Việc ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học nếu kết hợp với học tập nhómthì từ tri thức của bản thân mỗi học sinh thông qua hoạt động hợp tác với bạn sẽ hình thành tri thức có tính chất
Trang 1Trong thực tế hiện nay, nhiều học sinh chưa biết cách học thực sự hiệu quả.Nhiều học sinh chỉ học thuộc lòng một cách máy móc, thuộc nhưng khôngnhớ được kiến thức trọng tâm hoặc chỉ học bài nào biết bài đấy, chưa có sựliên hệ kiến thức với nhau Vì vậy mà chưa phát triển được tư duy logic và tưduy hệ thống về kiến thức Sử dụng sơ đồ tư duy giúp các em giải quyết đượccác vấn đề trên và nâng cao hiệu quả học tập.
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu
và in đậm những gì do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữcủa mình Do đó, việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy - học sẽ giúp cho họcsinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đềmột cách hệ thống, khoa học Có thể vận dụng sơ đồ tư duy vào hỗ trợ dạyhọc kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, bài học, hệ thống hóakiến thức sau mỗi phần, mỗi chương, mỗi học kì Từ đó mang đến cho họcsinh niềm say mê học tập, tham gia xây dựng bài tích cực hơn, học sinh chủđộng và độc lập thực hiện các nhiệm vụ, bài tập theo khả năng của mình, huyđộng tối đa tiềm năng của bộ não
Việc ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học nếu kết hợp với học tập nhómthì từ tri thức của bản thân mỗi học sinh thông qua hoạt động hợp tác với bạn
sẽ hình thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học Vì thế sẽ
Trang 2giúp học sinh: Sáng tạo hơn; tiết kiệm thời gian và ghi nhớ tốt hơn; phát triểnnhận thức, tư duy; kích thích hứng thú học tập Đồng thời, chính việc đốithoại trò với trò, trò với thầy đã tạo ra bầu không khí học tập sôi nổi, tích cực
và góp phần hình thành mối quan hệ giao tiếp trong cộng đồng xã hội Sơ đồ
tư duy không chỉ tác dụng đối với mỗi cá nhân mà nó còn phát huy được sứcmạnh của tập thể
Vì những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với học tập nhóm trong dạy và học môn sinh học lớp 8, lớp 9”
Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu:
Sự kết hợp sơ đồ tư duy trong học tập với học tập nhóm của học sinh Phạm vi nghiên cứu:
Học sinh lớp 9/2, 9/4, 8/1, 8/3 đang học tại Trường trung học cơ sở ChuVăn An
3 Cơ sở lí luận
Trước những yêu cầu mới của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạocùng với những tiến bộ của khoa học công nghệ, việc đổi mới phương phápgiáo dục trở nên vô cùng cần thiết Theo Nghị quyết 40/2000 - Quốc Hội khóa
10 và chỉ thị 14/ 2001/ CT-TTG của Thủ Tướng chính phủ, Bộ Giáo Dục
- Đào Tạo đã đề ra yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục - đào tạo trong cảnước Như vậy để đạt được mục tiêu của nền giáo dục tiên tiến cũng như đápứng được quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục của Bộ Giáo Dục và ĐàoTạo, phương pháp dạy học của môn học phải được đổi mới cho phù hợp vớiyêu cầu phát triển xã hội và đáp ứng nhu cầu phát triển nhân cách của họcsinh
Tác giả Tony Buzan - người Anh là người đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứutìm ra hoạt động của bộ não, là người đầu tiên sáng lập ra bản đồ tư duy Theo
Trang 3Tony Buzan “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ” và “màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến cho bản đồ tư duy những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho
tư duy sáng tạo”
Hình thành và phát triển tính tích cực thông qua phương pháp dạy học sửdụng sơ đồ tư duy kết hợp hoạt động nhóm trong học tập là một trong nhữngphương pháp dạy học tích cực, nhằm tạo ra con người năng động, thích ứng
5 Nội dung nghiên cứu
5.1 Vai trò của việc sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với học tập nhóm
Sơ đồ tư duy (còn gọi là bản đồ tư duy hay lược đồ tư duy): là hình thức ghichép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng , tóm tắt những ý chính củamột nội dung, hệ thống hóa một chủ đề,… bằng cách kết hợp việc sử dụnghình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết
Trang 45.1.1 Vai trò của sơ đồ tư duy
Trong giảng dạy, việc sử dụng sơ đồ tư duy huy động tối đa tiềm năng của bộ
não, giúp học sinh học tập tích cực, hỗ trợ hiệu quả các phương pháp dạy học
Đối với học sinh, vận dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh có thói quen tự tay ghi
chép hay tổng kết một vấn đề, một chủ đề đã đọc – đã học, theo cách hiểu củahọc sinh dưới dạng sơ đồ tư duy Bên cạnh đó, học sinh thường xuyên tự lập
sơ đồ tư duy sẽ phát triển khả năng thẩm mỹ do việc thiết kế nó phải bố cụcmàu sắc, các đường nét, các nhánh sao cho đẹp, sắp xếp các ý tưởng khoahọc, súc tích…
5.1.2 Vai trò của việc sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với học tập nhóm
Trong quá trình thảo luận nhóm có rất nhiều ý kiến mà mỗi người luôn giữchính kiến của mình, không hướng vào mục tiêu đã đề ra dẫn đến không rút rađược kết luận cuối cùng Sử dụng sơ đồ tư duy sẽ khắc phục được những hạnchế đó bởi sơ đồ tư duy tạo nên sự đồng thuận trong nhóm, các thành viên đềusuy nghĩ tập trung vào một vấn đề chung cần giải quyết, tránh được hiệntượng lan man và đi lạc chủ đề Điều này giúp tiết kiệm thời gian làm việctrong nhóm do các thành viên không mất thời gian giải thích ý tưởng củamình thuộc ý lớn nào Không những vậy, sơ đồ tư duy tạo nên sự cân bằnggiữa các cá nhân và cân bằng trong tập thể Mọi thành viên đều đóng góp ýkiến và cùng nhau xây dựng nên sơ đồ tư duy của cả nhóm Các thành viêntôn trọng ý kiến của nhau và các ý kiến đều được thể hiện trên sơ đồ tư duy
Có thể nói, sơ đồ tư duy chính là một bức tranh tổng thể về chủ đề đang hướng tới để mỗi cá nhân có thể hiểu được bức tranh đó, nắm bắt được diễn
biến của quá trình tư duy theo nhóm đang diễn ra đến đâu, đang ở nhánh nàocủa sơ đồ tư duy và tổng quan toàn bộ kết quả của nhóm ra sao
Sơ đồ tư duy là một công cụ tư duy hiệu quả bởi nó tối đa hoá được nguồn
lực của cá nhân và tập thể Mỗi thành viên đều rèn luyện được khả năng tưduy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học Sử dụng sơ đồ tư duy giúp
Trang 5cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống.Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn Chỉ cần nhìn vào sơ đồ tưduy, bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dungbài học.
Như vậy, việc sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với học tập nhóm đã phát huy
được tính sáng tạo, tối đa hoá khả năng của mỗi cá nhân đồng thời kết hợpsức mạnh cá nhân thành sức mạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn
đề một cách hiệu quả Sơ đồ tư duy tạo cho mỗi thành viên cơ hội được giaolưu học hỏi và phát triển chính mình một cách hoàn thiện hơn
5.2 Cách sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp với học tập nhóm
bảng (hoặc vào trang vở, tờ giấy/bìa) rồi đặt câu hỏi gợi ý để học sinh vẽ tiếpcác nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3… Các đường nhánh có thể là đường thẳng hayđường cong;
nhân và theo cách hiểu của các em;
hiểu được trên một trang giấy, giúp bản thân dễ ôn tập, dễ xem lại kiến thứckhi cần
Cách ghi chép sơ đồ tư duy
(nếu sau này cần)
Trang 65.3 Vận dụng sơ đồ tư duy kết hợp học tập nhóm trong dạy và học sinh học lớp 8, lớp 9
Sử dụng phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy có thể áp dụng cho nhữngnội dung giảng dạy sau:
5.3.1 Xây dựng kiến thức mới và củng cố kiến thức sau mỗi tiết học
a) Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp học tập nhóm:
Bước 1: Học sinh sẽ ghi lại mục tiêu bài học được cô đọng trong từ khóa
hoặc một hình ảnh đặc trưng và được đặt ở vị trí trung tâm;
Bước 2: Học sinh thảo luận nhóm, viết hoặc vẽ lại những vấn đề liên quan
đến chủ đề của bài học;
Bước 3: Đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo , thuyết minh về sơ đồ
tư duy mà nhóm mình thiết lập;
Bước 4: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ tư duy về
kiến thức của bài học đó;
Bước 5: Giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy được vẽ trên phần mềm Min- Map
(hoặc vẽ ở bảng phụ hoặc ở bìa), cho học sinh lên trình bày, thuyết minh vềkiến thức đó Việc này giúp học sinh củng cố lại kiến thức hoặc sơ đồ tư duy
mà các em vừa thiết kế Sơ đồ nói trên đã đạt yêu cầu về hình thức và nộidung kiến thức, do đó giáo viên có thể cho học sinh sử dụng thay cho sơ đồcủa mình
Trang 7b) Một số ví dụ cụ thể:
Xây dựng kiến thức mới cho một phần của bài
Ví dụ 1: Bài “Môi trường và các nhân tố sinh thái” – Sinh học lớp 9
Khi dạy nội dung mục II: “Các nhân tố sinh thái của môi trường” ở sách giáokhoa, nội dung này là một đoạn thông tin tương đối dài Học sinh khi đọc sẽkhó nhớ Nếu giáo viên cho các em lập sơ đồ tư duy (nhóm nhỏ 2 - 3 em) sẽgiúp các em hiểu và nắm đươc kiến thức rất nhanh và nhớ lâu
Hình 5.1: Sơ đồ tư duy “Nhân tố sinh thái”
Trang 8Ví dụ 2: Bài “Tuyến yên, tuyến giáp” – Sinh học lớp 8
Hình 5.2: Sơ đồ tư duy “Tuyến yên, tuyến giáp”
Xây dựng và củng cố kiến thức mới cho cả bài
Ví dụ 3: Bài “Giới thiệu chung về hệ thần kinh” – Sinh học lớp 8
Đặc điểm của bài này là học sinh hình thành biểu tượng về cấu tạo của nơ ron
đã được nghiên cứu ở chương I ngay đầu năm học, biết được cấu tạo và chứcnăng của nơ ron, biết được chức năng của mô thần kinh Vì vậy, khi dạy bàinày nên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm lập bản đồ tư duy với tên chủ
đề chính là hệ thần kinh Qua đó tự xây dựng được đơn vị cấu tạo của hệ thần
kinh là nơ ron, nắm được các bộ phận của hệ thần kinh theo cấu tạo và theochức năng Đây là một trong các bài học sử dụng sơ đồ tư duy phát huy tínhtích cực rõ nét nhất giúp các em dễ nhìn, dễ nhớ, nâng cao hiệu quả giờ dạy
Trang 9Có thể tổ chức các hoạt động sau:
Trước khi học sinh tiến hành hoạt động nhóm, giáo viên có thể mở đầu gợi ý
chủ đề của sơ đồ tư duy là hệ thần kinh có liên quan đến nơ ron: “Đơn vị cấu tạo của hệ thần kinh gọi là gì?”
Hoạt động 1: Lập bản đồ tư duy với chủ đề là “Hệ thần kinh”.
Giáo viên cho học sinh lập sơ đồ tư duy theo nhóm với chủ đề của bài học vớicác gợi ý : viết ngắn gọn cấu tạo, chức năng của nơ ron, mô tả được trên hình43.1, vẽ các bộ phận của hệ thần kinh theo cấu tạo, theo chức năng,…
Hoạt động 2: Báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy.
Cử đại diện các nhóm lên báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy mà nhómmình đã thiết lập, qua hoạt động này giáo viên vừa biết rõ việc hiểu kiến thứccủa các em vừa là một cách rèn cho các em khả năng thuyết trình trước đámđông, giúp các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn
Giáo viên cũng nên lưu ý trong suốt quá trình đứng lớp, giáo viên đã biếtđược các đối tượng học sinh về khả năng học tập, nên chỉ định trước cácthành viên nào của nhóm sẽ được lên báo cáo tránh tập trung ở một số emkhá, giỏi, điều này làm cho các em trung bình, yếu chủ quan , ít tập trung, tuynhiên để đỡ mất thời gian cũng nên lưu ý có thể cho các em này trình bày mộtvấn đề nào đó đơn giản, dễ nhớ,…
Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện sơ đồ tư duy
Tổ chức cho học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện bản đồ tưduy về kiến thức chung của hệ thần kinh
Trang 10Hoạt động 4: Củng cố kiến thức về giới thiệu chung hệ thần kinh
Giáo viên cho học sinh lên trình bày về kiến thức chung của hệ thần kinh màgiáo viên đã chuẩn bị sẵn, hoặc bản đồ tư duy tốt nhất mà các em vừa thiết kếkết hợp hình 43.1 sách giáo khoa
Hình 5.3: Sơ đồ tư duy “Hệ thần kinh”
Khi các em đã thiết kế sơ đồ tư duy và tự ghi chép như trên là các em đã hiểusâu kiến thức, biết chuyển kiến thức từ sách giáo khoa theo cách trình bàythông thường thành cách hiểu, cách ghi nhớ riêng của mình
Trang 11Ví dụ 4: Bài “Đột biến gen” – Sinh học lớp 9
Thực hiện theo trình tự như ở ví dụ 3, ta xây dựng sơ đồ tư duy minh họa chobài này như sau:
Hình 5.4: Sơ đồ tư duy “Đột biến gen”
5.3.2 Ôn tập và củng cố kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì
a) Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp học tập nhóm:
Bước 1: Mỗi học sinh tự lập bản đồ tư duy ôn tập tổng kết ở nhà, giáo viên
cho học sinh trao đổi, tranh luận rồi chỉnh sửa lại bản đồ tư duy của mình chohợp lí nhất
Bước 2: Cho các nhóm xây dựng bản đồ tư duy của từng nhóm, trình bày và
tranh luận trước lớp, chỉnh sửa cho hợp lí nhất
Bước 3: Giáo viên cùng học sinh xây dựng bản đồ tư duy trên lớp.
b) Một số ví dụ cụ thể:
Tôi xin minh họa cách thực hiện của bản thân đã áp dụng khi ôn tập học kì Itrong năm học này, đã mang lại hiệu quả cao trong giảng day.Tôi xin chọncách dạy cho các nhóm xây dựng bản đồ tư duy
Trang 12Ví dụ 5: Bài “Ôn tập tổng kết 3 chương I,II,III” - Sinh học lớp 9
i Mục tiêu bài học:
Khái quát lại các kiến thức về: các qui luật di truyền, cơ sở vật chất của hiện
tượng di truyền, cơ chế của hiện tượng di truyền, các qui luật biến dị
ii Chuẩn bị:
Trước khi phân công để các nhóm lập sơ đồ tư duy, giáo viên nên định hướngtrước kiến thức chung của 3 chương trên là những kiến thức cơ sở của Ditruyền học đề cập tới cơ sở vật chất, cơ chế và tính quy luật của hiện tượng di
truyền và biến dị, do đó từ trung tâm ở đây sẽ là “Di truyền và biến dị” Từ
đây, giáo viên định hướng nội dung sẽ phân công cho các nhóm
Lớp được chia thành 6 nhóm và giáo viên hướng dẫn nội dung cụ thể từngnhóm như sau:
về những qui luật sau: phân li, phân li độc lập, di truyền liên kết, di truyềngiới tính, lai phân tích;
dung về cơ sở vật chất di truyền sau: nhiễm sắc thể, ADN, ARN, Protein;
di truyền sau: nguyên phân, giảm phân, thụ tinh, phát sinh giao tử, tổng hợpADN, tổng hợp ARN, tổng hợp Protein
Trang 13 Đối với học sinh:
Cá nhân mỗi học sinh chuẩn bị ở nhà lập sơ đồ tư duy theo từng nội dung đểsau này dùng cho ôn tập học kì I
Mỗi nhóm lập chung một sơ đồ tư duy với nội dung kiến thức đã phân công
Sơ đồ tư duy được trình bày trên giấy bìa khổ lớn, viết bằng bút màu, rõ ràng
iii Cách tiến hành:
Đầu tiên, giáo viên giới thiệu và ghi ngay trung tâm trên bảng đen “DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ” (riêng qui luật biến dị sẽ trình bày ở nội dung minh
họa tiếp theo) (Sơ đồ 1)
Tiếp theo, giáo viên mời từng nhóm lên báo cáo nội dung đã được phân công,các nhóm khác bổ sung Trong suốt quá trình trình bày của học sinh, nếu cònthiếu sót kiến thức nào giáo viên có thể dùng phương pháp vấn đáp để hoànthiện và có thể cho các em bổ sung ngay vào sơ đồ của mình.(sơ đồ 2,3,4)Như vậy, chúng ta đã hoàn thành nội dung kiến thức toàn bộ cả 3 chương Nộidung này có thể dùng để ôn tập cho bài kiểm tra 1 tiết (tiết 21), hoặc dùng để
ôn tập học kì I với nội dung rất cô đọng, dễ hiểu, dễ nhớ Một số kiến thức cóthể so sánh với nhau, giúp các em không nhầm lẫn nội dung kiến thức này vớikiến thức khác
Sơ đồ 1: Di truyền và biến dị
Trang 14Sơ đồ 2: Qui luật di truyền
Sơ đồ 3: Cơ chế
Trang 15Sơ đồ 4: Cơ sở vật chất di truyền
Ví dụ 6: Bài: “Ôn tập tổng kết chương IV- Biến dị” - Sinh học lớp 9
Từ trung tâm của chương này là “Biến dị”
Trong chương này, ngoài kiến thức về đột biến, học sinh đã học 2 loại biến dị
ở 3 chương đầu là biến dị tổ hợp và thường biến Như vậy giáo viên sẽ địnhhướng cho các em xây dựng bản đồ tư duy có kiến thức của biến dị tổ hợp và
thường biến Như vậy biến dị gồm: biến dị tổ hợp, thường biến và đột biến.
Về phương pháp lên lớp, giáo viên cũng thực hiện như nội dung ôn tập 3chương trên, nhưng nội dung của chương biến dị ít hơn nên có thể cho tất cảcác nhóm cùng lập sơ đồ tư duy, sau đó cử đại diện một nhóm lên trình bày,các nhóm khác bổ sung, giáo viên làm trọng tài và cùng với học sinh hoànchỉnh nội dung kiến thức
Trang 16Sơ đồ 5: Biến dị
Trước đây, ở các tiết ôn tập chương, ôn tập học kì, một số giáo viên cũng đãlập bảng biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ,… và cả lớp có chung cách trình bày giốngnhư cách của giáo viên hoặc của tài liệu, chứ không phải do học sinh tự xâydựng theo cách hiểu của mình Hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đếnhình ảnh, màu sắc và đường nét Việc trình bày nội dung bài học theo phươngpháp ứng dụng sơ đồ tư duy giúp giáo viên sáng tạo trong cách dạy, mỗi giáoviên, mỗi bài có thể trình bày theo các cách khác phù hợp với đặc điểm thực