Ngoài những phương pháp quen thuộc như diễn giảng, đàm thoại, vấn đáp… còn có các phương pháp mới đã được đưa vào dạy học trong nhà trường như phương pháp nêu vấn đề, sử dụng đồ dùng trự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -
NGUYỄN THỊ VÂN
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU ĐOẠN TRÍCH
“ĐẤT NƯỚC”- NGUYỄN KHOA ĐIỀM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, thầy cô giáo trong Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là ThS Trần Hạnh Phương- người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình xây dựng và hoàn thiện khóa luận này
Hà Nội, 20/04/2016
NGƯỜI THỰC HIỆN
NGUYỄN THỊ VÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình Dạy học đọc hiểu đoạn trích “Đất Nước”
– Nguyễn Khoa Điềm theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT là sản phẩm của riêng tôi, không có sự sao chép hay vay mượn từ
một sản phẩm cá nhân nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với sản phẩm của mình
Hà Nội, 20/04/2016
NGƯỜI THỰC HIỆN
NGUYỄN THỊ VÂN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3.Mục đích nghiên cứu 3
4.Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5.Đối tượng nghiên cứu 4
6.Phạm vi nghiên cứu 4
7.Phương pháp nghiên cứu 4
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 5
1.1.Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Khái niệm đọc – hiểu 5
1.1.2 Lí thuyết tiếp nhận 6
1.1.3 Năng lực Ngữ văn của học sinh THPT 7
1.2.Cơ sở thực tiễn 13
1.2.1 Về việc dạy học Ngữ văn truyền thống 13
1.2.2 Đổi mới dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh 14
Chương 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH THPT QUA DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “ĐẤT NƯỚC” – NGUYỄN KHOA ĐIỀM 16
2.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 16
2.1.1 Nguyên tắc dạy học gắn liền với đời sống thực tiễn 16
2.1.2 Đảm bảo quan điểm dạy học tích hợp 16
2.1.3 Phối hợp linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học 16
2.1.4 Lấy người học làm trung tâm 17
2.2 Dạy học đoạn trích “Đất Nước” - Nguyễn Khoa Điềm theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT 17
2.2.1 Phát triển năng lực đọc hiểu 17
Trang 52.2.2 Phát triển năng lực tự nhận thức 20
2.2.3 Phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ 27
2.2.4 Phát triển năng lực đánh giá 29
Chương 3 GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 34
PHẦN KẾT LUẬN 48 LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ trước đến nay, dạy học tác phẩm văn học có rất nhiều cách thức, phương pháp Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định xong đều hướng đến mục tiêu chung là giúp học sinh có thể tiếp nhận được những giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, tư tưởng của tác giả Cùng với hướng phát triển ngày càng mạnh mẽ của giáo dục thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, chương trình môn Ngữ văn của chúng ta cũng đã đề
ra rất nhiều đổi mới Ở Việt Nam, những năm gần đây, cùng với các phương pháp dạy học truyền thống đã có những phương pháp dạy học mới Ngoài những phương pháp quen thuộc như diễn giảng, đàm thoại, vấn đáp… còn có các phương pháp mới đã được đưa vào dạy học trong nhà trường như phương pháp nêu vấn đề, sử dụng đồ dùng trực quan… Riêng với phân môn đọc văn, các nhà giáo dục đã đưa vào rất nhiều phương pháp tiếp cận mới được xem là sáng tạo và phát huy được tốt nhất vai trò chủ thể và năng lực của học sinh, các phương pháp đó phải kể đến dạy đọc hiểu tác phẩm theo đặc trưng thể loại, theo hướng đối thoại, theo hướng tích hợp…Dù là tiếp cận theo hướng nào thì việc giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm hầu hết mới chỉ dừng lại ở mặt nội dung, nghĩa là học sinh biết được những gì sau tiết học đọc hiểu chứ chưa chú trọng đến việc học sinh sẽ hiểu và làm được những gì sau khi đã tiếp thu được những tri thức đó và vận dụng nó như thế nào trong đời sống chứ không chỉ trên lí thuyết, trên trang giấy, trên lớp học hay trong nhà trường.Việc dạy học định hướng năng lực cho học sinh đòi hỏi các nhà giáo dục phải đổi mới rất nhiều trong cách tiếp cận các biện pháp mới và hình thức
tổ chức dạy học Đây là mục tiêu, đồng thời cũng là thách thức đối với nền giáo dục Việt Nam nói chung và môn Ngữ văn nói riêng trong thời điểm hiện nay
Trang 8Viết về đề tài Đất nước, tình yêu Tổ quốc thiêng liêng có rất nhiều tác phẩm, trong số đó đã có rất nhiều tác phẩm được đưa vào chương trình SGK nhằm giúp học sinh có thể cảm nhận được những tình yêu to lớn đối với dân tộc Đoạn trích “Đất Nước” là một thi phẩm rất hay để minh chứng cho điều
đó Để học sinh có thể hiểu và cảm nhận được những cái hay trong từng tứ thơ của đoạn trích là việc không hề đơn giản, làm thế nào để người học có thể tiếp nhận được đoạn trích một cách chủ động nhất, sáng tạo nhất và đạt hiệu quả cao nhất Đây chính là vấn đề mà các nhà giáo dục luôn băn khoăn Dù có rất nhiều phương pháp, phương tiện, biện pháp nhưng không phải phương pháp, biện pháp nào cũng đạt được kết quả như mong muốn.Vì những lí do
này tôi quyết định chọn đề tài Dạy học đọc hiểu đoạn trích Đất Nước –
Nguyễn Khoa Điềm theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bài viết Đọc hiểu văn chương của Nguyễn Thanh Hùng, in trên Tạp chí
Giáo dục số 92, năm 2005
Đỗ Thu Hà – THPT số 1 TP Lào Cai, trong bài viết Dạy học môn Ngữ
văn theo định hướng phát triển năng lực đưa ra quan điểm về dạy học định
hướng phát triển năng lực là thông qua môn học, học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một số yêu cầu phức hợp của hoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định Và để phát huy năng lực của học sinh cần đổi mới phương pháp dạy học bằng các cách cụ thể như:đổi mới từ cách dạy truyền thống thiên về đọc chép sang cách dạy đọc-hiểu, dạy học tích hợp…
Nguyễn Thị Hạnh với báo cáo Xây dựng chuẩn năng lực đọc hiểu cho
môn Ngữ văn của chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 ở Việt Nam(in
Trang 9trên Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 56 năm 2014), báo cáo này nhận diện năng lực đọc hiểu, phân tích các yếu tố cấu thành của năng lực này
và đề xuất định hướng xây dựng chuẩn năng lực đọc hiểu cho môn Ngữ văn giai đoạn sau năm 2015
Nghiên cứu về đoạn trích “Đất Nước” - Nguyễn Khoa Điềm có một
công trình của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương – Dạy học đoạn trích “Đất
Nước” (Trường ca “Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm) từ hướng tiếp cận văn hoá (Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Giáo dục) Tác giả cho
rằng văn hóa là nội dung quan trọng cần phải khai thác khi tìm hiểu tác phẩm nếu không sẽ không thấy hết được vẻ đẹp của tác phẩm cũng như vị trí của tác phẩm trong diện mạo văn hóa tinh thần dân tộc Tác giả đã nêu ra thực trạng dạy học đoạn trích “Đất Nước” trong nhà trường phổ thông và hướng tiếp cận văn hóa, từ đó thiết kế và thực nghiệm dạy học đoạn trích “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm theo hướng tiếp cận văn hóa
Tiếp cận tác phẩm có thể từ nhiều góc độ khác nhau, trên cơ sở những nghiên cứu đã có, với mong muốn mở rộng việc tiếp cận tác phẩm theo một hướng mới, tôi hy vọng sẽ đóng góp một cách tiếp cận mới mẻ đối với đoạn trích “Đất Nước” – Nguyễn Khoa Điềm
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 10- Chỉ ra được những ưu điểm của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, sự cần thiết phải đổi mới hướng tiếp nhận của học sinh
- Vận dụng việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào tìm hiểu đoạn trích “Đất Nước” – Nguyễn Khoa Điềm
5 Đối tượng nghiên cứu
Áp dụng việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào đọc hiểu đoạn trích “Đất Nước” (trích Trường ca “Mặt đường khát vọng”) của Nguyễn Khoa Điềm
6 Phạm vi nghiên cứu
Đoạn trích “Đất Nước “(trích phần đầu chương V của Trường ca “Mặt đường khát vọng”) - Nguyễn Khoa Điềm
7 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu
- Phân tích, tổng kết kinh nghiệm
- Thực nghiệm
Trang 11PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm đọc – hiểu
Có nhiều quan niệm khác nhau về đọc – hiểu Nguyễn Thanh Hùng quan niệm đọc hiểu là một hoạt động của con người Nó không chỉ là hình thức nhận biết nội dung tư tưởng mà còn là một hoạt động tâm lí giàu cảm xúc và có tính trực giác Đọc – hiểu mang tính chất đối diện một mình, đối diện với văn bản Nó có cái hay là tập trung tính đọng
và lắng kết năng lực cá nhân Đây là hoạt động thu nạp, tỏa sáng âm thầm với sức mạnh nội hóa kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm văn hóa trong cấu trúc tinh thần cá thể [7,22]
Nguyễn Thái Hòa cho rằng đọc – hiểu dù đơn giản hay phức tạp đều là hành vi ngôn ngữ, sử dụng một loạt thủ pháp và thao tác bằng cơ quan thị giác, thích giác để tiếp nhận, phân tích, giải mã và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản
Theo GS Trần Đình Sử, dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc – hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Nội dung khái niệm đọc rất rộng, nhưng cấp độ sơ đẳng nhất người đọc phải nắm bắt đúng thông tin trong văn bản thì mới có thể nói tới các khâu tiếp theo như cảm thụ thẩm mỹ, tiếp nhận giáo dục, năng lực tư duy sáng tạo
Đọc hiểu chính là đọc và nắm bắt thông tin.Hay nói cách khác là quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc Vì vậy, hiệu quả của đọc hiểu được đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc Muốn vậy, người đọc phải đọc văn bản một cách có ý thức, phải lĩnh hội được đích tác động của văn bản Kết quả của đọc hiểu là: người đọc phải lĩnh hội
Trang 12được thông tin, hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu đoạn, bài… tức là toàn bộ những gì được đọc Đọc hiểu là yêu cầu đặt ra cho mọi đối tượng đọc, với tất
cả các kiểu loại văn bản đọc, trong đó có cả các văn bản nghệ thuật
Tóm lại, đọc hiểu là việc cá nhân tiếp cận văn bản, bằng khả năng của mình, huy động các vốn kiến thức, kinh nghiệm để phân tích, làm rõ, đưa văn bản của tác giả trở thành tác phẩm trong lòng bạn đọc
1.1.2 Lí thuyết tiếp nhận
Khái niệm tiếp nhận văn học:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tiếp nhận văn học là hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thị văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể…” [4, 325]
“Qua tiếp nhận văn học, nhờ được tri giác, liên tưởng, cắt nghĩa, tưởng tượng của người đọc mà tác phẩm trở nên sống động, đầy đặn, hoàn chỉnh; ngược lại, người đọc nhờ tác phẩm mà được mở rộng vốn hiểu biết, kinh nghiệm về đời sống, tu tưởng và tình cảm cũng như năng lực cảm thụ, tư duy.” [4, 325]
“Về thực chất, tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm.nó đòi hỏi người đọc tham gia với cả trái tim, khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và sức sáng tạo.” [4, 325]
Tầm tiếp nhận (tầm đón nhận) : Cũng theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tầm tiếp nhận (tầm đón nhận)
là điều kiện tiền đề để độc giả tiếp nhận một tác phẩm văn học Nó bao gồm kinh nghiệm và tri thức có được từ trong các tác phẩm đã đọc, mức độ quen thuộc đối với các hình thức và thủ pháp văn học khác nhau; và các điều kiện
Trang 13chủ quan khác như địa vị kinh tế, chính trị, trình độ được đào tạo, sự từng trải
và kinh nghiệm sống…” [4, 296-297]
Như vậy có thể thấy tiếp nhận văn học là một hoạt động độc đáo và quan trọng, là bước khởi đầu cho những hoạt động khác khi làm việc với một tác phẩm văn học.Nhưng tiếp nhận như thế nào, tiếp nhận những gì lại phụ thuộc một phần lớn vào giáo viên với các phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động tiếp nhận cho học sinh Có rất nhiều cách thức tổ chức hoạt động tiếp nhận cho học sinh, có thể tổ chức dạy học truyền thống, cũng có thể tổ chức cho học sinh tiếp nhận theo thể loại hay theo hướng dạy học tích cực Nhưng tiếp nhận được gì lại ở chủ thể tiếp nhận hay chính là ở bản thân người học, tuỳ thuộc vào khả năng nhận thức, hứng thú, sở thích… mà người học có thể tiếp nhận tác phẩm ở những mức độ khác nhau
1.1.3 Năng lực Ngữ văn của học sinh THPT
1.1.3.1 Khái niệm
Năng lực:
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): Năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [10]
Theo tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014: “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có
tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh
nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố(phẩm chất
của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó Năng lực bao
Trang 14gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có,
đó là các năng lực chung, cốt lõi
Năng lực Ngữ văn:
Năng lực Ngữ văn là khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng cơ bản
về văn học và tiếng Việt để thực hành giao tiếp trong cuộc sống xã hội hiện
đại Năng lực Ngữ văn gồm 2 nhóm năng lực: năng lực chung và năng lực
chuyên biệt Ngoài năng lực chung, năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn bao gồm 2 năng lực bộ phận: năng lực tiếp nhận (đọc – hiểu, cảm thụ thẩm
mĩ, đánh giá…) và năng lực tạo lập văn bản (viết, trình bày…)
1.1.3.2 Cấu trúc của năng lực
Khi tìm hiểu một tác phẩm văn chương, cả người hướng dẫn và người tiếp nhận đều phải ý thức được những mục tiêu cần đạt được sau một bài giảng, hiểu được điều này giúp cho việc tiếp cận tác phẩm đạt được hiệu quả tốt nhất Trước mỗi bài đọc hiểu, các nhà giáo dục luôn đặt ra những mục tiêu
cụ thể về kiến thức, kỹ năng, thái độ Mặc dù vậy nhưng những mục tiêu đó không bao giờ là áp đặt Đó chỉ là những mục tiêu cơ bản mà mỗi bài giảng cần đạt được, bên cạnh những nội dung cơ bản đó, người tiếp cận có thể mở
ra rất nhiều chiều hướng, rất nhiều cách tiếp cận khác nhau Điều này giúp cho tác phẩm văn học trở nên sinh động hơn, mở rộng hơn trong tâm trí người đọc Đó không chỉ là ý đồ của nhà văn mà còn giúp cho bạn đọc có khả năng đồng sáng tạo với tác giả của tác phẩm Đối với học sinh đây chính là khả năng tự nhận thức và sáng tạo, không giới hạn các em ở những tri thức nhỏ hẹp, dập khuôn một cách máy móc mà để các em thể hiện khả năng tìm tòi, khám phá, khả năng tư duy và liên hệ của mình
Nói về cấu trúc năng lực có rất nhiều yếu tố(cả những yếu tố quy định chất lượng đầu vào và đầu ra của người học) Ở đây chỉ đề cập đến 3 yếu tố
cơ bản đó là kiến thức, kỹ năng và thái độ
Trang 15- Kiến thức: những hiểu biết, những tri thức mà học sinh có được thông qua quá trình học tập, nghiên cứu
- Kĩ năng: là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi Kỹ năng được hình thành khi chúng
ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng.những kĩ năng của học sinh được hình thành thông qua việc thực hiện các hoạt động học và thực hành trong đời sống thực tiễn
- Thái độ: là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề hay một tình hình cụ thể.Trong học tập, thái độ chính
là những nhận thức, giá trị sống và định hướng hành vi của học sinh sau khi học một nội dung nào đó
1.1.3.3 Những năng lực Ngữ văn của học sinh THPT
Nói về năng lực Ngữ văn của học sinh THPT có nhiều quan điểm, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng học sinh THPT ngoài những năng lực chung cần có các năng lực chuyên biệt khi học môn Ngữ văn như năng lực đọc – hiểu, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực sáng tạo ( hay năng lực tạo lập văn bản), năng lực đánh giá, cảm thụ, thưởng thức văn học…Trong phạm vi bài khóa luận này, tác giả chỉ xin chỉ trình bày những năng lực được cho là cơ bản và cần thiết phải có ở mỗi người học văn:
Thầy Trần Đình Sử quan niệm:
Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc – hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại… Do không có năng lực đọc hiểu cho nên nếu cho một văn bản chưa học cùng loại với văn bản đã học trong
Trang 16SGK chắc chắn là đại đa số học sinh sẽ khó khăn và nói chung là không đọc hiểu được
Các bước đọc hiểu văn bản Ngữ văn + Bước 1: Tạo tâm thế: là sự chuẩn bị về mặt tâm thế cho người đọc và người học bởi lẽ đây là việc xuất phát từ nhu cầu cá nhân, hơn nữa nó là một hoạt động đặc biệt, nhiều người cùng thực hiện hoạt động này cùng một không gian là lớp học, cùng một thời gian là giờ học HS chuẩn bị tâm lí hứng khởi để bước vào giờ học đảm bảo có thể tiếp thu những kiến thức mới mẻ một cách thoải mái và hiệu quả nhất
+ Bước 2: Hoạt động tri giác ngôn ngữ: là sự khám phá, nhận biết, nắm bắt cả 3 tầng của ngôn ngữ trong tác phẩm Nói cách khác đây chính là hoạt động giúp người học hiểu được ý nghĩa của ngôn ngữ về cả nghĩa đen và nghĩa bóng
+ Bước 3: Tái tạo hình tượng nghệ thuật: là làm xuất hiện bức tranh thế giới hình tượng ẩn chứa ở văn bản nghệ thuật trong tâm trí người đọc, người học
+ Bước 4: Phân tích, cắt nghĩa, khái quát: là lần lượt chia nhỏ đối tượng, làm tường minh ý nghĩa của các chi tiết và cuối cùng là nói lên ý nghĩa khái quát của các chi tiết và của cả tác phẩm
Năng lực tự nhận thức:
Tiếp nhận văn học là toàn bộ quá trình biến văn bản thành tác phẩm.Đây là một hoạt động gồm nhiều bước, nhiều cung đoạn; và người đọc gần như phải huy động toàn bộ những năng lực tinh thần của mình
Trong cuốn Phương pháp dạy học văn, tập 1 (Phan Trọng Luận – Trương Dĩnh) đã chỉ ra rằng: “Cái kì diệu nhất của văn học chính là ở chỗ với sức mạnh riêng của mình văn học thức tỉnh được lương tâm mỗi con người… Đọc một cuốn sách văn học, người đọc hiểu ra nhiều chuyện đời có khi mình
Trang 17chưa hay, biết rồi nhưng chưa hiểu rõ cái lẽ đời sâu kín Hiểu rồi cảm được nỗi đau, niềm vui của con người, của cuộc đời Hiểu và cảm thương đưa đến một sự thanh lọc, một sự tự nhận thức, một sự thức tỉnh bên trong mõi con người Văn học lúc ấy mới thực sự đã đến với con người và hiệu quả đọc văn như thế mới gọi là đạt được hiệu quả cần có.” [8, 129]
“Đọc văn rồi tự nhận thức, tự trau dồi, tự thanh lọc là yêu cầu cần có của đọc văn và đó cũng là năng lực đặc thù của tiếp nhận văn học mà ở nhà trường nhất là nhà trường năng khiếu phải đặc biệt quan tâm nuôi dưỡng và phát triển ở HS.” [8, 130]
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ:
Cảm thụ văn học (CTVH) là đọc hiểu các tác phẩm văn chương ở mức
độ cao nhất, không chỉ nắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu được thông tin, phân tích, đánh giá được khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo được mối giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu
đó cho người khác Cảm thụ văn học có nghĩa là khi đọc (nghe) một câu chuyện, một bài thơ…người đọc không những hiểu mà còn phải có xúc cảm, tưởng tượng và thật sự gần gũi, “nhập thân” với những gì đã đọc… Đọc có suy ngẫm, tưởng tượng (hay liên tưởng) và rung cảm thực sự chính là người đọc biết cảm thụ văn học
Cảm thụ là quá trình người đọc nhập thân đầy cảm xúc vào tác phẩm, suy tư về một số các câu chữ, hình ảnh, lập luận và sống cùng tâm trạng, cảm xúc của nhân vật, nhân vật trữ tình hoặc của tác giả Người cảm thụ đồng thời vừa là người tiếp nhận vừa là người phản hồi về tác phẩm
Nếu như tác giả sử dụng tư duy nghệ thuật để sáng tạo tác phẩm, thì người đọc cũng phải sử dụng cùng loại tư duy ấy để lĩnh hội tác phẩm Đó chính là tư duy hình tượng, loại tư duy dựa trên cơ sở tiếp xúc cảm tính với đối tượng, làm sống dậy toàn vẹn đối tượng đó bằng nghe, nhìn, tưởng tượng,
Trang 18không sao chép đối tượng một cách bàng quan mà còn bao hàm thái độ của con người với chính đối tượng đó Để đảm bảo yêu cầu của CTVH, người đọc cũng phải thể nghiệm cùng với các nhân vật, tức là phải nhập thân bằng tưởng tượng vào các nhân vật để hình dung các biểu hiện của chúng, từ đó khái quát đặc điểm, tính cách… Người đọc cũng cần dùng tưởng tượng, trực giác để cảm nhận ý nghĩa biểu cảm của ngôn từ, từ đó chia sẻ, đồng sáng tạo với tác giả
Lê Sử (Đại học Vinh) đề xuất một số biện pháp rèn luyện cảm thụ văn học cho học sinh trong dạy đọc hiểu văn bản ở trường phổ thông như: Đọc diễn cảm, trần thuật sáng tạo, đặt những câu hỏi gợi cảm xúc, liên tưởng, tưởng tượng, dùng lời bình đúng thời điểm, đối chiếu văn bản với các loại hình nghệ thuật khác…
Năng lực đánh giá:
Là nhìn nhận, phát hiện giá trị của tác phẩm ở tầm khái quát, vĩ mô trong nhiều quan hệ giữa tác phẩm với tác giả, tác phẩm với các tác phẩm khác của các tác giả khác, tác phẩm với đời sống xã hội phát sinh của tác phẩm, tác phẩm với đời sống xã hội ngày nay
Việc đánh giá đòi hỏi HS phải có những hiểu biết ngoài tác phẩm, phải đặt tác phẩm trong nhiều quan hệ so sánh đối chiếu với thời đại, với các sáng tác và tác phẩm để có thể đưa ra được những nhận định khách quan, có giá trị về vai trò, về vị trí của tác phẩm trong lịch sử sáng tác của nhà văn cũng như ở tiến trình lịch sử văn học
Năng lực đánh giá không những cần thiết để hiểu, cảm được tác phẩm một cách đúng đắn mà còn cần thiết để HS có thể vận dụng chuyển tải hiểu biết về tác phẩm cũng như về lịch sử văn học để làm một bài văn nghị luận văn học có kết quả thật tốt
Năng lực này giúp HS mở rộng giới hạn hiểu biết về một tác phẩm để
đi rộng ra bối cảnh lịch sử văn học, xã hội của tác phẩm
Trang 19Khi HS biết đánh giá tác phẩm là lúc HS tự nâng tầm hiểu biết của bản thân cao hơn, rộng hơn và cách nhìn về tác phẩm cũng được mở rộng hơn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Về việc dạy học Ngữ văn truyền thống
Những năm qua, nhà trường phổ thông đã có sự tiếp cận và đổi mới rất nhiều về phương pháp dạy học, hình thức dạy học, đem lại nhiều thay đổi cho
cả giáo viên và học sinh cách tiếp cận tác phẩm văn học ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, vẫn còn không ít trường học việc tổ chức dạy học theo hình thức truyền thống vẫn diễn ra, có chăng chỉ đưa vào một số ít phương pháp mới như dạy học nêu vấn đề hoặc sử dụng đồ dùng trực quan, nhưng vẫn còn rất hạn chế
Sự lĩnh hội tri thức của học sinh chỉ đơn thuần là sự truyền thụ kiến thức một chiều từ thầy sang trò, giáo viên vẫn là người giữ vai trò chủ đạo trong giờ học, học sinh nghe giảng, tiếp thu kiến thức một cách thụ động, trở nên ỷ lại, chậm chạp, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, hạn chế năng lực tự học của các em, khiến các em ngày càng ngại học môn văn
Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “…vì bản thân văn học nghệ thuật và nói chung các văn bản là sáng tạo ra cho từng người đọc, và mỗi người đọc phải tự mình đọc lấy thì hình tượng, cảm xúc và nội dung mới từ văn bản dấy lên trong lòng mình…vậy mà bao nhiêu năm, thầy giáo làm người thưởng thức văn chương hộ rồi giảng lại cái hay cho học sinh chép Đến lượt thi cử, học sinh chỉ cần thuộc lời thầy là làm được bài, tự mình không cần đọc vẫn thi được Cách dạy đó đi ngược lại bản chất của văn chương, đi ngược lại nguyên tắc dạy học, là phương pháp cách ly tốt nhất học sinh – người đọc khỏi tác phẩm, làm cho học sinh không có dịp trực tiếp đối diện với văn bản,
Trang 20do đó không có thói quen tự mình khám phá văn bản và tất nhiên đánh mất luôn năng lực tự học của họ.” [14, 3-19]
Tư tưởng quan trọng của CT Ngữ văn sau 2000 là chuyển từ phương pháp giảng văn sang phương pháp đọc hiểu văn bản Đó là một bước tiến trong phương pháp dạy học văn ở nhà trường phổ thông Theo định hướng này, dạy văn thực chất là dạy cho học sinh cách thức khám phá, giải mã văn bản – tác phẩm, từ đó hình thành năng lực tự học, tự đọc, tự tiếp nhận văn học nói riêng và văn bản nói chung Các mục tiêu cao đẹp khác đều thông qua mục tiêu trực tiếp này, tức thông qua đọc hiểu mà đạt được.Tuy nhiên tư tưởng và phương pháp đọc hiểu nhìn chung mới dừng lại ở nhận thức là chính Trong thực tế dạy học tư tưởng vừa nêu chưa được hiện thực hóa một cách toàn diện, đồng bộ và hiệu quả Có nhiều nguyên nhân: một số tác giả chưa nắm vững và chưa thể hiện được tư tưởng này trong biên soạn SGK; công tác đào tạo, bồi dưỡng GV về phương pháp mới chưa cập nhật, kiểm tra đánh giá chưa đổi mới, chưa đồng bộ [15]
1.2.2 Đổi mới dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với
tư cách chủ thể của quá trình nhận thức
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS
Trang 21Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cở sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn Trong chương trình định hướng phát triển năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực
Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra
Ưu điểm của chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là tạo điều kiện quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của HS Tuy nhiên nếu vận dụng một cách thiên lệch, không chú ý đầy đủ đến nội dung dạy học thì có thể dẫn đến các lỗ hổng tri thức cơ bản và tính hệ thống của tri thức.Ngoài ra chất lượng giáo dục không chỉ thể hiện ở kết quả đầu ra mà còn phụ thuộc quá trình thực hiện
Trang 22Chương 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH THPT QUA DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “ĐẤT NƯỚC” – NGUYỄN KHOA ĐIỀM
2.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp
2.1.1 Nguyên tắc dạy học gắn liền với đời sống thực tiễn
“Giờ giảng tốt thường được bắt đầu từ thực tiễn và kết thúc bằng thực tiễn”- Ulrich Lipp [11, 24]
“Đưa ra ví dụ liên quan đến công việc hàng ngày của người học là một cách mở bài tốt… bài học được bắt đầu bằng thực tiễn và kết thúc cũng bằng thực tiễn, như thế mới đảm bảo được việc học đi đôi với hành… Tuy nhiên,
để có thời gian liên hệ thực tế, nội dung bài giảng nên được cắt giảm và chỉ tập trung vào những nội dung thực sự cần thiết, giáo viên cần phải linh hoạt trong việc chọn lọc điều gì là có ích nhất cho người học” [11, 25]
2.1.2 Đảm bảo quan điểm dạy học tích hợp
Dạy học, nếu chỉ thu hẹp kiến thức trong phạm vi bài học, môn học thì
HS sẽ thấy nhàm chán và đơn điệu vô cùng, giờ học sẽ khô khan và làm mất
đi khả năng tư duy, sáng tạo vốn có ở sự tò mò của các em
Dạy học tích hợp thể hiện trong việc sử dụng các phương pháp dạy học, trong nội dung bài học…
Tích hợp có thể trong môn, tích hợp liên môn hay xuyên môn, tùy vào giới hạn thời gian, nội dung bài học và khả năng tiếp nhận của người học
2.1.3 Phối hợp linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học
“Nếu chỉ giảng bằng cách thuyết trình, lượng kiến thức bị thất thoát sẽ
là bao nhiêu phần trăm? Các nghiên cứu đã chỉ ra con số ấy là 80% Con người không chỉ học bằng cách nghe, mà còn học được nhiều bằng cách quan sát Vì thế, tất cả những nội dung quan trọng cần phải được trực quan hóa, và
Trang 23trong suốt tiết học phải làm cho người học có thể nhìn thấy càng lâu càng tốt Trực quan hóa được thể hiện thông qua các phương tiện giảng dạy, như: bảng, bảng ghim, bảng lật, trình chiếu bằng máy, dụng cụ trực quan, tranh, ảnh, hình vẽ… mỗi khi giảng xong một nội dung nào đó, người dạy nên dán, treo quanh lớp học để kiến thức luôn hiển thị trước mặt người học.” [11, 26-27]
Ngoài những phương pháp, hình thức dạy học truyền thống, GV cần sử dụng kết hợp đa dạng các phương pháp, hình thức dạy học nhằm giúp cho giờ học sinh động, lôi cuốn, hấp dẫn
2.1.4 Lấy người học làm trung tâm
Luôn đặt người học là chủ thể trong mọi hoạt động, người học chủ động tiếp thu và lĩnh hội tri thức, tham gia tích cực trong các hoạt động dạy học do GV tổ chức
GV chỉ là người hướng dẫn, định hướng hoặc làm trọng tài trong các trò chơi học tập được tổ chức
Điều này giúp người học chủ động, tích cực lĩnh hội tri thức, tránh sự mất tập trung, nhàm chán trong giờ học
2.2 Dạy học đoạn trích “Đất Nước” - Nguyễn Khoa Điềm theo định hướng phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh THPT
2.2.1.Phát triển năng lực đọc hiểu
2.2.1.1 Phương pháp đọc
Mục đích:
- Giúp các em hình thành được kĩ năng đọc, không đơn thuần chỉ là đọc thông, đọc thuộc mà mục đích hướng tới là đọc để hiểu, đọc sáng tạo; không chỉ “đọc” được các tác phẩm học trong nhà trường mà còn “đọc” được các tác phẩm ngoài nhà trường, ở nhiều thể loại, nhiều dạng văn bản khác nhau
Trang 24- Ngoài ra còn hình thành cho các em kĩ năng đọc diễn cảm, tùy vào mỗi thể loại, mỗi tác phẩm mà người học có giọng đọc phù hợp
- Trong phương pháp này, có thể sử dụng các kĩ thuật động não, kĩ thuật đặt câu hỏi…
Hoạt động cụ thể:
- CH1: Trong chương trình THCS, anh/ chị đã được học những tác phẩm nào của Nguyễn Khoa Điềm, huy động những kiến thức cũ, cùng với hiểu biết của mình, hãy trình bày đôi nét về tác giả Nguyễn Khoa Điềm?
- HS (huy động vốn kiến thức và hiểu biết của mình, đưa ra câu trả lời)
Trang 25+ Các tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm mà em đã được học là: “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” trong chương trình Ngữ văn 9
+ Vài nét về tác giả Nguyễn Khoa Điềm: ông sinh năm 1943, quê ở Phong Hòa, Phong Điền, Thừa Thiên – Huế Năm 1964 ông tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội.Ông hoạt động nhiều trong lĩnh vực chính trị và văn nghệ Ông thuộc thế hệ các nhà thơ thời kì chống Mĩ cứu nước, thơ ông giàu cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng
- CH2: Qua việc chuẩn bị bài ở nhà, hãy nêu hiểu biết của anh/ chị về đoạn trích “Đất Nước”?
- HS: Đoạn trích nằm ở phần đầu chương V, trích Trường ca “Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm
2.2.1.3 Phương pháp thuyết trình
Mục đích:
- Nếu phần thuyết trình là của GV: cung cấp thêm cho HS những kiến thức ngoài SGK, ngoài sách vở và các tư liệu khác mà các em chưa được tiếp cận
- Nếu phần thuyết trình là của HS: không những giúp các em hình thành kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đứng trước đám đông mà còn giúp các em trình bày được những hiểu biết của mình thông qua hoạt động đọc – hiểu Từ
đó giúp các em chủ động lĩnh hội, ghi nhớ và khắc sâu kiến thức
Trang 26+Phần 2: Tiếp đến “Làm nên Đất Nước muôn đời”: cắt nghĩa, lí giải về Đất Nước
+Phần 3: Còn lại: tư tưởng Đất Nước của nhân dân
- HS khác đưa ra ý kiến, bổ sung
- GV: Nhận xét
2.2.2 Phát triển năng lực tự nhận thức
2.2.2.1 Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
Mục đích:
- Tạo hứng thú học tập, để các em hứng khởi bước vào bài học mới
- Tăng sự sinh động, hấp dẫn cho bài học
- Tránh sự nhàm chán khi các em phải làm việc quá nhiều với câu chữ, VB
CH4: Những hình ảnh này gợi lên trong anh chị những suy nghĩ gì?
- HS: Những hình ảnh, những con người thân thuộc, gần gũi -CH5: Những hình ảnh thân thuộc này giúp anh chị hiểu như thế nào
về sự hình thành và phát triển Đất Nước?
- HS:
+ Đất Nước được hình thành từ những điều gần gũi, nhỏ bé, thân thuộc với đời sống của mỗi con người, gắn bó với những điều giản dị nhất, từ những con người bình thường nhất
+ Đất Nước phát triển qua việc qua quá trình dựng nước và giữ nước, khi dân mình biết đánh đuổi giặc ngoại xâm
Trang 27- GV: Đưa ra những hình ảnh ngôi trường, ao làng, cảnh sinh hoạt của nhân dân…
CH6: Những hình ảnh này gợi cho chúng ta những gì về Đất Nước?
- HS: Đất Nước thật giản dị, gắn bó, thân thuộc với mỗi người
- GV: Cho HS xem những hình ảnh Núi Vọng Phu ( Đồng Đăng, Lạng Sơn), hòn Trống Mái ( biển Sầm Sơn, Thanh Hóa), đất Tổ Hùng Vương, dòng sông Cửu Long…
Đây là những hình ảnh quen thuộc trên Đất Nước ta, được làm nên từ những “người vợ nhớ chồng”, những “cặp vợ chồng yêu nhau”, gót ngựa Thánh Gióng, những con rồng, con voi, những người học trò nghèo… tất cả
- GV: Hình ảnh những người chiến sĩ đánh giặc, những người phụ nữ cầm súng, những người nông dân…
- HS: (Liên hệ) chính nhờ có những người bé nhỏ ấy mà Đất Nước được gìn giữ và trường tồn từ đời này qua đời khác
2.2.2.2 Phương pháp dạy học nhóm
- Đây là hình thức hợp tác giữa một nhóm HS, không những giúp các
em hình thành năng lực hợp tác, mà thông qua hoạt động này, các em có thể đưa ra những ý tưởng, trình bày ý kiến của mình, trao đổi, sửa chữa, bổ sung cho nhau, từ đó rút ra những thiếu sót, tổng hợp kiến thức một cách đầy đủ nhất
- Có thể kết hợp với phương pháp dạy học nêu vấn đề, kĩ thuật khăn trải bàn để tổ chức cho HS làm việc
Trang 28- Tùy vào số HS, vào lượng công việc, yêu cầu, GV chia lớp thành các nhóm phù hợp, GV giao nhiệm vụ và đưa ra vấn đề HS trong nhóm tự phân chia công việc và hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian nhất định Sau khi thảo luận, HS trình bày kết quả của nhóm mình bằng cách thuyết trình hoặc bằng các kĩ thuật khác như: kĩ thuật trình bày 1 phút, phòng tranh…
- Các nhóm khác theo dõi, nhận xét, trình bày ý tưởng của mình
Nhóm 1: Trình bày cách lí giải của nhà thơ về Đất Nước? (5 phút)
- HS: Phân chia công việc, tìm nhau trao đổi, tìm hiểu cách cắt nghĩa, lí giải của nhà thơ về Đất là gì, Nước là gì, Đất Nước là gì
Dùng kĩ thuật khăn trải bàn để làm việc
- HS chiết tự Đất là gì, Nước là gì, Đất Nước là gì Sau đó các em tổng kết lại và trình bày bằng lược đồ tư duy:
HS
HS HS
HS
HS Tổng kết
Đất là: nơi anh đến trường, nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm, nơi
“con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”, nơi Chim về…
Nước là: nơi em tắm, nơi
“con cá ngư ông móng nước biển khơi”, nơi Rồng ở
Đất Nước là: nơi ta hò hẹn, nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm, nơi dân mình đoàn tụ
Đất Nước là những gì gần gũi nhất, thân thuộc nhất, là sự hội tụ và kết