Tác phẩm “Phong Kiều dạ bạc” Đêm đồ thuyền ở Phong Kiều của tác giả Trương Kế được biên soạn vào sách giáo khoa Ngữ văn 7 như một tư liệu bổ sung về mảng thơ Đường để người dạy và người
Trang 1A Phần mở đầu
I Lí do chọn đề tài
Trong nội dung kiến thức Ngữ văn được đưa vào dạy học ở bậc THCS thì mảng văn học nước ngoài, nhất là thơ Đường, luôn là mảng kiến thức khá hóc búa với cả người dạy lẫn người học Bởi các tác phẩm thơ Đường
được đưa vào chương trình hầu hết là tác phẩm của những cây đại thụ trong thơ ca ý tứ sâu xa, nghệ thuật tinh tế…., đọc bài thơ cảm thấy nó sâu sắc
và thi vị nhưng để hiểu kỹ, phân tích cặn kẽ và cảm nhận thấu suốt cái thần của bài thơ quả là điều khó khăn
Tác phẩm “Phong Kiều dạ bạc” (Đêm đồ thuyền ở Phong Kiều) của tác giả Trương Kế được biên soạn vào sách giáo khoa Ngữ văn 7 như một tư liệu bổ sung về mảng thơ Đường để người dạy và người học đọc thêm, tự tìm hiểu thêm Không có câu hỏi hướng dẫn học, không có tư liệu để tham khảo…., lâu nay chúng tôi vẫn đọc nó như để biết thêm một bài thơ Đường vịnh cảnh Và dường như cũng chỉ dừng lại ở đó nếu năm học 2006-2007 không có sự bổ sung thay đổi về chương trình SGK ngữ văn 7 Từ chỗ chỉ
là tư liệu, nay ban biên soạn chỉnh đổi yêu cầu, “Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều” trở thành một văn bản cần tìm hiểu ở lớp dưới hình thức “tự học có hướng dẫn” Yêu cầu mới đã được ban hành, còn tài liệu hướng dẫn đọc -hiểu văn bản thì chưa công bố … vậy là một yêu cầu đã đặt ra cho người giảng dạy: Phải tự tìm tòi, định hướng một phương pháp giúp học sinh đọc hiểu văn bản
Thiết nghĩ, nhiệm vụ này không đơn giản, nhất là với những giáo viên vùng nông thôn, tài liệu và phương tiện bổ trợ dạy học còn nhiều hạn chế như chúng tôi Thực tế cho thấy, khi dạy bài này một số giáo viên vờ quên yêu cầu bổ sung về chương trình, một số khác lại dạy - học văn bản qua loa đại khái cho xong nhiệm vụ Nếu dạy học văn bản này có hiệu quả xem ra còn không ít vướng mắc
Trang 2Để khắc phục tình trạng ấy, tôi đã cố gắng tìm tòi, thể nghiệm một phương pháp hướng dẫn đọc - hiểu tác phẩm này, và bước đầu đã thấy có hiệu quả khả quan Trong đề tài này tôi muốn giới thiệu phương pháp mà tôi đã sử dụng để hướng dẫn để học sinh đọc hiểu văn bản “Đêm đỗ thuyền
ở Phong Kiều” đối với đồng nghiệp như một tài liệu để đồng nghiệp tham khảo Đồng thời tôi rất mong nhận được những ý kiến phản hồi của các bạn
để tôi có thể thực hiện, hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản này một cách hiệu quả nhất, giúp các em có thể cảm thụ văn bản một cách sáng tạo nhất
II ý nghĩa của đề tài
Với những lý do đã trình bày trên, đề tài mà tôi nghiên cứu không nằm ngoài ý nghĩa là định hướng một phương pháp hướng dẫn học sinh đọc
- hiểu văn bản theo hướng tích cực tích hợp, khắc phục tình trạng dạy qua loa hoặc lảng tránh bài dạy như thực tế hiện nay ở một số giáo viên
III Các nhiệm vụ cụ thể của đề tài
1 Nhìn nhận lịch sử vấn đề
2 Đề xuất phương pháp hướng dẫn đọc – hiểu văn bản qua hệ thống câu hỏi hướng dẫn, hoạt động của thầy, hoạt dộng của trò và hiệu quả cần
đạt về các kiến thức cụ thể: tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm, nghệ thuật biểu hiện, nội dung cảm xúc được thể hiện trong tác phẩm…
B Phần nội dung
Phần 1: lịch sử vấn đề
Hầu hết các tác phẩm văn học được đưa vào chương trình Ngữ văn hiện nay đã được nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học quan tâm, phân tích, cảm nhận và định hướng dạy học khá cụ thể Nhiều tác phẩm còn có nhiều hướng khai thác phong phú, mang những đặc sắc và cảm quan riêng Thế nhưng “Phong Kiều dạ bạc” (Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều) của Trương Kế, dù là một tác phẩm “vĩnh thuỳ bất hủ” nhưng các tài liệu đề cập
đến hướng khai thác và cảm thụ tác phẩm là rất ít
Trang 3- Sách giáo khoa Ngữ văn 7 do Nguyễn Khắc Phi chủ biên là tài liệu chính thức để giáo viên làm căn cứ dạy học hiện nay, nhưng chưa thấy định hướng dạy tác phẩm này
- Cuốn “Thiết kế bài giảng Ngữ văn THCS của giáo sư Nguyễn Văn
Đường và thạc sỹ Hoàng Dân là tài liệu được lưu hành rộng rãi mà nhiều giáo viên sử dụng hoặc tham khảo cũng chưa đề cập đến tác phẩm “Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều”
- Sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập1, NXB GD có gợi ý thưởng thức tác phẩm, Tôi xin trích trọn vẹn như sau:
“+Bài thơ thể hiện một cách sinh động cảm nhận qua những điều nghe thấy, nhìn thấy của một khách xa quê đang thao thức không ngủ trong
đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều
+ Nếu K.D đã rất tài hoa và hết sức sáng tạo trong việc dịch hai câu thơ đầu, thì có thể nói không thành công trong việc dịch hai câu thơ sau, khi biến chủ thể trữ tình vốn là tiêng chuông thành chủ thể là chiếc thuyền của lữ khách Trương Kế đã kết hợp hai thủ pháp nghệ thuật truyền thống của thơ Đường là “dùng động để tả tĩnh” và “mượn âm thanh để truyền hình
ảnh” Câu thơ dịch của K.D đã làm nhoà mất sự ngân vang lan toả của tiêng chuông trong đêm yên tĩnh”
- Cuốn “Bình giảng thơ Đường” của tác giả Nguyễn Thị Bích Hải do NXB GD ấn hành, có bình giảng về bài thơ theo hướng:
+ Giới thiệu giá trị của tác phẩm trong nền thơ ca + Phân tích đặc điểm hình ảnh, cảnh vật ở hai câu thơ đầu
+ Đối chiếu bản dịch thơ và nguyên tác ở hai câu sau và cảm nhận của người viết về hai câu thơ sau
* ý kiến trao đổi
- Hai tài liệu dành cho giáo viên tham khảo và sủ dụng vào việc dạy hiên nay đều chua hề có gợi ý hay hướng dẫn nào cho việc đọc - hiểu tác phẩm “Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều”
Trang 4- Có thể nói gợi ý thưởng thức ở sách giáo khoa Ngữ Văn 7 là cơ sở chủ yếu để giáo viên và học sinh lấy làm căn cứ đọc hiểu tác phẩm nhưng phần gợi ý còn quá sơ lược và chung chung, chưa đi vào khám phá tác phẩm một cách cụ thể qua hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu, -> các thủ pháp nghệ thuật … để qua đó cảm nhận thần ý bài thơ
- Bài bình giảng của tác giả Nguyễn Thị Bích Hải, đã có những khám phá ,cảm nhận khá sâu sắc về tác phẩm nhưng dù sao vẫn còn mang tính chủ quan ,và đặc biệt là không đưa ra định hướng để hướng dẫn học sinh học Hơn nữa rất ít giáo viên có trong tay cuốn sách này
Phần 2 :
Đề xuất phương pháp hưỡng dẫn đọc - hiểu tác phẩm
* Những căn cứ làm cơ sở :
Căn cứ để tôi đưa ra phương pháp của mình là dựa vào đăc trưng cuả việc giảng dạy tác phẩm văn chương trữ tình nói chung và dạy thơ Đường nói riêng
- Thứ nhất ,TPNT là loại hình sáng tạo độc đáo Mỗi tác phẩm là một
đứa con tinh thần của người nghệ sĩ Được thai nghén từ tâm hồn, cảm xúc
và năng lực cá nhân ,nên mỗi “đứa con “ là một dấu ấn riêng trong phong cách sáng tác của họ Khi khai thác cảm thụ người học phải tìm ra được vẻ
đẹp riêng biệt làm nên giá trị của tác phẩm và tạo nên phong cách nhà thơ
- Thứ hai, phân tích thơ bao giờ cũng có đặc trưng là khám phá vẻ
đẹp của ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu, cấu tứ, các thủ pháp nghệ thuật…
- Thứ ba, phân tích và cảm thụ thơ Đường cần gắn liền giữa phần phiên âm và bản dịch thơ
- Thứ tư, yêu cầu về tính tích cực và tích hợp phải được xem xét một cách nghiêm túc, toàn diện
Dựa trên những cơ sở ấy, phương pháp mà tôi thực hiện sẽ theo định hướng sau:
Trang 5- Tìm hiểu đặc điểm của hình ảnh, cảnh vật ở bến Phong Kiều với những điểm quen thuộc về thi pháp và những sáng tạo mới mẻ của Trương
Kế (ngôn từ, giọng điệu…)
- Tìm hiểu ý tứ xuất thần, độc đáo ở hai câu thơ sau, thấy được hạn chế của bản dịch so với nguyên tác
Qua đó học sinh hiểu bài thơ theo những đặc trưng về thi pháp thơ
Đường và những sáng tạo mới mẻ của một tâm hồn thơ dân dã, mộc mạc, gắn bó sâu nặng với thiên nhiên, đất nước
* Thiết kế bài giảng:
I- Mục đích yêu cầu
Giúp học sinh cảm nhận đựơc:
- Đặc trưng thi pháp thơ Đường được vận dụng trong bài thơ và những sáng tạo về ngôn ngữ, giọng điệu, ý tứ
Cảm nhận đựơc phong cảnh bến Phong Kiều: thân thuộc, yên bình và nặng tình người vịnh cảnh
Cảm nhận được hồn thơ bình dị, mà không kém phần sâu sắc của Trương Kế
- Tích hợp với tiếng việt ở từ Hán Việt, với tập làm văn phần phát biểu cảm nghĩ
- Rèn luyện kỹ năng đọc, phân tích và cảm thụ thơ Đường
II- Chuẩn bị
+ Giáo viên: SGK, giáo án tự thiết kế, một số câu hỏi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài
+ Học sinh: Đọc, tìm hiểu bài thơ
Trả lời câu hỏi hướng dẫn
Câu hỏi 1: Đối chiếu bản dịch thơ với phần phiên âm và nhận xét Câu hỏi 2: Không gian cảnh vật được gợi tả như thế nào qua hai câu thơ đầu
Câu hỏi 3: Nhận xét về ngôn từ, giọng điệu
Câu hỏi 4: Cảm nhận về âm thanh tiếng chuông chùa qua hai câu cuối
Trang 6III- Các hoạt động tiến hành
* Giáo viên giới thiệu bài: chúng ta đã biết đến một thác núi Lư
huyền ảo, kỳ vĩ và tráng lệ qua “Vọng Lư sơn bộc bố” Hôm nay chúng ta
sẽ đến với miền quê thôn dã Phong Kiều qua một tác phẩm bất hủ của Trương Kế: “Phong Kiều dạ bạc”
HĐ của giáo viên HĐ của học sinh Nội dung cần đạt
GV gọi học sinh đọc
Gọi học sinh khác nhận xét cách đọc
GV đọc một lựơt
? Nêu hiểu biết của em về tác giả Trương Kế và tác phẩm “PKDB” ?
? Đối chiếu giữ phiên âm
và bản dịch thơ, nêu hiểu biết của em về thể thơ
được vận dụng?
- Nhan đề bài thơ gợi ra
đặc điểm gì của không gian, thời gian?
HS Đọc văn bản (3 phần:
phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ
HS khác nhận xét, nêu cách đọc, đọc văn bản:
- Ngắt nhịp 4/3(phiên âm) nhịp 2/4 và 2/2/4 (dịch thơ)
- Giọng đọc chậm rãi
HS nghe câu hỏi nêu đôi nét về tác giả và vị trí tác phẩm
HS quan sát, nhận xét về thể thơ
- Nghe câu hỏi, suy nghĩ, phát biểu:
1 Đọc văn bản – Tìm hiểu chung
a Đọc
b Tìm hiểu chung
- Tác giả: Trương Kế là nhà thơ Trung Quốc thời Đường nổi tiếng về thơ vịnh cảnh
- Tác phẩm : + Là bài thơ nổi tiếng nhất của ông, được đánh giá là
“vĩnh thuỳ bất hủ”
+ Thể thơ: nguyên tác được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt; bản dịch chuyển sang thể lục bát
2 Đọc - hiểu chi tiết
- Nhan đề của bài thơ gợi ra một đêm khuya thanh vắng,
Trang 7- Chủ thể trữ tình là ai, ở trong hoàn cảnh nào?
- Cảnh bến Phong Kiều hiện lên qua những hình
ảnh nào ở câu thơ thứ nhất ?
(GV dùng máy chiếu, chiếu đậm câu thơ)
- Tác giả sử dụng nghệ thuật gì ? phân tích hiệu quả
GV lưu ý với học sinh:
lấy động tả tĩnh là thi pháp rất đặc trưng của thơ
Đường tả cảnh, khi tìm hiểu các em cần chú ý phân tích cái hay của bút pháp nghệ thuật này
- Cảnh vật hiện lên qua sự cảm nhận của những giác quan nào ?
- Câu thơ thứ nhất gợi ra không gian, cảnh vật như
thế nào ?
- GV chốt ý
Nghe câu hỏi, suy nghĩ
độc lập, phát biểu:
Những hình ảnh: Trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời
- Suy nghĩ độc lập, phát biểu
- Suy nghĩ độc lập, trả lời
- Học sinh trao đổi, nêu ý kiến
chủ thể trữ tình là một lữ khách dừng chân nghỉ lại bến Phong Kiều, cảm nhận
về phong cảnh đêm ở đây
* Hai câu thơ đầu :
- Câu khai:
Trăng tà, quạ kêu, sương
- Hình ảnh quen thuộc đặc sắc
- Gợi tả bằng nghệ thuật liệt
kê, lấy động tả tĩnh
Tác giả cảm nhận không gian cảnh vật bằng mắt nhìn tai nghe
- Cảnh vật hiện lên vừa cụ thể, vừa khái quát, mang
đặc trưng về cảnh đêm ở miền sông nước: thanh vắng, tĩnh lặng Cái “động”
là tiếng quạ kêu càng làm nổi bật cái “tĩnh” của đêm
Trang 8- Khung cảnh của phong kiều tiếp tục hiện lên như
thế nào ở câu thơ thứ hai?
- Cảm nhận của em về cảnh ấy? (cảnh hiện lên bằng bút pháp gì? cách cảm nhận có gì khác …)
- Câu hỏi thảo luận: Có ý kiến cho rằng hai câu thơ
đầu K.D đã dịch rất chuẩn, tra đổi và làm rõ
điều đó
- Cảm nhận của em về cảnh Phong Kiều qua hai câu thơ đầu ?
- Giáo viên bình: Bằng bút pháp mượn sáng nói tối, hình ảnh “lửa chài” đã
làm chiếu lên một đốm sáng nhưng đó thứ ánh sáng nhỏ lẻ, yếu ớt, càng làm gợi tả không gian mịt
mù lạnh lẽo của đêm khuya
- HS nêu:
- HS phát biểu
- Trao đổi thảo luận
Đại diện phát biểu:
bản dịch thơ đã chuyển ý thơ qua “sầu miền” thành
“vương giấc hồ” Đó là một cách diễn đạt uyển chuyển và không kém phần ý vị
- HS trao đổi, nêu suy nghĩ
- HS Lắng nghe
khuya thanh vắng
- Câu thừa: lùm cây + Hình ảnh lửa chài Sầu vương giấc hồ -> Bút pháp “mượn sáng nói tối”,
-> Tác giả cảm nhận cảnh vật không chỉ bằng mắt, tai,
mà bằng cả tâm hồn
=> Khung cảnh thiên nhiên với màu sắc ảm đạm, âm thanh lạc lõng, sầu não… gợi nỗi buồn man mác Là
lý do “sầu vương giấc hồ”
Trang 9- Câu hỏi thảo luận: Có ý kiến cho rằng bức tranh cảnh vật ở 2 câu thơ đầu mang tính chất ám thị, suy nghĩ và phát biểu về nội dung ám thị qua cảnh
GV chuyển ý
Dùng máy chỉếu hai câu thơ cuối (phiên âm – dịch thơ)
- Xác định chủ thể và đối tượng trong hai câu thơ?
- Bản dịch thơ đã chuyển tải được thần tứ của câu thơ nguyên tắc chưa?
HS trao đổi,phát biểu
- HS đọc hai câu thơ
Quan sát máy chiếu, trao
đổi thảo luận đưa ra nhận xét:
=> Bức tranh thiên nhiên cuối thời Đường: Một xã
ám thị thực trạng xã hội hội không còn thịnh trị mà
đang mang trong mình những dấu hiệu của sự suy vong
* Hai câu thơ cuối
(Câu chuyển và câu hợp)
Bản dịch thơ đã giữ được ý nhưng chưa tải được cái thần của câu thơ Theo ý tác giả, tiếng chuông là chủ thể tìm đến khách còn bản dịch, tiếng chuông trở thành đối tượng của việc nghe
GV kể gai thoại để học sinh thấy rõ cái khó của người dịch :
Chuyện kể rằng, sau khi Trương Kế viết được hai câu thơ đầu thì bí,
ông cảm thấy khó viết tiếp vì hai câu thơ đầu rất hay rồi nên khó thêm được hai câu thơ sau hay hơn…
Trong lúc đó, tại chùa Hàn Sơn, hoà thượng chủ trì cũng đang thao thức làm thơ Mới được hai câu thì thấy chú tiểu đi đến, hỏi ra mới biết chú tiểu cũng mới làm được hai câu thơ, đến trình cho sư phụ xem Hoà thượng
đọc xong, chắp tay hoan hỉ:
- Tạ ơn Phật Tổ, con đã làm được hai câu thơ mà ta muốn tìm Hai câu thơ của con cùng với hai câu thơ của ta vừa vặn thành một bài thơ
Trang 10Rồi hoà thượng bảo chú tiểu ra thỉnh chuông, thắp hương tạ ơn Phật
tổ Tiếng chuông ngân lên vọng đến thuyền khách, thi hứng xuất thần, hai câu thơ sau của Trương Kế đã ra đời
? Hai câu thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì
đặc sắc
? Hiệu quả của các biện pháp nghệ thuật ấy
- Giáo viên chốt ý, ghi bảng
GV đưa câu hỏi thảo luận: có ý kiến cho rằng, hình ảnh chuông chùa Hàn Sơn “đáo khách thuyền” đã gợi ra không biết bao nhiêu ý tứ sâu
xa Hãy trao đổi và nêu
rõ
Giáo viên cung cấp thông tin: Cô Tô thành,
là nơi Ngô Vương Phủ Sai vui thú với Tây Thi
mà dẫn đến mất nước
Còn tình hình thực tại
HS trao đổi,phát biểu
- Ghi vở
HS tiếp tục thảo luận phát biểu
Tiếng chuông như một dấu hiệu của sự cảnh tỉnh, một sợi dây liên
hệ giữa cổ nhân và kim nhân, giữa quá khứ và hiện tại, đem
đến một nhận thức mang tầm thời
đại, tầm lịch sử: Đó là mối băn khoăn trăn trở về sự thịnh - suy, tồn tại hay sụp đổ của triều đại
đương thời (Nếu học sinh không nhận thức
Nghệ thuật lấy động tả tĩnh, biện pháp tu
từ nhân hoá … -> Tô đậm sự tĩnh mịch của cảnh -> Tạo nên mối gắn
bó đồng cảm sâu xa giữa người và cảnh
<=> Là biểu hiện của một tâm hồn gắn
bó thiết tha sâu nặng với thiên nhiên với quê hương đất nước