1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

diên cách cấu trúc chữ nôm việt qua các bản dịch nôm kinh thi. chuyên khảo- the structure of vietnamese nom script continuance and mutation tap 1

48 395 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 37,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu ay da tiếp cận từ nhiều bình diện khoa học: ngôn ngữ học, văn tự học, văn học, văn hóa học..., nhưng trước hết, các nhà nghiên cứu đã quan tâm tới chữ Nôm với tư cách b

Trang 1

và L—)°M HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

The Structure of Vietnamese Nom Script

Continuance and Mutation

iy PERE ME Be

Trang 2

DAI HOC QUOC GIA HA NOI TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN

*w*x*x**

NGUYEN TUAN CUONG

DIEN CACH CAU TRUC

CHU NOM VIET

(qua các bản dịch Nôm Kinh Thi)

"+t.HR 577i XÃ KREIN EEnf

The Structure of Vietnamese Nom Script: Continuance and Mutation

Ahi dy hy F HS HS BAAR,

CHUYEN KHAO

NHA XUAT BAN ĐẠI HOC QUOC GIA HA NOI

Trang 3

MỤC LUC

Mục lục

Quy ước viết tắt

Mô hình cầu trúc chữ Nôm

Lời giới thiệu

Lời tác giả

MỞ ĐÀU

CHƯƠNG MỘT: Vắn đề văn bản học của các bản dịch Nôm Kinh Thi

1.1 Hai bản dịch Nôm đời Vĩnh Thịnh (VT) và Quang Trung (QT)

1.1.1 Giới thiệu văn bản

1.1.2 Phân tích đối chiếu một số đặc điểm văn bản học

1.1.3 Máy nhận xét bổ sung

1.2 Hai bản dịch Nôm đời Minh Mệnh (M1 và M2)

1.3 Sự đồng dị về chữ Nôm giữa VT - QT, giữa M1 - M2

1.4 Các hướng khai thác tư liệu dịch Nôm Kinh Thi

1.4.1 Nghiên cứu theo cáp độ hệ thống văn tự và đơn vị văn tự

1.4.2 Nghiên cứu qua các nhóm ngôn từ đồng nhát

CHƯƠNG HAI: Diên cách cấu trúc chữ Nôm theo cắp độ hệ thống

văn tự (qua các bản dịch Nôm Kính Thi)

2.1 Thống kê phân loại cấu trúc chữ Nôm

2.1.1 Mô hình cầu trúc chữ Nôm

2.1.2 Thống kê phân loại cấu trúc chữ Nôm

2.2 So sánh chung về cấu trúc chữ Nôm giữa VT và M1

2.2.1 Nhận xét về cầu trúc chữ Nôm trong từng bản VT và M1

2.2.1.1 Cấu trúc chữ Nôm trong bản VT

2.2.1.2 Cấu trúc chữ Ném trong ban M1

2.2.2 So sánh tỉ lệ các loại cấu trúc chữ Nôm từ VT đến M1

2.2.2.1 So sánh theo số chữ và số lượt chữ

2.2.2.2 So sánh theo nhóm chữ mượn Hán và tự tạo

2.3 Diên cách cấu trúc chức năng của chữ Nôm từ VT dén M1

2.3.1 Diên cách qua chữ đơn và chữ ghép

2.3.2 Diên cách qua chức năng biểu âm và biểu ý

2.3.2.1 Chữ thuần âm - chữ thuần ý - chữ hình thanh

Trang 4

2.3.2.2 Vai trò của thành tố biểu âm 64

2.3.2.4 So sánh vai trò của hai thành tố biểu âm và biểu ý 78 2.3.2.5 Một số chữ ghép đặc biệt trong biểu âm và biểu ý 80 2.4 Diên cách cấu trúc hình thễ của chữ Nôm từ VT đến M1 82 2.4.1 Cải biến hình thể chữ Hán bằng dáu nháy ( ‹ ) 82 2.4.2 Chữ nguyên thể và chữ lược thể: hiện tượng viết tắt 83

2.4.2.2 Viết tắt trong chữ Nôm hợp thể 87

2.4.3 Vị trí của các thành tố trong chữ Nôm hợp thể 93

CHƯƠNG BA: Diên cách cấu trúc chữ Nôm theo cắp độ đơn vị

3.1.2 Những ngữ tố độc hữu trong từng bản VT hoặc M1 106

3.1.2.1 Những ngữ tố độc hữu trong bản VT 106 _

3.1.2.2 Những ngữ tố độc hữu trong bản M1 110

3.1.3.1 Những ngữ tố có tự hình giống nhau (diên) 118

3.1.3.2 Những ngữ tố có tự hình khác nhau (cách-diên) 124

3.2.3 Tự hình đa ngữ tố 153

3.2.3.2 Tự hình đa ngữ tố đồng hữu 154

PHỤ CHƯƠNG: Diên cách cấu trúc chữ Nôm qua các nhóm ngôn

từ đồng nhất (trong các bản dịch Nôm Kinh Thi) 165

4.2 Phương thức diên cách cầu trúc chữ Nôm 172

4.2.2 Trường hợp có thay đổi cấu trúc (cách) 174

-Vi- MỤC LỤC

Trang 5

KET LUAN

1 Về vấn đề văn bản học của các bản dịch Nom Kinh Thi

2 Về các xu hướng chung trong diên cách cấu trúc chữ Nôm

Về diên cách cấu trúc chức năng của chữ Nôm

Về diên các cấu trúc hình thể của chữ Nôm

Những nhân tó tác động tới sự diên cách cấu trúc chữ Nôm

Những công việc cần tiếp tục triển khai

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRA CỨU

Phụ lục 1: Tổng quan về các tác phẩm và văn bản Kinh Thi chữ Nôm

Phụ lục 2: Đặc điểm văn bản của nhóm diễn xuôi Kinh Thi

Phụ lục 3: Bảng phân loại và phân tích cấu trúc chữ Nôm trong bản VT

Phụ lục 4: Bảng phân loại và phân tích cầu trúc chữ Ném trong ban M1

Phụ lục 5: Phiên âm đối chiếu bốn bản dịch Nôm Kính Thi (trích 25 bài)

Phụ lục 6: Ảnh chụp nguyên bản Quyền I của hai bản VT va M1

Hình 5: Dòng cuối Mục lục của hai bản VT và QT

Hình 6: Tờ V16a của hai ban VT va QT

Hình 7: Tờ VI5a của hai bản VT và QT

Hình 8: Vị trí chữ khác nhau giữa hai bản MM

Hình 9: Một số điểm khác nhau về chú nghĩa, chú âm giữa hai bản MM

Hình 10: Bản AB.137, tờ 1a

Hình 11: Bản VT, quyền I, tờ 2a, dịch khổ thơ đầu bài Quan thư

Hình 12: Bản VNv.215, tờ 1a, dịch thơ tóm lược Kinh Thi

Hình 13: Bản M1, quyền I, tờ 2a, dịch khổ thơ đầu bài Quan thư

Hình 14: Lí tướng công chép sự minh ti, to 48a

Hình 15: Bản AB.169, tờ 3b, dịch thơ bài Quan thư

Hình 16: Bản A.1122, tờ 42b, dịch thơ bài Quan thư

Hình 17: Bản VT, quyền I, tờ 8b-9a, phần dịch Nôm bài Đảo yêu

Trang 6

-VI-BIEU ĐÔ MINH HỌA (Chương Hai)

Biểu đồ 1: Tỉ lệ % số chữ và số lượt chữ trong bản VT 49

Biểu đồ 3: Tỉ lệ số lượt chữ trong bản VT 50 Biểu đồ 4: Tỉ lệ % số chữ và số lượt chữ trong bản M† 51

Biểu đồ 6: Tỉ lệ số lượt chữ trong bản M1 52

Biểu đồ 7: So sánh số chữ trong hai ban VT va M1 (theo tỉ lệ %) 54 Biểu đồ 8: So sánh số lượt chữ trong hai bản VT và M†1 55 Biểu đỏ 9: Tỉ lệ % số chữ Nôm mượn Hán và tự tạo 58 Biểu đồ 10: Tỉ lệ % số lượt chữ Nôm mượn Hán và tự tạo 58 Biểu đồ 11: Tỉ lệ % số chữ Nôm đơn và ghép 60

Biểu đồ 12: Tỉ lệ % số lượt chữ Nôm đơn và ghép 61

Biểu đồ 13: Tỉ lệ % số chữ thuần ý, thuần âm, hình thanh 63 Biểu đồ 14: Tỉ lệ % số lượt chữ thuần ý, thuần âm, hình thanh 63

Hình 1: “Thi kinh giải âm”, chữ nhan đề sách trên tờ bìa bảm dich

Nôm Kinh Thi khắc ván năm 1714 (bản VT)

Trang 7

QUY UOC VIET TAT

Ml : Thikinh đại toàn tiết yêu diễn nghĩa, năm Minh Mệnh 17 (1836)

M2 :_ Thi kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa, năm Minh Mệnh 18 (1837)

3 ); mặt giấy hoặc là a (mặt trước) hoặc là b (mặt sau), cót (nếu có) ghi

bằng chữ số Arab VD: “H34b“ nghĩa là quyền II, tờ 34, mặt b; “III25a3” nghĩa là quyền III, te 25, mat a, cét 3

Về việc đánh số thứ tự câu trong nguyên bản Hán van Kinh Thi: Kinh Thủ có 311 thiên (tức bài), trong mỗi thiên lại có nhiều câu (dòng) thơ, chuyên khảo đánh số thứ tự thiên từ 1 đến 311, rồi cách một dấu cham (.) liền sau số thứ tự thiên sẽ đánh thứ tự câu trong thiên đó VD:

“câu 58.15” sẽ là câu thơ thứ 15 trong thiên thứ 58, tra vào nguyên bản Kinh Thi sẽ là câu “EX9Ä4ÄIÄl” (Kí kiến phục quan) trong thiên l$ (Manh), thuộc phần Vệ Phong iy JBL

Trang 9

MO DAU

1 Vé mat van tu, Viét Nam thoi trung đại năm trong “không

gian văn hóa chữ Hán” (#“7 #1E.|#l) ơ khu vực Đông Á Trong tâm ảnh hưởng lan tỏa của không gian văn hóa - văn tự ấy, tại môi nước Dong Á đều đã sản sinh ra những loại văn tự phái sinh từ chữ Hán:

tại Nhật Bản là các văn tự Manyogana jš #:Íf/:,„ Katakana Jï ti, Hiragana “f4 Tại Triều Tiên là các văn tự Yidu 3ã, Hangul 3š

3 (dù Hangul có rat ít mối liên hệ với chữ Hán) Tại Việt Nam đã phái sinh ra những hệ thống chữ viết khác nhau đê ghi lại tiếng nói của mỗi dân tộc, trong đó quan trọng nhất là chữ Nôm của người Việt (Kinh), thường gọi tắt là “chữ Nôm”, ngoài ra còn có chữ Nom Dao, chữ Nôm Tày, chữ Nôm Ngạn Các loại văn tự này vừa thê hiện đặc tính tương đồng khu vực khi chúng đều ít nhiều có phần tương tự với chữ Hán, lại vừa thể hiện căn tinh (identity) của từng khu vực, khi chúng luôn có những đặc điểm riêng, khác với chữ Hán và với các văn tự phái sinh còn lại

Mặc dù chữ Nôm - với tư cách là một “hệ thống văn tự” - đã

có lịch sử tồn tại ngót một thiên niên ki, nhưng việc nghiên cứu về

chữ Nôm hầu như chỉ duoc dat ra tir dau thé ki XX tro di Những nghiên cứu ay da tiếp cận từ nhiều bình diện khoa học: ngôn ngữ học, văn tự học, văn học, văn hóa học , nhưng trước hết, các nhà

nghiên cứu đã quan tâm tới chữ Nôm với tư cách bản chất của nó

là một loại hình văn tự đẻ tìm hiểu về quy luật phát triển của nó trong lịch sử

Trong thời gian gần đây, việc nghiên cứu quy luật phát triển

của chữ Nôm đã có những bước phát triển rõ rệt Có thẻ nhìn nhận

hai xu hướng chính: 1) Nghiên cứu cấu trúc tổng quan của chữ

Nêm qua các giai đoạn để tìm hiểu quy luật phát triển của chữ Nêm; 2) Nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm trong một văn bản chữ Nêm cụ thể và có so sánh với cấu trúc chữ Nôm trong các văn bản

Trang 10

-1-ở các giai đoạn khác cũng như -1-ở cùng giai đoạn Những nghiên cứu này đên nay đã mang lại kết quả khả quan, ít nhiều đã đưa tới

một cái nhìn tương đối toàn điện vẻ quá trình điên cách cau trúc

chữ Nôm qua các thời kì Tuy nhiên các hướng nghiên cứu trên van cân phải được bổ sung bằng những nghiên cứu cụ thê và chỉ

tiết về điên cách cầu trúc chữ Nôm trong những nhóm văn bản có

mối liên quan với nhau để nhắn mạnh vào cả những yêu tổ không

thay đổi (điển) và yếu tố có thay đổi (cách) trong cấu trúc chữ Nôm

Gần đây, các nhà nghiên cứu đã chú ý khai thác một số tư

liệu mới cho việc nghiên cứu điên cách cấu trúc chữ Nôm qua các

thời kì, trong đó đáng quan tâm là các văn bản dich Nom Kinh Thi

có niên đại ván khắc lần lượt là năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714),

năm Quang Trung thứ 5 (1792), năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), và

năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) Đây là một hệ thống văn bản đủ

lớn để có thê tiến hành phân tích và tìm hiểu diên cách cầu trúc

chữ Nôm ít nhất trong giai đoạn 1714-1837 Điểm đặc biệt của hệ

thống bốn văn bản này là: những văn bản sau có tham khảo

những văn bản trước, cho nên giữa chúng có cả sự tương đồng và

dị biệt về mặt ngôn ngữ và văn tự, phù hợp với việc triển kihai nghiên cứu điên cách câu trúc chữ Nôm từ hai cấp độ nghiên cứu văn tự học là cấp độ hệ thống oăn tự và cấp dé don vi vin tự, từ đó

có thê đưa ra cái nhìn chỉ tiết và toàn diện hơn về điên cách cấu trúc chữ Nôm trong giai đoạn này từ cả bình diện cấu trúc hình thể

lẫn cấu trúc chức năng của chữ Nôm

Vì những lẽ trên, nội dung của chuyên khảo sẽ xoay quainh

hệ thông tư liệu là cac ban dich Nom Kinh Thi để nhìn nhận qtuá trình diễn biến của cầu trúc hình thể và cấu trúc chức năng của

chữ Nôm từ hai cấp độ hệ thống văn tự và đơn vị văn tự

2 Trong nghiên cứu diên cách cầu trúc chữ Nôm, đến nay đã

Trang 11

oy Tiép cận từ mặt hình thê, tức là nghiên cứu sự thay đôi

cầu tạo chữ Nôm dưới sức ép của tương quan vị trí trong mặt

phăng, gitta cac bộ phận cua chữ [Trân Xuân Ngọc Lan 1998, 2000],

cách tiếp cận thứ ba này còn chưa được triên khai nhiều

Chuyên khảo này được triên khai theo cách tiếp cận từ

phương, thức cầu tạo chữ Cho đén nay, việc nghiên cứu diện cách

câu trúc chữ Nôm theo cách tiếp cận này đã được thực hiện với hai

cấp độ của đối tượng, văn tự được nghiên cứu, đó là cấp độ hé

thông oăn tự và cấp độ đơn oị oăn tự Trong thực tế nghiên cứu, người ta thường kết hợp nghiên cứu cả hai cấp độ trên

Vẻ tính chất chuyên ngành khoa học, chuyên khao này thiên

về nghiên cứu chữ Nôm từ góc độ “văn tự học” (gramunatologu,

graphology!, SC°¢-%#) hon là “ngon ngit hoc” (linguistics, iif 717%)

Ngành văn tự học là một ngành gần gũi với ngôn ngữ học, nhưng không thể đồng nhất với nhau Trên thể giới, ngành văn tự học ở

cả phương Tây và phương Đông đã sớm phát triên, như trong các

công trình của Gelb [1952], Diringer [1962], Istrin [1965], Friedrich [1966], Đặng Đức Siêu [1982], Sampson [1985], Cừu Tích Khuê [1988], Schmandt-Besserat [1992], Kono Rokuro [1994], Calvet [1996] Coulmas [1996, 2003], Chu Hữu Quang [1997], Vương Nguyên Lộc [2001], Củng Ngọc Thư [2009] Những, nghiên cứu

này tập trung vào các bình diện văn tự học lịch sử, văn tự học cầu

trúc, văn tự học so sánh Với chữ Nôm, công trình đâu tiên triên

khai nghiên cứu theo hướng văn tự học một cách có hệ thong la cuốn Khái luận van tự hoc chit Nom cua Nguyễn Quang Hồng

[2008] Cũng bởi văn tự học khá gần gũi với ngôn ngữ học, nên trong nghiên cứu văn tự học, các nhà nghiên cứu dù ít dù nhiều cũng thường xem xét tới môi quan hệ giữa hai ngành này, trong

đó có một số nghiên cứu đã tiếp cận văn tự hoàn toàn từ góc nhìn ngôn ngữ học, như các công trình của Sampson [1985], Coulmas

[2003], Hannas [1997], Lí Toàn Thăng [2002]

! Graphology: Thuật ngữ này ngoài nghĩa “văn tự học” nói chung (giống như thuật ngữ grammatology), còn trỏ việc “xem tướng” thông qua nét chữ viết

tay và chữ kí; theo nghĩa này, có thể dịch là “tự tướng học“ (7‡H“#) theo

truyền thống của thuật ngữ “nhân tướng học” A HI#+ Về nghĩa “tự tướng học”,

xin xem: [Bernard 1985]

MO DAU Bu

Trang 12

Đề giải quyết vấn đề văn tự học đặt ra khi nghiên cứu cầu trúc chữ Nôm, chuyên khảo chủ yếu áp dụng phương pháp “cấu

trúc luận” (structuralism, #äl = #) và “nghiên cứu so sánh lịch

“ (historical - comparative study, RE? ECAR WE SY) Phương pháp

cấu trúc luận coi một đối tượng nghiên cứu là một hệ thống có thẻ

phân tách thành nhiều yếu tố nhỏ, để từ đó xem xét các mối quian

hệ giữa các yếu tố ấy với nhau và với bản thân hệ thống ấy Khi

làm việc theo phương pháp cấu trúc luận, chúng tôi sẽ chia hệ

thống chữ Nôm thành các yếu tô nhỏ (các loại cấu trúc từ A đếm G,

muon Han - tự tạo, chữ đơn - chữ ghép, biểu âm - biểu \ Ú, ghép ngang

- ghép doc, nguyén thé - lược thể, chức năng ~ hình thé, dị thể - biến thê ) đề xem xét môi quan hệ giữa các yêu tố nhỏ đó với nhau và với chỉnh thể hệ thống chữ Nôm

Phương pháp nghiên cứu so sánh lịch sử, trong chuyên khảo này, được sử dụng để tìm hiểu quá trình bảo tồn và tha; đổi của

cầu trúc chữ Nôm trong một giai đoạn lịch sử tồn tại từ đầu thể ki XVIII đến giữa thế ki XIX Từ cuối thế ki XVIII trở đi, phương

pháp so sánh - lịch sử được áp dụng trong nghiên cứu nguồn gốc

và mối quan hệ giữa các ngôn ngữ, như trong các công trình của

Meillet [1925], Từ Thông Thương [1991], Trask [2000], Tran ‘Tri

Dõi [2011] Trong thế ki XX, người ta lại áp dụng phương pháp này trong nghiên cứu văn tự học, như Chu Hữu Quang [1998],

Vương Nguyên Lộc [2001], Củng Ngọc Thư [2009], để làm rõ cặc

trưng về khởi nguyên, loại hình và quy luật phát triển của các hệ

thống văn tự trên thế giới Trong chuyên khảo này, chúng tôi áp dụng phương pháp so sánh - lịch sử ở một phạm vi rát hẹp: là

nghiên cứu sự phát triển về cấu trúc nội bộ một loại văn tự (c:hữ

Nôm) trong mối quan hệ giữa loại văn tự ấy với thứ ngôr ngữ mà

nó ghi chép (tiếng Việt), chứ không áp dụng theo dạng “liên viăn tự“ như các tác giả Chu Hữu Quang, Vương Nguyên Lộc Trong

lịch sử nghiên cứu chữ Nôm, đã có nhiều nhà nghiên cứu từng áp

dụng phương pháp này và thu được những kết quả tích cực (chẳng

hạn: Đào Duy Anh [1975], Nguyễn Quang Hồng [2008] ), mặc

dù họ chưa “chỉ mặt đặt tên“ cho phương pháp làm viéc cia mimh

Chính vì tiếp cận nghiên cứu văn tự học theo phương pháp so

sánh lịch sử, nên cái mà chuyên khảo tập trung vào khônz phải: là

Trang 13

m6 tả đặc điểm văn tự của từng giai đoạn chữ Nôm thông qua mô

tà từng (nhóm) văn bản đại điện cho mỗi giai đoạn, mà quan trọng hơn chính là quá trình bảo tồn hay thay đôi vẻ cầu trúc chữ

Nom từ một văn bản sớm hơn đến một văn bản muộn hơn Có

nplhúa là trong chuyên khảo này, “quá trình” được quan tâm

nhiều hơn so với “thực thể”

3 Với cách đặt vân đề như trên, chuyên khảo này được cau trúc như Sau:

Chương Một: Vấn đẻ văn bản học của các bản dịch Nôm Kinh

Tlu Chương này nghiên cứu từ góc độ văn bản học đồi với các văn

ban dich Nom Kinh Thu dé ttr do xac định giá trị cua hệ thông văn ban nay đối với việc nghiên cứu diên cách câu trúc chữ Nôm

Chương Hai: Diên cách câu trúc chữ Nôm theo cấp độ hệ

thông văn tự Trong Chương Hai, chuyên khảo xem xét diên cách câu trúc chữ Nôm từ bản VT (Thủ kinh giải âm, 1714) đến bản MI

(Thi kinh đại toàn tiết yếu diễn nelra, 1836) dựa trên cấp độ hệ

thống văn tự, tức là xem xét từng đặc điểm văn tự học được thê

hiện một cách tong thé trong hai văn bản này Sau khi biện luận

đề lựa chọn một mô hình phân loại cầu trúc chữ Nôm phù hợp với

việc phân tích câu trúc chữ Nôm trong hai văn bản trên, tức mô hình 13 loại của Nguyễn Quang Hồng (2008), chuyên khảo tiến

hành nhiều bước thông kê phân loại phù hợp để rút ra các số liệu cần thiết phục vụ việc phân tích và đánh giá một số đặc điểm văn

tự học qua hai văn bản này, các đặc điểm chủ yêu là: † lệ các loại

cầu trúc, diên cách cấu trúc chức năng (chữ đơn - chữ ghép, biêu âm -

biểu ý), diện cách cấu trúc hình thể (dấu nháu, 0iết tắt, ghép ngang - ghép dọc)

Chương Ba: Diên cách cấu trúc chữ Nôm theo cấp độ đơn vị văn tự Chương này có hai phản chính, phần thứ nhất là nghiên

cứu theo “ngữ tố bản vị”, tức là xem xét và so sánh việc từng văn

bản VT và M1 đã sử dụng những tự hình chữ Nôm cụ thé nao dé phi những ngữ tố cụ thê nào trong tiếng Việt Phần thứ hai là

nghiên cứu theo “tự hình bản vị“, tức là xem xét việc từng tự hình

cụ thể ở mỗi văn bản được dùng đẻ ghi chép những đơn vị “ngữ

tố” nào Đây là một cách thức triển khai nghiên cứu hai chiều

nhằm hướng đến một nhận thức chung qua việc xem xét mối quan

Trang 14

-5-hệ giữa từng cá thê chữ Nôm với đơn vị ngôn ngữ tiếng Việt mà cá

the chit Nom ay ghi lai

Phụ chương: Diễn cách cầu trúc chữ Nôm qua các nhóm ngôn

từ đồng nhát Phần này đặt vấn đề nghiên cứu dién cách câu trúc chữ Nôm theo một biện pháp xử lí tư liệu đặc thù, tạm gọi là “nhóm ngôn từ đồng nhất” qua bốn văn bản dịch Nôm Kinh Thị Xét về bản chất, đây là một biện pháp lựa chọn tư liệu để nghiên cứu diên cách cầu trúc chữ Nôm trong trạng thái loại bỏ được ảnh hưởng của những yếu tố ngoài ngôn ngữ văn tự học có thẻ chỉ phối cấu trúc chữ Nôm ở những văn bản Nôm khác nhau Biện pháp này

có thể giúp chúng ta nghiên cứu cầu trúc chữ Nôm từ cả cấp độ hệ thống văn tự lẫn cấp độ đơn vị văn tự Bởi đây là một cách triển

khai nghiên cứu dựa trên việc lựa chọn tư liệu đặc thù, độc lập với

cách lựa chọn tư liệu đã trình bày ở Chương Hai và Chương Ba là những nội dung chủ đạo của chuyên khảo, nên chúng tôi đưa nội dung nghiên cứu này vào một Phụ chương chứ không coi là một chương chính

4 Do hạn chế hiện nay của ngành nghiên cứu chữ Nôm là

tính khoa học của hệ thống thuật ngữ đôi lúc còn chưa thật chặt ché2, nên ở đây xin có đôi điều giới thuyết về nội hàm của một số thuật ngữ quan trọng được sử dụng trong chuyên khảo

Chữ Nôm (Nom script, Ri): tro loai hinh van tự của người

Việt (người Kinh) tại Việt Nam, phái sinh từ chữ Hán đẻ ghi tiếng

Việt, có thể gọi là chữ Nôm Việt (hoặc chữ Nôm Kinh)3, để phân

biệt với chữ Nôm Tày, chữ Nôm Dao, chữ Nôm Ngạn? cũng là những văn tự phái sinh từ chữ Hán để ghi các thứ ngôn ngữ dân tộc tương ứng tại Việt Nam

2 Với ngành văn tự học chữ Hán, gần đây Sa Tông Nguyên [2008] đã có những nỗ lực rất quan trọng trong việc quy phạm hóa các thuật ngữ văn tự học

nói chung và Hán tự học nói riêng

‘Can phan biệt chữ Nôm của người Kinh tại Việt Nam với chữ Nôm của

người Kinh tại Trung Quốc (xin xem: [Vi Thụ Quan 2004], [Tran Tang Du

2007]), mặc dù vẻ bản chất chữ Nôm của người Kinh tại Trung Quốc chỉ là miột biến thể địa phương của chữ Nôm của người Kinh tại Việt Nam

+ Về chữ Nôm Dao, Nôm Tày, Nôm Ngạn, xin xem: [Nguyễn Quainng Hong 2008, tr 35-59]

Trang 15

Cấm trúc (strucHưc, #ÄÑl): thuật ngữ này được đụng, trong,

chuyên khảo với hai nghĩa: “Miót là nó trỏ các mới quan hệ giữa

các thành tô tạo nên một chỉnh thê nào đó Hai là nó tr chính bản

than cai chỉnh thê do các thành tó (tạo tó) tạo nên theo những mùi quan hệ nhất định” [Nguyễn Quang Hong 2008, tr 211]

Cầu trúc hình thể và cấu trúc chức năng”: khai niệm “cầu

trúc chữ Nôm” nếu chia nhỏ ra thì bao gồm hai bình điện là “cáu

truc hinh thé” (formal strucHưc, JÉÙ$#šÙ) và “cầu trúc chức năng”

(tncHonal structure, 1)fiE$SŠ li) của chữ Nôm Hai bình diện này

liên quan trực tiếp đến ba mặt “hình - âm - nghĩa“ của văn tự

Nói đến cấu trúc hình thể là nói đến mặt “hình”, tức là hình the van tu co thé tac dong đến nhận thức bang thị giác của người đọc Noi dén cấu trúc chức năng là nói đén các mặt “am-nghia” cua

văn tự, tức là các giá trị biểu âm và biểu ý của các thành tô cầu tạo

văn tự Vẻ bản chất, cầu trúc hình thê là sự thể hiện khía cạnh hình thức của đơn vị văn tự, còn cấu trúc chức năng là sự thê hiện khía cạnh nội dung của đơn vị văn tự

Diên cách (continuance and mutation, šï*#*)9: trỏ sự không

thay đổi (diên #1) và có thay đổi (cách 3) về câu trúc chữ Nôm

qua từng thời kì lịch sử Thuật ngữ này có thể thay bằng “diễn

biến”, “biến động“, “thay đổi”, “lưu biến” nhưng đẻ nhắn mạnh rằng có cả sự thaụ đổi va su khong thay đổi thì thiết nghĩ thuật

ngữ “diền cách” là phù hợp nhất để biểu dat

Chit (script / character, “7ˆ): trong truyền thông Hán học cô điển

Việt Nam, khái niệm “chữ có nội hàm khá mơ hà: có khi trỏ toàn

bộ hệ thống văn tự (script, %⁄ 7); có khi trỏ “tự” (character, “7, tức

5 Trong nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm, Nguyễn Quang Hồng là người

đầu tiên phân biệt hai khái niệm “cấu trúc hình thể” và “cấu trúc chức nắng”,

xin xem [2008, tr 211-214]

° Đào Duy Anh giảng nghĩa: “Diên cách #4: Dién là thu-cựu, cách là

cách-tân - tình hình cũ và mới (changements successifs)“, xin xem ï# điển Hán Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001 (tái bản), tr 210 Chúng tôi chưa tìm

thấy một từ nào trong tiếng Anh đủ sức diễn đạt nội hàm của thuật ngữ “điên

cách” này Một số từ tiếng Anh gần nghĩa nhu development, renewal, reform,

cuolution đều nhấn mạnh tới sự thay đổi, chứ ít nói đến sự không thay đổi, sự

bảo tồn

Trang 16

một khối vuông kí chép ngôn ngữ trong truyền thống văn tự Hán Nom); co khi dé tro “tir” (word, i]), tham chi tro “tir t6” (group, ial

£H); có nghĩa là “chữ” lúc thì trỏ đơn vị của văn tự, lúc thì trỏ đơn vị

của ngôn ngữ Trong chuyên khảo này, thuật ngữ “chữ” được dùng

với hai nghĩa: nghĩa rộng đẻ chỉ một hệ thống văn tự (script, toriHig system), vi du nói “chữ Nôm”, “chữ Hán”, “chữ Quốc ngữ”, khi sử

dụng nghĩa này, sau “chữ” thường có tên gọi một thứ văn tự cụ thể; theo nghĩa hẹp, mỗi “chữ” (character) chỉ một khối vuông dé kí

chép ngôn ngữ, trong đó các khối vuông ấy khu biệt với nhau bởi

sự khác nhau ít nhất một trong ba mặt: hình thể, âm đọc, ý nghĩa

Chữ, ngữ tố, tự hình: trong nghiên cứu chữ Nôm, ba khái

niệm này có những đặc điểm chung và riêng, nhưng đều liên

quan đến ba bình diện hình - âm - nghĩa (“hình thể“, “âm đọc”,

và “ý nghĩa“) của chữ Nôm Có thẻ diễn tả sự khu biệt của ba khái

niệm này như sau:

Tu hinh (graphic form, # 7%) +

Có nghĩa là, mot “chit” (character) sẽ gan voi ba binh dién

hình - âm - nghĩa có định, nếu thay đổi ít nhất một trong ba bình

diện này thì sẽ thành “chữ” khác Một “ngữ tố” thì chỉ cần âm wa nghĩa giống nhau, có thể được thể hiện bằng các tự hình khác nhau Còn một “tự hình“ thì chỉ cần mặt hình thể giống nhau, bắt

kể là âm và nghĩa thế nào “Chữ” và “tự hình” là khái niệm thuộc

ngành văn tự học, còn “ngữ tố” là khái niệm của ngôn ngữ học

Trong chuyên khảo này, ở Chương Hai chúng tôi nghiên

cứu theo đơn vị “chữ” (tự bản oj), còn ở Chương Ba sẽ nghiên cứu theo đơn vị “ngữ tố” (ngữ tổ bản oị) và “tự hình” (tự hình ban vi)

Số chữ- trong nghiên cứu chữ Nôm, thuật ngữ “ “số chữ” được dùng với nghĩa số các đơn vị khối vuông khác nhau về ít nhất một trong ba mặt hình thể, âm đọc, ý nghĩa Nếu liền trước thuật ng;ữ

“sô chữ” là một con số thì sẽ lược bỏ từ “số” (VD: 125 “chữ”), điều tương tự cũng xảy ra đối với khái niệm “số lượt chữ”

Trang 17

Số lượt chữ: tức số lần xuất hiện của chữ Có một só công trình

nghiên cứu vẻ chữ Nôm đã nhằm lẫn khái niệm “số chữ” thành “số

lượt chữ”, nên đã đem so sánh “số lượt chữ” chứ không phải “số

chữ” Hai khái niệm này có thẻ du di trong nghiên cứu văn học, chứ không thể đồng nhất trong nghiên cứu văn tự học Với hai câu thơ

trong, Truyện Kiểu: “Này chong nay me nay cha, Nay la em ruột nay

laem dau" (SO RUERENE -fese bare Se adra)?, khi nghiên cứu

văn học, người ta có thể nói: “với 14 chữ trong hai câu thơ trên,

Nguyễn Du đã ”; nhưng với nghiên cứu văn tự học thì hai câu

thơ trên chỉ có 8 chữ (1: này Je, 2: chông &t, 3: me 1%, 4: cha IỆ, 5:

Ja 4, 6: em Mit, Z: ruột ƒÈ, 8: dâu ñ), và có 14 lượt chứ Trong nghiên cứu văn tự học thì “số chữ” quan trọng hơn nhiều so với “số

lượt chữ”, bởi “số chữ” cho ta cái nhìn chính xác về diện mạo văn tự, còn “só lượt chữ” chỉ cho thay các đơn vi cu thé trong “số chữ” da

xuất hiện bao nhiêu lần trong văn bản mà thôi

Tác phẩm, oăn bản, kí hiệu sách trong nghiên cứu Hán Nôm

Các thuật ngữ này hay bị sử dụng lẫn lộn trong nghiên cứu

Hán Nôm, nhưng thực tế chúng biểu thị những nội hàm khác nhau

Tác phẩm (tuork, †Edà) cho ta biết một bộ khung ngôn từ (được

ghi chép lại dưới hình thức văn tự nào đó) kể từ lúc được tác giả

định hình đến khi có những thay đổi do người đời sau tham gia sửa

chữa vào những ngôn từ ấy, nhưng việc sửa chữa này cũng chỉ

dừng lại ở một mức độ nào đó đề không làm mat đi bộ mặt đại

quan của khung ngôn từ ban đâu Đối với tác phẩm thì việc sử dụng ngôn ngữ nào và văn tự nào là không quan trọng, bởi tác phẩm có

thé được dịch ra nhiều thứ tiếng và được định hình bằng nhiều loại văn tự, nhưng khi ấy ta vẫn chỉ có một tác phẩm Ví dụ, tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, dù là bản tiếng Việt viết bằng chữ Nôm hay chữ Quốc ngữ, các bản dịch tiếng, Anh tiếng Pháp viết bằng chữ cái Latin, bản dịch tiếng Nga viết bằng chữ cái Slave, bản

dịch tiếng Trung viết bằng chữ Hán, bản dịch tiếng Nhật viết bằng

hén thé chit Kanji, Hiragana va Katakana , nhung chung đều là

cùng một tác phẩm được thê hién bang nhitng vin ban khdc nhau

7 Ghi chữ Nôm theo bản Kim Vân Kiểu tân truyện, Liễu Văn đường, 1871,

tr 64a, theo: [Đào Thái Tôn 2006, tr 427]

Trang 18

-9-Vin ban (text, M&AS) 1a mat hinh thức của tác phẩm, là công cụ

có tính ngữ văn học (philoloey) để định hình tác phẩm Văn bản

cho ta biết đời sống cụ thẻ của fác phẩm, tác phẩm ấy cho đến thời

điểm nào đó đã được sửa chữa hoặc tác động vào như thế nào,

điều đó được thẻ hiện dưới dạng những oăn bản khác nhau Như vay, tac pham la một khái niệm trừu tượng hơn øăn bản, qua (các)

oăn bản mà người ta định hình được bộ khung tác phẩm

Kí hiệu sách (book number, #Ÿ9#) là một sản phẩm hoàn toàn

mang tính chất cơ giới trong công tác lưu trữ của thư viện, kí hiệu

sách là đơn vị thể hiện ăn bản, một kí hiệu sách không phải lúc

nào cũng tương ứng với một văn bản, bởi có những kí hiệu sách đã đóng gop nhiều oăn bản của nhiều tác phẩm lại với nhau INhưng thông thường thì một kí hiệu sách sẽ tương ứng với một văn bản,

nên đôi chỗ người ta nói “oăn bản AB.123”, hoặc “bản AB.123⁄

thay vì phải nói “oăn bản trong sách kí hiệu AB.123”, điều này

Hinh 2: Trich chyp td 1a, quyén I, ban dịch Nôm Kinh Thi khắc

van nam 1836 (ban M1)

Trang 19

Cliurong Mot

VAN DE VAN BAN HOC

CUA CAC BAN DICH NOM KINH THI

Dẫn nhập

Kinh Thi i (Thi kinh)§ la mot tap hop tho ca thanh van

sớm nhát Trung Quốc, bao gồm hơn 305 bài thơ được lưu hành từ khoảng thế ki XI đến thế kỉ VI trước Công nguyên, vẻ sau đã được

“kinh học hóa“ để trở thành một trong những sách kinh điển

quan trọng hàng đầu của Nho gia ở Trung Quốc và các nước

Đông Á khác là Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên Trong lịch sử,

người Việt đã sớm tiếp nhận Kinh Thi bằng cách học tập, dịch

thuật, diễn giải bộ sách này Việc dịch Kinh Thi từ tiếng Hán sang

tiếng Việt (qua chữ Nôm) đã được đặt ra từ rất sớm Một số bản

dịch có thể từng tồn tại thực, nhưng chúng ta hiện nay chỉ được

biết thông qua ghi chép trong các thư tịch cô, chứ không còn tài

liệu để chứng thực, như các bản dịch của Sĩ Nhiếp, Hồ Quý Li, Nguyễn Quý Kính, Miên Thâm9 Bắt kẻ là có hay không có sự mắt

8 Do tính chất phổ biến của tác phẩm Hán văn Kinh Thí nên ở đây

chuyên khảo sẽ không trình bày lại những vấn đề của tác phẩm Hán văn này

nữa Vấn đề này có thể đễ dàng tìm đọc ở nhiều tài liệu sách vở, nhất là các tài

liệu bằng tiếng Trung Quốc mới được xuất bản gần đây đã thừa hưởng được

nhiều thành tựu của các học giả đời trước, ví dụ các chuyên khảo và dịch thuật

có: [Kim Khải Hoa 1995], [Viên Dũ An 1996], [Diệp Thư Hiến 1996], [Hướng Hi

1997], [Viên Mai 1999], [Thẩm Trạch Nghi 2000], [Chu Chấn Phủ 2002], [Tran Chân Hoàn 2003]; các công trình mang tính tông thuật có: (Hạ Truyền Tài 1982,

1997, 2000], [Duong Tan Long 2001], [Héng Tram Hau 2002] Vé van dé Kinh Thi ở các nước Đông Á, xin xem: [Vương Hiểu Bình 1997] Các tài liệu bang

tiếng Việt xin xem: [Tạ Quang Phat 2003], [Pham Thi Hao 1999], [Nguyén Khắc Hiểu 1992], [Trần Lê Sáng 2001, 2002], [Pham Anh Sao 2002] Trong tiếng

Anh, có quyền uy nhất vẫn là bản dịch rất sớm của Legge [1876]

9 Xin xem cu thé tai mục 1.1.3 trong Chương Một của chuyên khảo

Trang 20

-11-mát trên, thì chúng ta vẫn hoàn toàn có thể lạc quan vì, theo

những tư liệu chúng tôi đã khảo sát!?, hiện vẫn còn lưu giữ được ít nhất 8 tác phẩm, 20 văn bản, 32 kí hiệu sách, với tổng số 5.384

trang tư liệu về Kinh Thi chữ Nôm (xin xem Phụ lục 1) Các dịch

phẩm này được thẻ hiện ở cả hai thể loại văn xuôi va van van, về

quy mô có cả toàn dịch và lược dịch Niên đại của các dịch phẩm

trai dai tir dau thé ki XVIII dén cuối thế ki XIX - dau thé ki XX

Trước đây đã có những nghiên cứu liên quan ít nhiều đến các bản dịch Nôm Kinh Thị Lê Văn Trường [1988] tìm hiểu về từ láy trong Thị kinh giải âm, Vương Tiểu Thuẫn [2000] giới thiệu

giản lược một văn bản Tỉ kinh giải âm khắc ¡in có niên đại 1714,

Trần Lê Sáng [2001] và Đỗ Thị Bích Tuyển [2006] đề cập đến ảnh

hưởng của Kính Thị với văn học Việt Nam, cũng có nhặc tới các

văn bản dịch Nôm Kính Tỉu Những nghiên cứu trên hoặc là không lấy chữ Nôm trong các văn bản làm đối tượng nghiên cứu, hoặc là nghiên cứu còn dừng lại ở mức giới thiệu sơ lược, chưa đi vào chỉ tiết, chưa chú ý tới mối quan hệ truyền thừa giữa các bản

dịch Nôm này, đặc biệt là việc sử dụng hệ thống tư liệu Kinh Thi

chữ Nôm vào nghiên cứu diên cách cấu trúc văn tự thì chưa bao

giờ được đề ra

Gần đây, chúng tôi đã tiến hành một số tìm hiểu nhất định

đối với khối lượng tư liệu Kinh Ti chữ Nôm kể cả điện da mat và

hiện còn, trên cơ sở đó đã công bố hai bài nghiên cứu! có liên

quan đến vấn đề tư liệu va vin ban hoc, đã bước đầu giới thiệu một cách có hệ thống các văn bản Kinh Thị bằng chữ Nôm tại Việt Nam, trong đó tập trung nghiên cứu văn bản các bản dịch Kinh Thị bằng

văn xuôi tiếng Việt, tức các bản “giải âm” Kinh Thị Ö đây, để vấn

đẻ được tập trung, chuyên khảo không trình bày chỉ tiết toàn bộ các văn bản dịch Nôm Kinh Thi, mà chỉ đi sâu phân tích bốn tư

liệu văn bản dịch Nôm Kinh Thị được lựa chọn làm đối tượng

nghiên cứu diên cách cấu trúc chữ Nôm ở các chương sau của chuyên khảo Đó là các văn bản:

!0 Xin xem: [Nguyễn Quang Hồng, Nguyễn Tuấn Cường 2005, tr 36-52], [Nguyễn Tuấn Cường 2006, 2007a, 2007b, 2012]

1! Xin xem: [Nguyễn Quang Hồng, Nguyễn Tuấn Cường 2005], [Nguyễn

Tuắn Cường 2007a]

Trang 21

e Tủ kinh giải âm at ME MY, in theo van khắc năm Vĩnh

Thịnh thứ 10 (1714), kí hiệu sách tại Thư viện Viện Văn học

HN.527-530 Goi tat la “ban VT”

e Thi kinh gidi dm ñŸ#ÊÍỨ ïï, in theo ván khắc năm Quang

Trung thứ 5 (1792), kí hiệu sách tại Viện Nghiên cứu Hán

Nom AB.144/1-5 Goi tat la “ban QT”

e Thi kinh dai toan tiét yéu diễn nghia (FRE KE 1 UKE, in

theo ván khắc năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), Nguyễn

đường tàng bản, kí hiệu sách tại Viện Nghiên cứu Hán

Nôm VNv.107 Gọi tặt là “bản M1“

e Thi kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa ñ*#& 4l #ïiñ#, in

theo ván khắc năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), Đa Văn đường

tàng bản, các kí hiệu sách tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm

AB.168/1-2, AB.539/1-3, VNv.161-3 Gọi tắt là “bản M2”

1.1 Hai bản dịch Nôm đời Vĩnh Thịnh (VT) uà Quang Trung (QT)2 1.1.1 Giới thiệu văn bản

Trước thời điểm năm 2000, các học giả trong và ngoài nước đều yên trí với một nhận định: trong số các bản giải âm Kinh Thi

ra chữ Nôm bảng văn xuôi hiện còn, thì văn bản Thỉ kinh giải âm

ñ‡ #€fƒ 7T khắc in năm Quang Trung thứ 5 (1792) là bản cổ nhất

Về việc này, ngay từ năm 1952, Hoàng Xuân Hãn đã có những khảo cứu rất sớm để rồi đi đến kết luận: bản Thỉ kinh giải âm khắc

in năm Quang Trung thứ 5 (1792) chính là bản của Sùng Chính

viện (đứng đầu là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp t‡# (1723 - 1804)),

bản ấy trước đó chưa được khắc in bao giờ [1952, tr 1072-1073]

Nhận định này ảnh hưởng một loạt đến các nhà nghiên cứu về sau như Lê Văn Trường [1988], Trần Văn Giáp [1990, tr 121], Ngô Đức

Thọ [1997, tr 110] Sự hiểu nhằm này đã được sửa chữa vào năm

2000 với phần giới thiệu hết sức ngắn gọn (khoảng 200 lượt chữ) của Vương Tiểu Thuẫn [2000, tr 27] dựa trên những tư liệu mà Nguyễn Quang Hồng cung cấp Trong bài viết của mình, Vương Tiểu Thuẫn đã giới thiệu về một văn bản Thi kinh giải âm có niên

12 Mục 1.1 nay sử dụng một số nghiên cứu trong bài viết chung của

Nguyễn Quang Hồng và Nguyễn Tuắn Cường [2005, tr 36-52]

CHƯƠNG MỘT

Trang 22

-13-đại 1714 hiện lưu ở thư viện Viện Văn học (Hà Nội), nhưng sau bài

viết quá cô đọng ấy, văn bản này vẫn chưa được quan tâm đúng

mức

Phải đến năm 2005 khi chúng tôi cho công bố bài viết “Thị

kinh giải âm: Văn bản sớm nhất hiện còn in theo ván khắc năm

lục, quyển I và quyên II; tập Hai (AB.144/2) gồm quyền III và

quyền IV; tập Ba (AB.144/3) gồm quyền V và quyền VI; tập Bốn

(AB.144/4) gồm quyên VII và quyển VII; tập Năm (AB.144/5)

gồm quyển IX và quyển X Khổ sách 27 x 15 cm Về nội dung,

phần Hán văn thì theo sát bản Thỉ kinh tập truyện ñš#Šf£f# của Chu Hi Z## (1130-1200), sử dụng cả phần nguyên văn Kinh Thị và

phần tập truyện của Chu Hi, phần văn Nôm giải âm chèn vào ngay sau từng câu nguyên văn Kinh Thi Bố cục chung cho từng câu thơ trong bản giải âm này là: câu thơ nguyên văn Kính Thi (chữ to) — dịch Nôm (dạng lưỡng cước, chữ nhỏ) — tập truyện của Chu Hi (dạng lưỡng cước, chữ nhỏ)

Ban Thỉ kinh giải âm khắc in có niên đại ván khắc năm

Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) hiện còn 8 quyển, đóng thành 4 kí hiệu

sách trong thư viện Viện Văn học (Hà Nội) là HN.527, HN.528,

HN.529, HN.5301 Về phân bố thứ tự và nội dung cũng tương tự 4

tap dau cua ban QT

Tờ bìa ghi ở trên cùng dòng niên đại: 7k## +-4F HF RA FB

Vĩnh Thịnh thập tiên Giáp Ngo tué đông nhát tập thành (Biên tập nên

vào ngày mùa đông năm Giáp Ngọ, năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh

Thịnh [1714]) Phía dưới tờ bìa chia làm ba cột, cột giữa to nhất dé tên

13 Trong hộp fiche ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm giới thiệu sách Hán

Nôm tại các thư viện khác tại Hà Nội có hai fiche ghi tên sách Thị kinh giải âm ở

Viện Văn học với kí hiệu sách HN.524 và HN.525, chúng tôi đã kiểm tra lại hai

kí hiệu sách này ở Viện Văn học thì thấy đây là hai cuốn Thỉ uận tập yéu 33ÑR$R

3§ chứ không phải Thị kinh giải âm

Trang 23

tác phâm: ä‡#6f#f Thí kinh giải âm, cột phải phí: “#1 Kế

Tiên dường bản (ván khắc của Kế Thiện đường), cột trái ghi “3| A, LÍ” K? quyết nhân san (thợ khắc gỗ san khác) Tờ bìa bản VT khắc chữ với nét rõ ràng, ngay ngăn, khoẻ khoán, sắc nét, chứ không gầy gây xương xương và hơi xiên xeo (xem Hình 3) như tờ bìa bản ỢT vốn không đè nhà tàng bản và nhóm thợ khắc Theo quan sát, tờ bìa bản

VT có cùng chất giấy với phần nội dung bên trong của văn bản này

Nhóm Tỉ kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa

Hình 3: Tờ bìa bốn bản diễn xuôi khắc in Kính Thi hiện còn14

Sau tờ bìa là bài Đại tự gồm 2 tờ in chữ khổ lớn Tiếp đến là

phân Mục lục 11 tờ liệt kê chỉ tiết từng thiên trong Kinh Thi, cho biết mỗi thiên có bao nhiêu chương Theo Mực lực, toàn bản Thi kinh giải

!4 Còn một bản khác kí hiệu AB.137 cũng là bản diễn xuôi, nhưng chép tay

theo nhóm bản MM, và không có bìa, xin xem phần cuối mục 1.2 của Chương Một

CHƯƠNG MỘT

Trang 24

-15-âm có 10 quyên Cuối phần Mục lục, ở trang 11b ghi “/kt 1-46 HTP

pi AA - Bee ea -H?#3£“ (Vĩnh Thịnh thập niên Giáp ÌNgọ

tué đông nguyệt cốc nhật - Kế Thiện đường tập thành - Mục lục tat (Ngày lành tháng mùa đông năm Giáp Ngọ, năm thứ 10 niên hiệu Vĩnh Thịnh [1714] - Kế Thiện đường biên tập nên - Hết Mực lục)

Trên mặt a tờ 56 quyén VIII, tờ

cuối cùng của phần văn bản thuộc

bản VT hiện còn, có dòng chữ bút „ 2E

dé" tinh Chu tung di ha = Thiéu tr KỆ ‘ck @

thién Dang! va phan Chu tụng trở di) lplx319 : E58 fay |

Dòng chữ Hán viết tay này có lẽ là

của người chủ cũ sở hữu bộ Tu kinh

giải âm năm 1714 mà chúng ta hiện

may mắn giữ được, hoặc là của người

kiểm sách trong thư viện khi kiểm

tra bản nay thay thiếu hai quyền cuối

cùng nên đã ghi vay (xem Hình 4)

Chúng tôi đã dò xét qua các

trang in nhưng chưa thay trong van

bản có hiện tượng nào cam chắc là

kiêng huý Có một chữ ## miên xuất hiện nhiều lần, được khắc lao

so với trật tự thường thấy thành dạng fi& / ff (chit fi bach 6 bén trai, b6 # mịch ở bên phải), nhưng đây không phải là chữ kiêng

húy vua Thiệu Trị đời Nguyễn, bởi ngay trong các cô bản Kinh Thị bằng Hán văn của Trung Quốc thì chữ miên cũng có dạng đó19

Rai rác ở các quyển có một số tờ nét chữ hơi khác so với phân

lớn còn lại của văn bản Đây có thé là dấu ấn của một người thợ

khắc khác Điều này khiến ta nghĩ đến một trong hai khả năng như

sau: Hoặc là trong khi khắc bộ ván năm Vĩnh Thịnh 10 (1714), đôi

15 Thiên Đãng 3Š có câu đầu tiên là “Đăng đãng thượng đế” ##j#§ k7

!s Ví dụ xin xem Tháp tam kinh chú sớ †- =f#†Èf (tập thượng), Chiiết Giang cổ tịch xuất bản xã, 1998, tr 498, thiên Miền man #*#t, các chữ miên điều

la “FBR” chứ không phải “ #§”

Ngày đăng: 26/01/2015, 09:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  3:  Tờ  bìa  bốn  bản  diễn  xuôi  khắc  in  Kính  Thi  hiện  còn14 - diên cách cấu trúc chữ nôm việt qua các bản dịch nôm kinh thi. chuyên khảo- the structure of vietnamese nom script continuance and mutation tap 1
nh 3: Tờ bìa bốn bản diễn xuôi khắc in Kính Thi hiện còn14 (Trang 23)
Hình  5  |  Hinh  7 - diên cách cấu trúc chữ nôm việt qua các bản dịch nôm kinh thi. chuyên khảo- the structure of vietnamese nom script continuance and mutation tap 1
nh 5 | Hinh 7 (Trang 26)
Hình  8:  Vị  trí  chữ  khác  nhau  giữa  hai  bản  MM - diên cách cấu trúc chữ nôm việt qua các bản dịch nôm kinh thi. chuyên khảo- the structure of vietnamese nom script continuance and mutation tap 1
nh 8: Vị trí chữ khác nhau giữa hai bản MM (Trang 40)
Hình  9:  Một  số  điểm  khác  nhau  vẻ  chú  nghĩa, - diên cách cấu trúc chữ nôm việt qua các bản dịch nôm kinh thi. chuyên khảo- the structure of vietnamese nom script continuance and mutation tap 1
nh 9: Một số điểm khác nhau vẻ chú nghĩa, (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w