Đã nói phải mà không nghe thực, Thi thôi đi kẻo mất lòng người.. Thầy địa lí sực nhớ gần đến có nhà quen, mới bảo hai thấy kia rang: Ngày xưa, tôi có để một ngôi địa lý cho cái nhà ở tro
Trang 1PHẤN II.
P H I Ê N Ả M , C H Ú G I Ả I B À I Đ Ọ C
317
Trang 2HÁI I II1 NHẤT
I P h iê n ám bài dọc: %
B ài sô 1
LÝ THƯỜNG KIỆT"1 ĐÁNH QUÂN TỐNG
Tổng hỉnh xâm nhiễu biên thuỳ,
Tướng q u ă n Th ường Kiệt dựng cờ Bấc chinh.
Bên sông N h ư Nguyệt trú doanh;
Giang sơn dường có thần linh hộ trì.
Miếu tiến p h ả n g ph ấ t ngâm thơ,
N h ư p h â n địa thố, như trì thiên binh.
Bấy giờ Tống mới hư kinh;
Giáng hoà lại giả mây thành cô cương.
Lại còn hối hận một chương,
Tham voi Giao Chĩm mất vàng Quầng Nguyên.
Năm mươi năm lẻ s ố bền,
Võ công văn đức sáng truyền sử xanh.
(Khuyết danh)
Trang 3TRẤN III N<; ĐẠO OẠI PHÁ QUẢN NCỈUYÊN'-"
Sắc sai Hưng Dao'1' tông binh,
Với Trần Quang Khải'Sl các doanh tiến vào.
Chương Dương"'' một trận phong dào;
Kia ai cướp giáo ra vào quốc công.
Hàm Quan'7’ một trận duỗi rong;
Kìa ai bắt giặc, uy phong còn truyền.
Giặc Nguyên còn muôn báo đền;
Mượn đường hộ tống binh thuyền lại sang.
Bạch Đăng"11 một cõi chiến trường;
Xương bày trắng đất, máu màng đủ sông.
Trần Hưng Đạo đã anh hùng,
Mà Trần Nhật Duật'91 kê công cũng nhiều.
Hoài Văn"01 tuổi trẻ chí cao,
Cừ đê sáu chữ"" quyết vào lộp công.
Trang 4Bải s ố 3
Mội vầng chinh kìĩi lưu k i n h ,
Khoáng trong trời đất nhật tinh sơn ha
Hạo nhiên ở tại người ta,
Tấc gCỉĩĩíỊ son săt hiện ra khi cùng.
Nẽn thua theo vận truân phong,
Nghìn thu đ ể tiếng anh hừng sử xanh.
Ngoái tuy giao thiệp trong chăm những là
Dầu năm N h â m Ngọ tháng bơ,
Buổi ngày mồng tám mới quo giờ thin.
Biết cơ trước vẩn g iữ gill,
ỉỉdìì trăm vò sĩ hai nghìn tình hĩnh.
Tic tì nghiêm sai đóng trẽn thành,
IIA T H A N H ( HÍN II KHÍ CA
Trang 5Thọ sư rot chén rượu quỳnh đáy vơi.
Vân quan vò tướng nghe lời.
Hẩm hầm xin quyết một bài tận trung.
(Khuyết danh)
II Chú giải
(]) Lý T hư ờng Kiệt (1019-1105) người t h à n h T hSng Long (Hà Nội ngày nay) Ong ỉà tướng thòi Lý rẩm q u ân
đ á n h th ắ n g Chiêm T h à n h và giặc Tỏng xâm lãng
(2) Giao Chỉ: Tên cũ của nước ta
(3) Nguyên: Chỉ giặc Nguyên Mông, ba lần đem q u ân
s an g xâm lược nước ta, đểu bị q u ân d ân n h à T r ầ n (tánh bại
(4) H ư n g Đạo: T r ầ n Q u ố c T u â n ( 1 2 3 2 - 1 3 0 0 ) là c o n An
s i n h v ư ơ n g T r ầ n Liễu; ba l ần đánh q u á n N g u y ề n M ỏ n g v à o
các năm: Năm 1257 ông cầm quân t r ấ n giữ biên th u ỷ phía bắc,
1285 và 1287 được vua T rần N hản Tông r ủ làm Tiêt
c h ế thông lình các đạo quân
(5) T r ầ n Q u a n g Khải: Là con th ú 3 của T r ầ n Thai Tỏng, làm Thượng tướng thòi Nhân Tông, th a m gia cuộc
k h á n g clìiến (‘hống giặc Nguyên cồ nhiêu chiên còng
((?) Chương Dươni': Bôn dò thuộc huyện Thiíựnỉĩ Phuc
( n a v t h u ộ c h u y ộ n T h ư ờ n g T í n H à T â y )
322
Trang 6(7) Hàm Quan: Cửa Hàm tu thuộc huyện Đông Anh (nay thuộc Khoái ( ’háu Hưng Yên).
( ) Bạrh Đằng: Tức sông Bạch Đ ằng (Dông Triều
Q uang Ninh 11 gày nay)
(9) T r ầ n N h ậ t Duật: Một vị tướng thời Trần
(10) Hoài Văn: Tức T r ầ n Quốc Toản
(11) S á u chữ: P há cường địch báo hoàng â n (P h á giặc
m ạnh báo ơn vua)
(12) Q u a n g Viễn: Tên hiệu của H oàng Diệu
(13) Thôn hồ: Nuốt sống giặc Hồ
Trang 7Mai cốt cách, tuyết tinh thần,*2*
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nơ nang.t:ị Hoa cười ngọc nói đoan trang!4ị
Máy thua nước tóc, tuyết nhường màu dp Kiểu càng sắc sảo mặn mày
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thúy nét xuân sơn,fít) Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
M 4
Trang 8S â c đ d ì í h đ à i m ò t , till d a n h h o a h a i
T h á n g m i n h v ỏ n s á n ( i n h t r ờ i ,
P h a n g h ề t h i h o ạ , đ u m u i co n g â m 1
Nghé riêng ăn đứt Hổ cẩm ' một trương.
Khúc nhà tay lựa nôn xoang,
Mộ/ cung 6ạc mệnh lại càng não nhân.tS>
Phong ỉ Ưu rất mực hồng quần
Xi/Ổ/Ỉ ra/ỉ/? tãp xỉ tới tuần cập kê.,t0í
Lõng buông tay kh ấ u 11, bước lần dặm báng,
De huề lưng tủi giỏ tràng
Trang 9Sau chôn theo một vài thõng COI) con
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
Có pha mùi áo nhuộm non da trời.
Néo xa mới tó mật người,
Khách đà xuống ngựa, tới nơi tự tinh.
Hài văn lần bước dặm xanh,‘n'
Một vùng như thê cây quỳnh cành dao Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa.
Nguyên người quanh quất đâu xa,
Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.
Với Vương Quan trước vẫn là song thân,
Một Ill'll tĩổng tước'"'’ khocì xuàn hai Kìi ’ 11
Nước non cách lììấv buontỊ thôn.
Trang 10Những là trộm dấu thầm yêu chốc mồng.
May thay giải cảu tương phừng, ìh
Gặp tuần dỏ In thỏa lòng tim hoa.
Hỏng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan, thu cúc mặn mà cả đôi
Người Quốc sẳc'm kẻ thiên tài,
Tỉnh trong như đả, mặt ngoài còn e.
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê,
Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chín khôn.tỉ9)
Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo.
Dưới cầu nước chảy trong veo,
Bên cầu tơ liễu bỏng chiều thướt tha.
Kiểu từ trở gót trướng hoa,
Mật trời gác núi, chiêng đà thu không.(20)
II Chú giải
(1 ) Tố* nga: Chỉ con gái dẹp
Trang 11(2 ) Mai cốt cách: Cốt cách cây mai; Tuyết tinh t h ẫ n tinh th ầ n cây tuyết Ý chỉ chị em n à n g Kiều dẹp vã tr o n g trắng.
(3) Khuôn trăng: Mặt tròn như t r â n g rằm; nét ngài: Mày con bướm tằm: Chỉ khuôn m ặt xinh dẹp
(4) Đoan trang: Tính cách nghiêm t r a n g dứng đắn
(5) Làn thu thủy: Mặt dẹp trong như nước thu; Nót
x uân sơn: Nét núi x u ân như lông mày
( ) Thi họa: Làm thơ và vẽ
(7) Hồ cầm: Đàn của người phương Bác
(13) Văn nhân: Người văn học.
(14) Khấu: Vòng dây buộc ử đầu ngựa
(15) Hài văn: Dầy thêu th ù a r ấ t dẹp
328
Trang 12(16) Đ ồ n g tước: N h à c ủ a T à o T h á o thời T a m Quôe
rlió đ á n h t h ắ n g nước Ngô thì đem hai mỹ n h â n của nướe
(20) Thu không: Hồi trống (chiêng) từ lầu canh của
t h à n h đánh lúc chập tối sau khi xét trong thành không còn
người lạ k h ả nghi
Trang 13Đêm ngày nuôi dạy biết bao công trinh,
ơn sâu thế mà tinh nặng thể, Đạo làm conuên nghĩ báo đền.
Thần hôn'n hai buổi không quên,
Đã hay chào miệng lại nên chào lòng Giẩu sang ấy đinh chung là hiếu, Nghèo hèn này rau cháo cũng vui.
Trâu dê lúc chết tê ruồi, Sao bang lúc sông ngọt bùi lù hơn!
Khi mắng bảo chớ hờn giận thế, Điều lỗi lầm nên sẽ ngân qua.
Net ăn lời nói cho hoà,
33«
Trang 14ỉi(Ị() s a o nựlìư r ộ y ỉììờỉ lo d ạ o con
(jf)c <f (to m a n ỊỊuỏn ti (lò,
Yru vợ von chớ ho hoi thản
Yêu đau moi mệt mỏi lan,
Lo toan cơm thuốc ân cần sớm khuya Trong trcnv tuổi có khi già cả,
Việc quan khâm h chẳng cá hồ đổ
Muôn cho đẹp mả yên mồ,
Chốn lành xương đỏ hỏi dò mà chôn Thờ lúc sông ngọt ngon kính sự,
Dà thác rối th ương nhớ xiết bao.
Lòng con vẹn cả mọi điều,
Dẫu nuôi mẹ ghè như chiều mẹ ta.
Ản ớ với mẹ cha mà hiếu,
Phúc trời cho chõng thiếu chi đâu
Hiếu ma không trước có sau,
Còn mong hưởng thụ dài lâu (tược nào Vua ỉ ôi củng í rong điều luân A’\\
Cỉiữ nghía vòn nghi (tớ muôn fill/
Người vòn ôn hé sang ỊỊìơu,
Trang 15Dội ơn chúa thượng trên đấu nghĩ sao? Hàng võ chức trọng diều tiết liệt,
Đấng văn quan giữ nết thanh cần.
Hiền lành an phận làm dãn,
Sợ hỉnh phép nước, giữ luân lý nhà.
Tô cùng thuế phải ra cho chóng,
Báo ơn vua lấy bụng trung thành.
Vợ chồng kén chọn cho rành,
Tìm người tính nết hiền lành mới nên.
Hỏi kiếp trước rằng duyên hay nợ,
Nợ với duyên củng tự trời xe.
Tinh như hoa thắm lắm phai nhiều.
Nể nang trọng đãi trăm chiểu,
Trang 16K i n h n h a u n h ư t h è k h á c h n à o đ ế n ch( f ỉ
Dàn bà cùng nhiều người ngu chấp,
Đàn ỏng vi tính Cấp hoa rơ.
Vớt n h a u k h u y ê n b a o t h u ậ n h o à ,
Bẽ đông còn cạn đạo nhà hân hay.
Anh em giống chart tay người đây,
Chớ làm cho què gày mà ngáy.
Vườn xuân đào lý xum vầy,
Cành kia riêng thế gốc này chung nhau
Ghét nhau chị em dâu xiết kẻ,
Điểu gièm pha đừng đẽ tai nghe.
Mẹ cha yêu ghét mọi bề,
Ch ở ghen ty kẻ, chớ khoe cậy mình
Trọng tinh nghĩa phai khinh tiền của,
Dẫu thiệt hơn chở có kẻ chi.
Nói làm nhầm lỗi điểu gì,
Nhẫn là phải đạo, chấp thì thương ân
ỉuòìĩíỊ yêu kinh mười phan trọn vẹn,
Trong (uứa nhà lãm chuvcn vui an.
Bọn hò gộp gở là duyên
Trang 17Một lần mưa gió, mấy phen da vàng
Bụng trước sau sao lại đôi dời.
Dường hay dớ ui chơi bời,
Gần người thiện ấy xa người ác kia Đứng nay rượu sớm chè làm thiết,
Yêu bao nhiêu thi ghét hây nhiêu.
Giao du là nghĩa thể nào,
Khuyên câu tử tê ngăn điếu càn rông
Đã nói phải mà không nghe thực,
Thi thôi đi kẻo mất lòng người.
Muốn cho đi lại lâu dài,
Đừng quên bụng kính, chớ dời lòng tin Trong bụng nghĩ không nên mãn mắt, Dôi được người khôn dôi được: trơi.
Thủi đừng bạc bẽo với đời,
Lòng mà trung hậu phúc thi dài lâu Việc chưa đến chớ rầu bụng nghĩ,
Điếu đã qua chở đê vào lòng.
Bỏh mùa hòa khi xuân phong,
Trang 18L ùV/ lu n g chantị dộng ắt kh ù n g ch á y càn
í) dời chớ cấu toàn trách bị,
Đượr thế nào hay thê nì ờ thôi,
phan ỉa trời đả định rồi,
Khi (ìn ngủ lúc đứng ngồi cho an.
Y ê u h ẻ n ọ s á t l i ê n đ i ề u ác,
Ghét người kia biết đ ư ợ c cáu lành.
Kè sao xiết nổi bất bỉnh,
/Vọ'7' người mà cũng trách minh mới xong
Vitĩc trung hiếu những mong háoi,r> * lại,
Diều nhả nhen ắt phải nhịn đi.
T r a n h k h ô n n à o có h a y g ỉ /
Thà răng chịu dại ‘ lăm khi ơn lành
11 Chủ giải
(1 ) T h ầ n hôn: Sớm tối
(2) Hai thân: Chỉ cha mẹ
(3) (Juan khâm: Việc ta n g ma cha mẹ
(4) Nộ: G i ậ n (lữ.
Trang 19(5) Báo: Báo đ á p c ô n g ơn s i n h t h à n h c ủ a c h a mẹ.
( ) Câu này V phê p h á n những kê hay t r a n h giành điểu hơn dối với người khác
(7) Chịu dại: chỉ người nhún nhường luôn n h ậ n ílũni
t h u a th iệ t về mình
336
Trang 20HAI T H I I I
TIẾU LÂM TÂN TRUYỆN
ỉ TAI ANH THẤY ĐỊA LÝ
Một thầy địa lý, một thầy phù thuv, một thầy bói, nhát hanh bão nhau đì phương khác kiếm ăn; đi từ sáng đến gần tỏi chưa biết vào đáu mà thảy nào củng đói cả Thầy địa lí sực nhớ gần đến có nhà quen, mới bảo hai thấy kia rang: Ngày xưa, tôi có để một ngôi địa lý cho cái nhà ở trong làng này Nhà nọ bây giờ củng phong lưu Anh em mình cố đến đây, thế nào củng dược một bữa no say Nhưng tôi hảo hai ỏng rănq: Gia đến dãy người ta co mời ăn thi ta phải làm cao mới được, đừng làm hộ đói mà họ khinh Ba thầy cô đi, một ì úc đến nơi Chú nhà mừng lồm ra đón vào, sai người nhà làm rơm thết đài Ba thầy một mực xin thôi: Chúng tỏi
dà cơm rƯỢu ờ ngoài hàtiíị ca rỏi, chi đến phiền ông ngủ một toi, sáng mai anh cm xin đi sớm Chu nhà nghĩ thực thôi không mời nữa, bảo người nhà sứa giường, giải chiếu, đẽ các thấy đi ngủ lia thầy buồn qua đành phái nhịn đói đi năm Nhưng mà thầy kia cử trách ráng: Chi tại thầy địa
/v có; rồi nói ràng: Việc iỊì mà lọi suI nhau ìà-tn khách, đê hoa ra bày giờ hhỏììíỊ ììgu dược Thấy iỉịa lý thây nói lỏi
1 P h i ê n á m b à i d o c
Trang 212 ANH Mủ CƯỜI
Người mù cùng các anh em bạn ngòi chơi Các người trông thấy sự lạ, buồn cười đều cười cả Người mu cười theo Các người hỏi rằng:
Anh tròng thấy gi mà mà anh cười?
Người mù nói rằng: các anh cười chắc là sự hay,- không có lẽ đánh lừa tôi.
3 NỊNH NHẢ C.IẨU
Có anh n ị n h nhà giầu nói rằng: Hôm nọ tôi n á m
chiêm bao thấy ông sông lău một ngàn năm Anh nhà giấu nói rằng: Chiêm bao thấy sống thì hoa chết, cũng là triệu'1’ bất tường2’ Anh nịnh vội vàng nói lái lại răng: Tôi nói
n h ầ m ! T ô i c h i ê m b a o t h ấ y c h ế t m ộ t n g h ì n n á m
m
Trang 22Một người di xa, dặn con ở nhà ai có hủi thi nói ráng:
Bô tôi dì ch ơ i vắng Nhưng sợ nỏ quên khống nói đưực thô,
lấy lìiỉ/ rivt, cho nỏ cái tr' bảo rằng: Ai hỏi thi mày cứ đưa cái lớ nay ra Con cầm tờ bỏ vào túi áo Mấy ngày chẳng thấy ai hòi đến Tôi sẵn có ngọn đèn, lây cơi tờ ra xem, chẳỉầỉỊ may cháy mất Hôm sau, có khách lại hỏi rằng:
Thầy mày có nhà không? Thằng con ngẩn ngơ sờ vào trong ỊUĨ, không thấy tày nói rằng: Mất rồi!
Nói răng: Hôm nọ!
Hỏi răng: Làm sao mất?
Noi rằng: Cháy!
5 TÀN(Ỉ BỮA'-'*
Một người đi cày ở ngoài đồng, uự gọi về ăn cơm, bảo rằnỵ: Ta còn dấu cái cày đã Nói thật to Đến lúc về vợ bảo rằng: Dấu cày sao không nói sẽ chứ? Nói to thê\ người ta biì’ỉ nỏ cỏ lấy mất không!
Chổng án song, chạy ra xem, quả nhiên mất cày Rồi chạy vé ghé vào tai vợ sẽ nói thầm rằng: Mất cái cày rồi.
(Tiêu lăm truyện - Phúc An tàng bản)
]I Chú giải
4 RA N ( Ỉ ( ) A I
Trang 23(1 ) Triệu: Triệu chứng, dấu hiệu.(2) B ất tường: Không may.
(3) T àng bừa: Dấu bừà
340
Trang 24HAI T H I NAM
I Phiên ảm bài dọc
NGŨ LUẬN HÁN
Trời sinh người thiêng hớn muôn vật,
Giàn hồng quân chao chát cương nhu.'1'
Dạo trong đều chịu giáng cho,
Lòng hay bôn môi, tinh nô năm hang
Chữ lương năng121 ai ai có cả,
Thuở hời dè sớm đã biết hay.
Hiềm vi nhân dụcỊV bỗng say,
Khôn ngăn tính nước dễ khuây lý trời
Dụi có gương soi thời mới tỏ,
Người bao kham niềm cù sẽ quên.
At như thánh hoá sao nên,
Dừ răn lành chớ lại thì tính sơ.
Thay trời có quân sư trách nặng,
Phép dạy bài năm dạng nhãn luân
Trước thời đạo cà quân thần,
Trang 25On sáu phụ tứ* nghía gà 11 cỉệ huynh Lấy chữ tinh x ứ trong phu p h ụ ,'0*
Thu ớ giao liu bằng hữu lấy tin.
Ay la nhân (ỉọo 7ỉ đương n h iên ,
Lv thườniị trời đỏt duy truyền xưa nay Thỏi chẳng tày có đời hậu bạc,
Tấm thanh hãn ghi tạc dường gương Vua tỏi là trước ba trinh,
Rồng mây hội cá lứa hương duyên lanh Phận đõ đành trên nhà, dưới bệ,
Lòng tương thản một thế khác chi
Thánh xứa Nghiêu Thuấn thuỳ y,lSi Tài co Khiết Dcin, mưu có Vù Cao ''
Nhờ xôn xao đà ca lại đọc,
Trớn trâch thành, dưới đốc khâm lân Chã/) //('// ỉ rị HƯỚC, giấu dảìì,
Sán cỉdtì mày tììuỵ!i" đài xuân giỏ hoa.
% Hội hườn li gia lại vé tay Vũ,
Quan sclĩỉ (ỉùiiịỊ tôi cũ nhà N g u ’11
NhữĩiLỊ niỊỉỉiĩi vhiìì (tức hi CHÌ nôy
Trang 26Dãi lòng trung cáo khuyến vua chon ray.
Vận thai lai trời xoay đất ỉ rị, 1 ’
V u a thiếu hiền, lỏi m ĩ hết ìĩíịay ỉ;'
Bữa gian dẹp loạn ra ta\\
Huyên khuẻ nghiệp cũ duy đùi bôn tram.
Quyển thay cầm tới Thang'rit chịu mệnh,
Trang 27(7) Nhân dạo: Đạo làm người cần phải có.
(8) Nghiêu Thuấn: Tên hai ỏng vua thời cổ dại (i
Trang 28v ắ n ẹ ngọc soi đời, phòng k h u ề 1' dựng mối.
Họ Phục Hi'2' g à y nền giá thứ, mà người cầm hôn tục trẽn tay.
Nhà Thành Chu,3) đ ặ t lễ hôn nhớn, mà người g iữ xích thằng trong túi.
Dây Tần Tấn " đôi duyên xe lại, dẫu địch thù gỡ củng không ra.
Nghĩa Chu 7'rần trăm kiếp còn ghi, mói tơ tóc vò sao
dược lôi.
Nay nhân cá nước duyên ưa, đón đưa được buổi.
Hai họ troi tài, gái sắc, tiếng đòn ram sot"1 dìu dặt trong màn.
Trang 29Tràm nãỉìì chổng xướng vỢ theo, thể sơn hai lữ n ụ hrn dưới gỏi.
Giác nhập mông hỡi hùng xa ngột ' (tiêm ẹ a i (ra! sinh nỡ rỏ rành rành.
Nhà Tông đ ư ờ n g 7 hương hoả tảo tẩ n , cày phút' Ị ộc ru trồng thêm mải mãi.
Ay cùng bới nhờ đức cao dầy, cầm quyền rlìâp not.
Rưựu ho chén d á n g tấc thanh bệ ngọc cao xa.
Lể tạ mấy lời xin dức độ Tỏng đường nối (lỏi.
Bin/ì nói: N gày hỏm qua rơ ỉ li* ỏ ịtập gai I(U tn i về
không NíịàV hôm naV trời ĩìỉỉỉi rợ ill* đòn#, hu (ỉcn Siớỉìì hrtí
quan người di vắng, Tỏi thôi ngòi lại (ĩứỉìẬỉ Tôi từ s>(hìì chị)
(ten chiêu, biết cậy ai cào hám bàV giờ khòiiỊLí bivỉ CỈÌU he (ỉn ỉnỉ (ti (tàu khổng llidv
//<’ ỉìtỉi: Tói /ir/v Ai hoi ( irc iỊi thi HOI i-hit ầnaii
Trang 30Bỉnh nói: Thưa c h u tói Rinh sa/lự hâu Hô nói: N(ỉỉ khen tlìay làm hạn 1 'iỉi tời khỏììỉị đóng, dám nói rỗng ìám ban { (U i/uan (ỈƯiic nao Quan tôi còn gi (ỉ bạn quá say, hai
b a Ị ì h e n t ò i h i m ắ n g r i ĩ l ì ơ v ; t h ấ y c h õ n g t i n, t h ầ y n h ờ n g ư ờ i
khac Tôi iừ ncix k/ióng dam hộ thầy, thè thi thầy tạm ngôi
đ â y , (to tói hiếm lưng cơm gọi lù ngọ p h ạ n " Tỏi từ đầu đốn cuỏi (tưỢc một bát cơm mới một quá cờ đem cho thầy ân keo lòng không dạ đỏi Bình nói: Tủi thăn khôn đỏi dạ hét gào cĩn làm sao cho được mà án Thương ỏi! Lẽ nhân tinh thê nhục nhã Giá ơn chú, tôi về khônq vậy, khốn nạn th ay, như
cơ hàn chừng ấy, cũng ráp mong đến bạn mà nhờ, ai ngờ người chăng đoái tinh xưa Thản tôi có trách người sao
(3) T h à n h ('hu: Vua T h à n h Vương n h à Chu thòi cô dại ỏ T r u n g Quỏe
(1) Tẩn Tấn: Mói tương quan giữa hni niíỏc Tan - TYiiì lì,'li niiỏc lỏn ilìòi xuAn lim (770 - IT-VIYCN)
Trang 31(5) Cầm sắt: Đàn cầm và dàn sắt V nói sự hoà hớp vợ chồng.
(6) Xà ngột: R ắn cắn
(7) Tông đường: Nhà thờ tô tông
(8) Tiên thiên: Tiên trê n trời
(9) Ngọ phạn: Cơm trưa
34X
Trang 32HAI THÚ HÁY
l P h i ê n â m b à i doc
Bài sô 1
THU Ý KIỂU Ỏ LẨU NGƯNÍỈ BÍCH
Trước lầu Ngưng Bích khoá xuán"1,
Vẻ non xa, tấm trăng g ầ n ở chung'**.
Bôn bé bát ngát vời trông,
Cát vang cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng m â y sớm đèn khuya131
N ử a tình n ử a c ả n h n h ư chia t ấ m lòng.
Tương người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luông hãy rày mong mai c h ờ 4'
Bên trời góc b ể bơ vơ,
Tàm son Ịịọt đất bao g iờ cho Ịxhaiị!,).
Xót người tựa cứa hôm mai,
Quạt nồng đ ắ p lạnh, những ai đó giờ?
Sân loi cách mảy nắng mưa
Trang 33Có khi gốc tứ đã vừa người ôm 7*!
Buồn trông cửa b ể gần hôm,
Thuyền ai thấp thoáng canh buồm xa xa.
Buồn trỏng ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông cỏ nội dầu dầu,
Chăn m ây m ặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trỏng giỏ cuốn m ặ t duềnh(S)
 m ầm tiếng sóng kêu quanh g h ế ngồi.
( T r íc h : Đ o a n t r ư ờ n g Tản t h a n h - N g u y ễ n Du)
B à i SỐ 2
KIỂU GẶP TƯ HÀI
Lần thâu gió m át trăng thanh,
Bỗng đâu có khách biên đình sang ch(ti(9).
Ráu hùm hàm én mày n g ờ i lOỈ,
Vai năm tấc rộng, thân m ười thước cao.
Đường đường một đảng anh hào,
C ỏ n qu yề n h ơ n sức, lược thao g ồ m tái'11 \
350
Trang 34DoI trời đ ạ p dot ở đời,
ỉ lọ Từ ten Hái vỏn người Việt ■ Dỏng
Giang hổ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo"21
Qua chơi nghe tiếng nàng Kiểu.
Tấm lòng nhi nữ d ễ siêu anh hùng.
Thiếp danh đưa đến lầu hổng,
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.
Từ rằng: Tàm phúc tương ki1'3’,
Phải người trăng gió vật vờ hay sao?
Bảy lâu nghe tiếng má đào,
Mắt xanh chẳng đ ể ai vào có không"41?
Một đời dược mày anh hùng,
Bỏ chi cá chậu chim lồng mà chơi!
Nàng rằng: Người d ạy quá lời,
Thân này còn d á m xem ai làm thường
Chút riêng chọn đá thử vàng,
Biết đâu m à gửi can trường vào đâu"51.
Còn như vào trước ra sau,
Ai cho kén chọn vàng thau tại mình?
Trang 35Từ răng: Lời nói hữu tinh,
Khiến người lại nhớ cáu tìinh Nguyên Quả Lại đây xem lại cho gấn
Phỏng tin được một vài phẩn hay không? Thưa rằng: Lượng cả bao dung,
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen'171 Rộng thương cỏ nội hoa hèn,
Chút thăn bèo bọt dám phiền mai sau Nghe lời vừa ý g ậ t đầu,
Cười rằng: Tri kỉ thấy âu m ấy người.
Khen cho con mắt tinh đời,
Anh hùng biết giữa trần ai mới già.
Một lời đ ã biết đến ta,
Muôn chung ngàn tứ cùng là có nhau'1*' Hai bên ý hợp tâm đầu,
Khi thân, chẳng lọ là cầu mới thản.
Trang 36Trai anh lì ùng, gái fhuyền quyên,
ì'hí nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rông.
( T r íc h : Đ o a n t r ư ờ n g tà n t h a n h - N gu yễn Du)
II Chủ g i ả i
(1) Ngưng Bích: Tên lầu mà Tú Bà d à n h clì() Kiểu
Khoả xuân: Khoá kín tuổi xuân (cấm cung)
(2) Y câu này nói canh núi non, tròi, dất, tră n g như một b ứ c tra n h
(7) (ĩôc tử: Gốc cây từ (loài cây thị)
(8) Duểnli: Vùng biển lõm sáu vào đ ấ t liền
(9) Hiên dinh: Nơi biên ái xa xôi
(10) Râu hùm, hàm én mày ngài: Chỉ tướng mạo uy nghị, oai phong
Trang 37(11) Côn quyên: Côn đánh võ bàng gậy; Quvềit (lánh
võ b an g tay
(12) Gướm dàn: (ỉươm và cung bắn t.èn tròn (!i Klia \;i.(13) Tâm phúc: Trái tim và bụng; Tương kì: Cùng hứa hẹn Ý câu này nói T ừ Hài và nàng Kiểu hứa thực bụng vỏi
n h a u chữ không phải là tạm bợ
(14) M ắt xanh: Mắt nhìn tlễ ưa và kính trọng
(15) Can trường: Gan ruột
(16) Bình Nguyên Quân: Công tử nước T riộ i thời Chiến Quốc tính hào hiệp, thường nuôi trong nha may nghìn khách
(17) Tấn Dương: Đất nơi Đường Cao Tổ khỏ binh
đ á n h n h à Tuỳ lập n ê n sự nghiệp (ở đây ví với sự nghièp c ủ a
T ừ Hải)
(18) Muôn chung, ngàn tứ: Muôn hộc thóc và ngàn cỗ
xe tứ mã (chỉ sự quyền quý cao sang)
354
Trang 38It \ l I I II I AM
/ / ’lìiẽn ỏĩìì bài doc
Klí:u MẮC LỪA HỒTÕN IIIKN
( '<) (Ịt/an Tâng đốc trọng than, r
La IIn Tôn Hiến kinh luân gồm tài.
Day xc váng chỉ đặc sai,'21
Tiện nghi, bát liễu việc ngoài đông nhung.'”
Biết Từ là đấng anh hùng,
Biết nàng củng d ự trung quân luận bàn
Dóng quân làm chước chiêu an,''1'
Phong thư mâm lễ, sai quan thuyết hàng
1,(11 riêng một lễ với nàng,
Hen tên thê nữ, ngọc vàng nghìn cân.
Tin cào gửi trước trong quân,
Từ Công riêng /lảy mười phân hồ dồ.
Một tay gày dựng cơ dồ,
Hãy lâu b ế Sớ sông Ngôir,> tung hoành.
Bo thán vé với triều đình,
Trang 39Hang Ịlỉáỉì fit lơ láo phậìì mình rơ đ â u t
An xi ém ràng buộc lấy nhau,
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi!
Sao băng riêng một biên thuỳy
Sức này dà d ễ làm g i đưực nhau?
Chục trời khuâý nước mộc dấu,
Dọc nganiỊ nào biết trên đẩu cỏ ai!
Nàng thời thật dạ tin người,
Của nhiều nói ngọt, nghe lời d ễ xiêu:
Nghĩ mình m ặ t nước cánh bèo,
Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân.
Bảng nay chịu tiếng vương ihần,m
Thênh thênh đường cái thanh uủn s> hẹp gi! Công tư vẹn cá hai bề,
Dần dà rồi sẽ liệu về cỏ hương.
Cùng ngôi mệnh phụ dường đường.
Nở nang m ày mặt, rõ ràng mẹ cha.
Trên vi nước, dưới vỉ nhờ,
Một là (tược hiểu hai là được trung.
Chang hơn chiếc bách giữa dòng,
Trang 40K tl r SOỈÙ* r ó h à i h ũ ỉ ì Ị ỉ n !/()'(' sa
i\li(u) khi ha n học iỊẩn xa.
Thừa cơ ìtờng mới bàn ra nói vào.
Rang: TrntỉLỊ thanh trạch '■ dõi (lào,
Tưới ra dã khăp, thàm vào đủ sáu.
Bin lì Thành ifh công đức bấỵ lâu,
A i ai cũng đội trên đẩu biết ha. 0 .
Ngầm từ dấy việc binh da o ,
Đông xương Vô Đ ị n h 11’ đã cao bằng đau Lăm chi đê tiếng về sau,
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng S à o tẵ2t
S a o h ã n g lộc trọng quyến cao,
Công danh ai dứt lối nào cho qua.il3‘
Nghe lời nùng nói mặn mà,
T h ế công *lỉ Từ mới trở ra thê hàng.
Chính nghi liếp sứ vội vởnỉỊ,
Hẹn ki thúc giáp, quyết đường giải binh 1 Tin lời thành hạ yêu minh,'1*"
Ngọn cờ ngơ lì gác, trổng vanh tre tràng ViỌc binh bổ chẳng g iữ giờngị