng cao năng lực quản lý của mình, bao gồm cả năng lực sử dụng viện trợ tài chính Về mặt kinh tế, hình thức này không có đầy đủ các yếu tố của hoạt động đầu tư và do vậy thường là các khoản viện trợ không hoàn lại (chiếm từ 20-30% tổng vốn ODA)
4) Theo điều kiện để nhận được viện trợ: Gồm có hỗ trợ không ràng buộc, hỗ
trợ ràng buộc, hoặc hỗ trợ có rằng buộc một phần
Thông thường, nguồn vốn ODA khi được cung cấp có đi kèm với các ràng buộc từ phía nhà tài trợ, do vậy để đạt được các cam kết về ODA thì phải có sự thỏa thuận giữa nhà tài trợ và nước tiếp nhận
- ODA không ràng buộc: Việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng
- ODA có ràng buộc: Vốn ODA sẽ bị rằng buộc bởi nguồn sử dụng hoặc mục đích sử dụng
+ Bởi nguồn sử dụng: Có thể sẽ là các rằng buộc về việc mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn ODA chỉ giới hạn trong nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (Đối với viện trợ song phương, hoặc công ty của các nước thành viên (Với viện trợ đa phương))
+ Bởi mục đích sử dụng: chỉ được sử dụng ở một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể
- ODA có thể ràng buộc một phần: Một phần có những ràng buộc và một phần không có ràng buộc.Một phần chi ở nước viện trợ, phần còn lại chi ở bất cứ nơi nào
Trang 215) Theo hình thức thực hiện các khoản tài trợ: Gồm có hỗ trợ dự án, hỗ trợ phi
dự án, hỗ trợ chương trình
- Hỗ trợ dự án: là hỗ trợ nguồn vốn ODA cho từng dự án cụ thể, có thể là hỗ trợ
cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật; Có thể là vốn cho không hoặc vay ưu đãi
- Hỗ trợ phi dự án: Không gắn với dự án đầu tư cụ thể mà gồm có:
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ), hỗ trợ hàng hóa, hỗ trợ nhập khẩu
+ Hỗ trợ trả nợ: Các nước đang phát triển thường có số nợ lớn mà khả năng trả
nợ là kém, khoản hỗ trợ này sẽ giúp các nước trả bớt một phần nợ nần để có thể tiếp tục được vay thêm hoặc giảm gánh nặng nợ nần, giảm sức ép đối với nền kinh tế
- ODA hỗ trợ chương trình: Là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát nào đó trong một khoảng thời gian xác định, thường là gắn với nhiều dự án chi tiết
cụ thể trong một chương trình tổng thể
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển ODA
Vốn ODA được hình thành sau đại chiến thế giới thứ II (1939-1945), là nguồn vốn dành cho phát triển trên cơ sở thỏa thuận của các nước công nghiệp phát triển đối với các nước đang phát triển và các nước nghèo dưới hình thức cho vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại Kế hoạch Marshall được Hoa Kỳ trình bày tại Paris (Pháp) nhằm đề xuất một chương trình hợp tác với mục tiêu chính là phục hồi kinh
tế của các nước Tây Âu sau chiến tranh, theo đó ngày 14/12/1960, tại Paris các nước đã ký thoả thuận thành lập tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (Organization for Economic and Development-OECD) OECD là khối các nước cung cấp ODA lớn nhất trên thế giới, đã có cả những cam kết khung cho sự hợp tác toàn cầu với những kế hoạch và lịch trình cụ thể về hành động của các nước thành viên trong việc hỗ trợ các nước đang phát triển và kém phát triển, hướng tới một một thế giới phát triển toàn diện, bền vững về môi trường và xóa đói giảm nghèo Để thực hiện những cam kết về cung cấp ODA từ các nước thành viên của OECD cho các nước khác, nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư OECD đã thành lập ra Ủy ban Hỗ trợ phát triển, gọi tắt là DAC (Development Assistant Committee) Thành viên của DAC hiện nay gồm có: Áo,
Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ailen, Italia, Hà Lan, Nauy, Bồ Đào Nha, Thụy
Trang 22Điển, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh, Mỹ, Ôtrâylia, Niudilân, Nhật Bản, Luxămbua, Tây Ban Nha và Liên minh Châu Âu - EC
Kể từ tháng 10 năm 1993 sau khi Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (USA), các tổ chức tài chính tiền tệ Quốc tế như: Quỹ tiền
tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) , bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới mở rộng quan hệ quốc tế theo hướng
đa phương hóa, đa dạng hóa, đã nhận được sự ủng hộ hợp tác của cộng đồng quốc
tế, đặc biệt là thông qua việc tài trợ ODA cho Việt Nam Khái niệm ODA chính thức được hình thành và phát triển từ thời điểm đó dưới các hình thức viện trợ đa phương và song phương, nguồn vốn ODA đã tạo nguồn lực quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam
Tháng 11/1993, Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức tại Pari và từ đó đến nay hội nghị này được tổ chức thường niên vào tháng 12 với tên gọi chính thức là Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ (gọi tắt là Hội nghị CG) Hội nghị này là nơi để các nhà tài trợ quốc tế và chính phủ Việt Nam trao đổi
ý kiến về chính sách phát triển kinh tế xã hội, trong đó có quan hệ hợp tác phát triển, thực hiện ODA và các cam kết về ODA hàng năm nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo cho Việt Nam
1.1.3 Vài nét về cộng đồng tài trợ vốn ODA
1.1.3.1 Nguồn cung cấp viện trợ song phương
- Các thành viên của DAC: Ngày 14-2-1960, tại Paris các nước đã thoả thuận thành lập tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD), ban đầu gồm 20 viên thành viên Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước OECD đã lập ra các ủy ban chuyên môn trong đó có DAC, ủy ban hỗ trợ hợp tác phát triển, ban đầu gồm 18 thành viên, hiện nay là 21 thành viên Thành viên hiện nay của DAC gồm có: Áo,
Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ailen, Italia, Hà Lan, Nauy, Bồ Đào Nha,Thụy Điển, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh, Mỹ, Ôtrâylia, Niudilân, Nhật Bản, Luxămbua, Tây Ban Nha và Liên minh Châu Âu-EC Trong tổng số ODA viện trợ song phương, ODA từ các nước thành viên của DAC là lớn nhất
Trang 23- Một số quốc gia khác: Đóng góp vào viện trợ song phương còn có một số quốc gia khác như: Liên bang Nga, một số nước Đông Âu, Ả Rập, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore Tuy nhiên, lượng viện trợ thông qua nguồn này là rất nhỏ
1.1.3.2 Nguồn cung viện trợ đa phương
Bên cạnh việc cung cấp ODA trực tiếp (đóng vai trò là các nhà tài trợ song phương), các nước cung cấp ODA còn chuyển giao ODA cho các nước đang phát triển thông qua các tổ chức viện trợ đa phương đó là:
1) Các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc:
- Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP)
- Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNCEF)
- Chương trình lương thực thế giới (WFP)
- Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
- Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
- Tổ chức nông nghiệp và lương thực (FAO)
Viện trợ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc trên thế giới thường được thực hiện dưới hình thức viện trợ không hoàn lại và bằng nguồn vốn của Liên hợp quốc Trong đó, ngân sách của Liên hợp quốc do các thành viên của Liên hợp quốc đóng góp hàng năm
2) Quỹ tiền tệ quốc tế IMF: Được thành lập vào tháng 12 năm 1945 gồm 173 nước thành viên Điều kiện cho vay của IMF khá khắt khe: Chính phủ các nước đi vay phải cam kết không vi phạm điều lệ, phải thường xuyên cung cấp các thông tin về tình hình tài chính tiền tệ của nước mình, phải trả lệ phí vay từ 0-5% giá trị khoản vay
3) Ngân hàng thế giới (WB) với hệ thống các ngân hàng:
- Ngân hàng tái thiết phát triển (International Bank for Reconstruction and Development-IBRD);
- Hiệp hội phát triển quốc tế (International Development Association- IDA);
- Công ty tài chính quốc tế (International Finance Corporation-IFC);
- Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa phương (Multilateral Investment Guarantee Agency-MIGA)
Mỗi ngân hàng sẽ có những điều kiện khác nhau về lãi suất, thời hạn…
Trang 244) Ngân hàng phát triển Châu Á (Asia Development Bank-ADB) gồm 55 nước thành viên với hệ thống vay vốn sau:
- Vay từ nguồn vốn phát triển Châu Á (ADF)
- Vay vốn thường xuyên (OCR)
- Vay vốn hỗ trợ kỹ thuật (IASF) thường là viện trợ không hoàn lại dưới hình thức hỗ trợ kỹ thuật
- Vay vốn Nhật Bản (JSF)
5) Tổ chức dầu mỏ OPEC gồm 13 nước thành viên, nguồn vốn của tổ chức này nhỏ, cung cấp các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu đãi cho các nước kém phát triển
6) Quỹ Cô Oét
7) Ngân hàng phát triển Châu Phi
Vốn ODA là một trong những nguồn lực bên ngoài có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, chính vì thế Chính phủ Việt Nam rất quan tâm tới sự vận động của nguồn vốn này cũng như tới cộng đồng các nhà tài trợ Sự nghiệp hội nhập của Việt Nam ngày càng sâu rộng vào nền kinh
tế thế giới, điển hình là việc trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), được bầu là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Việt Nam là thành viên tích cực của ASEAN, APEC, và nhiều Diễn đàn,
tổ chức quốc tế khác đã làm tăng triển vọng đón nhận các nguồn ODA từ các quốc gia khác cho Việt Nam Cùng với những nguồn lực trong nước, các nguồn lực đầu
tư nước ngoài khác, vốn ODA sẽ là một tác nhân to lớn giúp cho Việt Nam thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
1.1.3.3 Xu thế ODA trên thế giới
Quá trình phát triển ODA trên thế giới hiện nay có các khuynh hướng chủ yếu sau đây:
Một là: trong cơ cấu tổng thể ODA của thế giới tỷ trọng ODA song phương
có xu hướng tăng lên, ODA đa phương giảm đi, xu thế này hình thành dưới sự tác động của hai nhân tố chủ yếu sau:
Trang 25- Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới giúp cho việc giao lưu trao đổi giữa các quốc gia phát triển mạnh, giúp phát triển xu thế quan hệ về ODA trực tiếp giữa các quốc gia
-Hiệu quả hoạt động của các tổ chức đa phương tỏ ra kém hiệu quả, không đáp ứng được mọi yêu cầu từ các quốc gia thành viên đã làm cho một số nhà tài trợ ngần ngại đóng góp cho các tổ chức này
Hai là: Các nước trên thế giới đang bắt đầu xây dựng kinh tế phát triển xã hội
và có nhu cầu lớn về ODA, bên cạnh đó vốn ODA là có giới hạn và có xu hướng ngày càng trở nên khắt khe trong việc lựa chọn quốc gia tiếp nhận nên làm tăng mức độ cạnh tranh thu hút ODA giữa các nước đang, kém phát triển
Ba là: triển vọng gia tăng nguồn ODA ít lạc quan, mặc dù Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã khuyến nghị dành 1% GDP của các nước phát triển để cung cấp ODA cho các nước đang phát triển song khả năng này rất ít thành hiện thực (theo các số liệu mới nhất thì tỉ lệ này hiện nay chỉ đạt mức trung bình vào khoảng 0,7%) Tuy
có một số nước như Thuỵ Điển, Nauy, Phần Lan, Đan Mạch đã có tỷ lệ ODA hơn 1% song khối lượng ODA tuyệt đối của các nước này không lớn, thêm vào đó tình hình phục hồi kinh tế chậm ở các nước phát triển cũng là một trở ngại gia tăng ODA Ngoài ra các nước phát triển đang phải đối đầu với hàng loạt vấn đề xã hội và chịu sức ép của dư luận trong nước đòi giảm viện trợ cho nước ngoài để tập chung giải quyết các vấn đề trong nước
1.1.4 Khái niệm, đặc điểm của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
1.1.4.1 Khái niệm
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một bộ phận cơ bản của kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng, quốc gia; Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp cũng như gián tiếp cho đời sống sinh hoạt và sản xuất trên một phạm vi lãnh thổ nhất định Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm các
bộ phận chủ yếu sau:
- Hệ thống giao thông vận tải
- Hệ thống cấp thoát nước: hệ thống cung cấp nước sạch, hệ thống thoát nước, hệ thống thủy lợi trên địa bàn
Trang 26- Hệ thống các công trình thiết bị truyền tải và cung cấp năng lượng
- Hệ thống mạng lưới thông tin liên lạc – bưu chính viễn thông
……
1.1.4.2 Đặc điểm
Đầu tư cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật có một số đặc điểm chủ yếu sau: Các dự án đầu tư cho kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi một lượng vốn, vật tư, lao động lớn Khi xây dựng các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần nghiên cứu, phân tích, đánh giá về các nguồn vốn huy động về: Khả năng huy động, lãi suất, điều kiện vay vốn, thời hạn vay, tiến độ giải ngân, phương thức hoàn trả,…
Để tìm ra nguồn vốn phù hợp Đồng thời phải dự tính được nguồn cung vật tư (nguồn cung cấp, mức giá,…) và dự tính về nguồn lao động sử dụng
Thời gian thực hiện các dự án đầu tư cho kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật thường kéo dài: trung bình là từ 5 – 10 năm, tuy nhiên có những dự án có thể lên tới
20 – 50 năm Cần chú ý đến việc bảo trì, bảo dưỡng các công trình dự án để các dự
án có thể hoạt động tốt và kéo dài tuổi thọ
Tính chất kỹ thuật của các dự án đầu tư kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật thường rất phức tạp: Trong quá trình lập dự án hay trong suốt thời gian thực thi dự
án cần nghiên cứu phân tích dự án một cách chuyên sâu trên nhiều khía cạnh để có thể loại bỏ cá dự án không khả thi hay hạn chế các chi phí tổn thất, giảm ô nhiễm môi trường, kéo dài tuổi thọ công trình
Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật chịu ảnh hưởng của các yếu tố bất định: lạm phát, trượt giá, biến động tỷ giá,… Cần phân tích độ nhạy cảm của dự án đối với các biến động, đồng thời dự tính các biến động và xây dựng các phương án đối phó
Các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật có vị trí cố định, gắn liền với các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội – điều kiện địa lý tự nhiên: việc lựa chọn các dự án đầu tư cần gắn chặt với những đặc điểm kể trên của địa phương nhằm mang lại hiểu quả tối ưu nhất cho chính địa phương
Hiệu quả tài chính của dự án khó đánh giá, khó xác định, khả năng thu hồi vốn thấp
Trang 27Việc nghiên cứu các đặc điểm của đầu tư hạ tầng kỹ thuật sẽ giúp ích cho các nhà quản lý có những biện pháp quản lý phù hợp các dự án nhằm đem lại hiệu quả tối ưu
1.2 VAI TRÒ CỦA ODA TRONG XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT
1.2.1 Mục tiêu của các nhà tài trợ vốn ODA
Song song với việc viện trợ ODA cho những nước đang phát triển, nhằm tăng trưởng kinh tế giảm đói nghèo tại các nước đang và kém phát triển, các nhà tài trợ cũng theo đuổi những mục tiêu riêng, mưu cầu những lợi ích riêng, ba mục tiêu này luôn tồn tại song song và mâu thuẫn nhau
Mục tiêu về chính trị: Việc hỗ trợ nguồn vốn ODA cho các nước đang và
kém phát triển là cách thức thiết lập mối quan hệ ngoại giao gần gũi, mở đường cho việc thực thi các mục tiêu về chính trị Nhờ vào sức mạnh của vốn viện trợ, họ sẽ có những tác động khiến các nước này chấp nhận một lập trường nào đó trong ngoại giao, đồng thời can thiệp vào sự phát triển chính trị của nước đang phát triển Viện trợ kinh tế cũng là thủ đoạn chính trong việc tiến hành thâm nhập văn hoá, tư tưởng đối với nước nhận viện trợ
Mục tiêu về kinh tế: Các nhà tài trợ sử dụng ODA để mưu cầu kinh tế ODA
được sử dụng như một trong những cầu nối để thi ết lập các mối quan hệ ngoại giao, kinh tế, đưa ảnh hưởng của nước cung cấp tới các nước đang phát triển Mặt khác, các nước cung cấp ODA còn sử dụng ODA để xuất khẩu tư bản: rằng buộc các nước nhận viện trợ phải sử dụng chuyên gia của họ, mua vật tư, thiết bị của họ với giá đắt, thậm chí cả các điều kiện đấu thầu, giải ngân cũng được đưa ra để làm sao với lãi suất thấp, có ưu đãi và tạo ra các món nợ lớn dần cho các nước tiếp nhận Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển để mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư
Mục tiêu nhân đạo : Trong các mục tiêu cung cấp ODA của các nhà tài trợ,
mục tiêu vì các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, an sinh xã hội bảo đảm bền vững về môi trường là một phần quan trọng của viện trợ Điển hình như Thụy Điển, mục tiêu này được thể hiện khá đậm nét trong các chương
Trang 28trình viện trợ, các chương trình ODA của Thụy Điển thường được hướng vào giải quyết các vấn đề như: giảm nghèo, môi trường và phát triển bền vững, dân chủ và nhân quyền Trong đó hướng tới bốn mục tiêu là: Tăng trưởng các nguồn lực; Công bằng về kinh tế - xã hội; Độc lập về kinh tế và chính trị; Phát triển dân chủ Việc hỗ trợ vốn ODA đã phần nào thể hiện được tinh thần nhân đạo và trách nhiệm của các nước phát triển đối với các nước đang và chậm phát triển
Khi nhận viện trợ các nước cần cân nhắc kỹ lưỡng các mục tiêu cũng như các điều kiện của các nhà tài trợ Không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài; Quan hệ hỗ trợ phát triển chính thức phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, chung sống hoà bình
1.2.2 Vai trò của vốn ODA trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất trực tiếp tạo ra của cải vật chất, nhưng nó có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển Xây dựng cơ sở hạ tầng chính là xây dựng cơ sở, nền tảng để nâng cao chất lượng cuộc sống con người Tuy nhiên do những đặc điểm cố hữu của các dự
án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật này: Nhu cầu vốn đầu tư lớn; Thời gian quay vòng chậm không có khả năng thu hồi vốn, hiệu quả dự án thấp; Các dự án này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất định nên việc xây dựng cơ sở hạ tầng này chưa thực sự được tạo điều kiện hết mức, nguồn vốn đầu tư cho các dự án này là một vấn
đề gây bức xúc cho nhà quản lý hiện nay Nguồn vốn chính đầu tư cho các dự án này chủ yếu là vốn ODA và ngân sách nhà nước, do khả năng kinh tế còn hạn hẹp nên ODA trở thành nguồn vốn chính, đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các nước đang và kém phát triển
Hầu hết các nước kém và đang phát triển đều ở trong tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, để phát triển cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo tiền đề vật chất ban đầu cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đòi hỏi phải có nhiều vốn, nhưng khả năng tiềm lực quốc gia không có hoặc rất yếu kém, bên cạnh đó khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư khác lại rất chậm Nguồn vốn ODA chính là giải pháp hiệu quả và phù hợp nhất đới với điều kiện kinh tế- xã hội lúc này, đây là nguồn tài chính quan trọng có vai trò bổ sung cho quá trình phát triển của đất nước
Trang 29Ở nhiều nước trong đó có Việt Nam, thực tế đã khẳng định rằng khi cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện sẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp - công nghiệp - dịch
vụ và mang lại lợi ích kinh tế cho người dân, cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ
cơ bản như y tế và giáo dục, tăng cường trao đổi mua bán, mang lại thêm nhiều cơ hội tạo thu nhập phi nông nghiệp và giảm áp lực lên những vùng nhạy cảm về sinh thái Ngoài ra, mối liên quan giữa nghèo đói và cơ sở hạ tầng nông thôn yếu kém cũng đã được minh chứng rõ ràng Ở Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác có cùng tình trạng CSHTKT nông thôn yếu kém, tỉ lệ nghèo rõ ràng cao hơn hẳn những nước có CSHTKT hoàn chỉnh gồm mạng lưới đường giao thông, hệ thống thủy lợi, trạm cấp nước sạch và các chợ, v.v
ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư phát triển, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước: Vốn ODA với đặc tính ưu việt
là thời hạn cho vay dài thường là 20-40 năm, lãi suất cho vay thấp khoảng từ 0,25% đến 2%/năm Nhờ có nguồn vốn vay với số lượng vốn lớn và điều kiện cho vay ưu đãi như vậy Chính phủ các nước chậm và đang phát triển mới có thể tập trung đầu
tư cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như đường giao thông, hệ thống điện, nước, thuỷ lợi và các công trình hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế Những công trình cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội được xây dựng mới hoặc cải tạo nhờ nguồn vốn ODA là điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của các quốc gia này
Đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Theo
WB, căn cứ vào chỉ số ICOR cứ 1% đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở các nước đang phát triển sẽ tạo ra 1% tốc độ tăng trưởng GNP
ICOR = (Vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật)/(Mức tăng GNP)
Tăng đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ kéo theo sự tăng lên của nhu cầu về lao động, vật tư, giúp tăng trưởng kinh tế Đồng thời khi đưa các dự án này vào hoạt động phục vụ đời sống hàng ngày sẽ tạo điều kiện để phát triển các nghành khác, làm tăng giá trị sản xuất thúc đẩy phát triển kinh tế
Vốn ODA cũng tạo ra sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế: Ở các nước đang
và kém phát triển, đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật sẽ thúc đẩy thu hút và tăng trưởng cũng như hạn chế một số ngành và lĩnh vực làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ giúp thu hút phát triển các ngành
Trang 30công nghiệp, dịch vụ phát triển, tuy nhiên song song với điều này là sự giảm sút sự phát triển của nông- lâm- ngư nghiệp: Quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở các khu kinh tế trọng điểm hay các khu công nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Khu công nghiệp Bình Dương, Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, đã làm giảm diện tích vùng nguyên liệu nông nghiệp lúa nước, công nghiệp chế biến (mía đường, dầu thực vật, ) tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu từ Nông- lâm sang công nghiệp – dịch vụ ở Việt Nam trong thời gian qua
Vốn ODA góp phần duy trì sự phát triển bền vững: Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển trong đó những quyền lợi cơ bản của con người được bảo đảm Vốn ODA đầu tư phần nào đã giúp: xoá bỏ nghèo đói và bóc lột, giữ gìn và tăng cường các nguồn tài nguyên, sự tăng trưởng cả về kinh tế lẫn văn hoá xã hội và sự thống nhất giữa môi trường sinh thái và kinh tế trong hoạch định chính sách Đầu tư cho kết cấu hạ tầng tạo ra sự tăng trưởng bền vững được thể hiện dưới các góc độ sau:
- Điều tiết tốc độ tăng trưởng giữa các vùng, giảm sự mất cân đối: Nhờ có sự đầu tư về CSHTKT nên điều kiện hạ tầng giữa các vùng không còn sự chênh lệch lớn, đồng thời tạo điều kiện thu hút sự đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội tại các vùng còn chậm phát triển
- Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập: Nhờ tham gia vào các dự án, hay nhờ hiệu quả tác động của dự án,…
- Tạo động lực cho các ngành khác phát triển nhờ CSHTKT
- Xoá đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân
- Giảm ô nhiễm môi trường, giảm tình trạng quá tải cho hệ thống CSHTKT hiện có ở các vùng, miền tập trung đông dân cư, những khu đô thị lớn; Nâng cấp và tạo mới những CSHTKT hiện đại, thúc đẩy quá trình đô thị hoá
Nguồn vốn ODA có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng CSHTKT của các quốc gia đang và kém phát triển, ngồn vốn này giúp cho các quốc gia có thêm
cơ hội để xây dựng tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng kiến trúc thượng tầng bền vững của bản thân và của cả cộng đồng, giúp giảm bớt khoảng cách giữa các quốc gia và các dân tộc
Trang 311.3 QUY TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA CÁC DỰ ÁN ODA
Việc nắm rõ được quy trình vận động của nguồn vốn ODA đối với các nhà quản lý, nhà tài trợ, hay tất cả các đối tượng liên quan đến quy trình hoạt động của các dự án, chương trình sử dụng vốn ODA là rất cần thiết Quy trình vận động của các dự án ODA gồm 05 bước cơ bản sau:
Bước 1 Xây dựng và phê duyệt Danh mục tài trợ
Căn cứ cơ sở vận động ODA và vốn vay ưu đãi và thông báo của Bộ
KH-ĐT, tỉnh Ninh Bình tiến hành xây dựng định hướng hợp tác và lĩnh vực ưu tiên sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi, trình Bộ KH-ĐT và Thủ tướng Chính phủ
Bước 2 Chuẩn bị, thẩm định, phê duyệt văn kiện chương trình, dự án
Sau khi có Quyết định phê duyệt Danh mục tài trợ và văn bản cam kết tài trợ của nhà tài trợ, cơ quan chủ quản có các nhiệm vụ sau:
- Ban hành quyết định về chủ dự án
- Chỉ đạo chủ dự án thực hiện các nhiệm vụ được giao theo quy định
- Bố trí các nguồn lực theo thẩm quyền cho việc chuẩn bị chương trình, dự án
- Tổ chức thẩm định và phê duyệt văn kiện chương trình, dự án thuộc thẩm quyền quy định
Trong quá trình chuẩn bị, thẩm định và phê duyệt văn kiện chương trình, dự án: Chủ dự án có nhiệm vụ phối hợp với nhà tài trợ trong việc chuẩn bị, lập văn kiện chương trình, dự án và hoàn tất hồ sơ để thực hiện các thủ tục về thẩm định và phê duyệt văn kiện chương trình, dự án theo quy định
Thẩm quyền phê duyệt văn kiện chương trình, dự án (thẩm quyền quyết định đầu tư đối với dự án đầu tư) quy định như sau:
+ Thủ tướng Chính phủ phê duyệt: Văn kiện chương trình, dự án quan trọng quốc gia; Văn kiện chương trình kèm theo khung chính sách; chương trình, dự án trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, tôn giáo
+ Cơ quan chủ quản: chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định và phê duyệt văn kiện chương trình, dự án còn lại
Trong quá trình thẩm định, cơ quan, đơn vị đầu mối thẩm định phải lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan; Xem xét trình tự, thủ tục và tiến độ thẩm định của nhà tài trợ để đảm bảo sự phối hợp và hài hòa cần thiết; Xem xét các nội dung
Trang 32đã thỏa thuận với nhà tài trợ, ý kiến thẩm định của nhà tài trợ hoặc đại diện của nhà tài trợ Ý kiến đồng thuận hoặc ý kiến khác nhau giữa các bên phải được phản ánh trong báo cáo thẩm định
Cơ quan, đơn vị đầu mối thẩm định chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định văn kiện chương trình, dự án Các cơ quan tham gia thẩm định chịu trách nhiệm về nội dung văn kiện chương trình, dự án liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật
Hồ sơ chương trình dự án phải được thẩm định và phê duyệt theo đúng phân cấp thẩm quyền thẩm định dự án có sử dụng vốn ODA của Chính phủ
Bước 3 Ký kết điều ước quốc tế về ODA và vốn vay ưu đãi
Căn cứ vào hồ sơ chương trình dự án đã được ký duyệt, tỉnh Ninh Bình phối hợp với các cơ quan trung ương có liên quan tiến hành đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế về ODA Căn cứ kết quả đàm phán phù hợp với nội dung dự thảo điều ước quốc tế về ODA và vốn vay ưu đãi đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận
và ủy quyền ký, người được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền sẽ tiến hành ký điều ước quốc tế với đại diện của nhà tài trợ
Trường hợp kết quả đàm phán có thay đổi so với nội dung dự thảo điều ước quốc tế về ODA và vốn vay ưu đãi đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, cơ quan đề xuất lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc ký điều ước quốc tế đó
Đối với trường hợp điều ước quốc tế sau khi ký phải được phê duyệt hoặc phê chuẩn, cơ quan đề xuất lấy ý kiến các cơ quan có liên quan, trình Thủ tướng Chính phủ để phê duyệt hoặc trình Chủ tịch nước phê chuẩn
Bước 4 Tổ chức thực hiện chương trình, dự án
Sau khi ký kết các điều ước quốc tế, dự án sẽ bắt đầu được triển khai thực hiện Cơ quan chủ quan sẽ lập kế hoạch thực hiện chương trình từng năm, từng giai đoạn nhằm đảm bảo quyết định đầu tư chương trình, dự án đúng mục tiêu, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch, đúng luật pháp, có hiệu quả; Đảm bảo khả năng thu hồi vốn đầu tư và hoàn trả vốn vay (đối với chương trình, dự án ODA cho vay lại); Đảm bảo đủ vốn đối ứng theo tiến độ đã thoả thuận với nhà tài trợ
Trang 33Tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình, dự án của chủ dự án thường xuyên và xuyên suốt quá trình thực hiện chương trình, dự án
Xây dựng và triển khai các biện pháp theo quy định của pháp luật hiện hành
về phòng và chống tham nhũng, lãng phí, sử dụng vốn sai mục đích làm ảnh hưởng đến mục tiêu của chương trình, dự án và uy tín quốc gia
Bước 5 Giám sát và đánh giá chương trình, dự án
Việc theo dõi chương trình, dự án là hoạt động thường xuyên và định kỳ được thực hiện bởi các cơ quan quản lý của tỉnh thông qua các báo cáo hàng tháng, hàng quý và hàng năm, cập nhật toàn bộ các thông tin liên quan đến tình hình thực hiện chương trình, dự án; Phân loại và phân tích thông tin; Kịp thời đề xuất các phương án phục vụ việc ra quyết định của các cấp quản lý nhằm đảm bảo chương trình, dự án được thực hiện đúng mục tiêu, đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng và trong khuôn khổ các nguồn lực đã được xác định
Đánh giá dự án là hoạt động định kỳ, xem xét toàn diện, có hệ thống và khách quan về tính phù hợp, hiệu quả, hiệu suất, tác động và mức độ bền vững của chương trình, dự án để có những điều chỉnh cần thiết và rút ra những bài học kinh nghiệm để áp dụng cho giai đoạn thực hiện tiếp theo và áp dụng cho các chương trình, dự án khác
Công tác đánh giá được tiến hành định kỳ và đột xuất (khi cần thiết); Công tác đánh giá định kỳ được tiến hành theo 4 giai đoạn chủ yếu sau:
Giai đoạn 1: Đánh giá ban đầu: Giúp chính quyền địa phương nhận định
xem chương trình dự án có phù hợp với khả năng và dịnh hướng phát triển của địa phương hay không
Giai đoạn 2: Đánh giá giữa kỳ: Giúp phân tích tiến độ thực hiện cho đến thời
điểm đánh giá Phản hồi nhanh cho các nhà quản lý về các khó khăn khúc mắc để có
sự điều chỉnh kịp thời Đồng thời giúp các nhà quản lý có thể chỉnh sửa nội dung hoạt động dự án cho phù hợp
Giai đoạn 3: Đánh giá kết thúc: Xác định kết quả dự án đã đạt được, phân
tích những kết quả đã đạt được đó nhằm rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các biện pháp thi hành cho các giai đoạn tiếp theo hoặc các dự án khác
Trang 34Giai đoạn 4: Đánh giá sau dự án: Nhằm xác định những tác động lâu dài của
dự án đến đời sống kinh tế - xã hội địa phương triển khai dự án
Kế hoạch, tổ chức thực hiện và kinh phí cho công tác đánh giá trích từ nguồn vốn ODA, nguồn vốn đối ứng hoặc nguồn vốn khác, phải được quy định và xác định trước trong văn kiện chương trình, dự án và phải phù hợp với tính chất của từng loại chương trình, dự án
Tóm tắt chương 1
Chương 1 của khóa luận tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống lại các cơ sở lý luận về vốn ODA
- Tìm hiểu về đầu tư xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật
- Tìm hiểu về vai trò của ODA trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CHO PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT
TỈNH NINH BÌNH 2.1 TỔNG QUAN VỀ VỐN ODA Ở VIỆT NAM
Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa từ năm 1990 trở về trước, nguồn viện trợ ODA mà nước ta nhận được chủ yếu có nguồn gốc từ Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu, những người anh em xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng một thể chế xã hội chủ nghĩa đồng thuận vững mạnh Phần lớn nguồn viện trợ không hoàn lại này thực hiện dưới dạng viện trợ hàng hoá hoặc hỗ trợ kỹ thuật Tuy nhiên đến năm 1991 khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đã chấm dứt dòng viện trợ này, nguồn vốn ODA đổ vào Việt Nam trở nên trầm lắng
Năm 1993, kể từ khi Việt Nam bắt đầu bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế, đặc biệt kể từ ngày 9 tháng 11 năm 1993 tại Hội nghị quốc tế các nhà tài trợ dành cho Việt Nam đã khai mạc tại Pari (Pháp) đã giúp ích cho sự khơi thông nguồn vốn ODA trở lại, nhiều Chính phủ và tổ chức đã nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam Các nhà tài trợ đã ngày càng quan tâm nhiều hơn đến Việt Nam và có những động thái hợp tác tích cực với Chính phủ Việt Nam trong vấn đề này Đã có rất nhiều đề xuất cho việc tạo điều kiện cho dòng chảy vốn ODA ví dụ như: sáng kiến áp dụng mẫu báo cáo tiến độ thực hiện dự án theo Quyết định 803/2007/QĐ-BKH của nhóm 6 Ngân hàng phát triển WB, ADB, SBIC, KFD, EXB Hàn Quốc; sáng kiến “Một Liên hợp quốc” nhằm thúc đẩy thực hiện chương trình
dự án, giảm chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả viện trợ; Sáng kiến hài hòa quy trình và thủ tục ODA trong nội bộ các nước thành viên EU, cụ thể hóa các cam kết trong tuyên bố Paris thành cam kết Hà Nội, tham gia tích cực các Hội nghị của các nhà tài trợ, các Hội nghị của các nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, v v…)
Việc mở cửa quan hệ hợp tác, “sẵn sàng làm bạn” với tất cả các quốc gia và các vùng lãnh thổ đã đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội lớn về nguồn vốn ODA nói riêng và các nguồn vốn đầu tư nước ngoài nói chung Thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã rất chú trọng công tác thông tin ra bên ngoài, tạo điều kiện cho thế giới biết và hiểu nhiều hơn về Việt Nam, phát triển mạnh mẽ các quan hệ song phương
Trang 36và đa phương, hoàn thiện dần thể chế pháp lý về ODA (ban hành Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 của Chính phủ về Quy chế pháp lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, Quyết định số 181/2007/QĐ-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế cho vay lại từ nguồn vốn vay, viện trợ nước ngoài của Chính phủ), tổ chức nhiều Hội thảo chuyên đề về ODA, thực thi các biện pháp kiểm soát nguồn ODA v.v…)
Những nỗ lực từ cả 2 phía các nhà tài trợ và Chính phủ Việt Nam đã đạt những kết quả quan trọng: Sau 20 năm kể từ Hội nghị bàn tròn về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) dành cho Việt Nam tổ chức tại Paris, Pháp năm 1993, đến nay đã
có khoảng 51 nhà tài trợ bao gồm 28 nhà tài trợ song phương, 23 nhà tài trợ đa phương và khoảng 600 tổ chức phi chính phủ đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam Ngoài các nước là thành viên của Tổ chức OECD-DAC còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn độ, Hung-ga-ri, Séc,
Bảng 2.1: Các nhà tài trợ vốn ODA vào Việt Nam
Ban Nha, Thái
Lan, Thuỵ Điển,
(IFAD), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO),
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO),
Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc
tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu (NIB), Quỹ Phát triển Bắc
Âu (NDF), Quỹ Phát triển quốc tế của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (OFID - trước đây là Quỹ OPEC), Quỹ Kuwait;
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 37Nhà tài trợ Ưu tiên toàn cầu Ưu tiên Việt Nam
Nhật Bản Hạ tầng kinh tế và dịch vụ Hạ tầng kinh tế và dịch vụ
CHLB Đức Phát triển kinh tế, cải thiện
điều kiện sống
Hỗ trợ cải cách kinh tế, phát triển hệ thống giao thông
Mỹ Tăng trưởng kinh tế, ổn định
dân số và sức khỏe
Cứu trợ nạn nhân chiến tranh
và trẻ em mồ côi Pháp Phát triển đô thị, GTVT, giáo
dục, khai thác mỏ
Phát triển nguồn nhân lực;
GTVT; Thông tin liên lạc Canada Cơ sở hạ tầng, phát triển khu
vực tư nhân, môi trường
Hỗ trợ kinh tế và tài chính, hỗ trợ thiết chế và quản lý
Thụy Điển Môi trường và biến đổi khí
hậu, dân chủ và quyền con người
Môi trường và biến đổi khí hậu; Dân chủ và quyền con người; Chống tham nhũng Thụy Sỹ Hạ tầng kinh tế, môi trường,
đào tạo nguồn nhân lực
Đào tạo nhân lực; Phát triển đô thị; Môi trường; Xóa đói giảm nghèo; Cải cách hành chính công
Anh Nhiều lĩnh vực Xóa đói giảm nghèo; GTVT
WB Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và tăng phúc lợi
Xóa đói giảm nghèo; GTVT
ADB Tạo việc làm, thêm cơ hội cho
người nghèo, người yếu thế
Tạo việc làm, thêm cơ hội cho người nghèo, người yếu thế IMF Cân bằng về mậu dịch kinh tế,
ổn định tỷ giá hối đoái
Hỗ trợ cán cân thanh toán và điều chỉnh cơ cấu
EU Giáo dục, y tế, xóa đói giảm
nghèo, bình đẳng
Giáo dục; Y tế; Xóa đói giảm nghèo; bình đẳng; Hỗ trợ cộng đồng dân tộc thiểu số
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Với số vốn cam kết hỗ trợ Việt Nam lên tới gần 80 tỷ USD của các nhà tài trợ, khoản tiền này được ví như “chất xúc tác” góp phần đưa Việt Nam gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp, với nền kinh tế có quy mô gần 154 tỷ
đô la Mỹ và thu nhập bình quân đầu người khoảng 1700 đô la Mỹ Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn khoảng 10% năm 2012 với hơn 30 triệu người thoát nghèo; Năm 2010 Việt Nam đứng thứ 6 thế giới về tiến độ hoàn thành Mục
Trang 38tiêu phát triển thiên nhiên kỷ (MDGs) Trong các Chính phủ tài trợ ODA, Nhật Bản, Cộng hòa Pháp và Liên bang Nga là nhiều nhất, đặc biệt là Chính phủ Nhật Bản Riêng Liên bang Nga do khoản nợ tồn đọng trước đây, thời gian qua chủ yếu là trả
nợ trong khi tài trợ mới rất ít nên dư nợ giảm dần Trong các Tổ chức tài chính quốc
tế, IDA (International Development Association) và ADB (Asian Development Bank) cho Việt Nam vay ODA nhiều nhất, vì vậy hơn 80% nguồn vay nợ ODA chỉ phải chịu mức lãi suất dưới 3%/năm
Bảng 2.3: Vốn ODA cam kết, ký kết và giải ngân cho VN 1996-2013
Đơn vị: Triệu USD
Tổng số % tăng
so với năm trước
Tổng số % tăng so
với năm trước
Tổng số % tăng
so với năm trước
- 2,63 15,31 21,20 9,97
2.418 1.805 1.757 2.568 2.515
- (-25,4) (-2,66) 46,16 (-2,06)
1.500 1.528 1.422 1.650 1.787
- 1,87 (-6,94) 16,03 8,30
17,79 22,55 (-1,14) (-7,15) 60,8
2.824 3.759 4.340 6.201 3.173
12,29 33,11 11,46 42,88 (-48,8)
1.785 2.176 2.253 4.105 3.541
(-0,11) 32,90 3,54 82,20 (-13,7)
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bảng 2.3 đã thể hiện tổng vốn ODA cam kết, ký kết và giải ngân từ cộng đồng quốc tế trong giai đoạn 1996-2013 cho Việt Nam Nhìn chung, nguồn vốn này
đã tăng đáng kể hàng năm cho thấy được các nhà tài trợ ủng hộ mạnh mẽ công cuộc đổi mới đất nước của Việt Nam Cho đến năm 2013, tổng số vốn ODA mà các nhà
Trang 39hơn năm trước ngay cả khi nền kinh tế thế giới gặp phải khó khăn như cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997; Kể cả khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong những năm gần đây dòng vốn này vẫn tăng đáng kể
Từ bảng số liệu trên cho thấy được số giải ngân vốn ODA trong thời kỳ 1996-2013 đạt 42,090 triệu USD, chiếm 53,83% tổng vốn cam kết và 66,76% tổng vốn ODA ký kết trong thời kỳ này
Trong giai đoạn 1993-2007 vốn ODA giải ngân đã tăng hơn 4 lần, hầu hết sự gia tăng dài hạn của vốn giải ngân là ở vốn vay hơn là vốn không hoàn lại, gần một nửa (49%) nguồn vốn vay có lãi suất thấp hơn 1%/năm và thời gian trả nợ ít nhất là
30 năm, trong đó có 10 năm ân hạn, một phần ba nguồn vốn vay là với lãi suất hàng năm từ 1% đến 2,5% (MPI, 2007) Dựa trên tổng nợ quy đổi của Việt Nam khoảng 37%GDP năm 2007 (MPI, 2007), ta có thể thấy không có dấu hiệu nguy hiểm của khủng hoảng nợ ở Việt Nam, khả năng trả nợ của Việt Nam là khá ổn.Trong giai đoạn này, ODA chủ yếu tập trung cho các dự án đầu tư (41%), với một lượng vốn tương đối được dành cho các dự án hỗ trợ kỹ thuật (23%) và phi hỗ trợ kỹ thuật (20%), chỉ có 13% vốn giải ngân năm 2005 là cho các chương trình viện trợ ngân sách và trợ giúp cán cân thanh toán Trong giai đoạn 2002- 2006, bình quân hằng năm nợ ODA tăng 12,53%, trong khi đó tốc độ tăng tương ứng của GDP (theo giá thực tế) là 16,13%, nên tỷ trọng nợ ODA/GDP giảm dần, đến cuối năm 2006 tỷ trọng này gần 23%, nếu tính cả các khoản nợ khác của khu vực công, tỷ trọng này gần 37%, nằm trong giới hạn tỷ lệ nợ an toàn cho phép của quốc gia Trong giai đoạn này số lượng giải ngân vốn ODA còn chậm và chưa đủ để triển khai các chương trình dự án: Giải ngân chỉ đạt 50,11%và trên ½ số vốn ký kết 74,25%; Điều này cho thấy việc cam kết cung cấp vốn ODA của các nhà tài trợ cho Việt Nam mới chỉ là sự ủng hộ mang tính chính trị, chưa thực sự tạo được kết quả cụ thể về mặt kinh tế xã hội nhằm đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước
Có một vài nguyên nhân giải thích lý do vì sao ODA lại giải ngân chậm ở Việt Nam:
Thứ nhất, thông thường phải mất một thời gian dài để các chương trình và dự
án ODA được triển khai Khoảng 50% nguồn vốn ODA ở Việt Nam được dành cho các dự án cơ sở hạ tầng, lĩnh vực cần nhiều thời gian hơn để tiến hành và thậm chí
Trang 40kết thúc chậm hơn từ 3 đến 5 năm so với các dự án ở các lĩnh vực khác, điều này đã dẫn đến việc giải ngân chậm
Thứ hai, năng lực quản lý và giám sát thực hiện dự án và chương trình ODA của Việt Nam còn hạn chế và bất cập, đặc biệt là ở khi có sự tham gia của chính quyền địa phương
Thứ ba, khuôn khổ pháp lý về quản lý và sử dụng vốn ODA chưa đồng bộ và việc hiểu các văn bản này cũng không thống nhất;Chính sự khác nhau trong nhận thức giữa các đối tác Việt Nam và các nhà tài trợ còn lớn, làm hạn chế việc thực hiện các dự án Trong Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ gần đây (2007), các nhà tài trợ cho Việt Nam đã khẳng định rằng việc giải ngân ODA sẽ được cải thiện mạnh mẽ nếu cách thức thực hiện của Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ hài hoà được với nhau
Bên cạnh đó cơ cấu tổ chức và năng lực cán bộ trong công tác quản lý và thực hiện ODA còn yếu và chưa đáp ứng những yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả ODA Theo nhận định của JICA (2003), hầu hết các thủ tục thẩm định và chấp nhận các dự án mới của bên Việt Nam còn phức tạp và cơ bản chưa hài hoà với quy trình
và thủ tục của các nhà tài trợ trở thành thách thức cho Việt Nam trong việc đảm bảo
sự minh bạch và trách nhiệm trong quản lý ODA
Tình hình vận động ODA trong 3 năm 2007, 2008 và 2009 có chiều hướng khả quan hơn Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 2 năm 2008 - 2009, ODA giải ngân đạt hơn 3,9 tỷ USD, tương đương 32% tổng vốn ODA dự kiến giải ngân trong cả thời kỳ 2006 - 2010 Đặc biệt, tại Hội nghị CG năm 2008, các nhà tài trợ quốc tế đã ký cam kết cung cấp cho Việt Nam khoản ODA có giá trị khoảng 5 tỷ USD - mức cam kết khá ấn tượng trong bối cảnh cuộc khủng hoảng toàn cầu, theo
đó nâng tổng số vốn ODA cam kết dành cho Việt Nam tính đến hết năm 2012 là trên 70 tỷ USD - nhằm tiếp tục hỗ trợ Việt nam trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đối phó với những tác động xấu từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đảm bảo sự tăng trưởng bền vững và toàn diện Trong 6 tháng đầu năm 2009, vốn ODA
ký kết đạt 2,92 tỷ USD và giải ngân được 1,754 triệu USD, đến cuối năm 2009, nền kinh tế thế giới đã có nh ững tín hiệu tích cực sau khủng hoảngvà s ự phục hồi mạnh