Trong thực tế hiện nay, nhiều học sinh chưa biết cách học, mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, hoặc không biết liên tư
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC MỘT SỐ BÀI SINH HỌC 10
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:
1 Họ và tên: Nguyễn Thị Năm
2 Sinh ngày: 13 / 11 / 1989
3 Giới tính: Nữ
4 Địa chỉ: Phước Long – Bình Phước
5 Điện thọai: 0979 338 923
6 Chức vụ: Giáo viên
7 Đơn vị công tác: Trường Trung Tâm GDTX Phước Long
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:
- Hoc vị: cử nhân
- Năm nhận bằng: 2011
- Chuyên ngành đào tạo: SP Sinh học
Đề tài:
ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC MỘT SỐ BÀI SINH HỌC 10
A TRÌNH BÀY ĐỀ TÀI.
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học là vấn đề đổi mới phương pháp,dạy học theo triết lý lấy người học làm trung tâm được đặt ra một cách bức thiết Bản chất của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát huy cao
độ tính tự giác, tích cực, độc lập,sáng tạo của người học Người học là chủ thể hoạt động chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹxảo và thái độ chứ không phải là “cái bình chứa kiến thức” một cách thụ động
Trang 2Trong thực tế hiện nay, nhiều học sinh chưa biết cách học, mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với nhau Với đặc trưng riêng của môn Sinh học: môn học nghiên cứu đối tượng sống bao gồm: nghiên cứu các đặc điểm cấu tạo, các quá trình sinh lí, hóa sinh, các mối quan
hệ giữa các tổ chức sống với nhau và với môi trường, sự vận động của thế giới sống qua không gian và thời gian, thì phương pháp chuyển tải bằng sơ đồ thường mang lại hiệu quả cao Trong giảng dạy GV cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ,… và cả lớp có chung cách trình bày giống như cách của GV, chứ không phải
do HS tự xây dựng theo cách hiểu của mình, hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Vì vậy việc sử dụng bản đồ tư duy (BĐTD) trong dạy- học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học, tất cả HS tham gia xây dựng bài một cách hào hứng, giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực, huy động tối đa tiềm năng của
bộ não, …Việc ứng dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình, họat động nhóm… có tính khả thi cao góp phần đổi mới PPDH
Mặt khác đổi mới phương pháp dạy và học xưa nay thường gắn nhiều với khoa học công nghệ, đòi hỏi hạ tầng cơ sở vật chất tốt Những điều kiện này lại thường khó thực hiện ở vùng sâu vùng xa, nơi kinh tế còn nhiều khó khăn Với BĐTD, nhiều trường học ở các tỉnh vùng sâu, vùng cao vẫn có thể áp dụng
Với những lý do trên dã đưa tôi đến chọn đề tài “ Ứng dụng Bản Đổ Tư Duy trong
dạy và học một số bài Sinh học 10 ”.
Trang 3II CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học
- Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh vì con người thường hành động theo cảm xúc nhiều hơn là lí trí
2 Những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học nói chung
- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển
trọng tâm hoạt động từ giáo viên sang học sinh Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi khám phá
- Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời
Không chỉdạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị cho học sinh phương pháp học tập, phương pháp tự học.
- Tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế Chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức.
- Cá thể hóa việc dạy học
- Tăng cường sử dụng thông tin trên mạng, sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học
- Từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn thuần, khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức, sử dụng nhiều
loại hình kiểm tra thích hợp
III THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI.
1 Thuận lợi:
Trang 4Giáo dục ngày càng được xã hội quan tâm, đầu tư về cơ sở vật chất, đổi mới
về nội dung và phương pháp giảng dạy, đổi từ cách dạy học truyền thụ một chiều
sang dạy học theo “phương pháp dạy – học tích cực” Bản thân được học tập đầy
đủ các khóa tập huấn đổi mới phương pháp dạy học do Sở GD – ĐT tỉnh Bình Phước tổ chức nhằm giúp cho GV tiếp cận tốt phương pháp mới
Tôi cũng cố gắng tìm đọc, sưu tầm nhiều tài liệu tham khảo.Bên cạnh đó là
sự quan tâm giúp đỡ tận tình của Ban Giám Hiệu nhà trường, quý đồng nghiệp và các em HS trong qúa trình thực hiện đề tài
2 Khó khăn:
Đối tượng là HS học lực còn yếu Sĩ số lớp ít
Đa số HS không có một mục tiêu rõ ràng trong học tập, trong từng môn học, mục tiêu trong tương lai thấp HS chấp nhận điểm số mình có được mà không nỗ lực cải thiện vươn lên
Khi đặt mục tiêu học tập thì đa số HS không có một kế hoạch nào cụ thể về những công việc, mức độ công việc, thời gian thực hiện công việc để đạt được mục tiêu đó, đa sốHS theo lối suy nghĩ “đến đâu hay đến đó”, chính điều này lại hình thành thói quen làm việc không có kế hoạch của các em sau này
HS chưa có ý thức đọc bài trước ở nhà
Ở trường học học sinh chỉ được dạy “ học cái gì ” chứ không được dạy “ học như thế nào? ”
IV NỘI DUNG ĐỀ TÀI.
1 Những bất lợi của việc ghi chú kiểu truyền thống:
Ghi chú kiểu truyền thống là ghi chú thành từng câu, thường từ trái sang phài, được tạo ra bằng cách tổng hợp các khái niệm quan trọng từ các đọan văn trong sách hoặc viết dưới dạng nhiều phần mục được đánh số và sắp xếp theo trình tự
Trang 5Mặc dù phương pháp ghi chú kiểu truyền thống là phương pháp chúng ta được dạy và được hầu hết các học sinh sử dụng nhưng hiệu quả dạy và học không cao Tại sao?
- Không giúp tiết kiệm thời gian: Vì trong 1 câu văn có 2 lọai từ:
+ Từ khóa: chiếm khỏang 20-40% nhưng chứa gần 100% thông tin
+ Từ thứ yếu: chiếm khỏang 60-80% nhưng chứa ít thông tin
- Kiểu ghi chú này vẫn chứa đựng những từ thứ yếu nhưng không cần thiết cho việc học → Thời gian và cả trí nhớ bị lãng phí
- Sử dụng nhiều từ thứ yếu, ít sử dụng màu sắc, hình ảnh… → kết quả ghi nhớ thông tin kém, không rõ ràng, không tận dụng được trí tưởng tuợng
- Chưa tận dụng tối đa não bộ: không tận dụng chức năng của não phải( nhạy cảm với màu sắc, hình ảnh, tưởng tượng, hình dạng, nhịp điệu…) ,chỉ tận dụng chức năng nảo trái(xử lý về từ ngữ, tính tóan, đườn g nét…)→ khả năng ghi nhớ thông tin bị giảm
- Chỉ tác động vào lí trí của HS, chưa tác động vào cảm xúc của người học
2 Khái niệm bản đồ tư duy:
- Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực.
- Bạn hãy tưởng tượng tới một chú bạch tuộc có thân ở giữa và những chiếc súc tua (vòi) xung quanh Những chiếc tua này kiếm mồi nuôi sống toàn bộ cơ thể bạch
tuộc BĐTD gồm 1 vấn đề lớn đặt ở trung tâm và các nhánh ý tưởng toả ra xung
quanh.
- BĐTD có ở khắp mọi nơi trong cuộc sống, chỉ cần chúng ta chú ý: Một bông hoa với nhuỵ ở trung tâm và rất nhiều cánh vòng quanh Một cây gỗ có những cành và
lá tạo thành tán rộng hay những tấm bản đồ du lịch, bản đồ siêu thị
Trang 63 Ưu điểm của BĐTD:
- Kiến thức được trình bày cô đọng tổng quát, các nội dung được hệ thống liện kết với nhau, sử dụng hình ảnh, màu sắc sinh động, toàn bộ ý của sơ đồ có thể "nhìn thấy" → phát huy tối đa tiềm năng tư duy, ghi nhớ của bộ não, giúp HS hiểu và nhớ lâu bài học, hỗ trợ hiệu quả các phương pháp dạy học
- Tiết kiệm thới gian vì nó chỉ tận dụng các từ khóa
- BĐTD là sơ đồ mở, việc thiết kế không yêu cầu khắt khe chi tiết như bản đồ địa
lý, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ 1 kiểu khác nhau→ Kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của HS
- Phương tiện thiết kế bản đồ tư duy khá đơn giản, dễ tìm, kinh tế: giấy, bìa, bảng phụ, bút chì màu, phấn màu hoặc dùng phần mếm → có thể vận dụng với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các trường hiện nay
- Sử dụng nhiều hình ảnh, các màu sắc mà HS yêu thích → tạo cảm xúc đối với người học
- Phát triển năng khiếu hội họa, sở thích mỗi người, được tự do chọn màu sắc, đường nét, tự sáng tác nên những BĐTD, thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày của từng cá nhân nên càng yêu quý vá trân trọng “ tác phẩm trí tuệ” của mình
- Rèn luyện cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách logic
- Sử dụng BĐTD trong dạy học nhóm đã phát huy được tính sáng tạo, tối đa hoá khả năng của mỗi cá nhân đồng thời kết hợp sức mạnh cá nhân thành sức mạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả BĐTD tạo cho mỗi thành viên cơ hội được giao lưu học hỏi và phát triển chính mình một cách hoàn thiện hơn → HS có thể tương tác với bạn học của mình và với GV
- Qua hoạt động thuyết trình BĐTD vừa biết rõ việc hiểu kiến thức của các em vừa
là một cách rèn cho các em khả năng thuyết trình trước đông người, giúp các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn, đây cũng là một trong những điểm cần rèn luyện của học sinh nước ta hiện nay
Trang 7- Mặt khác, dạy học bằng BĐTD giúp học sinh không nhàm chán về bài học mà luôn sôi nổi, hào hứng từ đầu đến cuối tiết học Phương pháp này đặc biệt có ích trong việc củng cố kiến thức và rèn luyện, phát triển tư duy logic, năng lực cho học
sinh, nhất là những học sinh khá, giỏi Học sinh có thể tự học ở nhà rất hiệu quả,
không tốn kém
4 Các lọai bản đồ tư duy:
a BĐTD theo Đề Cương( BĐTD Tổng Quát)
- Dạng BĐTD này mang 1 cái nhìn tổng quát về tòan bộ môn học
- Chúng giúp HS có khái niệm về số lượng kiến thức HS phải chuẩn bị trước kì thi
→ Nên tạo BĐTD theo Đề Cương cho mỗi học kì
b BĐTD theo chương.
- Đối với những chương ngắn khỏang 10- 12 trang, có thể tập trung tất cả các thông tin trên 1 BĐTD
- Đối với chương dài có thể cần 2- 3 trang BĐTD và đánh dấu các trang là : chương 1-1, chương 1-2, chương 1-3, …
c BĐTD theo bài, đọan :
- Mỗi BĐTD dùng để tóm tắt 1 bài hoặc 1 trích đọan trong sách
- Tiết kiệm thời gian ôn lại những thông tin cần thiết mà không cần đọc lại - Có thể
vẽ những BĐTD tí hon trên giấy nhỏ và dán vào sách giáo khoa
5 Một số hướng dẫn khi vẽ BĐTD:
• Bảy bước để tạo nên một bản đồ tư duy:
Bước 1: Bắt đầu từ TRUNG TÂM của một tờ giấy trắng và kéo sang một
bên Tại sao? Bởi vì bắt đầu từ trung tâm cho bộ não, sự tự do để trải rộng một cách chủ động và để thể hiện phóng khoáng hơn, tự nhiên hơn
Bước 2:Dùng một HÌNH ẢNH hay BỨC TRANH cho ý tưởng trung tâm.
Tại sao? Do một hình ảnh có giá trị tương đương cả nghìn từ và giúp ta sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh trung tâm thú vị hơn, giúp ta tập trung
Trang 8vào những điểm quan trọng và làm bộ não của ta phấn chấn hơn.
Bước 3:Luôn sử dụng MÀU SẮC Tại sao?Bời vì màu sắc cũng có tác
dụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến cho Bản đồ Tư duy những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo và nó cũng thật vui mắt
Bước 4:Nối các NHÁNH CHÍNH tới HÌNH ẢNH trung tâm, và nối các
nhánh cấp hai, cấp ba với nhánh cấp một và cấp hai, v.v Tại sao?Bởi vì, như ta
đã biết, bộ não làm việc bằng sự liên tưởng.Nếu ta nối các nhánh lại với nhau, sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ dễ dàng hơn rất nhiều
Sự kết nối các nhánh chính cũng tạo nên hay thiết lập cấu trúc nền tảng
cho những suy nghĩ của ta Điều này rất giống với phương thức mà cây trong
thiên nhiên nối các nhánh tỏa ra từ thân của nó Nếu như còn có chỗ thiếu sót giữa thân và các nhánh chính của nó, hoặc giữa các nhánh chính và các nhánh bé hơn, với nhánh nhỏ thì tự nhiên sẽ không phát triển đúng như nó đang có nữa Không
có kết nối trong Bản đồ Tư duy của ta, thì mọi thứ (đặc biệt là trí nhớ và kiến
thức) sẽ rời rạc
Bước 5: Vẽ nhiều nhánh CONG hơn đường thẳng Tại sao?Vì chẳng có gì
mang lại sự buồn tẻ cho não hơn các đường thẳng Giống như các nhánh cây, các đường cong có tổ chức sẽ lôi cuốn và thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều
Bước 6:Sử dụng MỘT TỪ KHÓA TRONG MỖI DÒNG Bởi, các từ
khóa mang lại cho Bản đồ Tư duy của ta nhiều sức mạnh và khả năng linh hoạt cao Mỗi từ hay mỗi hình ảnh đơn lẻ giống như một cấp số nhân, mang đến cho những sự liên tưởng và liên kết của nó diện mạo đặc biệt Khi ta sử dụng những từ khóa riêng lẻ, mỗi từ khóa đều không bị ràng buộc, do vậy nó có khả năng khơidậy các ý tưởng mới, các suy nghĩ mới Các cụm từ hoặc các câu đều mang lại tác động tiêu cực Một Bản đồ Tư duy với nhiều từ khóa bên trong giống như một bàn tay với nhiều ngón tay cũng làm việc Ngược lại, mỗi Bản đồ Tư duy có nhiều
Trang 9cụm từ hay nhiều câu lại giống như một bàn tay mà tất cả các ngón tay bị giữ trong những thanh nẹp cứng nhắc
Bước 7:Dùng những HÌNH ẢNH xuyên suốt Bởi vì giống như hình ảnh
trung tâm, mỗi hình ảnh cũng có giá trị của một ngàn từ.Vì vậy, nếu ta chỉ có mười hình ảnh trong Bản đồ Tư duy của mình thì nó đã ngang bằng với mười nghìn từ của những lời chú thích
*** Khái quát các bước vẽ BĐTD bằng phần mềm
B1 Mở phần mềm Bản đồ tư duy
B2 Bắt đầu xây dựng một Bản đồ tư duy mới
B3 Thêm các chủ đề lớn nhỏ
B4 Thêm nhánh và sắp xếp nhánh
B5 Phóng to, thu nhỏ Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
B6 Thêm tranh ảnh
B7 Xem Bản đồ tư duy và in
B8 Lưu Bản đồ tư duy dưới dạng ảnh
*** Cách ghi chép có hiệu quả trên BĐTD
1) Dùng từ khóa và ý chính
2) Viết cụm từ, không viết thành câu
3) Dùng các từ viết tắt
4) Có tiêu đề
5) Đánh số các ý
6) Liên kết ý nên dùng nét đứt, mũi tên, số, màu sắc,…
7) Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng
8) Sử dụng màu sắc để ghi
6 Tóm tắt một số họat động dạy học trên lớp với BĐTD:
- Hoạt động 1: Lập BĐTD Mở đầu bài học, GV có thể cho HS lập BĐTD theo nhóm hay cá nhân với các gợi ý của GV
Trang 10- Hoạt động 2: Báo cáo, thuyết minh về BĐTD Cho một vài HS hoặc đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh về BĐTD mà nhóm mình đã thiết lập
- Hoạt động 3: HS thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện BĐTD GV tổ chức cho HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD về kiến thức của bài học GV sẽ
là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh BĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm của bài học
- Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một BĐTD GV cho HS lên trình bày, thuyết minh về kiến thức thông qua một BĐTD do GV đã chuẩn bị sẵn (vẽ ở bảng phụ hoặc ở bìa), hoặc BĐTD mà các em vừa thiết kế và cả lớp đã chỉnh sửa, hoàn thiện
7 Một số lưu ý khi ứng dụng BĐTD: - Trước khi vẽ BĐTD phải đọc thông tin
trong từng đọan và thu thập các từ khóa bằng cách gạch chân, lọai bỏ những từ không mang nội dung, để có thể nhớ được nội dung tài liệu đã đọc giúp trí não làm việc tốt hơn là bước chuẩn bị lập BĐTD
- Bắt đầu ở trung tâm với một bức ảnh hay tên chủ đề và triển khai ra
- Sử dụng màu sắc, hình ảnh, ký hiệu, mật mã, mũi tên trong BĐTD một cách phù hợp
- Nên chọn loại bút có nét thanh nhỏ, dễ nhìn, màu mực đừng quá đậm Không nhất thiết phải dùng giấy to thì mới thể hiện các nhánh được rõ ràng Giấy tập học sinh
có những đường kẻ giúp canh được vị trí của các nhánh vì vậy càng dễ vẽ hơn Ngoài ra cũng dễ dàng bảo quản và mang theo lên trường ôn bài Nếu khéo léo có thể tóm tắt một bài học dài 3, 4 trang trên một trang giấy học trò
- Màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Tuy nhiên, bạn cũng không cần phải sử dụng quá nhiều màu sắc Bạn có thể chỉ cần dùng một hai màu nếu thích và muốn tiết kiệm thời gian
- Nếu thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trong một nhánh, hãy thử gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bi trong đó Rất mới mẻ và tốn ít thời gian