Trong nhóm giải pháp về đào tạo và sử dụng NNL CLC, các giải pháp về đào tạo là một nội dung tương đối rộng bao gồm phát triển hệ thống giáo dục đại học, gửi nhân lực ra nước ngoài đào t
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Tìm ra được nguồn lực đột phá thúc đẩy cho quá trình phát triển KT -
XH là điều mà các nhà lãnh đạo ở mỗi quốc gia đều hết sức quan tâm Điều này lại càng trở nên cần thiết và quan trọng, nhất là trong bối cảnh hội nhập KTQT cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong việc giành được vị thế cao giữa các nền kinh tế trên thế giới
Nhận thức được vai trò vô cùng quan trọng của nguồn lực đột phá thúc đẩy quá trình phát triển KT - XH của đất nước, trong mỗi giai đoạn các nhà lãnh đạo Việt Nam luôn tìm kiếm những nguồn lực ấy làm đòn bẩy cho quá trình phát triển
Trong giai đoạn 1986 - 1997, đứng trước khó khăn sau thời kỳ thống nhất đất nước cũng như sự tan rã của hệ thống các nước XHCN, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra hàng loạt các chính sách cải cách mang tính đột phá nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng như: thúc đẩy tự do lưu thông hàng hóa, cho phép thành lập công ty tư nhân, thực hiện khoán 10 (giao ruộng đất từ các HTX cho nông dân), giải thể và sáp nhập DNNN hoạt động kém hiệu quả, mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, ký hiệp định thương mại tự
do với EU năm 1992, bình thường hóa quan hệ với Mỹ và gia nhập ASEAN năm 1995 Chính những chính sách cải cách quan trọng này đã giúp Việt Nam thoát ra cơn khủng hoảng trầm trọng Theo số liệu của WB, tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 1996 đạt 6,6%; lạm phát từ mốc 3 con số vào đầu những năm 1980 đã giảm xuống chỉ còn ở mốc 12,7% năm 1995 và 4,5% năm 1996
Những cải cách quan trọng trong giai đoạn 1986 - 1997 đã giúp kinh tế Việt Nam có những bước phát triển khởi sắc, thoát khỏi khủng hoảng Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1998 (có khởi nguồn từ Thái Lan) đã tác động đến nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực trong đó có Việt Nam Đứng trước một cuộc khủng hoảng kinh tế châu lục có những ảnh hưởng tiêu cực vô cùng to lớn đến sự phát triển KT - XH của quốc gia, các nhà lãnh đạo đã đưa ra những chính sách nhằm tạo một động lực phát triển mới cho đất nước như: cho phép các doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu, ban hành Luật Doanh nghiệp (2000), đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa DNNN, ký
Trang 2hiệp định song phương với Mỹ (2001), hình thành sàn giao dịch chứng khoán (2000) Những chính sách mang tính giải phóng các nguồn lực của các thành phần kinh tế đã góp phần đưa kinh tế Việt Nam bước qua khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á - 1998: theo số liệu của WB, tốc độ tăng trưởng bình quân của Việt Nam giai đoạn 1998 - 2006 đạt 7,1%; lạm phát được giữ ở mức ổn định 4,5%
Giai đoạn 2007 - nay, nền kinh tế thế giới chứng kiến một loạt những biến động lớn đỉnh điểm là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 Cuộc khủng hoàng tài chính toàn cầu đã mang lại những ảnh hưởng vô cùng tiêu cực đến các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam: tăng trưởng có
xu hướng trững lại, tình trạng thất nghiệp và lạm phát có xu hướng gia tăng, Những ảnh hưởng tiêu cực mà cuộc khủng hoảng mang lại đặt ra một bài toán khó khăn đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam Đó là, phải tìm ra một giải pháp mang tính đột phá và bước ngoặt để đưa kinh tế hồi phục Một số các đề án đã được đưa ra nhằm đưa nền kinh tế bước ra giai đoạn khó khăn như: tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, tái cơ cấu DNNN, tái cơ cấu đầu tư công, cải cách hệ thống tài chính Mặc dù đã có những giải pháp nhất định, tuy nhiên nền kinh
tế Việt Nam vẫn chưa thực sự thoát khỏi được những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng: tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng giảm so với thời kỳ trước (theo số liệu của WB, tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2007 -
2013 chỉ đạt 6,2%) trong khi mức tăng trưởng bình quân của CPI giai đoạn này là 11,8% Có thể phần nào thấy được, các chính sách đưa ra trong giai đoạn 2007 - 2013 chưa có được sự tác động hiệu quả giúp nền kinh tế vượt qua được giai đoạn hậu khủng hoảng
Vấn đề ở đây đó là việc phải tìm ra một nguồn động lực mới mang tính đột phá làm đòn bẩy mới cho quá trình phát triển KT - XH Một trong những nguồn nội lực còn chưa được khai thác ở công suất tối đa đó chính là bộ phận
"NNL CLC" của đất nước Yếu tố "nhân lực" luôn là yếu tố mang lại sự đột phá nhiều nhất trong hầu hết các mô hình phát triển của các quốc gia đi trước
Đã có rất nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng các mô hình phát triển lấy
"nhân lực" đặc biệt là bộ phận "NNL CLC" là trung tâm của sự phát triển Đây chính là một trong những kinh nghiệm để Việt Nam có thể học hỏi để tạo được sức bật mới, mạnh hơn, bứt phá hơn dựa vào "NNL CLC", để có thể thoát ra tình trạng khó khăn của nền kinh tế hiện tại
Trang 32 Mục đích, phạm vi, câu hỏi và phương pháp nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
+ Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết chung nhất về NNL CLC
+ Chỉ ra những kinh nghiệm trong phát triển NNL CLC tại một số nước trên thế giới
+ Nêu lên những điểm hạn chế trong phát triển NNL CLC tại Việt Nam và nguyên nhân của những hạn chế đó
+ Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển NNL CLC tại Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Theo nội dung:
Để phát triển NNL CLC cần phải có chương trình phát triển toàn diện: thể lực, trí lực, kỹ năng và kỷ luật lao động, nhân cách đạo đức Giải pháp để phát triển NNL CLC phải là giải pháp toàn diện cho các nội dung trên, bao gồm: nhóm giải pháp về dinh dưỡng và chăm sóc y tế, chăm sóc sức khỏe để phát triển thể lực; nhóm giải pháp về đào tạo và sử dụng NNL CLC để phát triển trí lực; nhóm giải pháp khác để phát triển kỹ năng và kỷ luật lao động, nhân cách đạo đức Tuy nhiên, trong các nhóm giải pháp trên, nhóm giải pháp
về đào tạo và sử dụng NNL CLC được xem là vấn đề khẩn cấp quyết định khả năng tìm ra và thực hiện con đường phát triển mới để tạo ra đột phá phát triển kinh tế Việt Nam
Trong nhóm giải pháp về đào tạo và sử dụng NNL CLC, các giải pháp
về đào tạo là một nội dung tương đối rộng bao gồm phát triển hệ thống giáo dục đại học, gửi nhân lực ra nước ngoài đào tạo, thuê chuyên gia giỏi trong và ngoài nước thực hiện các chương trình đào tạo và rèn luyện cho các nhóm nhân sự chủ chốt trong các cơ quan, các biện pháp về đào tạo trong công việc (on – the – job training) Tuy nhiên, trong các giải pháp về đào tạo kể trên, các giải pháp thứ hai và thứ ba mang tính chất thuê gia công nhân lực và chỉ tập trung vào một lực lượng nhân lực mũi nhọn, không thể tạo ra được một lực lượng lao động chất lượng cao đồng đều phổ biến và càng không thể là biện pháp chỗ dựa lâu dài cho mục tiêu phát triển NNL CLC Giải pháp về đào tạo trong công việc (on – the – job training) thường được thực hiện sau khi người lao động đã được đào tạo trong các chương trình giáo dục chính
Trang 4dục đại học) chính là phần việc chủ yếu nhất, là điều kiện cần cho mọi điều kiện khác để tạo ra được một nền tảng về cung chắc chắn cả về số lượng và chất lượng NNL CLC
Nhằm tập trung đi sâu và giải quyết những vấn đề vừa mang tính thời
sự (Nghị quyết đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống giáo dục Việt Nam) vừa mang tính tiên quyết nhất để phát triển cả về chất và lượng của NNL CLC, trong phạm vi khóa luận này, tác giả chỉ tập trung phân tích các vấn đề xoay quanh việc phát triển hệ thống giáo dục đại học nhằm tạo ra một nguồn cung lao động chất lượng cao dồi dào, cộng với các vấn đề liên quan đến việc
sử dụng NNL CLC nhằm tạo ra một sức cầu đủ lớn để cân bằng với lượng cung được sinh ra Ngoài ra, các vấn đề về thể chế để khớp nối thị trường, lưu thông quan hệ cung cầu lao động chất lượng cao cũng được bàn tới ở một số nội dung nhất định trong khóa luận
+ Theo thời gian:
Khóa luận nghiên cứu các vấn đề về phát triển NNL CLC tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2012
+ Theo không gian:
Khóa luận thực hiện nghiên cứu các vấn đề về phát triển NNL CLC trên phạm vi các nước Trung Quốc, Mỹ, Singapore và Việt Nam
- Câu hỏi nghiên cứu:
+ Thực trạng về việc phát triển nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam?
+ Giải pháp nào để phát triển NNL CLC ở Việt Nam?
- Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng phương pháp phân tích thống kê, phân tích mô tả, phân tích so sánh để tổng hợp tình hình thực tế và đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp phát triển NNL CLC tại Việt Nam
Trang 53 Kết cấu của khóa luận
- Khóa luận có kết cấu gồm 4 chương:
+ Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển NNL CLC
+ Chương 2: Kinh nghiệm phát triển NNL CLC của một số nước trên thế giới
+ Chương 3: Thực trạng phát triển NNL CLC tại Việt Nam
+ Chương 4: Giải pháp phát triển NNL CLC tại Việt Nam
Trang 6CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 1.1 Một số vấn đề cơ bản về NNL và NNL chất lượng cao (NNL CLC)
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Thuật ngữ "nguồn nhân lực" bắt đầu xuất hiện từ những năm cuối thế
kỷ XX tại một số nước ở Tây Âu và Bắc Mỹ với hàm ý là một nguồn lực của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Trên thế giới hiện nay, thuật ngữ
"nguồn nhân lực" là một khái niệm có rất nhiều cách tiếp cận và có nhiều định nghĩa khác nhau
Theo Beng, Fischer & Dornhusch (1995), cho rằng "nguồn nhân lực là
toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai"
Theo Nicholas Henry: "nguồn nhân lực là nguồn lực con người của
những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới"
Còn tại Việt Nam, cũng có khá nhiều các khái niệm liên quan đến thuật ngữ "nguồn nhân lực", có thể kể đến một vài các khái niệm "nguồn nhân lực" như:
Theo GS Viện sỹ Phạm Minh Hạc: "nguồn nhân lực là tổng thể các
tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị ở các mức độ khác nhau, sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó"
Theo GS Nguyễn Tiệp: "nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao
động cho XH thông qua những khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động NNL chính là yếu tố cấu thành LLSX, giữ vai trò quyết định đến sự phát triển KT - XH quốc gia"
Có thể thấy được, mặc dù hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm "nguồn nhân lực", nhưng có thể thấy được tất cả các định nghĩa về
"nguồn nhân lực" luôn có hai nội dung bên trong đó là số lượng và chất lượng
nguồn nhân lực
Trang 7Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua quy mô và tốc độ phát triển nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua các mặt như: sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn - kỹ thuật, năng lực thực tế về kỹ năng nghề nghiệp, tính năng động sáng tạo, phẩm chất đạo đức của nguồn nhân
lực
1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao
Cũng giống như khái niệm "nguồn nhân lực", hiện nay đang có rất nhiều định nghĩa khác nhau về "nguồn nhân lực chất lượng cao" (NNL CLC)
Khi bàn tới thuật ngữ "NNL CLC", đại từ điển kinh tế thị trường của Trung Quốc cho rằng, đó là những người, trong điều kiện xã hội nhất định, có tri thức chuyên môn nhất định, có năng lực và kỹ năng cao, với tính lao động sáng tạo của bản thân trong điều kiện hoạt động của xã hội, có khả năng góp phần cống hiến nào đó đối với sự phát triển của xã hội
Ở Việt Nam, thuật ngữ "NNL CLC" thường được hiểu theo nhiều cách thức khác nhau Theo TS Lê Hồng Điệp, có ba cách tiếp cận về khái niệm NNL CLC tại Việt Nam hiện nay:
Cách tiếp cận thứ nhất nhấn mạnh tới khả năng và vai trò của NNL CLC gắn với quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam Cách tiếp cận này cho rằng, NNL CLC là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng công nghệ vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực chuyên môn của mình đi vào quá trình CNH, HĐH Theo cách tiếp cận này, khả năng của NNLCLC được thể hiện ở trình độ và năng lực cao; vai trò của NNL CLC thể hiện ở vai trò xung kích trong tiếp nhận và chuyển giao công nghệ tiên tiến và vai trò dẫn dắt những bộ phận nhân lực có trình độ và năng lực thấp hơn đi lên với tốc độ nhanh
Cách tiếp cận nhấn mạnh tới trình độ chuyên môn cao và khả năng thích ứng nhanh của NNL CLC: Cách tiếp cận này cho rằng, NNL CLC là LLLĐ có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất
Cách tiếp cận về NNL CLC với tư cách là cá nhân lao động riêng lẻ gắn với tiêu thức phân loại về chuyên môn, kỹ thuật: Theo cách tiếp cận này,
Trang 8nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề
cụ thể theo cách thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (trên đại học, cao đẳng, công nhân lành nghề)
Cách tiếp cận nhấn mạnh tới trình độ cao và khả năng thích ứng nhanh, đồng thời nhấn mạnh tới phẩm chất và khả năng sáng tạo tri thức của NNL CLC: Theo cách tiếp cận này, NNL CLC là bộ phận tinh túy nhất của NNL Lực lượng này có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi liên tục của công nghệ sản xuất, có phẩm chất tốt và có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao
Dù các nhà nghiên cứu có những góc độ tiếp cận khác nhau về NNL CLC nhưng tổng hợp lại, có thể nhấn mạnh tới những đặc trưng cốt lõi sau của lực lượng này:
Một là, về vai trò và tầm quan trọng: NNL CLC là LLLĐ ưu tú nhất, thực hiện vai trò dẫn đường đối với NNL nói chung trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
Hai là, về số lượng: NNL CLC chỉ bao gồm một bộ phận nhân lực trong tổng số nhân lực quốc gia
Ba là, về chất lượng: NNL CLC được đánh giá thông qua các yếu tố cơ bản sau: (1) phẩm chất đạo đức, (2) trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo, (3) khả năng thích ứng và sáng tạo trong công việc
Tổng hợp từ những cách tiếp cận nêu trên, có thể khẳng định rằng: NNL CLC là một bộ phận nhân lực quan trọng nhất của NNL, có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi, có năng lực sáng tạo và đặc biệt là khả năng thích ứng nhanh, đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn, biết vận dụng tri thức, kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao
1.2 Vai trò của NNL CLC trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
NNL CLC là đầu tàu giữ vai trò khởi động, lái và kéo cả quá trình phát triển KT - XH Vai trò của lực lượng này thể hiện ở tính tiên phong trong việc nắm bắt các xu hướng, tận dụng các cơ hội và định hướng cho quá trình phát
Trang 9triển KT - XH; tính tiên phong trong ứng dụng và triển khai tri thức hiện đại nhằm tạo ra những bước phát triển đột phá; tính tiên phong trong sáng tạo tri thức hiện đại nhằm thúc đẩy phát triển KT- XH đất nước
1.2.1 Nắm bắt các xu hướng, tận dụng các cơ hội và định hướng phát triển kinh tế xã hội
NNL CLC phần lớn là những người được đào tạo chuyên sâu, có khả năng khái quát vấn đề và nhìn ra tính quy luật của các quá trình phát triển Vì vậy, lực lượng này sẽ là những người đầu tiên nhìn ra các xu hướng phát triển, nhìn thấy các thời cơ phát triển, biết tận dụng các cơ hội và đưa ra định hướng phát triển kinh tế và xã hội ở cả tầm vi mô và vĩ mô
Ở mỗi bộ phận của NNL CLC, vai trò này thể hiện ở những khía cạnh khác nhau trong quá trình phát triển KT - XH
Bộ phận NNL CLC thuộc nhóm nhân viên kỹ thuật, nhân viên nghiệp
vụ, kỹ sư thực hành giữ vai trò tiên phong trong việc nắm bắt xu hướng thay đổi của cung và cầu thị trường, từ đó đưa ra những giải pháp kỹ thuật công nghệ, những sản phẩm có tính sáng tạo đột phá Đây là điều kiện tiên quyết để thu về cho doanh nghiệp lợi nhuận siêu ngạch, đồng thời tạo ra những đầu tàu tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Bộ phận NNL CLC thuộc nhóm lao động quản lý, lao động nghiên cứu
và lao động chuyên gia là bộ phận mấu chốt trong việc dự báo tương lai, nhận diện cơ hội và nắm bắt cơ hội phát triển, từ đó đưa ra định hướng và chiến lược phát triển cho hộ gia đình, doanh nghiệp và cho cả quốc gia
1.2.2 Ứng dụng và triển khai tri thức hiện đại nhằm tạo ra những bước phát triển đột phá
Vai trò tiên phong của NNL CLC không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt và định hướng mà còn ở việc thúc đẩy trên thực tế các yếu tố để hiện thực hóa quá trình phát triển đất nước Các yếu tố đó chính là việc ứng dụng; triển khai các tri thức hiện đại để thực hiện quá trình thay đổi môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới, sáng tạo nhằm thúc đẩy sự phát triển đột phá của đất nước Tri thức hiện đại trước hết bao gồm: tri thức quản trị quốc gia, tri thức khoa học xã hội, tự nhiên và công nghệ, tri thức quản trị kinh doanh Vai trò tiên phong trong ứng dụng và triển khai tri thức hiện đại của NNL CLC bắt nguồn từ những yêu cầu sau của thực tiễn:
Trang 10Một là, dưới tác động của cuộc CMKHCN, những tri thức hiện đại luôn luôn thay đổi với quy mô và tốc độ cực nhanh Với những thay đổi nhanh chóng đó, chỉ có NNL CLC mới có khả năng theo kịp để tiếp thu, ứng dụng
và triển khai tri thức mới Thông qua vai trò tiên phong của họ, đại bộ phận NNL mới có cơ hội tiếp xúc và triển khai trên quy mô rộng những tri thức hiện đại phục vụ thành công cho việc phát triển đất nước
Hai là, ở các nước đang phát triển, khả năng cập nhật tri thức hiện đại còn rất hạn chế Do đó, khoảng cách giữa trình độ tri thức hiện tại của những quốc gia kém phát triển so với trình độ tri thức hiện đại của thế giới là rất lớn Chỉ có thể trông cậy vào NNL CLC trong việc tăng tốc để tạo sức bật, bắt kịp với tốc độ phát triển ngày càng nhanh của nguồn tri thức hiện đại, từ đó ứng dụng vào quá trình tạo bước đột phá trong phát triển, thì quốc gia đó mới có thể có những cơ hội nhằm phát triển kinh tế theo hướng hiện đại
1.2.3 Sáng tạo tri thức hiện đại nhằm thúc đẩy phát triển KT - XH đất nước
Để có thể có bước đột phát trong phát triển đất nước đòi hỏi tất yếu đó
là phải liên tục có sự đổi mới và sáng tạo tri thức Tuy nhiên, sáng tạo tri thức, đặc biệt là những tri thức theo kịp xu hướng phát triển của thời đại, có giá trị kinh tế lớn không phải là khả năng vốn có của NNL nói chung Chỉ có những LLLĐ có trình độ chuyên môn cao, được làm việc trong những môi trường chuyên nghiệp mới tạo lập được khả năng sáng tạo tri thức khoa học để thúc đẩy quá trình xây dựng và phát triển kinh tế Vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức khoa học của NNL CLC thể hiện ở những nội dung sau:
- Sáng tạo những con đường và cách thức phù hợp với đặc tính của dân tộc nhằm thực hiện thành công các bước phát triển đột phá của đất nước
- Sáng tạo nên những tri thức khoa học tự nhiên và công nghệ - yếu tố đầu vào không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế
- Sáng tạo nên những mô hình, cách thức tổ chức quản lý, quản lý xã hội; mô hình, cách thức tổ chức, quản lý kinh tế mới phù hợp với hành trình hướng tới nền kinh tế tri thức
Như vậy, NNL CLC - thông qua trình độ, phẩm chất và khả năng tiêu biểu của mình sẽ là lực lượng đóng vai trò tiên phong trong công cuộc phát triển ở mỗi quốc gia Tại quốc gia nào, NNL CLC không được phát triển để
Trang 11thực thi vai trò tiên phong này thì quốc gia đó khó có thể có được sự phát triển đột phá trong tương lai
1.3 Các lý thuyết liên quan đến vai trò của việc phát triển NNL CLC tới tăng trưởng kinh tế
1.3.1 Mô hình Lucas giản đơn - mô hình tăng trưởng hai khu vực
Giả sử một nền kinh tế có hai khu vực: khu vực sản xuất (gồm các doanh nghiệp) và khu vực giáo dục (gồm các trường đại học) Các doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa - dịch vụ, được sử dụng trong tiêu dùng và được đầu tư vào vốn sản xuất vật chất Còn các trường đại học sản xuất ra một nhân
tố sản xuất gọi là "kiến thức", được sử dụng tự do trong hai khu vực Nền kinh tế được mô tả bằng hàm sản xuất của doanh nghiệp, hàm sản xuất của các trường đại học và phương trình tích lũy vốn
Sử dụng hàm sản xuất Coob - Douglas, hàm sản xuất của doanh nghiệp của mô hình nội sinh được xây dựng có xét tới vai trò của vốn con người:
Trong đó, u là tỷ lệ lao động đang làm việc trong khu vực giáo dục và 1-u là tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực sản xuất E là lượng kiến thức (quyết định hiệu quả lao động) Như vậy, thu nhập của khu vực sản xuất được hình thành bởi kết quả của tích lũy vốn sản xuất (K) và hiệu quả tích lũy vốn của khu vực giáo dục thể hiện ở số lao động hiệu quả trong khu vực sản xuất (1-u)EL Vốn vật chất được tích lũy theo quy luật vận động thông thường và phương trình tích lũy được xác định:
Trong đó, s là tỷ lệ tiết kiệm trong GDP, là tỷ lệ khấu hao bình quân của vốn sản xuất
Hàm sản xuất của khu vực giáo dục (các trường đại học) có sự vận động khác hơn Không giống như vốn vật chất, vốn con người không phải là một phần của sản lượng được tích lũy và chuyển hóa thành vốn sản xuất Hơn thế nữa, việc tạo ra vốn con người mới đòi hỏi sử dụng vốn con người hiện
có Vốn con người được tạo ra thông qua giáo dục và kiến thức hiện có là yếu
tố chủ yếu trong việc tạo ra giáo dục Do vậy, nếu chúng ta giả định vốn con người tương lai được sản xuất ra từ chính vốn con người, thì sự gia tăng vốn
Trang 12Từ logic như trên, có thể tổng hợp các phương trình liên quan đến tăng trưởng kinh tế theo mô hình Lucas như sau:
Hàm sản xuất của các doanh nghiệp Phương trình tích lũy vốn
Hàm sản xuất của các trường đại học
Mô hình này kết luận rằng nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng liên tục cho dù không có cú sốc công nghệ ngoại sinh nào xảy ra Sự tăng trưởng liên tục ở đây là nhờ tốc độ tạo ra kiến thức ở các trường đại học không hề suy giảm
Có hai biến quan trọng quyết định trong mô hình này Đó là, tỷ lệ thu nhập được sử dụng cho tiết kiệm và đầu tư (s) sẽ quyết định tới lượng vốn vật chất ở trạng thái ổn định Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động trong các trường đại học (u) sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng của kiến thức Cả s và u đền tác động tới tốc độ tăng thu nhập của nền kinh tế ở trạng thái ổn định
Mô hình Lucas còn đề cao vai trò của Chính phủ trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua đầu tư trực tiếp và gián tiếp cho giáo dục như khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành công nghiệp sử dụng nhiều tri thức như phần mềm máy tính, viễn thông Tuy vậy, giáo dục là một yếu tố quyết định đến khả năng gia tăng thu nhập của mỗi cá nhân cũng như lượng vốn con người của một đất nước Các gia đình nghèo thường rơi vào vòng luẩn quẩn: trình độ giáo dục thấp - kỹ năng nghề nghiệp thấp - thu nhập thấp Sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và tài sản càng cao, thì cái vòng luẩn quẩn này càng kéo dài Vì vậy, chính phủ các nước đang phát triển cần hướng tới các chính sách cung ứng giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, bởi đây chính là khu vực quyết định tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
1.3.2 Mô hình Romer (Động cơ tăng trưởng)
Mô hình Romer nội sinh quá trình công nghệ bằng cách đưa vào mô hình sự tìm kiếm những kiến thức, ý tưởng mới của các nhà nghiên cứu quan tâm đến lợi nhuận từ các phát minh của họ
Hàm sản xuất gộp trong mô hình Romer mô tả vốn K, lao động L, được kết hợp để sản xuất đầu ra Y, sử dụng quỹ (tập hợp) các ý tưởng; sáng chế; phát minh A:
Trang 13Mô hình Romer cho rằng, để tạo ra tăng trưởng, số lượng các ý tưởng; phát minh; sáng chế mới phải được mở rộng theo thời gian Nó xảy ra nếu số lượng các nhà nghiên cứu tăng Ở đây, con người là đầu vào chủ yếu của quá trình sáng tạo Dân số lớn hơn tạo ra số ý tưởng; phát minh; sáng chế mới nhiều hơn và bởi vì các ý tưởng là không cạnh tranh nên tất cả mọi người trong nền kinh tế đều thu được lợi ích
Nền kinh tế trong mô hình của Romer bao gồm ba khu vực: khu vực sản xuất sản phẩm hàng hóa cuối cùng, khu vực sản xuất hàng hóa trung gian
và ku vực nghiên cứu
* Khu vực sản xuất hàng hóa cuối cùng:
Khu vực sản xuất hàng hóa cuối cùng trong nền kinh tế của mô hình Romer bao gồm một số lượng lớn các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo, các doanh nghiệp kết hợp lao động với vốn để tạo ra sản phẩm thuần nhất Y:
Đầu ra Y được sản xuất bằng cách sử dụng lao động Y và một số các hàng hóa vốn khác mà chúng ta cũng gọi là "các hàng hóa trung gian" Tại bất kỳ thời điểm nào, A đo lường lượng hàng hóa vốn sẵn có cho khu vực sản xuất hàng hóa cuối cùng, và các doanh nghiệp trong khu vực sản xuất hàng hóa cuối cùng coi số lượng này là cho trước Các phát minh; sáng chế; ý tưởng mới trong mô hình tương ứng với các hàng hóa vốn được các khu vực sản xuất hàng hóa cuối cùng sử dụng để sản xuất ra sản phẩm
* Khu vực sản xuất hàng hóa trung gian:
Khu vực sản xuất hàng hóa trung gian bao gồm các nhà độc quyền, những người sản xuất hàng hóa vốn để bán cho khu vực hàng hóa cuối cùng Các doanh nghiệp này thu được quyền lực độc quyền thông qua việc mua thiết kế cho một hàng hóa vốn cụ thể từ khu vực nghiên cứu Do vấn đề bảo
vệ bản quyền, nên ta giả thiết là một loại hàng hóa vốn chỉ do một doanh nghiệp sản xuất Theo mô hình Romer, các doanh nghiệp trong khu vực sản xuất hàng hóa trung gian sẽ tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và triển khai để
có thể tạo ra thật nhiều các phát minh; sáng chế mới nhằm thu được càng
Trang 14cạnh tranh quan trọng và quyết định nhất đối với các doanh nghiệp trong khu vực sản xuất hàng hóa trung gian
* Khu vực nghiên cứu:
Theo Romer, khu vực nghiên cứu về cơ bản giống như đào vàng Bất
kỳ ai cũng có thể "tự do thăm dò" cho các ý tưởng, và phần thưởng cho việc thăm dò là phát hiện ra một "mỏ vàng" có thể bán được Các ý tưởng; phát minh; sáng chế trong mô hình Romer là các thiết kế hàng hóa vốn mới đó có thể là một chip máy tính nhanh hơn hay một cách thức mới trong các tổ chức sản xuất Khi một thiết kế mới được phát hiện, nhà phát minh nhận được một bằng phát minh từ chính phủ cho phép độc quyền sản xuất loại hàng hóa này Nhà phát minh bán bằng phát minh cho một doanh nghiệp sản xuất hàng hóa trung gian và sử dụng tiền kiếm được để tiêu dùng và tiết kiệm
Mô hình Romer cho rằng, tiến bộ công nghệ là động lực của tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Các ý tưởng; phát minh; sáng chế mới sẽ làm cho các doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh lớn và thúc đẩy nền kinh tế
đi lên Tiến bộ công nghệ sinh ra khi các cá nhân đi tìm kiếm những ý tưởng mới Bản chất không cạnh tranh của các ý tưởng hàm ý rằng sản xuất được đặc trưng bởi hiệu quả kinh tế tăng theo quy mô Tỷ lệ tăng trưởng trong các
ý tưởng; phát minh; sáng chế được gắn chặt với tỷ lệ tăng trưởng dân số Một
số lượng lớn hơn các nhà nghiên cứu có thể tạo ra một số lượng lớn hơn các phát minh; sáng chế mới và đó là nguyên lý cơ bản tạo ra tăng trưởng thu nhập theo đầu người Chính bởi lý do đó, chính phủ các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đi sau cần tích cực đầu tư cho nghiên cứu và triển khai để có thể thúc đẩy năng lực sáng tạo của đội ngũ nhà phát minh sáng chế thông qua các chính sách khuyến khích, đầu tư nghiên cứu triển khai của khu vực doanh nghiệp, hoàn thiện cơ chế liên quan đến vấn đề bản quyền để có thể tạo ra nhiều hơn phát minh; sáng chế mới để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
1.4 Nội dung và tiêu chí phát triển NNL CLC phục vụ cho quá trình phát triển KT - XH
1.4.1 Nội dung phát triển NNL CLC
Phát triển NNL CLC là quá trình tạo ra sự chuyển biến cả về số lượng
và chất lượng NNL CLC Vì vậy, nội dung phát triển NNL CLC phải đáp ứng những yêu cầu sau:
Trang 151.4.1.1 Gia tăng số lượng NNL CLC
Để đáp ứng yêu cầu tạo ra những bước phát triển đột phá cho đất nước, cần phải có một LLLĐ được đào tạo tốt, có đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết cho ngành mình làm việc, không ngừng nâng cao kiến thức và kỹ năng, thích nghi được với sự phát triển của KH - CN
Muốn phát triển NNL CLC đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, trước tiên phải gia tăng nhanh chóng số lượng lao động tri thức, lao động quản lý và lao động dữ liệu Lực lượng này phải chiếm tỷ lệ vượt trội trong tổng LLLĐ quốc gia Trong đó, phải đặc biệt chú trọng tới việc gia tăng số lượng lao động trí thức và lao động dữ liệu (bao gồm đội ngũ nhân lực KH - CN) - đó là lực lượng nòng cốt tiếp thu, ứng dụng và sáng tạo tri thức KH - CN hiện đại
để đưa nền kinh tế quốc gia thích ứng với trình độ phát triển của thế giới Việc gia tăng số lượng NNL CLC là điều kiện cần để phát triển lực lượng này
Trong nền kinh tế công nghiệp, cách tổ chức lao động phổ biến là mô hình sản xuất hàng hóa kiểu Taylor Đây là cách thức tổ chức lao động đề ra yêu cầu tối thiểu về kỹ năng đối với LLLĐ Chỉ cần thành thạo một số động tác lặp đi, lặp lại và không cần động não, LLLĐ có thể hoàn thành nhiệm vụ của họ
Trong thời đại công nghệ thông tin và thế giới phẳng, do tác động của rất nhiều yếu tố, nhu cầu của người tiêu dùng trở nên đa dạng và cao cấp hơn Sản phẩm của phương thức sản xuất hàng hóa hàng loạt không còn thu hút được người tiêu dùng toàn cầu Sự tinh tế và khác biệt trong mỗi sản phẩm trở thành thị hiếu nổi trội và đồng thời cũng mang lại những giá trị kinh tế rất cao cho các sản phẩm Do đó, mô hình sản xuất linh hoạt, sử dụng công nghệ chế tạo theo chuyên môn hóa linh hoạt đang dần được thay thế cho mô hình sản xuất linh hoạt Quan điểm nền tảng trong cách tổ chức này cho rằng: chính những người lao động trực tiếp là người biết được cách nào là tốt nhất, tiết kiệm nhất để thực hiện quy trình công việc trên dây chuyền linh hoạt, do vậy,
hệ thống sáng kiến được triển khai từ dưới lên và sản xuất được cải tiến liên tục theo hệ thống sáng kiến đó
Như vậy, khác với mô hình Taylor đòi hỏi công nhân nắm vững một động tác chuyên môn hóa được chi tiết đến mức đơn giản, mô hình tổ chức
Trang 16năng, luôn có ý thức về sáng kiến đổi mới Nói cách khác, mô hình tổ chức lao động mới đòi hỏi một LLLĐ đại chúng trực tiếp tham gia sản xuất có độ linh hoạt cao, có khả năng sáng tạo và đổi mới, có trình độ đào tạo cao
Như vậy, nhu cầu đối với NNL CLC tồn tại ở mọi xã hội nhưng trong thời đại công nghệ phát triển với những bước đột phá liên tiếp như ngày nay, nhu cầu này có một sự phát triển về chất Trong nền kinh tế công nghiệp, nhu cầu đối với NNL CLC tuy rất cần thiết nhưng mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ Ngày nay, nhu cầu lớn hơn đối với NNL CLC không chỉ thể hiện ở LLLĐ gián tiếp, các nhà phân tích xử lý thông tin, thiết kế - tư vấn mà còn đối với LLLĐ trực tiếp tham gia các nhóm làm việc trong mô hình tổ chức sản xuất linh hoạt Sự mở rộng quy mô nhu cầu này chính là sự đột biến về chất của nhu cầu đối với NNL CLC trong nền kinh tế, cho phép nền kinh tế có bước phát triển nhảy vọt so với nền kinh tế công nghiệp
1.4.1.2 Hình thành và phát huy những tố chất phù hợp với yêu cầu của thời đại
Để có thể tạo ra những bước phát triển đột phá cho đất nước, NNL CLC phải hình thành được và phát huy trên thực tế những tố chất đặc trưng của NNL CLC phục vụ cho công cuộc phát triển KT - XH
a Hình thành và phát huy tố chất thích ứng
Tố chất thích ứng được biểu hiện ở khả năng tự điều chỉnh, khả năng thích nghi để làm chủ được trước sự thay đổi nhanh chóng của vốn tri thức nhân loại Chỉ khi nào NNL CLC hình thành được khả năng này ở tầm cao tương xứng với thời đại thì quốc gia đó mới có thể theo kịp và vươn lên trong
sự phát triển chung của thế giới Sự khẳng định này dựa vào những lý do cơ bản sau:
- Tri thức của nhân loại liên tục thay đổi với tốc độ rất nhanh đòi hỏi NNL phải có khả năng thích nghi, sự năng động rất cao thì mới có thể theo kịp và tiếp thu được những tri thức mới cập nhật
- Cuộc CMKHCN đang diễn ra nhanh như vũ bão, các công nghệ mới liên tục xuất hiện, các thành tựu và những phát minh sáng chế liên tiếp được giới thiệu bởi vậy, các quốc gia nếu như không muốn bị tụt lại so với phần còn lại của thế giới buộc phải chạy theo guồng quay này NNL cần phải có sự thay đổi, cập nhật liên tục những công nghệ mới để tránh khỏi sự tụt hậu Bên cạnh đó, họ cũng cần phải đi trước công nghệ, tạo ra xu thế bằng cách tạo nên
Trang 17những công nghệ mới, những phát minh mới để không bị tụt hậu so với guồng quay phát triển của KH - CN
b Hình thành và phát huy tố chất sáng tạo
Ngày nay, các phát minh và sáng chế là một trong những yếu tố hàng đầu được các quốc gia quan tâm nhằm tạo nên lợi thế cạnh tranh đột phá trong thời đại mới Quốc gia nào sở hữu năng lực sáng tạo lớn với những phát minh, sáng chế mang tính bước ngoặt và có tính định hướng cho thị trường, quốc gia
đó sẽ nắm trong tay lợi thế cạnh tranh và thu được những lợi ích KT - XH vô cùng to lớn Tuy vậy, việc có được tố chất sáng tạo ở bộ phận nhân lực không phải là chuyện quá đơn giản Bộ phận nhân lực có thể có được khả năng sáng tạo đều là những người được đào tạo bài bản, được tiếp xúc với các thành tựu công nghệ hiện đại, được nghiên cứu trong những môi trường thuận lợi Hầu như, chỉ có một tỷ lệ nhỏ trong LLLĐ có khả năng sáng tạo, đó chính là NNL CLC Tố chất sáng tạo trong bộ phận NNL CLC được đánh giá là yếu tố mang tính đột phá quan trọng nhất giúp các quốc gia đang phát triển có thể tạo nên những sức bật đột phá trong quá trình phát triển, từ đó rút ngắn khoảng cách với các quốc gia đi trước
Tóm lại, những nội dung nêu trên hướng tới việc phát triển NNL CLC
để đáp ứng yêu cầu tạo ra bước phát triển đột phá cho đất nước cả về số lượng
và chất lượng, đồng thời xét trên cả hai phương diện đào tạo và sử dụng NNL CLC Đó là những nội dung hướng tới việc phát triển về chất, phát triển mang tính bước ngoặt đối với NNL CLC trong thời đại có sự chuyển biến mang tính cách mạng của nhân loại hiện nay
1.5 Tiêu chí đánh giá quá trình phát triển NNL CLC
1.5.1 Các tiêu chí đánh giá về gia tăng số lượng NNL CLC
Theo TS Lê Hồng Điệp, các tiêu chí đánh giá về gia tăng số lượng NNL CLC bao gồm:
(1) Sự gia tăng tỷ lệ lao động trình độ đại học trên tổng số LLLĐ
Tiêu chí này đánh giá tốc độ gia tăng số lượng và tỷ trọng LLLĐ trình
độ đại học trên tổng số LLLĐ quốc gia Đây là tiêu chỉ phản ánh trực tiếp về
sự gia tăng NNL CLC
(2) Sự gia tăng tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân
Trang 18(3) Sự gia tăng số lượng sinh viên, sinh viên mới tuyển, sinh viên tốt nghiệp hàng năm
Lực lượng tạo nguồn trực tiếp cho đội ngũ nhân lực CLC của mỗi quốc gia chính là đội ngũ sinh viên đang theo học tại các trường đại học Vì vậy, tiêu chí (2) và (3) là những tiêu chí đánh giá sự gia tăng lực lượng tạo nguồn cho đội ngũ nhân lực chất lượng cao của mỗi quốc gia
1.5.2 Các tiêu chí đánh giá khả năng thích ứng và khả năng sáng tạo tri thức KH - CN hiện đại của NNL CLC
Theo nghiên cứu của WB, một số tiêu chí nhằm đánh giá khả năng thích ứng cũng như khả năng sáng tạo tri thức KH - CN hiện đại của NNL CLC bao gồm:
(1) Mức độ sẵn có của lao động sản xuất chất lượng cao
(2) Mức độ sẵn có của cán bộ hành chính chất lượng cao
(3) Mức độ sẵn có của cán bộ quản lý hành chính chất lượng cao
(4) Sự thành thạo của lao động công nghệ cao
(5) Sự thành thạo tiếng Anh của đội ngũ nhân lực chất lượng cao
(6) Mức độ thành thạo kỹ năng của đội ngũ cán bộ hành chính
(7) Mức độ thành thạo kỹ năng của đội ngũ chuyên gia
(8) Mức độ thành thạo kỹ năng của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính (9) Năng suất lao động của đội ngũ nhân lực chất lượng cao
Chín tiêu chí nêu trên nhằm đánh giá tố chất thích ứng của NNL CLC thông qua đội ngũ nhân lực chất lượng cao điển hình: đội ngũ cán bộ quản lý hành chính, đội ngũ chuyên gia, đội ngũ nhân lực chất lượng cao nói chung Khả năng thích ứng được đánh giá thông qua mức độ thành thạo kỹ năng, sự thành thạo tiếng Anh, sự thành thạo công nghệ cao, năng suất lao động và mức độ sẵn có của NNL CLC
(10) Số đơn đăng ký phát minh sáng chế được Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới cấp
(11) Số bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế
Tiêu chí (10) và (11) đánh giá tố chất sáng tạo của NNL CLC Số đơn đăng ký sáng chế quốc tế, số bài viết được đăng trên tạp chí quốc tế phản ánh
Trang 19mức độ biểu hiện tố chất sáng tạo của NNL CLC trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế
1.6 Những yếu tố tác động trực tiếp đến phát triển NNL CLC đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH
Quá trình phát triển NNL CLC bị tác động bởi rất nhiều yếu tố với mức
độ và phạm vi tác động khác nhau Phần này tập trung phân tích hai nhóm yếu
tố tác động trực tiếp và quan trọng nhất tới quá trình phát triển NNL CLC
1.6.1 Nhóm yếu tố phía cung: Đào tạo NNL CLC
Tri thức được coi là một nguồn vốn quyết định trong nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, việc tiếp nhận vốn tri thức lại không dễ dàng như việc tiếp nhận vốn dưới dạng tiền tệ Chuyển giao tiếp nhận vốn tri thức phải qua GD -
ĐT Điều này có nghĩa là GD - ĐT tác động trực tiếp và quan trọng nhất tới việc phát triển cả về số lượng và chất lượng vốn tri thức được tích lũy ở NNL Đối với NNL CLC, giáo dục đại học tác động trực tiếp và mang tính đột phá tới chất lượng, những tố chất tiêu biểu của lực lượng này
Kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa lao động được đào tạo và NSLĐ của Viện Nghiên cứu Khoa học Lao động và Xã hội năm 2011 cho thấy, nếu tăng thêm một năm được đào tạo thì NSLĐ sẽ tăng thêm 12% và nếu tăng 1% tỷ trọng lao động có trình độ đại học - cao đẳng trở lên trong tổng số LLLĐ thì NSLĐ toàn xã hội sẽ tăng thêm 0,55% Cũng theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Lao động và Xã hội, NNL chất lượng càng cao (thể hiện bằng số năm đi học cao), thì năng suất và theo đó là tiền lương càng lớn
Do sự tác động mang tính quyết định của giáo dục đại học tới chất lượng và NSLĐ nên các quốc gia không ngừng cải cách, đầu tư cho GD - ĐT đặc biệt là tìm ra những con đường và cách thức mới để phát triển giáo dục đại học Chỉ bằng cách đó, NNL CLC mới được nâng cao, phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại mới Sự tác động của giáo dục đại học với quá trình phát triển NNL CLC được thể hiện trên các mặt sau:
Trang 201.6.1.1 Tác động của giáo dục đại học tới số lượng NNL CLC
Quy mô và mô hình phát triển giáo dục đại học sẽ tác động tới số lượng NNL CLC
Căn cứ vào quy mô đào tạo, có thể chia các mô hình giáo dục đại học thành các nhóm: Giáo dục đại học tinh hoa, giáo dục đại học đại chúng, giáo dục đại học phổ cập
Giáo dục đại học tinh hoa tạo ra một lực lượng nhân lực tinh hoa, chiếm số ít trong tổng số LLLĐ Mô hình giáo dục này phù hợp với xã hội nông nghiệp và giai đoạn đầu của xã hội công nghiệp
Giáo dục đại học đại chúng tạo ra một lực lượng đông đảo nhân lực chất lượng cao phục vụ cho quá trình phát triển ở trình độ công nghiệp và hậu công nghiệp cuối thể kỷ XX, đầu thế kỷ XXI Mỹ là quốc gia đi đầu trong việc xây dựng mô hình giáo dục đại học đại chúng vào những năm 1970
Giáo dục đại học phổ cập phát triển mạnh ở Mỹ, các nước Tây - Bắc
Âu , Hàn Quốc, Nhật Bản vào thập kỷ đầu của thế kỷ XXI để phục vụ cho nhu cầu NNL CLC trong thời đại mới
Như vậy, một hệ thống giáo dục đại học phù hợp là một hệ thống mà ở
đó việc quy hoạch mạng lưới các trường ĐH phải đảm bảo việc đào tạo đủ yêu cầu cả về số lượng và chất lượng NNL CLC Nếu hệ thống đại học chỉ hướng vào việc đào tạo đội ngũ tinh hoa thì số lượng nhân lực có trình độ đại học sẽ là thiểu số Nếu hệ thống đại học được thiết kế đa dạng, phong phú, hướng vào đại chúng, ở đó có sự kết hợp giữa đào tạo lực lượng tinh hoa và đào tạo lực lượng đại chúng thì sẽ tác động rất lớn tới tốc độ gia tăng NNL CLC Từ đó, NNL CLC có thể phục vụ tốt nhất cho quá trình phát triển của các quốc gia trong thời đại ngày nay
1.6.1.2 Tác động của giáo dục đại học tới việc hình thành và phát huy tố chất thích ứng và tố chất sáng tạo
Xã hội công nghiệp hình thành cách đây hàng trăm năm đã sản sinh ra các trường đại học truyền thống - nơi cung cấp các kiến thức cao cấp ổn định trong nhiều thập niên Loại trường này vẫn đang tồn tại ở nhiều quốc gia trên những nét cơ bản Việc tổ chức và hoạt động các trường đại học truyền thống thường khá ổn định và rất ít thay đổi về chương trình đào tạo, cách thức tổ chức và hoạt động do vậy, khả năng tác động của nó tới việc hình thành và
Trang 21phát huy tố chất thích ứng và tố chất sáng tạo của người được đào tạo là rất kém
Ngày nay, nhân loại đang bước vào kỷ nguyên tri thức dựa trên nàng tảng của CNTT và viễn thông Tri thức và thông tin đã trở thành một thứ vốn quý tạo nên giá trị gia tăng của các ngành sản xuất, kinh doanh, tổ chức và quản lý Mô hình đại học truyền thống đang trở nên lỗi thời và đang được thay thế bằng mô hình đại học mới – mô hình đại học tự chủ, ở đó có khả năng đào tạo ra những người lao động có khát vọng tạo ra những thay đổi, có khả năng thích ứng và sáng tạo để có thể thực sự làm chủ một cách tự tin trong xã hội Theo mô hình này, trường đại học là một cơ sở xã hội tự chủ Trường đại học được trao quyền tự chủ một cách rộng rãi để có thể tạo ra những con người tự chủ cho xã hội thay vì giảng dạy cho sinh viên những chân lý tuyệt đối đã định sẵn Đây là một bước chuyển biến quan trọng và có
ý nghĩa trong tư duy cơ bản của ngành giáo dục
Trong mô hình đại học tự chủ, trường đại học, hơn ở bất kỳ nơi nào khác, là môi trường tự do tư tưởng, từ đó, triển khai các quyền tự chủ khác như tự chủ về chương trình, phương pháp dạy học, tự chủ về nhân sự, Bộ chủ quản chỉ làm chức năng quản lý nhà nước theo hướng quản lý để phát triển, phát huy khả năng sáng tạo, sáng kiến đa dạng của các nhà giáo, các nhà khoa học nhằm cống hiến cho sự phát triển và nâng cao chất lượng NNL trong bối cảnh cuộc CMKHCN đang diễn ra với tốc độ cao Trong môi trường
có điều kiện tự chủ cao như vậy, các trường đại học có thể phát huy mọi khả năng về vật chất và sức mạnh trí tuệ đặc thù của mình để đào tạo lực lượng lao động có khả năng thích ứng và sáng tạo cao
1.6.2 Nhóm yếu tố từ phía cầu: Sử dụng NNL CLC
Vấn đề sử dụng hay chính xác hơn là vấn đề thu hút và trọng dụng là động cơ, là cái đích và là một khâu trong quá trình đào tạo và hiện thực hóa giá trị của NNL CLC nói chung và nhân tài nói riêng Việc thu hút và trọng dụng NNL CLC không chỉ tác động trực tiếp đến việc phát triển lực lượng này mà còn tác động quyết định tới sự hưng thịnh của mỗi quốc gia
Bằng các chính sách trọng dụng đối với NNL CLC, tố chất thích ứng
và tố chất sáng tạo sẽ được phát huy để lực lượng này đủ khả năng thúc đẩy mỗi quốc gia trong hành trình tạo nên những bước phát triển đột phá
Trang 22*Những chính sách trọng dụng đối với NNL CLC nói chung
Một là, chính sách tuyển dụng, bố trí công việc và thăng tiến
Tác động rõ nét nhất của chính sách tuyển dụng đối với việc phát huy
tố chất và khả năng của NNL CLC được thể hiện ở chỗ, nếu chính sách và phương pháp tuyển dụng hợp lý, khách quan, chính xác thì sẽ tuyển dụng được lao động thực sự có trình độ, năng lực và nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu tuyển dụng ngay từ đầu Đội ngũ nhân lực chất lượng cao được tuyển dụng sẽ phát huy được thế mạnh của mình ở vị trí phù hợp với trình độ chuyên môn của họ
Việc bố trí, phân công công việc hợp lý dựa trên cơ sở năng lực và phân tích công việc sẽ có tác động lớn tới việc phát huy lòng yêu nghề, sự linh hoạt và năng động của đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong quá trình làm việc
Chính sách thăng tiến cần mang tính mở và linh hoạt đối với tất cả đội ngũ nhân lực để tạo động lực phấn đấu, cống hiến và vươn lên trong quá trình làm việc Khi cơ hội thăng tiến rộng mở đối với đội ngũ thì họ sẽ có động lực
để sáng tạo và bứt phá nhằm khẳng định khả năng của mình
Hai là, chính sách tiền lương
Chính sách tiền lương tác động rất lớn tới ý thức và trách nhiệm của đội ngũ lao động nói chung Nếu tiền lương và mức thu nhập mang tính công bằng, đánh giá chính xác và hợp lý năng lực của người lao động, đặc biệt là lao động có trình độ cao thì người lao động sẽ gắn bó và cống hiến tối đa năng lực của họ Để tiền lương thực sự phát huy tác dụng trong việc thúc đẩy khả năng của NNL CLC, thì chính sách tiền lương phải hết sức linh hoạt, bám sát những thay đổi của thị trường lao động Trong đó, sự linh hoạt phải thể hiện rõ nét trong việc điều chỉnh chính sách tiền lương của đội ngũ nhân lực CLC làm việc trong khu vực công so với khu vực tư Nếu không điều chỉnh được sự bất hợp lý về tiền lương giữa hai khu vực thì chất lượng đội ngũ cán
bộ hành chính nhà nước sẽ rất thấp Quốc gia sẽ khó có đủ điều kiện để thực hiện bước phát triển đột phá bởi sự kìm hãm của chính bộ phận nhân lực hành chính chất lượng thấp
Trang 23Ba là, chính sách đãi ngộ về mặt xã hội
Ngoài tiền lương, những đãi ngộ về mặt xã hội có ảnh hưởng rất lớn tới
sự gắn bó và cống hiến tài năng của NNL CLC cho công việc Nếu những chính sách về BHXH, an sinh xã hội, tạo thuận lợi cho đời sống sinh hoạt thường ngày của người lao động và gia đình họ thì họ sẽ yên tâm cống hiến và gắn bó lâu dài với công việc
Bốn là, chính sách hỗ trợ trong hoạt động nghiên cứu triển khai
Trong thành phần NNL CLC, có nhóm NNL quan trọng thực hiện các hoạt động nghiên cứu - triển khai nhằm thúc đẩy mạnh mẽ việc hình thành những dòng sản phẩm đột phá, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Đây là một hoạt động đặc thù và cần có điều kiện làm việc hiện đại và đầu tư lớn Vì vậy, nếu chính sách hỗ trợ trong hoạt động nghiên cứu - triển khai thực sự quan tâm đến việc hỗ trợ để nhóm nhân lực KH - CN có điều kiện làm việc trong môi trường lý tưởng thì họ sẽ sản sinh ra nhiều sản phẩm trí tuệ mang tính sáng tạo cao và có tính ứng dụng cao với xã hội
Trang 24CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia nằm trên khu vực Đông Á Đây là quốc gia có dân số đông nhất thế giới và là nền kinh tế đứng số một châu Á và đứng thứ hai toàn cầu Năm 2011, GDP theo giá cố định (2005) năm 2011 của Trung Quốc đạt 5,44 nghìn tỷ USD
Biểu đồ 2.1: GDP theo giá cố định năm 2005 của Trung Quốc
giai đoạn 2000 - 2011
Đơn vị tính: tỷ USD
Nguồn: Tổng hợp Số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới
Kể từ năm 1978, sau khi thực thi hàng loạt những chính sách cải cách
KT - XH đồng bộ, nền kinh tế Trung Quốc đã thu được một loạt các thành tựu đáng ghi nhận như trở thành nền kinh tế số hai thế giới sau Mỹ xét theo tổng GDP, các ngành công nghệ điện tử; công nghệ cao phát triển mạnh và trở thành mũi nhọn của nền kinh tế, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tập trung phát trển những ngành có hàm lượng khoa học - kỹ thuật và chất xám cao, Một trong những chính sách mang tính bước ngoặt mà Chính phủ
Trang 25Trung Quốc áp dụng đó là việc thực hiện phát triển NNL CLC và thúc đẩy năng lực tự chủ sáng tạo của NNL Những chính sách đó đã phát huy tác dụng, thúc đẩy đưa nền kinh tế Trung Quốc phát triển theo hướng hiện đại, dựa trên những tiến bộ khoa học - kỹ thuật tiên tiến
2.1.1 Các chính sách của Trung Quốc trong việc phát triển NNL CLC
2.1.1.1 Xây dựng đặc khu nhân lực chất lượng cao
Học tập kinh nghiệm công tác nhân lực chất lượng cao của quốc tế và vận dụng cách làm của các đặc khu kinh tế đã xây dựng trong thời kỳ đầu cải cách mở cửa, Trung Quốc đã lựa chọn một số khu vực có đặc điểm phù hợp
để xây dựng đặc khu nhân lực chất lượng cao đủ điều kiện hòa nhập với quỹ đạo quốc tế Năm 2011, Trung Quan Thôn được quy hoạch trở thành đặc khu nhân lực chất lượng cao cấp quốc gia Chính phủ Trung Quốc đã ban hành 13 chính sách hỗ trợ đặc biệt cho khu vực này trên các phương diện như sử dụng kinh phí KH - CN dành cho nhân lực chất lượng cao, ưu đãi thuế nhập khẩu đối với những sản phẩm đặc thù, hỗ trợ vốn với các dự án quan trọng , qua
đó đã kích thích sức sáng tạo của nhân lực KH - CN, hình thành được hệ thống thể chế, cơ chế có lợi cho sự trưởng thành và phát huy vai trò của nhân lực chất lượng cao
Từ khi nằm trong quy hoạch trở thành đặc khu nhân lực chất lượng cao cấp quốc gia, Trung Quan Thôn như một khối "nam châm" khổng lồ, thu hút rất nhiều nhân tài trong và ngoài nước Đặc khu là nơi tập trung 211 điểm cung cấp cơ sở hạ tầng về khoa học kỹ thuật cấp quốc gia, chiếm 90,60% điểm cung cấp của Bắc Kinh và chiếm 17,20% trong tổng số điểm cung cấp toàn quốc, trong đó có 67 phòng thực nghiệm trọng điểm cấp quốc gia, chiếm 30% toàn quốc; có 50 trung tâm nghiên cứu công nghệ kỹ thuật dự án nhà nước, chiếm 35,50% toàn quốc; có 37 trung tâm nghiên cứu dự án nhà nước, chiếm 29,10% toàn quốc
Vài năm gần đây, các địa phương như Thượng Hải, Thiên Tân, Vũ Hán, đang tích cực nghiên cứu, đẩy nhanh tiến trình xây dựng đặc khu nhân lực chất lượng cao Thượng Hải lập kế hoạch xây dựng khu thí nghiệm đổi mới nhân tài quốc tế ở Phố Đông, Thiên Tân đề xuất ý kiến đẩy nhanh tiến trình vươn tới đỉnh cao nhân tài ở khu kinh tế mới Bân Hải
Trang 262.1.1.2 Xây dựng "căn cứ địa" phát triển nhân lực chất lượng cao quốc tế hóa
"Căn cứ địa" đổi mới nhân lực chất lượng cao nước ngoài còn gọi là
"căn cứ địa" của " Kế hoạch ngàn người", là nơi thực hiện những đổi mới, sáng tạo về KH - CN do Chính phủ thành lập nhằm mục đích thu hút NNL CLC nước ngoài Đối tượng tham gia chủ yếu bao gồm các DNNN, các trường đại học, cơ quan NCKH và khu khai thác và phát triển kỹ thuật bậc cao cấp quốc gia
Xây dựng "căn cứ địa" đổi mới NNL CLC nước ngoài là một trong những yếu tố trọng tâm của "Kế hoạch ngàn người" nhân tài nước ngoài do Chính phủ Trung Quốc chỉ đạo thực hiện, đưa "căn cứ địa" này trở thành kênh thu hút, quy tụ và sử dụng hiệu quả NNL CLC nước ngoài Chính phủ sẽ lựa chọn ra một số đơn vị có thực lực nghiên cứu và phát triển KH - CN mạnh, có nền tảng về công tác nhân tài tốt, có tiềm lực phát triển mạnh để gây dựng trở thành những chiếc nôi nuôi dưỡng nhân lực chất lượng cao cấp quốc gia thông qua các hoạt động như áp dụng cơ chế, thể chế mới; thực hiện chính sách nhân lực chất lượng cao và thiết chế về ngân sách đặc thù; tập tung thu hút đội ngũ nhân lực chất lượng cao nước ngoài; thúc đẩy việc đổi mới thể chế quản lý công tác nghiên cứu khoa học và cơ chế của công tác phát triển NNL CLC; khuyến khích có trọng điểm những sáng tạo đột phá về khoa học
kỹ thuật và sự phát triển của các ngành nghề kỹ thuật mới nhằm triển khai thuận lợi kế hoạch thu hút nhân lực chất lượng cao nước ngoài Từ năm 2008 đến nay, Chính phủ Trung Quốc đã lựa chọn được 3 đợt, gồm 122 cơ sở đối mới nhân lực nước ngoài chất lượng cao cấp quốc gia
2.1.2 Phát huy khả năng của nhân lực chất lượng cao – lấy “năng lực tự chủ sáng tạo” là động lực thúc đẩy phát triển KT - XH
Ở bất kỳ thời điểm phát triển nào của quốc gia, việc tìm ra đâu là động lực chính thúc đẩy phát triển kinh tế và phát triển xã hội cũng luôn là bài toán thường trực trong tư duy của các nhà lãnh đạo
Trung Quốc cho rằng khoa học kỹ thuật là nhân tố linh hoạt nhất, có tính cách mạng nhất trong phát triển KT - XH và luôn hết sức coi trọng sự phát triển của khoa học kỹ thuật Để phát triển khoa học kỹ thuật, Trung Quốc coi việc phát huy năng lực tự chủ sáng tạo là nền tảng cho tiến bộ Bước vào thế kỷ mới, Đảng Cộng Sản Trung Quốc phân tích tổng hợp tình hình phát
Trang 27triển của khoa học kỹ thuật và kinh tế ở trong và ngoài nước, xuất phát từ tình hình của Trung Quốc, đưa ra quyết sách chiến lược "đi theo con đường tự chủ sáng tạo đặc sắc Trung Quốc, xây dựng mô hình sáng tạo", đồng thời coi năng lực tự chủ sáng tạo là hạt nhân của chiến lược phát triển đất nước, mấu chốt
để nâng cao quốc lực tổng hợp
2.1.2.1 Tăng cường tự chủ sáng tạo
Kể từ khi tiến hành cải cách mở cửa đến nay, nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng liên tục, tốc độ nhanh, đồng thời, mâu thuẫn có tính cơ cấu của nền kinh tế cũng ngày càng nổi cộm Mô hình phát triển dựa vào tiêu hao vật chất, trả giá bằng môi trường và lợi thế so sánh giá thành thấp khó có thể tiếp tục, mà phương thức phát triển và lợi thế cạnh tranh mới vẫn chưa hình thành Trung Quốc đang ở trong giai đoạn quan trọng nhất bắt buộc phải chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế mới có thể thực hiện phát triển bền vững, bức thiết cần phải đặt tự chủ sáng tạo vào vị trí nổi bật hơn, nâng cao mạnh mẽ tỷ
lệ đóng góp của tiến bộ khoa học kỹ thuật đối với tăng trưởng kinh tế, làm cho tự chủ sáng tạo trở thành động lực nội tại của phát triển KT - XH
Qua hơn 60 năm phát triển, đặc biệt là 30 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc đã xây dựng nên hệ thống nghiên cứu khoa học kỹ thuật tương đối đầy
đủ các ngành khoa học Có hơn 3.700 cơ quan nghiên cứu phát triển trực thuộc các cấp, hơn 3.300 cơ quan nghiên cứu về khoa học tự nhiên và lĩnh vực công trình thuộc các trường đại học và cao đẳng, gần 30.000 cơ quan nghiên cứu phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp Số nhân viên ngiên cứu và phát triển thí nghiệm (R&D) toàn quốc đạt khoảng 2,8 triệu người/ năm Tổng số luận văn về chủ đề khoa học quốc tế, tổng số hồ sơ đăng ký quyền sở hữu trí tuệ đứng đầu thế giới
Trang 28Biểu đồ 2.2: Số đơn đăng ký sáng chế quốc tế PCT của Trung Quốc giai
Cụ thể, chỉ trong giai đoạn 2007 - 2013, số đơn sáng chế quốc tế PCT của Trung Quốc đã tăng gần 4 lần từ mốc 5.455 đơn vào năm 2007 lên 21.516 đơn vào năm 2013 Theo đánh giá của WIPO, Trung Quốc là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng về đơn sáng chế quốc tế PCT hàng đầu thế giới Cụ thể, năm 2007 số lượng đơn sáng chế quốc tế PCT của Trung Quốc chiếm 3,41% tổng số đơn sáng chế của thế giới thì đến cuối năm 2012, con số này đã tăng lên 9,53% Từ những con số nêu trên, có thể thấy được những chính sách của Chính phủ Trung Quốc trong việc phát triển NNL CLC cũng như ưu tiên việc sáng tạo KH - CN đã thực sự phát huy tác dụng
Đại hội đảng XVII Đảng Cộng Sản Trung Quốc năm 2007 đã nêu rõ phải "nâng cao năng lực tự chủ sáng tạo, xây dựng mô hình sáng tạo", nhấn mạnh phải "Kiên trì đi theo con đường tự chủ sáng tạo đặc sắc Trung Quốc,
Trang 29quán triệt việc tăng cường năng lực tự chủ sáng tạo đến các mặt của xây dựng hiện đại hóa" Hội nghị Trung ương 5 khóa XVII năm 2010 chỉ rõ: cần kiên trì coi tiến bộ và sáng tạo khoa học kỹ thuật là sự nâng đỡ quan trọng của đẩy nhanh chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế, thúc đẩy phát triển chuyển theo hướng dựa chủ yếu vào tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ người lao động, đổi mới quản lý
2.1.2.2 Xây dựng hệ thống sáng tạo quốc gia, tạo môi trường, chính sách tự chủ sáng tạo
Xây dựng hệ thống sáng tạo quốc gia, tạo môi trường, chính sách khuyến khích sáng tạo là chức trách quan trọng của Chính phủ Hiện nay, Trung Quốc đã ban hành các bộ luật về khoa học kỹ thuật riêng như: Luật tiến
bộ khoa học kỹ thuật, Luật thúc đẩy chuyển hóa thành quả khoa học kỹ thuật, Luật phổ cập koa học kỹ thuật Đầu năm 2006, Quốc vụ viện đã công bố 60 chính sách đồng bộ về thực thi "Cương yếu Quy hoạch Khoa học kỹ thuật", tăng cường hỗ trợ các hoạt động sáng tạo từ nhiều phương diện như ngân sách, thuế, tài chính, nhân tài
Liên quan đến vấn đề hỗ trợ tự chủ sáng tạo nhằm mục tiêu phát triển
KT - XH, Trung Quốc đã áp dụng đồng bộ các giải pháp như:
- Một là, tăng cường đầu tư cho khoa học kỹ thuật Trung Quốc đã đưa
ra mức tăng của NSNN dành cho kinh phí khoa học kỹ thuật cao hơn mức tăng trưởng của ngân sách có tính thường xuyên Trong thời gian "Quy hoạch
5 năm lần thứ 11", chi đầu tư của NSNN cho khoa học kỹ thuật đạt tổng cộng 619,7 tỷ NDT, tăng 22,70%/ năm Đầu tư ngân sách cho khoa học kỹ thuật kéo theo đầu tư nghiên cứu phát triển của toàn xã hội không ngừng tăng lên,
tỷ lệ chi kinh phí nghiên cứu phát triển của toàn xã hội năm 2011 chiếm khoảng 1,83% GDP
Trang 30Bảng 2.1: Tình hình đầu tƣ kinh phí cho nghiên cứu và phát triển của
Trung Quốc giai đoạn 2002 - 2011
Nguồn: Tổng cục Thống kê Trung Quốc, http:// www Stats.gov.cn
Biểu đồ 2.3: Kinh phí nghiên cứu và phát triển so với GDP của Trung
Quốc giai đoạn 2002 - 2011
Đơn vị tính: %
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Tổng cục Thống kê Trung Quốc
- Hai là, chú trọng ủng hộ sáng tạo kỹ thuật doanh nghiệp Trung Quốc khuyến khích các doanh nghiệp triển khai sáng tạo kỹ thuật, cho phép các doanh nghiệp khấu trừ tiền thuế thu nhập phải nộp của năm đó theo tỷ lệ 150% kinh phí nghiên cứu phát triển năm đó, phần không đủ khấu trừ của năm đó, có thể chuyển sang khấu trừ trong vòng 5 năm Ngoài ra, Trung Quốc
Trang 31còn chú trọng nâng cao năng lực sáng tạo kỹ thuật của doanh nghiệp lớn, đưa năng lực sáng tạo vào chỉ tiêu sát hạch đánh giá thành tích của các doanh nghiệp trung ương Quốc gia này cũng tạo các điều kiện về tài chính cho hoạt động sáng tạo kỹ thuật doanh nghiệp như: lập Quỹ sáng tạo kỹ thuật doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ các hoạt động sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các phương thức như hỗ trợ lãi suất các khoản vay, tài trợ không hoàn lại
- Ba là, khuyến khích chuyển dịch giao kỹ thuật và chuyển hóa thành quả khoa học kỹ thuật Các biện pháp chủ yếu là: miễn thuế kinh doanh đối với thu nhập của đơn vị và cá nhân tiến hành chuyển nhượng kỹ thuật, phát triển kỹ thuật, tư vấn kỹ thuật, dịch vụ kỹ thuật liên quan; miễn hoặc giảm một nửa số thuế thu nhập theo số tiền thu nhập chuyển nhượng kỹ thuật Trường hợp đơn vị đưa vào sản xuất hoặc chuyển nhượng thành công thành quả khoa học kỹ thuật theo chức năng nhiệm vụ đạt được hiệu quả, sẽ trích ra một tỷ lệ nhất định của thu nhập để thưởng cho những người hoàn thành hoặc chuyển hóa thành quả khoa học kỹ thuật
- Bốn là, phát triển ngành nghề kỹ thuật cao Qua xác định các doanh nghiệp kỹ thuật cao thuộc lĩnh vực kỹ thuật, nhà nước hỗ trợ trọng điểm qua
đó có thể hưởng ưu đãi thuế doanh nghiệp lên đến 10% Nhà nước đã phê chuẩn thành lập 88 khu phát triển ngành nghề kỹ thuật cao, trong các khu đó
đã thành lập một hệ thống đổi mới kỹ thuật và bồi dưỡng ngành nghề từ nghiên cứu phát triển kỹ thuật đến chuyển dịch kỹ thuật, ươm mầm doanh nghiệp Năm 2011, GTGT công nghiệp của các khu khoa học kỹ thuật cao chiếm 12,40% GTGT ngành công nghiệp toàn quốc
- Năm là, tăng cường xây dựng hệ thống dịch vụ trung gian khoa học
kỹ thuật Nhà nước định hướng và hỗ trợ thành lập các cơ quan dịch vụ khoa học kỹ thuật Cả nước tổng cộng đã thành lập tất cả hơn 1.000 vườn ươm doanh nghiệp khoa học kỹ thuật, 86 công viên khoa học kỹ thuật trong trường đại học, cung cấp địa điểm và dịch vụ ươm mầm cho các doanh nghiệp mới thành lập, cung cấp hơn 2.200 trung tâm xúc tiến lực lượng sản xuất cung cấp các dịch vụ kỹ thuật như; thí nghiệm, đo lường cho các doanh nghiệp
Trang 322.1.3 Kinh nghiệm phát triển thị trường KH - CN - thúc đẩy năng lực sáng tạo của NNL CLC
2.1.3.1 Vai trò của nhà nước trong phát triển thị trường KH - CN
Thị trường KH - CN ở Trung Quốc đã được quan tâm phát triển tại Trung Quốc ngay từ giữa những năm 80 của thể kỷ XX Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, thị trường này đã phát triển tương đối nhanh và ổn định Năm 2003, doanh thu của các hợp đồng công nghệ tăng đáng kể (108.47 tỷ NDT), doanh thu trung bình của mỗi hợp đồng công nghệ là 44.700 NDT Số lượng các giao dịch trên thị trường KH - CN Trung Quốc đã liên tục tăng theo các năm
Bảng 2.2: Doanh thu của các hợp đồng giao dịch công nghệ của Trung
Quốc giai đoạn 2000-2009
Đơn vị tính: tỷ NDT
Nguồn: Tổng cục Thống kê Trung Quốc, http://www Stats.gov.cn
Có được những kết quả như trên là nhờ Trung Quốc đã có những thay đổi từ nhận thức, tư duy đến cách thức quản lý nhà nước Nhà nước chuyển từ vai trò người chỉ huy và tham gia trực tiếp sang vai trò người tạo môi trường thuận lợi và khuyến khích các hoạt động KH - CN
Trung Quốc đã rất thành công trong việc thiết lập một khuôn khổ cần thiết để thị trường vận hành bao gồm:
- Tạo điều kiện cho sự xuất hiện của hàng hóa trên thị trường công nghệ thông qua xác lập và bảo đảm thực thi quyền sở hữu; Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho thị trường KH - CN và xây dựng tổ chức quản lý, tăng cường cho việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; Những luật như Điều lệ quản lý thị trường công nghệ (1986), Luật Hợp đồng công nghệ (1987), Luật Nhãn hiệu hàng hóa (1993), Luật Bản quyền (1993), cơ bản phù hợp với điều kiện thực
tế Trung Quốc
- Tạo dựng "văn hóa" giao dịch chính thức trên thị trường công nghệ Khuyến khích các doanh nghiệp giới thiệu công nghệ, thúc đẩy đổi mới công nghệ
Trang 33- Tạo điều kiện hình thành các dịch vụ hỗ trợ thị trường (như hệ thống thông tin, môi giới công nghệ, trung gian công nghệ, ); Tăng cường kiểm soát
và điều chỉnh vĩ mô, thực hiện quản lý dịch vụ Có rất nhiều yếu tố giúp thị trường vận hành hoàn hảo trong đó yếu tố về dịch vụ trung gian đóng vai trò quan trọng Các chính quyền tại các cấp và ban quản lý thị trường KH - CN Trung Quốc đã theo đuổi chính sách "cởi mở, duy trì, nuôi dưỡng, định hướng", quan tâm tới việc kiểm soát điều chỉnh vĩ mô, tăng cường các dịch vụ trung gian để các sản phẩm công nghệ trở thành hàng hóa, tạo điều kiện để các giao dịch công nghệ diễn ra một cách hiệu quả nhất
2.1.3.2 Vai trò của các doanh nghiệp
Một trong những thành công lớn nhất của Trung Quốc là đã tạo ra những điều kiện cần thiết để doanh nghiệp trở thành chủ thể chính trên thị trường KH - CN Hơn thế, doanh nghiệp không chỉ là bên mua trên thị trường
mà còn là bên bán Trong năm 2003, khu vực doanh nghiệp đã ký kết 73.390 hợp đồng Tổng doanh thu do các hợp đồng này mang lại là 51,87 tỷ NDT, chiếm 47% so với tổng doanh thu từ hợp đồng công nghệ trên cả nước Hiện nay, 40% cán bộ NCKH và công nghệ của Trung Quốc đang làm việc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ Thành công của các doanh nghiệp Trung Quốc trên thị trường điện thoại di động, xóa bỏ thế độc quyền của các hãng lớn như Nokia, Samsung, đã chứng tỏ năng lực hấp thụ và đổi mới công nghệ hết sức mạnh mẽ ở các doanh nghiệp Báo cáo của các học giả Trung Quốc cho thấy, năng lực công nghệ của các doanh nghiệp Trung Quốc cho phép nhiều doanh nghiệp chuyển từ phụ thuộc vào công nghệ sang phát triển công nghệ độc lập
Có được những thành công như trên là do, một mặt Trung Quốc đã tạo dựng được một môi trường doanh nghiệp chú trọng nâng cao công nghệ Trung Quốc đã tạo được môi trường cạnh tranh thông qua các chính sách cải cách kinh tế và quá trình tự do hóa, hội nhập KTQT Các doanh nghiệp Trung Quốc phải sớm đối mặt với áp lực cạnh tranh không chỉ giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau mà còn là áp lực cạnh tranh từ các công ty khổng
lồ nước ngoài Các doanh nghiệp Trung Quốc đã ý thức rõ rệt về vai trò của sức mạnh KHCN trong quá trình cạnh tranh nên thị trường KHCN đã trở thành động lực thực tế trong phát triển doanh nghiệp Với các chính sách thu hút FDI đặc biệt là chính sách thu hút đầu tư của TNCs, thông qua việc xây
Trang 34đã thu hút được nhiều kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, lấp dần những yếu kém, lạc hậu về trình độ công nghệ trong nước
Mặt khác, Chính phủ ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để đạt được mục tiêu này Nhà nước Trung Quốc đã hỗ trợ và khuyến khích rất hiệu quả các doanh nghiệp thông qua việc ban hành và thực hiện nhiều chính sách về thuế và tín dụng Ví dụ, Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp chú ý tới nghiên cứu và phát triển, do đó đã quy định chi phí cho nghiên cứu
và phát triển, chi phí cho các thiết bị quan trọng có giá trị dưới 100.00 NDT được hạch toán vào chi phí gián tiếp, nhập khẩu thiết bị sử dụng trực tiếp cho nghiên cứu và phát triển được miễn thuế GTGT Để khuyến khích doanh nghiệp phát triển các sản phẩm mới và nâng cao sản phẩm, Chính phủ lập một quỹ đặc biệt để tài trợ cho việc phát triển những sản phẩm mới quan trọng Các doanh nghiệp công nghệ trong các khu công nghệ cao được miễn giảm 85% thuế thu nhập và được miễn toàn bộ trong 2 năm đầu Chính phủ thực hiện các chương trình cho vay đặc biệt với các doanh nghiệp để nâng cấp công nghệ và trang trí thiết bị
2.2 Kinh nghiệm của Mỹ
Mỹ là nền kinh tế lớn nhất trên thế giới và cũng là quốc gia có nền khoa học kỹ thuật phát triển nhất thế giới Năm 2012, Mỹ có dân số là 314,07 triệu người, chỉ số phát triển con người HDI năm 2011 là 0,91, GDP năm 2011 (tính theo sức mua tương đương) là 15.094 USD, GDP bình quân đầu người năm 2011 là 48.486 USD
Trang 35Biểu đồ 2.4: GDP theo giá cố định năm 2005 của Mỹ giai đoạn 2000 - 2011
Đơn vị tính: tỷ USD
Nguồn: Số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới
Bên cạnh việc là cường quốc số một về kinh tế trên thế giới, Mỹ cũng
là quốc gia đứng hàng đầu thế giới về phát triển khoa học - kỹ thuật Để có được kết quả như trên, Mỹ đã trải qua hơn 200 năm phát triển với triết lý thực dụng và phương châm "NNL là trung tâm của mọi phát triển" Vì vậy, ngay sau cuộc cách mạng dân chủ tư sản năm 1776, Chính phủ Mỹ đưa ra chiến lược xây dựng NNL với hai hướng chủ lực: tập trung đầu tư cho giáo dục - đào tạo và thu hút, sử dụng đội ngũ nhân lực chất lượng cao
2.2.1 Kinh nghiệm của Mỹ trong việc đào tạo NNL CLC
2.2.1.1 Đầu tư cho giáo dục - đào tạo
Để phát triển giáo dục - đào tạo, Chính phủ Mỹ đã tài trợ kinh phí cho tất cả các bang xây dựng trường học Vì vậy, hệ thống các trường phổ thông được mở rộng khắp và phát triển liên tục, đến năm 1954 đã có đủ trường lớp
và phương tiện học tập cho học sinh tất cả các dân tộc với mọi màu da trên nước Mỹ
Ngân sách dành cho giáo dục ở Mỹ ngày một tăng lên, chiếm 5,3%
Trang 36chiếm hơn 7% GDP Nhà nước cung cấp 75% kinh phí cho hệ thống giáo dục (cả trường công lẫn trường tư)
Trong hệ thống GD - ĐT, giáo dục phổ thông được xác định là giáo dục
cơ bản, làm cơ sở cho giáo dục đại học và chuyên nghiệp; giáo dục đại học giữ vị trí trung tâm và có vai trò quan trọng, trực tiếp đào tạo nhân lực cho đất nước Giáo dục đại học gồm 2 nhóm chính: Nhóm thứ nhất gồm các trường đào tạo 2 năm (các trường cao đẳng cộng đồng, phát triển ổn định vào những thập niên cuối thế kỷ XIX và tiếp tục phát triển vững mạnh trong thế kỷ XX
và XXI) Nhóm thứ hai gồm các trường cao đẳng và đại học đào tạo 4 năm,
có nhiệm vụ đào tạo sinh viên chương trình khoa học đại cương và chuyên sâu, kết hợp thực hiện NCKH
Ở Mỹ, công cuộc cải cách giáo dục đại học được thực hiện liên tục để hoàn thiện chất lượng đào tạo, đáp ứng sự phát triển KT - XH và chuẩn bị cho những bước phát triển vượt bậc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập KTQT Với một chiến lược dài hạn, kinh phí cho giáo dục đại học của Mỹ đến từ nhiều nguồn khác nhau: Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tôn giáo, nhà từ thiện Nguồn kinh phí dồi dào mang lại cho các trường khả năng xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, thuê giảng viên giỏi cũng như xây dựng quỹ hỗ trợ sinh viên Quy mô giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ngày càng tăng nhanh và mở rộng đã đưa Mỹ đạt trình độ phổ cập giáo dục đại học hàng loạt, với một nền giáo dục có nhiều trường tốt nhất thế giới như: Đại học Harvard, Đại học California, Đại học Chicago, Trong giáo dục đại học ở Mỹ tính cạnh tranh giữa các trường vô cùng khốc liệt Nếu sinh viên nào vào được trường đại học tốt, có danh tiếng và học giỏi thì cơ hội có việc làm sẽ tăng lên rất nhiều
Đây là nguồn nội sinh và động lực phát triển mạnh mẽ của nền giáo dục
Mỹ Cùng với chính phủ, các công ty của Mỹ cũng rất quan tâm đến phát triển NNL, đào tạo công nhân kỹ thuật
2.2.1.2 Xây dựng mô hình giáo dục đại học đại chúng
Mô hình giáo dục đại học ở Mỹ là mô hình đại học được thiết kế cho số đông Chính bởi vì vậy, với dân số chỉ vào khoảng hơn 300 triệu dân những với mô hình giáo dục đại học dành cho số đông, Mỹ đã có tới hơn 4.200 trường đại học rải khắp các bang Chính số lượng lớn và đa dạng các thể loại trường đại học vì vậy nên nước Mỹ có thể đáp ứng được tối đa nhu cầu không
Trang 37chỉ của những sinh viên trong nước mà còn có thể đáp ứng được nhu cầu của các sinh viên toàn cầu
Mặc dù mô hình giáo dục đại học ở Mỹ được thiết kế cho số đông, tuy nhiên, Mỹ cũng đã giải quyết rất tốt mối quan hệ giữa đào tạo đặc tuyển và đào tạo đại trà Mối quan hệ giữa đào tạo đặc tuyển và đào tạo đại trà được giải quyết bằng việc tập trung xây dựng các trường đại học nghiên cứu lớn (đào tạo đặc tuyển), song song với đó là phát triển rộng khắp hệ thống các trường đại học cộng đồng (đào tạo đại trà) trên các bang Tỷ lệ các trường đại học nghiên cứu so với các trường đại học cộng đồng là 1/30
Học phí các trường đại học ở Mỹ ở những mức rất khác nhau, phụ thuộc vào mỗi trường đại học Thông thường, ở các trường đại học cộng đồng, học phí vào khoảng 200 USD/ năm, trong khi đó mức học phí bao gồm
cả tiền sinh hoạt ở các trường đại học nghiên cứu có thể lên tới 18.000 USD/năm Chính phủ Mỹ đặc biệt lưu tâm đến việc hỗ trợ các sinh viên có lực học tốt nhưng có hoàn cảnh khó khăn, không thể trang trải tiền học phí bằng cách cung cấp các khoản tín dụng ưu đãi để họ có thể theo học tại các trường đại học tốt nhất nhằm phát huy tối đa khả năng của họ
Hệ thống các trường đại học đa dạng (đại học nghiên cứu, đại học cộng đồng, đại học chuyên ngành, đại học đa ngành, các trường do các tổ chức tôn giáo thành lập, ) đã cung cấp cho nước Mỹ một NNL CLC khá dồi dào, chiếm tới hơn 40% tổng số LLLĐ của nước Mỹ NNL CLC là lực lượng quan trọng nhất giúp Mỹ trở thành siêu cường phát triển nhất thế giới hiện nay
2.2.1.3 Thực hiện mô hình giáo dục đại học có tính tự chủ cao
Đây được coi là mô hình đặc trưng của giáo dục đại học Mỹ Một trong những mục tiêu của mô hình này là giải phóng con người từ những ý niệm cứng nhắc đã ăn sâu bén rễ trong tư tưởng họ Một trường đại học không phải
là nơi áp đặt những quan điểm, những kiến thức mà phải là nơi phát huy mọi khả năng thích ứng, tư duy phê phán và khả năng sáng tạo của người học Mô hình giáo dục có tính tự chủ cao được Mỹ hiện thức hóa thông qua cơ chế tự trị trong giáo dục đại học (thể hiện ở sự can thiệp rất ít và không trực tiếp của Nhà nước vào giáo dục đại học)
Ở Mỹ, Chính phủ phân nhánh quản lý xuống từng bang, mỗi bang lại phân nhánh quản lý xuống từng trường Mỗi trường có Hội đồng trường, đại
Trang 38trưởng đưa ra những chính sách để đáp ứng yêu cầu của cộng đồng địa phương Hiệu trưởng lại cụ thể hóa yêu cầu đó xuống các khoa
Tự chủ của các trường là tự chủ ngay trong từng khoa, từng giảng đường Khoa có quyền quyết định môn học này hay môn học kia, học sách này hay học sách kia Giảng viên có quyền lựa chọn các giảng dạy cho phù hợp Ở Mỹ, cùng một chuyên ngành, cùng trong một bang nhưng nếu học ở các trường khác nhau, người học sẽ được học những chương trình có thể không giống nhau, phương pháp dạy của giảng viên cũng khác nhau Chỉ có duy nhất một nền là thông tin chung, từ đó mỗi trường quyết định là dạy cái
gì và dạy như thế nào Việc liên kết hoặc tham khảo ý kiến của doanh nghiệp, các tổ chức về chương trình đào tạo cũng thường xuyên được thực hiện để đáp ứng nhu cầu của xã hội Các doanh nghiệp lớn như Microsoft, Boeing, AT&T, thường liên kết với các trường đại học để đào tạo ra những vị trí nhân lực với chất lượng yêu cầu của họ
Ở Mỹ, điều duy nhất Chính phủ quản lý là chất lượng NNL mà trường đào tạo ra, còn đào tạo như thế nào là việc của trường, Chính phủ không can thiệp Bên cạnh đó, cứ 10 năm một lần, Chính phủ sẽ tiến hành kiểm định chất lượng giáo dục của các trường Các trường phải trải qua một kỳ kiểm tra chất lượng được tổ chức bởi một hội đồng độc lập, không thuộc cơ quan chính quyền
Đối với các trường đại học với lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm, trong một môi trường pháp lý chặt chẽ, một thị trường lao động hoàn thiện, tự chủ giáo dục đại học ở Mỹ nhìn chung được xác định gồm những lĩnh vực chính như: tài chính, nhân sự, chương trình giảng dạy, tuyển sinh, phương pháp giảng dạy, liên kết với doanh nghiệp, Đó là một cơ chế tự chủ ở mức độ cao Chính điều này đã giúp cho các trường đại học ở Mỹ đào tạo ra lực lượng nhân lực có khả năng thích ứng và có tư duy sáng tạo độc lập
2.2.1.4 Quan tâm đặc biệt tới đào tạo đội ngũ nhân lực KH - CN
Trong quá trình đào tạo đội ngũ NNL CLC, Mỹ đặc biệt quan tâm tới việc đào tạo đội ngũ nhân lực KH - CN Với quyết tâm đào tạo đội ngũ nhân lực KH - CN với quy mô lớn, năm 2001, Mỹ đã đưa ra chương trình đào tạo nhân lực KH - CN tài năng (BEAST) Mục tiêu của chương trình này là mở rộng LLLĐ KH - CN, thông qua việc thu hút những người giỏi nhất, thông minh nhất, nhằm tạo ra lực lượng KH - CN trẻ Năm 2003, Mỹ đưa ra 124
Trang 39chương trình đào tạo đội ngũ KH - CN trong các trường đại học thuộc diện ưu tiên đào tạo tài năng của BEAST
Hệ thống đào tạo đội ngũ nhân lực KH - CN ở Mỹ được sự hỗ trợ to lớn từ nguồn vốn đầu tư đa dạng, phong phú từ chính phủ, doanh nghiệp, các nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế, Bên cạnh đó, các trường đại học rất coi trọng việc đổi mới phương pháp giảng dạy trong đào tạo đội ngũ nhân lực KH
- CN theo hướng áp dụng công nghệ mới trong giảng dạy Thêm vào đó, nhằm phát triển đội ngũ nhân lực KH - CN, Mỹ đã thực hiện hình thức phong tặng chức danh sau tiến sỹ cho đội ngũ này Đây là một sự khích lệ lớn để đội ngũ này luôn phấn đấu trong hoạt động NCKH
2.2.2 Kinh nghiệm thu hút và trọng dụng NNL CLC
Mỹ là một quốc gia có những thành công nổi bật nhất trong việc thu hút chất xám từ các quốc gia khác Những nhân tài kiệt xuất của các nước trên thế giới đã "tụ hội" tại Mỹ và cống hiến cho quốc gia này Hiện nay, toàn cầu có 1,5 triệu lưu học sinh và học giả đang học tập hoặc làm công tác nghiên cứu ở nước ngoài trong đó có 500.000 người tập trung ở Mỹ Con số này làm cho
Mỹ trở thành quốc gia của người nhập cư Để có được những thắng lợi to lớn
và áp đảo trong "cuộc chiến giành nhân tài thế kỷ XXI", nước Mỹ đã quan tâm triệt để tới việc tạo môi trường để bất kỳ người tài nào cũng có thể phát huy khả năng của mình ở mức tối đa Bên cạnh đó, nước Mỹ cũng có một hệ thống chính sách đồng bộ về vấn đề người nhập cư, tạo điều kiện đặc biệt cho những người tài năng có thể dễ dàng định cư lâu dài và ổn định ở Mỹ Trong quá trình thu hút NNL CLC, nước Mỹ đặc biệt chú trọng thu hút đội ngũ nhà khoa học sáng chế và đội ngũ chuyên gia trong các ngành công nghệ cao Hai cách làm đáng tham khảo của Mỹ có thể kể đến là: Tạo môi trường làm việc
và học tập thuận lợi nhất; Xây dựng hệ thống chính sách thu hút nhân tài hướng tới những đối tượng rõ ràng
2.2.2.1 Tạo môi trường làm việc và học tập thuận lợi nhất
Để các nhà khoa học, các chuyên gia công nghệ cao cũng như các lưu học sinh phát huy tối đa khả năng sáng tạo và sự thích nghi, Mỹ đã tạo một môi trường làm việc và học tập vô cùng thuận lợi Quá trình tạo môi trường làm việc và học tập này được thực hiện một cách đồng bộ và hết sức đa dạng:
- Tăng cường đầu tư xây dựng các trường đại học nổi tiếng (mô hình
Trang 40đại học Mỹ đã dùng tiền học bổng, tiền thưởng và cho vay ưu đãi để thu hút lưu học sinh nước ngoài vào các trường đại học đặc biệt là các trường đại học nổi tiếng
- Nhà nước và tư nhân đều có thể xây dựng các cơ quan nghiên cứu và triển khai Hiện nay, Mỹ có khoảng 720 cơ sở thực nghiệm phát triển thuộc các viện nghiên cứu liên bang Đây là lực lượng nghiên cứu phát triển lớn thứ hai của Mỹ và là kênh chủ yếu thu hút nhân tài định cư
- Thông qua các doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới, những cơ quan nghiên cứu triển khai cũng có thể được thành lập với quy mô lớn Đây chính
là một kênh thu hút nhân tài nước ngoài Theo số liệu của WB, năm 2011, chi đầu tư phát triển của Mỹ đạt 383,86 tỷ USD, trong đó đầu tư nghiên cứu và phát triển của khu vực doanh nghiệp chiếm gần 75%
Như vậy, ở nước Mỹ, không chỉ các trường đại học mà cả các doanh nghiệp, không chỉ Nhà nước mà tư nhân cũng có thể thành lập các cơ quan nghiên cứu triển khai Sự phong phú và đa dạng của các cơ quan nghiên cứu,
cơ quan nghiên cứu triển khai đã tạo ra vô số những cơ hội lựa chọn để các nhà khoa học, sáng chế, các chuyên gia công nghệ cao, các lưu học sinh có thể thử sức và phát huy mọi khả năng sáng tạo và tâm huyết cho công việc
2.2.2.2 Xây dựng hệ thống chính sách thu hút nhân tài hướng tới những đối tượng rõ ràng
Đối với những người nhập cư là "công dân toàn cầu", đó là những người có năng lực đặc biệt như đạt giải Nobel hoặc có "danh tiếng toàn cầu" thì có thể nhập cư mà không cần có sự kiểm tra của thị trường lao động và không cần tới người bảo lãnh Đối tượng này hàng năm được khống chế nhập
cư với số lượng khoảng 2.200 người Đối với các giáo sư nổi tiếng và các nhà điều hành các tập đoàn xuyên quốc gia, họ phải có lời mời làm việc tại Mỹ và không cần có sự kiểm tra của thị trường lao động Mỹ Đối tượng này được khống chế với số lượng từ 2.400 đến 6.700 người mỗi năm Theo quy định của Mỹ, tất cả những đối tượng kể trên thuộc diện được cấp visa H-1B
Đối với những người nước ngoài có năng lực đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật, giáo dục, kinh doanh hay thể thao hoặc là những người có mức độ thành thạo chuyên môn cho thấy rằng người đó là một trong những tỷ lệ nhỏ đang tiến lên vị trí hàng đầu trong lĩnh vực mà họ nỗ lực, họ cần phải chứng minh là đã sở hữu những giải thưởng quốc gia và quốc tế, có