Các bài tập chúng tôi lựa chọn trong cuốn này là những /, câu và đoạn văn đã có của những tác giả khác.. Đưa một sự kiện lịch sử lên sân khấu không chỉ là kể lại tích xưa, mà phải làm sa
Trang 1TRAN TRÍ DÕI
BÀI TẬP thực hành
Trang 2TRAN TRi DOI
BAI TAP
TIENG VIET THUC HANH
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3MUC LUC
Trang
Trang 4MOT VAI DE THI DA ĐƯỢC SỬ DỤNG
Nw Nn
Trang 5LOI NOI DAU
Cuốn bài tập tiếng Việt thực hành được biên soạn theo
chương trình môn TIẾNG VIỆT THUC HANH da duoc Bo Gido
dục - Đào tạo và sau đó là Đại học Quốc gia Hà Nội thông qua dưới dang dé cương và các câu hỏi chuẩn kèm theo Chương trình này đã được chúng tôi sử dụng giảng dạy cho nhiều khoá Đại học Đại cương (chương trình A có 4 đvht = 60 tiết và chương trình B có 3
đvh( = 4Š tiếU của các ngành VỊ, VIE va V của Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn
Khác với việc dạy tiếng Việt lý thuyết việc dạy tiếng Việt thực hành nhằm giúp sinh viên phát triển các kỹ năng nói và viết từ ĐỨNG dến HAY từ đó góp phần rèn luyện khả năng tư duy cho sinh viên Cách dạy này thực chất là cung cấp cho sinh viên những cai can để sử đụng tiếng Việt chứ không phải là giao cho sinh viên cái mà người thấv biết vẻ tiếng Việt Vì vậy Khi lựa chọn các bài
Trang 6Tuy những người soạn thảo chương trình chính thức của Bo Giáo duc - Đào tạo không nói ra nhưng ai cũng biết cơ sở của chương trình này là phân tiếng Việt mà sinh viên đã học trong 12 năm học ở phô thông Khi làm các bài {ập mà chúng tôi soạn thao sinh viên đã được giả định là phải nắm vững phần cơ sở tiếng Việt
đã học, phải vận dụng tất cả những hiểu biết có tính cơ sở mà họ đã
có Ngoài ra kinh nghiệm giảng dạy còn cho chúng tôi thay nhiều khi việc viết sai, hay nói sai của sinh viên là do sự chếnh mang, thiếu cần thận trong khi vận dụng các hiểu biết của mình chứ khong phải là họ không nam được phần cơ sở Nói một cách khác muốn
sử dụng đúng và hay tiếng Việt, ngoài việc nắm vững phần cơ sở của ngôn ngữ này ra, sinh viên phải ý thức rất rõ rằng sự cán than
là yếu tố quan trọng hàng đâu để chúng ta xây dựng ĐÚNG và HAY một văn bản
Trong những năm qua, chúng tôi đã tham gia giảng dạy nhiều chương trình tiếng Việt thực hành khác nhau Một thời, gian dai, môn học này chỉ dành cho sinh viên Ngữ văn của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (cũ) Từ khi có chủ trương sinh vién hoc hai giai đoạn ở bậc đại học, tất cả các nhóm ngành khoa học tự nhiên của
Đại học Tổng hợp Hà Nội đều học chương trình tiếng Việt thực
hành Tất nhiên, chương trình sau này khác với chương trình trước đây Vẻ sau, trên kinh nghiệm của chương trình thử nghiệm ây, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã biên soạn một chương trình tiếng Việt thực hành mới Dựa trên những cơ sở đó, chúng tôi soạn cuốn Đài tập
Trang 7này, Qua thực tế giảng dạy cho thấy 60 tiết lý thuyết và bài tập của chương trình này không thể thoả mãn ngay yêu cầu đặt ra là giúp cho sinh viên viết và nói đúng tiếng Việt Muốn đạt được yêu cầu
äy sinh viên phải có một quá trình rèn luyện công phu và lâu dài
Sau khi soạn thảo xong cuốn bài tập , chúng tôi đã nhờ GS.TS
KH Nguyễn Lai và GS.TS Định Văn Đức đọc và góp cho nhiều ý kiến quý báu Tuy vậy, việc biên soạn cuốn Bài táp tiếng Việt thực hành này chắc chân sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi
mong rang cac ban sinh viên đại học, sinh viên các trường cao
dang cdc thay cô giáo và nói chung những ai sử dụng cuốn: bài táp này chỉ giáo cho chúng tôi những chỗ cần phải sửa chữa cần phải
bố sung Chúng tôi xin cảm tạ trước về những ý kiến quý báu đó
Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 1997
(Sửa chữa tháng 3 năm 2002)
Tác gia
Trang 8>
MỘT VÀI ĐIỀU GIẢI THÍCH CỦA
NGƯỜI BIÊN SOẠN
1 Các bài tập chúng tôi lựa chọn trong cuốn này là những /, câu và đoạn văn đã có của những tác giả khác Chúng toi sẽ khong đặt ra một ví dụ của riêng mình nhàm tránh cách làm tư biện trái với bản chất của một công việc thực hành Do đó các phần văn bản dùng cho bài tập được ghi rõ xuất xứ của nó
2 Chúng tôi gắng lựa chọn các bài tập còn ở dạng nguyên bản, tức là các bài tập ấy nằm trong một văn bản cụ thể Làm như vậy sinh viên nhận thấy cái sai, cát đúng, cát hay của một đơn vi lời nói nào đó dẻ hơn khi tách chúng ra một cách riêng rẽ Tronp bai tap, phan được xem xét sẽ được In nghiêng phan văn cảnh phụ giúp cho bài tập sẽ in bình thường
3 Các bài tập được đánh số thứ tự từ đầu đến cuối Khi soạn
chúng tôi có ý định các bài tập này sẽ giúp cho sinh viên tra lời nhiều câu hỏi khác nhau trong chương trình Ví dụ: Bài tập I có thể
Trang 9nhiều câu hỏi khác nhau trong chương trinh Vi du: Bai tap | c6 the dùng đề giải quyết những vấn dé licn quan dén van ban hay doan văn Như vay, mot bài tập mà chúng tôi soạn ở day ít nhất cũng
có thể siúp cho sinh viên trả lời một câu hỏi Trong những trường hợp có thế, một bài tập tham gia trả lời nhiều càu hỏi khác nhau tuỳ khía cạnh cụ thể mà nó đáp ứng
4 Khi làm bài tập chúng ta dễ nhận thấy rằng để trả lời cho đúng tức là dap tng duoc véu cau dat ra trong câu hỏi, sinh viên học tiếng Việt thực hành phải cùng một lúc sử dụng nhiều thao tác khác nhau ở phần chương trình Điều đó có nghĩa là các câu hỏi ở phần bài tập phần lớn là các câu hỏi tổng hợp Để giúp sinh viên thích ứng với tình hình ấy chúng tôi sẽ cố găng đưa ra một số bài tập cụ thể có nhiều cách làm khác nhau Vì thế trong cuốn bài tập này người sử dụng sẽ thấy có rất nhiều bài tập khác nhau chỉ để trả lời cho một câu hỏi và ngược lại có rất nhiều câu hỏi có thể giải thích trong một bài tập
Trang 10CAC BAI TAP
BAI TAP 1
Chúng ta có một tài liệu (van bản) khoa học sau đây Tài liệu
này gồm bao nhiêu đoạn văn? Nói rõ vì sao lại có thể xác định như
vậy 2
Hày từ hiện thực sống động của lịch sử
Tôi không nhớ đã được đọc bao nhiêu bài viết về sân khấu với đề tài lịch sử, chỉ biết rằng nhiều, nhiều lắm, và lần nào cũng vẫn cứ trội lên một vấn đề, tính chân thực của các vỏ diễn lịch sử Lần này tôi muốn chuyển sang nói về một điều gì mới mẻ, song vấn đề "tính chân thực" vẫn sừng sững trước mặt, cản mọi lối dị, đòi hỏi phải ưu tiên giải quyết
Tính chân thực là tiêu chuẩn hàng đầu của mọi tác phẩm nghệ thuật Người nghệ sĩ dù dùng cách diễn tả nào, kỳ lạ đến đâu cũng không được phép làm mất đi tính chân thực Nghệ thuật cố Trung Quốc có câu: "Kỳ nhi bất thất kỳ chân" (Kỳ mà không làm
10
Trang 11mat đi cái thật) Đề tài lịch sử lại càng đòi hỏi tính chân thực hon
hết Đưa một sự kiện lịch sử lên sân khấu không chỉ là kể lại tích xưa, mà phải làm sao tái hiện lại trên sân khấu cái đời sống xã hội
phong phú và sinh động của thời đại mang tích ấy với các phong
tục (ăn mặc, nói năng, các lối suy nghĩ, cách xử thế mang tính riêng biệt) về đời sống vật chất, tinh thần của ông cha trong từng thời đại lịch sử Nước ta có lịch sử hàng ngàn năm, thời các vua
Hùng, thời thuộc Hán, thời Định, Lê, thời Lý - Trần và thời Lê -
Nguyễn sau này, ngoài những nét chung, mỗi thời đại đều mang bản sắc riêng biệt, độc đáo về các mặt Người đến xem sân khấu không đơn thuần là để giải trí, mà họ còn mong muốn qua những hình tượng sân khấu có thêm sự hiểu biết cụ thể Sự hiểu biết này khiến họ càng tăng thêm lòng yêu dân tộc, yêu đất nước
Đáng tiếc là chúng ta, những người làm sân khấu, chưa thực hiện được mấy chức năng ấy Diễn về lịch sử, chúng ta chú ý nhiều tới tích mà coi nhẹ lối sống của xã hội đương thời Có thể nói rằng, hầu như chúng ta chỉ có một mẫu (Anodèẻle) là đem lối sống của thời Nguyễn, từ triều đình cho đến dân dã, trùm lên, áp đặt vào các
thời đại lịch sử đi trước, nhuộm các thời đại vào cùng một "gam"
mầu, khiến cho những vỏ diễn về đề tài lịch sử, nhất là trong kịch hát dân tộc trỏ nên giống nhau, nhàm chán và nghiêm khắc mà nói còn phạm lỗi lịch sử
Để dẫn chứng, hãy nói về phong tục thời nhà Trần Theo sách "Kiến vân tiểu lục" của Lê Quý Đôn, người trong nước thời
bây giờ: "con trai đầu trọc, người nào có quan chức thì trùm đầu
bàng khăn xanh" Tục cắt tóc này đến Hoàng Phúc thời nhà Minh
Trang 12mới cấm "Dân đều đi chân không, giản hoặc có người đi giầy da, khi đến cung điện thì trút giầy ra Da chân họ rất dày, trèo núi như
bay, chông gai cũng không sợ Khăn dùng màu xanh thẫm do tơ
nhuộm chế ra, khi buộc khăn thì dùng dây sắt cài lại, đằng trước cao hai thước mà gập xuống đến cổ, lấy dải buộc thắt lại đằng sau, trên đỉnh cài cái đinh bằng sắt, người có quan chức thi có mảnh dải thêu vào định sắt này, lúc ở nhà để đầu trần, gặp khách mới đội khăn, nếu ra đi ngoài thì mỗi người mang khăn theo, duy có quốc vương búi tóc dùng lụa là phủ lấy búi tóc, trông xa như luân cân của nhà đạo sĩ, những miếng lụa là miệng đều toả rộng ra hai bên
cạnh búi tóc Người trong nước đều mặc lụa thâm, áo hoa, quần
mỏng cổ áo tròn khâu bằng là, đàn bà cũng ao thâm, nhưng màu
trắng ở trong rộng hơn để viền vào cổ áo rộng 4 tấc , các sắc xanh, hồng, vàng tía tuyệt nhiên không có Họ chạy nhảy rất nhanh, đi lại như gió Đàn bà cắt tóc, để lại 3 tấc tết ở đỉnh đầu, buộc lấy đầu sợi tóc rồi búi chặt lại và cài bằng trâm , những thứ vòng đeo, nhà giàu dùng vòng đổi mồi, còn các người khác dùng
xương hoặc sừng mà thôi, không có tí vàng bạc nào cả; nhân dân
đều vẽ mình làm thành hình móc câu khuất khúc, trông như hình lư đồng, đỉnh đồng đời cổ, lại có người xăm chữ vào bụng*” Chỉ chút
ghi chép này thôi cũng đủ khiến chúng ta hình dung ra được lối
sống độc đáo của ông cha ta cách đây sáu bảy trăm năm, khác xa
với những gì được miêu tả trên sân khấu ngày nay Họ là những
con người sống gần gũi thiên nhiên, đầu đội trời chân đap đất
hoạt bát linh động, vượt mọi chông gai Chính họ là những người
Trang 13đã đánh lùi quân Nguyên Mông, đã tạo nên sự thăng hoa cua nền
van hoá Đại Việt Là người đạo diễn tôi mường tượng ngay tới
những cảnh sân khấu, trên đo di động những đầu trọc, những ban chân Giao chỉ vững chắc, những chiếc khăn gài định sắt, những
nót xăm hình móc trên da thịt, những cánh áo thâm viền trắng Lại
nữa, những ông vua như đạo sĩ, những ông quan chỉ khác dân bình
thường ở dải lụa gài đầu Tất cả chuyển động hài hoà trong "gam”
màu chủ đạo "đen trắng" giản dị và mạnh mẽ Những nét phong
tục độc đáo của thời đại nhà Trần, khi quân nhà Minh sang đã sợ
hãi, vội ra nhiều lệnh cấm để xoá bỏ nó đi Lễ nào ngày nay chúng
ta lại không tự hào về nó, không phục hiện nó lên sân khấu mà lại
đi thay thế nó bàng những phong tục của một triều đại đã mang nhiều yếu tố ngoại lai từ phương Bắc Cũng nên nhắc đến thái độ
tuỳ tiện này đối với những thời đại trước nữa Chúng ta đã chẳng
thấy ở cuối thời nhà Đinh một Dương Vân Nga xiêm áo lộng lẫy như hoàng hậu Đại triều phương Bắc, có diễn viên lại còn đội trên đầu một mũ miện đầy vàng sắm từ Hồng Kông Không phải chỉ tuỳ tiện ở hình thức bên ngoài cuộc sống, chúng ta còn thiếu tôn trọng
cả đến những đặc điểm tinh thần của thời đại Xem một số vỏ diễn lịch sử, người ta thấy Nho giáo đã xâm nhập vào nước ta từ thời
các vua Hùng chi phối các quan hệ xã hội Thật ra trong Suốt các
thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần, tư tưởng Phật giáo giữ vị trí chủ đạo
trong xã hội Vua quan và nhân dân gần gũi nhau chưa bị những lễ nghi Nho giáo phân chia, ràng buộc Cả thời Lý (hơn 2 trăm năm)
mà chỉ có 6 khoa thi cử thì làm thế nào mà Nho giáo ngự trị được
Trang 14Ay thế mà trong nhiều vỏ diễn về thời này, những mối quan hệ xã hội (vua tôi - gia đình - bạn bè) vẫn thấy bị Nho giáo chi phối là
chính Những tác phẩm sân khấu chưa chính thức nêu bật lên được
cái ý thức dân chủ của các thời trước, nó là sức mạnh đã khiến cho
dân tộc ta đạt được những thành tựu lớn trong xây dựng cũng như
chống giặc ngoại xâm Nó trỏ thành truyền thống tiếp tục tồn tại
ngay cả dưới các thời Lê - Nguyễn sau này khi Nho giáo đã được
triều đình coi là chính thống
Do sự đồng hoá theo một mẫu trong sự miêu tả lịch sử, những nhân vật lịch sử cũng đồng loạt giống nhau Vì khi đã không
mang được những nét riêng của thời đại thì khó mà có được những
nét độc đáo cá nhân Ngoài một số ít thành tựu như nhân vat Y
Lan của Tào Mạt, còn trên sân khấu những nhân vật lịch sử chỉ khác nhau ở cái tên cái tích mà thôi
Cần nói thêm một chút về các vỏ diễn dã sử: Dã sử là những
câu chuyện lịch sử trải qua những biến hoá và thêm bớt trong dân gian mà trỏ thành truyền thuyết Những tích về Bà Triệu, Bà Trưng đến với chúng ta là dã sử Chúng ta đã sáng tạo ra được nhiều vỏ
diễn dã sử tốt Song cần ngăn chặn dòng dã sử nguy tạo đang lan tràn trong phong trào sân khấu thương mại Biểu trưng là dã sử mà
nội dung tích trò lại chẳng có một căn cứ lịch sử nào Đó chẳng
qua chỉ là những "tuồng kiếm hiệp" xưa mang nhãn hiệu mới mà
Trang 15vào việc động viên, cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân trong hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Riêng về chất lượng
nghệ thuật chưa có nhiều tác phẩm hay Tính chân thực lịch sử còn
bị vi phạm nhiều Nghệ thuật sáo mòn vì chưa thực sự xuất phát từ hiện thực lịch sử sống động mà sáng tạo Phải thấy rằng hiện thực lịch sử rất khó nắm bắt, nó cách xa ta hàng mấy trăm năm có khi ngàn năm Người nghệ sĩ nhất thiết phải dày công nghiên cứu tìm hiểu nó qua sử sách, khảo cổ học.v.v tìm hiểu để nắm được
những phong tục tập quán, những lề thói ăn nói suy nghĩ, nói tóm
lại là các mặt của nền văn hoá thời đại mình miêu tả Đối với người làm nghệ thuật thì hiểu biết đến đây vẫn chưa đủ Phải cụ thể hơn
nữa Nếu như không gian tích truyện là đất Thăng Long thời Lê
Mạt, người nghệ sĩ phải tìm hiểu để phác hoạ một bản đồ thành Thang Long thời ấy, sông hổ phố phường ra sao, phải đi thăm thú những di tích còn lại từ thời ấy, để tất cả di tích cụ thể ấy, có khi chỉ
là một bức tường, một nền nhà cổ kích thích trí tưởng tượng, gợi cảm hứng khiến người nghệ sĩ hình dung ra được những cảnh sinh hoạt của người Thàng Long đương thời Đây là quá trình lao động
tất yếu trong sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật về đề tài lịch sử
Nó đòi hỏi công phu Chỉ một thái độ dễ dãi, tuỳ tiện có thể dẫn tới
một sai lầm đáng trách Ai cũng biết "Bài ca giữ nước" của Tào Mạt
lä một vỏ chèo hay và nổi tiếng Tào Mạt đã hiểu sâu thời Lý lắm
mới xây dựng lên được một hình tượng lịch sử hoàn chỉnh và đẹp
như Bà Ỷ Lan, nhân vật vừa mang tư tưởng thời đại, vừa có tính
cách cá nhân rõ rệt Đáng tiếc là đến tập 3, ông phạm một sơ suất Nếu cẩn thận hơn, bỏ công về làng Đông Cứu (Gia Lương) đọc gia
Trang 16phả nhà họ Lê thì ông đã không biến Lê Văn Thịnh, một nhân vật lịch sử có nhiều công lao với nhà Lý thành một tên phản diện về
mọi mặi
Đề tài lịch sử là một đề tài khó, nhưng nếu từ nay chúng ta,
những tác giả, đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, hoạ sĩ sân khấu, đều
có ý thức tôn trọng hiện thực lịch sử, biết từ hiện thực cuộc sống ấy
mà sáng tạo thì nhất định sẽ ra đời những vỏ diễn chân thực, hay,
xứng đáng với lịch sử ngàn năm văn hiến của đất nước ta
Trần Bảng - 9/96
(Trần Bảng, Tạp chí VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT số 10/1996,
trang 70-71)
Gơi ý trả lời
+ Văn bản này có 8 đoạn văn Đó là:
- Đoạn I: Từ đầu đến ” ưu tiên giải quyết”
- Đoạn 2: Tiếp theo đoạn đầu đến " yêu đất nước”
- Đoạn 3: Tiếp theo đoạn thứ hai đến " phi lịch sử”
- Doan 4: Tiếp theo đoạn thứ ba đến " là chính thống"
- Doan 5: Tiếp theo đoạn thứ tư đến " cái tích mà thôi”
- Doan 6: Tiếp theo đoạn thứ năm đến " mới mà thôi”
- Đoạn 7: Tiếp theo đoạn thứ sáu đến " về mọi mặt”
- Đoạn 8: Phần văn bản còn lại
+ Chúng ta có thể xác định được văn bản nói trên có tám đoạn văn nhờ căn cứ vào hình thức và nói dung của chúng Về mặt hình thức, mỗi đoạn văn trên đây tương ứng với một chỗ xuống dòng trong văn bản Văn bản trên đây có 7 chỗ xuống dòng và phần kết
l6
Trang 17văn bản nên nó có 8 đoạn văn tương ứng Tuy nhiên cái chính là môi đoạn văn hình thức đó thể hiện một ý tương đối hoàn chỉnh Ví dụ: Đoạn văn thứ 2 trong văn bản trên có ý chính thể hiện qua hai câu: a) “Tính chân thực là tiêu chuẩn hàng đầu của mọi tác phẩm nghệ thuật” và b) Tác phẩm viết về "Đề tài lịch sử lại càng đòi hỏi tính chân thực hơn hết”
Như vậy, một doạn văn đúng và hay là một đoạn văn có hình
thức ph hợp với nói dung Có nghĩa là trong khi xây dựng van bản, môi một ý tương đối hoàn chỉnh tốt nhất nên thể hiện qua một đoạn
van
BÀI TẬP 2
Chúng ta có đoạn văn sau đây của GS Định Gia Khánh trong bài “Việc nghiên cứu văn hoá đân gian của Hà Nội từ xưa đến nay" (Tạp chí Văn nghệ Dán gian, số 2/1996, trang 3 - 12)
“Trong việc tìm hiểu văn hoá Hà Nội nói chung, văn hoá dân
gian Hà Nội nói riêng, có không ít tác giả miêu tả được nhiều sự kiện phong phú, nhiều chi tiết sinh động Truyện Hà Ô Lôi (Lĩnh
Nam chích quái thế kỷ XIV), trong khi kể lại sự tích một nghệ nhân dân gian có tài đời Trần, đã phản ánh được sinh hoạt văn
hoá dân gian ở Thăng Long trong thời ấy Bài khảo cứu về "Cách uống chè” (Vũ Trung tuỳ bút - đầu thế kỷ XIX) đã phản ánh sinh hoạt và thời thượng của dân Thăng Long hồi cuối thế kỷ XVIII, đầu
thế kỷ XIX Đặc biệt là Lê Quý Don trong T Thượng kinh phong: Vật chí thì đã miêu tả mọi mặt sinh hoạt vật chất và tinh thần của
Trang 18Thăng Long, trong đó có những nét rất cụ thể về lối sống và phong
tục, tập quán của dân Thăng Long thế kỷ XVIII"
Chủ đề (hay ý chính) của đoạn văn này là gì ? Nói rõ vì sao
lại có thể xác định chủ đề của đoạn văn như đã làm ?
Gơi ý trả lời:
+ Đọc đoạn văn chúng ta nhận thấy chủ đề của đoạn văn nói trên thể hiện ở cáu thứ nhất, tức là tác giả cho biết "có không ít tác giả miêu tả được nhiều sự kiện phong phú, nhiều chỉ tiết sinh động”
về văn hoá dân gian Hà Nội trong lịch sử
+ Chúng ta có thể xác định được như vậy là vì trong đoạn văn,
từ câu thứ hai trở đi người viết chỉ nhằm chứng minh cho nhận định
đã được thể hiện ở câu thứ nhất Nhận xét như vậy, nghĩa là chúng
ta đang xác lập cách lập luận của đoạn văn để hiểu rõ ý của nó
+ Cũng có thể nói một cách khác, ý chính của đoạn văn nói
trên thể hiện ở câu chủ đê của đoạn văn Vậy là muốn tìm ý chính của một đoạn văn trong một tài liệu khoa học, thực chất là chúng ta xác định câu chủ đề và cách lập luận của đoạn văn ấy Tuy nhiên, cũng có những đoạn văn câu chủ đề chưa nói được ý của nó Trong
trường hợp ấy chúng ta có câu á chủ đề (ví dụ như ý chính ci« đoạn
van thit 2 trong bai tap 1)
18
Trang 19BÀI TẬP 3
Có thể nhận xét như thế nào về cách lập luận trong đoạn văn thứ 2 của GS Trần Bảng (ở bài áp 7) và trong đoạn văn của GS Dinh Gia Khánh (6 bai tap 2)?
Goi y tra loi:
+ Doan van của GS Định Gia Khánh trình bày theo cách nêu vấn đề ở câu thứ nhất rồi sau đó giải thích vấn đề ở những câu sau
Đoạn văn của GS Trần Bảng cũng vậy Một phần ý chính được thể
hiện ở câu đầu và được giải thích ở câu tiếp theo Sau đó tác giả lại dùng một câu nữa để thể hiện ý của đoạn văn và ý đó cũng được giải thích ở những câu tiếp theo
Cách lập luận nh vậy là cách lập luận diễn dịch và nếu chúng ta có một trình tự ngược lại, chúng ta có cách lập luận quy nap
+ Trong tài liệu khoa học, về cơ bản các đoạn van thường có cách lập luận quy nạp hoặc diễn dịch Chính cái logic lập luận này quy định quan hệ (hay trật tự) giữa các câu làm thành một đoạn văn Cho nên, muốn viết một đoạn văn hợp lý và chặt chẽ, nhất thiết phải có logic lập luận rồi sau đó mới là việc thể hiện quan hệ giữa các câu theo logic ấy
BÀI TẬP 4
Chúng ta có nhận xét gì về đoạn văn thứ 3 trong phần văn bản sau đây:
Trang 20“Tiên học lễ, hậu học văn
Thác trong còn hơn sống đục - Lá lành đùm lá rách
Xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc là vấn đề quan trọng, cấp bách Nền sản xuất khoa học kỹ thuật càng hiện đại, càng
nhiều nguy cơ bị đông hoá, nguy cơ đánh mất dân tộc, nguy cơ tha hoá
đạo đức, nhân phẩm, nguy cơ tự huỷ diệt"
(Thanh Hương, Chuẩn bị hành trang văn hoá hội nhập vào thế
kỳ XXI, Báo Văn nghệ, thứ 7 ngày 6/1/1996, trang 4, cột 3)
Goi y tra loi:
+ Có thể nhận thấy đoạn văn thứ ba trong phần văn bản nói trên chưa thể hiện được một ý tương đối hoàn chỉnh Hai câu tạo thành đoạn văn thể hiện hai ý riêng rẽ nhau, không gắn vào nhau Do đó có thể cho
ràng đây là một đoạn văn chưa đúng
+ Như vậy, một đoạn văn có thể nói là chưa đúng khi tuy nó
tương ứng với một chỗ xuống dòng nhưng không thể hiện được một ý
tương đối hoàn chỉnh Với cách hiểu này những ai viết văn một cách liên tục mà không xuống dòng để ngắt các ý ra cho rõ ràng thì cũng là những người viết văn sai Nói một cách khác một đoạn văn sai là một đoạn văn không có sự phù hợp giữa nội dung và hình thức
Trang 21Gợi ý tra lời:
+ Chủ đề chính của tài liệu mà GS Trần Bảng viết là:
“Tính chân thực là tiêu chuẩn hàng dâu của mọi tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là các tác phẩm viết về đề tài lịch sử"
+ Để thể hiện chủ đề chính của bài viết, GS Trần Bảng đã nêu lên những ý chỉ tiết cụ thể sau đây:
- Có nhiều bài viết về sân khấu với đề tài lịch sử đều cho rằng
vở diện lịch sử cần phải mang tính chân thực
- Tính chân thực là tiêu chuẩn hàng đầu của một tác phẩm
nghệ thuật và tác phẩm viết về đề tài lịch sử lại đòi hỏi tính chân thực hơn bao giờ hết
- Thế nhưng, nhiều người làm sân khấu chưa thể hiện được yêu cầu ấy làm cho vở diễn nhàm chán, phạm lỗi phi lịch sử
- Chẳng hạn, các vở diễn về đời Trần chưa thể hiện được lối sống đặc trưng của thời kỳ này, hay như các vở diễn về các thời đại vua Hùng và Định, Lý, Trần lại nhấn mạnh quá đáng sự chỉ phối của Nho giáo
- Vì có tình trạng như vậy nên những nhân vật lịch sử trên sân khấu chỉ khác nhau ở cá: tên tích mà thôi
- Tình trạng các vở diễn về đã sử mang tính ngụy tạo đang lan tràn trên sân khấu
- Nắm bát sự thực lịch sử là một việc làm công phu, chỉ một thái độ dễ dãi, tuỳ tiện có thể dẫn tới một sai lầm đáng trách
- Tuy khó nhưng nếu những người làm sân khấu có ý thức thì
Trang 22+ Có thể thấy các ý chỉ tiết được tác giả sắp xếp theo mọi trình tự hợp lý và chặt chẽ Chúng được thể hiện theo lối chứng minh diễn dịch rằng diễn về lịch sử cần phải có tính chãn thực Néu không các vở diễn sẽ nhàm chán, không sáng tạo Để làm được diều
đó, đòi hỏi người nghệ sĩ phải có ý thức và phải lao động công phu
+ Để xác lập được ý chính của tài liệu nói trên, chúng ta đã:
- Xác lập các chi tiết qua việc fừn ý chính của mối đoạn vàn làm thành tài liệu Ý chính này thường được thê hiện ở câu chủ đẻ của đoạn văn và một hoạc hai câu phụ cho câu chủ đề ấy
- Xác dịnh lập luận của tài liệu thông qua nhận biết trình tự
sắp xếp các ý chỉ tiết
- Từ việc xác định lập luận ấy chúng ta nhận ra ý chính của
tài liệu Nó có thể là một ý cụ thể tổng hợp các ý bộ phận theo một
"Hiểu don gian van tat - Văn hoá là sản phẩm tinh than, bat
nguồn từ đời sống vật chất xã hội là trí tuệ là trình độ nhận thức và
22
Trang 23đâu tranh của con người đôi với thế giới tự nhiên và xã hội, bảo đam cho con người và xã hội loài người tồn tại và phát triển
Van hoá bao gồm: Khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Khoa học kỹ thuật và văn học nghệ thuật Văn hoá tỉnh thần và
vàn hoa vật chất Văn hoá dân tộc và văn hoá nhân loại, là nếp sống, đạo đức Phong tục, tập quán
Văn hoá có chức nang, mục đích khám phá tìm tòi, phát hiện các quy luật thế giới tự nhiên và xã hội loài người - hiểu và hành động theo cái đúng, loại bỏ cái sai Yêu cái thiện, ghét cái ác Yêu cai dep ghét cái xấu (chân.thiện, mỹ)”
(Thanh Hương, Bài đã dân, báo Văn Nghệ thứ 7 ngày 6/1/
1996, trang 4, cot 1)
Gơi ý trả lời:
+ Đoạn văn thứ hai trong phần văn bản nói trên là một đoạn văn không đúng Lý do là những nội dung thể hiện qua các câu không kết hợp được với nhau để tạo thành một ý tương đối hoàn chỉnh cho cả đoạn văn
+ Chúng ta có thể thấy ngay rằng đoạn văn trên đã nhập ba ý rời rạc lại với nhau Đó là:
a) Các ngành khoa học là những yếu tố tạo thành văn hoá (câu |
và câu 2)
b) Về hình thức tồn tại, văn hoá có cả dạng thức vật chất lẫn dạng thức tỉnh thần (câu 3)
Trang 24+ Khi xây dựng những đoạn văn bản mới, chúng ta có thể dựa vào những ý chính nói trên Như vậy đoạn văn nói trên có thể sửa chữa theo 2 cách:
a) Giữ nguyên đoạn văn ấy nhưng phải liên kết các câu lại để tạo thành một ý hoàn chỉnh
b) Phát triển nó thành ba đoạn văn mới, phù hợp với 3 ý vừa
phân tích Nói một cách khác, từ đoạn văn nói trên, chúng ta có thể tách thành ba đoạn văn khác nhau, thể hiện ba ý tương đối khác
nhau
BÀI TẬP 7
Chúng ta có một phần văn bản sau đây:
"Xây dựng một nền văn hoá dân tộc và hiện đại phù hợp với
đường lối đổi mới đất nước của Đảng
Mỗi dân tộc có điều kiện và hoàn cảnh lịch sử khác nhau, có
nền văn hoá khác nhau, phải xây dựng đất nước trên cái nền tẳng
kinh tế văn hoá của mình, không thể dựa vào cái gốc của nước khác, mất truyền thống văn hoá là mất nước Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử, có gần 20 lần chống xâm lược, có 900 năm nô lệ Bắc thuộc gần 100 năm Pháp thuộc, nhưng nhân dân, tổ quốc Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển, không bạo lực nào huỷ diệt được, không âm mưu nào đồng hoá được dân tộc Việt Nam
Tổ tiên ta để lại cho muôn đời sau chân lý: Non sông đất nước Việt Nam là của người Việt Nam, tương lai tiền đồ của dân tộc Việt Nam là do người Việt Nam định đoạt, nước Việt Nam ta có nền văn
24
Trang 25hiện độc lập tự chủ lâu đời không sức mạnh bạo lực nào có thể đóng hoá huỷ diệt được”
(Thanh Hương Bài dd dân Báo Văn Nghệ thứ 7, ngày
6/1/1996 trang 4 cột 2)
Phân tích những chỗ chưa hợp lý trong đoạn văn thứ hai Sau
đó thử chữa lại cho hoàn chỉnh (chú ý hạn chế sự thêm bớt quá nhiều làm thay đối ý chính của đoạn văn)
Gơi ý trả lời:
+ Sau đây là nguyên văn bài làm của sinh viên B.V.Ð (Lớp
Đại cương 41B, khoa Lịch sử Đại học KHXH và NV Hà Nội):
Nhân xét:
Lot van roi rac, khong c6 các từ tạo sự liên kết giữa các Ỷ
nho trong cau
Cau tit hai sai ở chó “những nhân dán” đáng lẽ phái dùng
đưữu chấm trước từ “nhưng”,
Chữa lai:
Môi dân tộc có điều kiện và hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên
có nên văn hoá khác nhau, do đó phải xảy dựng đất nước trên các ném tang kính tế văn hoá của mình, không thể dựa vào cái gốc của nước khác, mất đỉ truyền thờng văn hoá là mất nước Việt Nam có chiếu đài lịch xử hàng ngàn năm, có gản 20 lân chống xám lược, có
900 năm nó lệ Bắc thuốc và gân 100 năm Pháp thuộc Nhưng Tổ quốc, nhân dân Việt Nam vẫn tổn tại và phát triển, khong bao lic
nao huy điệt được, không âm níu nào đồng hod được
Trang 26Bai lam nay chua dat yéu cau dé ra
+ Sau đây là một gợi ý sửa chữa:
- Đoạn văn của tác giả Thanh Hương nói trên chưa thể hiện một ý tương đối hoàn chính Các ý cấu thành đoạn văn roi rac va chưa đầy đủ Lý do là các câu của đoạn văn không liên kết được với nhau làm cho kết cấu của đoạn văn không thể hiện được nội dung
cần thể hiện
- Có thể nhận điện được các ý sau đây trong đoạn văn:
a) Ý thứ nhất thể hiện ở phân "Mỗi dân tộc khác nhau” của câu thứ nhất
b) Y thứ hai thể hiện ở phần "phải xây dựng nước khác” của câu thứ nhất
c) Ý thứ ba thể hiện ở phân còn lại của câu thứ nhất
d) Ý thứ tư thể hiện từ phần đầu đến "Pháp thuộc" của câu thứ hai
đ) Ý tiếp theo thể hiện ở phần còn lại của câu thứ hai
e) Và để cho ý toàn đoạn văn hợp lý, cần phải thêm một ý nữa ở
phần này
- Từ logic như trên, có thể có một trong những cách chữa như sau : "Mỗi dân tộc có điều kiện và hoàn cảnh lịch sử khác nhau có nền văn hoá khác nhau Vì vậy họ phải xây dựng đất nước trên cái nền tảng kinh tế văn hoá riêng của mình không thể dựa vào cái gốc của nước khác Mất truyền thống văn hoá là mất nước Trong hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đã có 900 năm Bác thuộc gần 100
25
Trang 27nam Pháp thuoc va 20 lan chong xam lugc Nhung nho gitf gin duoc ban sac van hoa cua mình nhân dân, Tổ quốc Việt Nam vần tồn tại
và phát triển mà không một bạo lực nào huỷ diệt được, không một
âm mưu đồng hoá nào thực hiện được”
BÀI TẬP 8
Chúng ta có đoạn văn sau đây của GS Định Gia Khánh:
“Có thể thấy tình hình ấy qua sự tích Hồ Tây Nhân dân đã
giải thích sự hình thành Hồ Tây theo những cách khác nhau Từ lâu
rồi, đã lưu hành truyền thuyết về việc Lạc Long Quân đánh đuổi
con cáo chín đuôi, một quái vật đã gây ra nhiều tai hoạ cho dân Bị Lạc Long Quân đánh đuổi, con cáo chín đuôi chạy cuống cuồng,
chạy quanh nhiều vòng khiến cho đất sụt lỏ, và nơi ấy trở thành Hồ
Tây Con cáo chín đuôi sau cùng trốn vào một cái hang sâu không
dám ra ngoài để làm hại dân nữa Hang ấy gọi là hang cáo, hiện còn vết tích ỏ thôn Cáo Đỉnh, thuộc làng Xuân Đỉnh, phía bắc Hồ
Tây hiện nay Bên cạnh cách giải thích sự hình thành Hồ Tây như
thế lại có cách giải thích khác liên quan đến Nguyễn Minh Không,
tức Lý triều quốc sư Vâng lệnh vua nhà Lý, Nguyễn Minh Không
đã sang Trung Quốc vay số đồng chứa trong mấy nhà kho đồng của vua Trung Quốc đem về đúc một quả chuông khổng lồ cho chùa Báo Thiên Khi đem treo quả chuông và gõ lên thì tiếng vang
bay sang Trung Quốc Con trâu vàng trong kho của vua Trung
Quốc nghe tiếng chuông, tưởng mẹ nó gọi, bèn chạy sang nước ta, vết chân của nó làm thành con sông Kim Ngưu ỏ Thăng Long Sau
Trang 28cho Hồ Tây mỏ rộng ra, sụt sâu thêm Tiếp đó, con trâu vàng ấy lặn sâu dưới nước, nàm im dưới đáy hổ Ai có
mười con trai thì có thể sai mười người con ấy lặn xuống
Hồ Tây mà kéo con trâu vàng ấy lên Hiềm một nỗi chưa ai có được mười con trai để có thể làm việc ấy mà trỏ lên giàu có”
(Tap chi Van hod dan gian, s6 2/1996, tr 3 - 4)
Chúng ta có nhận xét gi vẻ hình thức và nội dung của nó
Gơi ý trả lời:
+ Đoạn văn trên thể hiện một ý chính năm ở câu thứ 2 của
đoạn văn Đó là câu “Mhán dán đã giải thích sự hình thanh Ho Tay
theo những cách khác nhau”
+ Ý chính đó được trình bày, chứng minh theo lối diễn dịch
Cụ thể là:
- Câu 2 nói lên ý chính của đoạn văn
- Từ câu 3 đến hết câu 6 là ví dụ thứ nhất giải thích ý chính của đoạn văn
- Từ câu thứ 7 đến hết đoạn văn là ví dụ thứ hai giải thích điều
mà tác giả đã thể hiện ở câu thứ 2 của đoạn văn
+ Có thể nhận thấy trong đoạn văn này tác giả đã thể hiện liên kết hình thức rất hợp lý Để chuyển từ ví dụ thứ nhất sang ví dụ thứ
hai, tác giả đã dùng cả một câu (câu thứ 7) thể hiện: bẻn cạnh cách giải thích này lại có một cách giải thích khác
+ Chính nhờ lựa chọn hình thức chuyển ý hợp ly, nọi dung của đoạn văn được thể hiện rõ ràng, hợp lý khiến cho điều mà tác gia can trình bày chính xác, đầy đủ
28
Trang 29BÀI TẬP 9
Chúng ta có một phần văn bản sau đây nhưng việc phân đoan của nó đã bị xoá đi Hãy tách phần văn bản nói trên thành các đoạn văn và nói rõ cơ sở của cách làm đó
“Thời đại thông tin ngày nay không cho phép kéo dài như vậy
và đóng cửa như vậy Khi mà mỗi sự kiện xảy ra từ một nơi nào đó trên hành tinh, ngay lập tức, được truyền đến từng căn phòng thì sự dong cua, bung bít, ngăn cản là điều không thể làm được Khi đã nhận thức sự giao lưu văn hoá là một quy luật tất yếu của đời sống, một nhu cầu tự nhiên của con người thì thực hiện sự giao lưu ấy một cách chủ động, tích cực và có chọn lựa là phương sách thông minh và đúng đắn nhất Văn hoá, cũng như mọi sự vật và hiện tượng đều có tính hai mặt Và nhận thức của mỗi dân tộc, mỗi con người đối với cùng một nền vần hoá cũng khác nhau, họ tìm thấy những khía cạnh khác nhau: tích cực và tiêu cực, tốt và xấu, phù hợp và không phù hợp Bởi vậy, phải có sự chọn lọc tự nhiên những 'yếu tố dương”, dẫn đến sự đào thải tự nhiên những "yếu tố âm” của các trào lưu văn hoá Sự chọn lọc ấy, sự đào thải ấy
không thể được thực hiện bằng cách cưỡng ép mà khi đã có một
"cơ thể vần hoá tráng kiện” thì tự nó sẽ điều chỉnh và tạo khả năng
để hấp thụ cái tốt và loại bỏ cái xấu Văn hoá của các dân tộc có nhiều nét chung, song mỗi dân tộc lại có những nét riêng, gọi là bản sắc Vậy điều quan trọng hàng đầu để có "cơ thể văn hoá
trảng kiện” là nghiên cứu, phân tích, xác định nội dung của bản
Trang 30đâu đâu cũng nói điều này, song cần đi đến một định tinh co cơ sé
khoa học làm cho mọi người, từ dân thường đến nhà bác học đều
nhận biết nội dung cơ bản của bản sắc ấy để giữ gìn, để phát huy
No di vào cuộc sống, trỏ thành nếp nghĩ, nếp hành động của toàn
xã hội Nhờ vậy nó tiếp nối truyền thống tự ngàn xưa và phát huy
để giáo dục niềm tự hào và lòng tự cường trong việc dựng xây đất nước”
(Trích trong Văn hoá học Đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, trang 229 - 230)
- Cuối cùng, thử kiểm tra việc chia lại các đoạn văn như trên qua việc kiểm tra lôgic lập luận của chúng
+ Phân văn bản nói trên có 3 ý tương đối hoàn chỉnh thể hiện
qua ba dấu hiệu hình thức Các bạn thử xác định xem nó ở chỗ nào
+ Như vậy, việc tách đoạn văn trước hết là căn cứ vào nol dung mà đoạn văn đó thể hiện, thứ đến là căn cứ vào dấu hiệu hình 30
Trang 31thức cho phép người ta nhận diện được nội dung đó và cuối cùng là căn cứ vào lập luận cua van ban được thể hiện ở mỗi đoạn văn
về tổ chức xã hội và trách nhiệm của các chức dịch trong làng; những quy ước về van hoa tinh than và về tín ngưỡng
2 Ở không ít làng vẫn còn nhiều công điền, công thổ Việc phân cấp công điền, công thổ theo định kỷ là nội dung của những
quy ước được mọi người quan tâm nhất Ngoài ra còn có những
quy ước về nghĩa vụ đóng góp với làng (góp tiền và thóc) của những người sử dụng công điền công thổ và của cả những người
sở hữu tư điền (tất nhiên là bên cạnh việc nộp tô, nộp thuế cho nhà
nƯỚC)
3 Trong việc quy ước về việc thúc đẩy và bảo vệ sản xuất, thi quan trọng nhất là những quy ước về việc duy tu đê đập, việc sử dụng nguồn nước, khơi vét kênh mương, việc cấm lạm sát trâu bò
để bảo đảm sức kéo trong cày, bừa, việc cấm bỏ ruộng hoang,
việc cấm chặt cây ỏ rừng chắn gió (nhất là ỏ vùng ven biển) v.v
Ngoài ra, ở những làng trong đó nghề thủ công hoặc mỹ nghệ là
Trang 32nguồn sinh nhai quan trọng thì lại có thể có những quy ước nhằm
khuyến khích sự phát triển nghề thủ công hoặc mỹ nghệ ấy
4 Ở hầu hết các làng, hoa lợi của một số ruộng công được
Sử dụng vào những việc công ích của làng như sửa chữa hoặc xây dựng lại đình, đền, chùa, làm cầu cống, đắp đê đập, đào kênh
mương, v.v Lại có ruộng tư điền mà hoa lợi được sử dụng vào
việc thờ phụng thần thành hoàng ở đình làng và các vị thần linh khác ở đền (nếu làng có đền) Một số làng còn có ruộng học điền
mà hoa lợi được sử dụng vào việc khuyến học và vào các hoạt động văn hoá khác Những nội dung trên đều được ghi thành các khoản trong hương ước
5 Loại quy ước về chế độ ruộng đất có tầm quan trọng hàng đầu Tuy ỏ nông thôn cũng có những nghề như lâm nghiệp, ngư nghiệp và thủ công, mỹ nghệ, v.v nhưng ở tuyệt đại đa số các
làng, nhân dân chủ yếu làm nông nghiệp Trong hương ước, những
quy ước về chế độ ruộng đất được xác định một cách cu thé va chi
Hãy sắp xếp chúng lại sao cho đúng trật tự vốn có của nó Nói
rõ cách làm để có được kết quả như vậy
Goi ý trả lời:
Trang 33+ Sau Khi đọc các đoạn văn đã cho, chung ta sé sap XẾP các
đoạn van nói trên theo trật tự là: 1 5, 2, 4 và 3
+ Chúng ta có thể làm được như Vậy Vì:
- Về nội dung các đoạn văn từ số 2 trở đi đều là những đoạn văn giải thích hay làm rõ những nội dung đã được thể hiện mot cách khái quát trone đoạn văn thứ nhất
- Trật tự các đoạn văn cũng là trật tự của các ý có trong đoạn
van thứ nhất Các phương tiện hình thức (như các từ nối các ý nổi của các đoạn van ) đều nhằm thể hiện trật tự đó
+ Như vậy, để có thể xác lập trật tự các đoạn văn cho hợp lý thực chất là xác định lập luận của phần văn bản) chúng ta nhất thiết phải căn cứ vào tính chất logic của ý chính các đoạn văn và sau đồ xem phương tiện nối kết các ý trong phần văn bản có thể hiện điều đó hay không
đặc biệt,
b Ngoài hoạt động trao đổi kinh tế, còn có những trao đổi phi Kinh tế Khác ảnh hưởng đến giao lưu văn hoá
Trang 34c Hai nhan to chi phdi su trao doi kinh té trong xa hoi co so
là sinh thái, và truyền thống
- Dựa vào các ý trên, hãy sắp xếp trật tự các ý ấy cho hợp với logíc lập luận của bài báo
- Viết đoạn mở đầu (với độ dài từ 8 - 10 câu và khoảng 250 chữ) sao cho phù hợp với logíc lập luận giữa các ý
- Tiếp xúc và giao lưu văn hoá là kết quả của các hoạt động tiếp xúc giữa các cộng đồng người
- Trong các hoạt động đó, trao đổi kinh tế có ý nghĩa đặc biệt
- Ban đầu sự trao đổi kinh tế là trao đổi sản phẩm
- Trao đổi sản phẩm tiến đến mức trao đổi hàng hoá
- Trao đổi kinh tế có thể diễn ra ở biên giới giữa các cộng đồng
- Trao đổi kinh tế có thể là do di cư đến các vùng khác nhau
để tìm thức ăn hay nguyên liệu.
Trang 35BÀI TẬP 12
Chúng ta có đoạn văn sau đây hãy tóm tắt lại thành một đoan văn mới quang 3, 4 câu Nói rõ cách làm
“Trong thời kỷ Đại Việt nói chung, văn hoá dân tộc đã có
nhiều bước phát triển Nhà nước Đại Việt mỏ rộng việc đắp đê, đào sông, khơi ngòi, đặt ra các chức Hà đê sứ, Khuyến nông sứ Nông nghiệp ngày càng phát triển Sứ giả nhà Nguyên đến nước ta năm
1291 nhận xét rằng ở đồng bằng sông Hồng một năm lúa chín bốn lần Càng về sau thì trình độ nông nghiệp càng được nâng cao Đến cuối thế kỷ XVIII, thì theo Lê Quý Đôn, ở đồng bằng sông Cửu Long, có những nơi mà với một đơn vị thóc giống đem gieo cấy thì
người ta thu hoạch được 300 đơn vị thóc gặt Gần đây năm 1984 trong bài "Trung Quốc: 7000 năm nông nghiệp lúa nước" đăng trên tạp chí Thư tín UNESCO hai nhà nông học ở Bộ Nông nghiệp,
chăn nuôi và ngư nghiệp Trung Quốc đã viết rằng ỏ Trung Quốc việc trồng lúa nước có từ lâu ở Hoa Nam, nhưng chỉ đặc biệt phát triển nhanh trong đời nhà Tống (960 - 1206) sau khi nhập giống lúa Thắng Hạn ở Việt Nam Giống lúa này thắng được nạn hạn hán
và có chu kỳ sinh trưởng ngắn ngày Vì vậy mà nó nhanh chóng được phổ biến ở đồng ruộng Trung Quốc và khiến cho năng suất
lúa tầng gấp bội Xem thế đủ thấy nông nghiệp trồng lúa nước ngay từ thời nhà Lý (1010 - 1225) đã phát triển cao và có ảnh hưởng tốt đối với nông nghiệp Trung Quốc lúc đương thời Bên cạnh nông nghiệp thì trong thời kỳ Đại Việt các nghề thủ công cũng phát triển ở khắp nơi trong nước Trong sách DưĐịa chí của Nguyễn Trãi có ghi chép về nhiều nghề thủ công hồi thế kỷ XIV và
Trang 36XYV Ở Thăng Long có nghề dệt lụa (Nghi Tàm) nghề làm giấy (Yên
Thái), nghề làm binh khí (ỏ Tàng Kiếm, gần ga Hà Nội ngày nay) nghề nhuộm (Hàng Đào) v.v Ở các nơi khác cũng có những nghề thủ công nổi tiếng như Tiên Phong dệt lụa, Yên Thế nung vôi, chế cung tên, Hoa Triều, Kính Chủ chế tác đá hoa, Kim Bảng dệt the, v.v Nghề gốm sứ đời Trần với thứ men ngọc nổi tiếng còn để lại
những di vật thể hiện một trình độ công nghệ c⁄o, và một trình độ
thẩm mỹ đặc sắc Đến thế kỷ XVIII, nhiều đồ gốm sứ nước ta đã
được lái buôn ngoại quốc đem xuất khẩu sang Nhật rồi sang Nam Dương để từ đó sang phương Tây Đến thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn
đã giới thiệu trong sách Phu Bién tạp lục tình hình rất phong phú
của sản xuất thủ công mỹ nghệ ở miền Nam nước ta khi ấy
Một vài dân chứng trên đây đủ chứng tỏ rằng trong thời kỳ Đại Việt, văn hoá vật chất ở nước ta có trình độ phát triển tương đối cao so với trình độ nhiều nước trong thế giới lúc bấy giờ"
(Đỉnh Gia Khánh, Đại cương về tiến trình văn hoá Việt Nam, sdd, tr.250 - 251)
Gơi ý trả lời:
+ Từ đoạn văn nói trên chúng ta có thể tóm tắt nó lại thành một đoạn văn Sâu đây là một kiểu tóm tắt
Trong thời kỳ Đại Việt nói chung, văn hoá dân tộc đã có
nhiều bước phát triển Nhờ mở rộng việc đắp đê, đào sông, khơi
ngòi, trình độ nông nghiệp nước ta ngày càng nâng cao Mặt khác
nghề thủ công cũng rất tỉnh xảo, trong đó đặc biệt đời Trần đã để lại một thứ men gốm sứ đạt trình độ thẩm mỹ đặc sắc
36
Trang 37+ Qua cách tóm tất nói trên chúng ta thấy rằng, để làm được như vậy, trước hết phải:
- Xác định ý chính của đoạn văn thông qua nhận điện cau chu d¿ (nếu có) và cách lập luận của đoạn văn Ở đoạn văn nói trên chúng ta thấy câu chủ đề là câu thứ nhất của đoạn văn Các câu về sau chỉ làm nhiệm vụ chứng minh cho nhận định của câu thứ nhất
Do đó chúng ta nhận thấy đây là đoạn văn có cách lập luận diễn dịch Để chứng minh cho câu chủ đề trong đoạn văn có hai ý tương đối rõ ràng
- Như vậy, từ cách xác định ý chính của đoạn văn và cách lập luận của nó, chúng ta xây dựng một đoạn văn mới với câu chính là cau chu dé cua đoạn văn cũ và hai câu mới đại diện cho hai ý dùng
để chứng minh cho câu chủ đề đó
BÀI TẬP 13
Chúng ta có đoạn văn sau đây Hãy nhận xét về nội dung và hình thức liên kết của nó Sau đó hãy chữa lại đoạn văn cho đúng với nội dung mà nó cần thể hiện
"Đỉnh cao chiến cong giữ nước là nhà Trần 3 lần chiến thắng giặc Nguyên Mông
Đỉnh cao của thời hưng thịnh hoà bình dựng nước là thời Vua
Lê Thánh Tông
Dinh cao cua nên văn hoá là ba đời Lý, Trần, Lê
Trang 38Sau đó 80 năm Pháp thuộc, cuộc đấu tranh giành độc lập tự
do dân tộc, công lao của Đảng Cộng sản Việt Nam bao gồm cả công lao của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ Mỗi thời kỳ
lịch sử dân tộc đều nổi lên những anh hùng dân tộc, lãnh tụ, minh quân, danh nhân, danh sĩ tiêu biểu tinh thần yêu nước, tiêu biểu
cho tư tưởng văn hoá Việt Nam”
(Thanh Hương, Tài liệu đã dân)
Gơi ý trả lời:
+ Có thể nhận thấy đoạn văn phải xem xét có nội dung không
rõ ràng, không thể hiện được một ý tương đối hoàn chỉnh Hai câu của đoạn văn rời rạc, không thể bổ sung cho nhau để tạo nên một nội dung hoàn chỉnh Như vậy, đoạn văn không rõ ràng cả về liên kết nội dung lân liên kết hình thức
+ Có thể phân tích đoạn văn trên theo hai câu của nó:
- Câu 1: Khẳng định công lao to lớn của Đảng cộng sản Việt
Nam trong công cuộc giành độc lập dân tộc sau 80 năm Pháp
thuộc, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ
- Câu 2: Trong lịch sử dân tộc, giai đoạn nào củng có những gương mặt tiêu biểu cho tỉnh thần yêu nước, tiêu biểu cho tư tưởng
văn hoá Việt Nam
+ Từ hai câu thể hiện hai ý riêng rẽ đó, chúng ta có thể có hai cách sửa chữa: a Xây dựng hai ý đó thành hai đoạn văn; b Xây
dựng một đoạn văn chứa đựng hai ý ấy theo một lập luận hợp lý
+ Chúng ta có thể tham khảo một cách chữa như sau:
38
Trang 39"Mỗi một thời kỳ lịch sử, dân tộc ta đều có những anh hùng dân tộc lãnh tụ danh nhân tiêu biểu cho tinh than yêu nước tiêu biểu cho tư tưởng văn hoá của mình Trong cuộc đấu tranh giành đọc lập sau 80 năm Pháp thuộc, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bảo vệ quyền độc lập ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện cho tình thần yêu nước, đại diện cho tư tưởng văn hoá của dan toc”
BÀI TẬP 14
Sau đây là một bài xã luận trong báo NHÂN DÂN (ngày 28/11/1996 trang 1, cot 1) Hãy tóm tắt bài xã luận này thành một văn bản ngắn hơn, quãng 150 chữ Hãy nói rõ cách làm
BẢO VE VA PHAT TRIEN RUNG
Ngày 28-11-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân
trồng cây gây rừng Từ đó, cứ mỗi độ xuân về, như một truyền
thống đẹp, toàn Đảng, oàn dân, toàn quân ta lại nô nức tham gia
“Tết trồng cây" Giữa năm ngoái, Chính phủ quyết định lấy ngày Bác Hồ kêu gọi trồng cây 28 - 11 là ngày Lâm nghiệp Việt Nam, nhắc nhỏ mỗi chúng ta có trách nhiệm và nghĩa vụ trồng cây, trồng rừng vì sự xanh tươi của quê hương, đất nước
Thực hiện lời kêu goi của Bác Hồ, trồng cây đã trỏ thành
phong trào quân chúng rộng khắp, làm cho đất nước ngày càng
Trang 40vé rung, nganh Lam nghiép da góp phần không nhỏ vào VIỆC xây
dựng đổi rừng, tạo đà phát triển kinh tế - xã hội miền núi, giải quyết
việc làm, xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc và giữ
vững quốc phòng, an ninh Hàng nghìn tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa, Anh hùng Lao động, chiến sĩ thi đua và hơn 500 Huân
chương Lao động các loại của ngành này là sự ghi nhận Công lao
to lớn của những người làm công tác lâm nghiệp trong 35 năm qua
Ngành đã quy hoạch 19 triệu hec-ta đất lâm nghiệp thành ba loại
rừng phòng hộ, đặc dụng và sản xuất để phát triển nền lâm nghiệp
ổn định, xây đựng 60 khu rừng phòng hộ, đặc dụng, 10 vườn rừng
quốc gia, 49 khu rừng bảo tồn thiên nhiên và 31 khu rừng văn hoá
lịch sử
Những cố gắng của ngành Lâm nghiệp là đáng ghi nhận,
nhưng trong thực tế, thiên nhiên và con người đang hằng ngày,
hằng giờ làm mất đi một khối lượng không nhỏ vốn rừng Nhiều nơi rừng kiệt quệ, tỷ lệ che phủ: thấp, đã và đang làm ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái Những thảm hoạ thiên tai mấy năm gần đây đều có nguyên nhân từ khả năng phòng hộ của rừng bị suy
thoái
Bảo vệ diện tích rừng hiện có, đồng thời nhanh chóng phủ
xanh đất trống đồi núi trọc là nhiệm vụ bức xúc hiện nay Đây cũng
là một nội dung chủ yếu của Chương trình 327 đang được Nhà nước đầu tư hàng trăm tỷ đồng mỗi năm Để làm tốt việc này, trước hết phải làm cho rừng có chủ Hiện nay, ngoài đất rừng thuộc hơn
400 lâm trường quản lý, bảy triệu héc ta rừng, đất rừng đã giao cho
hơn một triệu hộ và tập thể quản lý, vẫn còn một nửa đất rừng và
40