1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chương trình phát thanh tiếng thái vov4

69 605 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 104,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nội dung, chất lượng chương trình trên cơ sở phân tích khái quát đặc điểm tính cách cũng như sở thích thị hiếu của dân tộc Thái ở

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 L ý do chọn đề tài

Trong đời sống xã hội hiện nay, báo chí chiếm mội vị trí quan trọng

và to lớn Nó thực sự đã trở thành một món an tinh thần tình cảm và tri thức hàng ngày không thể thiếu được của toàn xã hôị

Chương trình phát thanh tiếng dân tộc có mộ ý nghĩa lớn trong sự nghiệp cách mạng của đảng ở miền núi, nhằm phát huy tiềm năng nội lực

to lớn của đồng bào các dân tộc trong sự nghiệp cách mạng, củng cố niềm tin yêu của đồng bào dân tộc với Đảng, góp phần chiến thắng đập tan âm mưu luận điệu phản động, lừa bịp của bọn đế quốc và các thế lực thù địch

Ngày 21-1-2000, Chính phủ có quyết định số 11/2000/QĐ-TTg về kế hoạch triển khai Thông báo số 255/TB-TW của bộ Chính trị, thực hiện trong 3 năm(2000-2002) giao nhiệm vị cho các bộ ngành địa phương xấy dựng kế hoạch cụ thể Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh: cần tăng cường phủ sóng PT-TH bằng tiếng dân tộc ở địa phương, nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, các tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên

Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới ở nước ta hiện nay, một yêu cầu bức thiết với báo chí nói chung và phát thanh nói riêng đó là: Cần khẩn trương cải tiến nâng cao chất lượng nội dung chương trình sao cho phong phú

Chương trình phát thanh tiếng Thái ra đời từ ngày 07/05/02, đã có quá trình phát triển nhất định Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu về chương trình này Do đó, tôi

đã chọn đề tài : “ VÒ chương trình phát thanh tiếng Thái VOV4”

Nhiệm vụ chính của đề tài là khảo sát nghiên cứu tình hình hoạt động của chương trình phát thanh tiếng Thái của Đài tiếng nói Việt nam về tất cả các phương diện: nội dung, hình thức, thời gian phát sóng, thời lượng phát

Trang 2

sóng, kết cấu cũng như các chuyên mục được xây dựng trong chương trình và những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nội dung, chất lượng chương trình trên cơ sở phân tích khái quát đặc điểm tính cách cũng như sở thích thị hiếu của dân tộc Thái ở Sơn la và một số tỉnh lân cận,

từ đó có thể đúc rút đựơc những biện pháp cách thức cụ thể để chương trình phát thanh tiếng Thái có chất lượng cao hơn, thiết thực với đồng bào dân tộc Thái nhất

Khi các chương trình phát sóng bằng tiếng Thái được cải tiến nâng cao mọi mặt sẽ mang một ý nghĩa chính trị to lớn: khơi dậy và phát huy cao

độ niềm tin tự hào chính đáng của dân tộc Thái, củng cố niềm tin sắt đá của đồng bào dân tộc với Bác Hồ, với Đảng Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng hiệu quả các chương trình phát són tiếng Thái chính là góp phần thúc đẩy đưa đồng bào có điều kiện tiếp cận ứng dụng các tiến bộ của khoa học

kỹ thuật vào sản xuất, biết cách phát huy nội lực, làm giàu bằng chính bàn tay khối óc trên mảnh đất quê hương của mình Đây thực sự là một công việc hữu ích nhiều mặt và hoàn toàn phù hợp với nhiệm vụ chính trị của Đảng đặc biệt quan tâm: Phát triển kinh tế xã hội các tỉnh miền núi, giúp đồng bào các dân tộc - nhất là anh em dân tộc thiểu số xoá đói giảm nghèo, vươn lên giàu có

2 Nhiệm vụ, mục đích và ph¹m vi nghiªn cứu của đề tài.

- Nhiệm vục chính của đề tài: Khảo sát thực trạng chương trình phát thanh tiếng Thái trên tất cả các phương diện: nội dung, hình thức, thời lượng phát sóng, hình thức kết cấu cũng như các chuyên mục thực hiện trong chương trình… và những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nội dung và hình thức chương trình trên cơ sở phân tích, khái quát hoá đặc điểm sở thích thị hiếu đồng bào dân tộc Thái ở khu vực Tây Bắc Từ đó nêu lên những ưu điểm, nhược điểm của chương trình Qua đó, đưa ra một

số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng chương trình phát thanh

Trang 3

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Chương trình phát thanh tiếng Thái Đài TNVN VOV4, bao gồm chương trình thời sự tổng hợp và chương trình

ca nhạc

3 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Tính đến thời điểm này, chưa có một nghiên cứu cụ thể và riêng biệt về chương trình phát thanh tiếng Thái của VOV4

Tuy nhiên, hiện đã có những đề tài liên quan như:

Cao Minh Châu: “Đổi mới và nâng cao chất lượng, nội dung chương

trình phát thanh tiếng Mông ở tỉnh Sơn La” Báo cáo nghiệm thu đề tài

khoa học: “ KX- 03-2001” 2002

Đặng Thị Huệ: “Nâng cao chất lượng và hiệu quả truyên truyền về

dân tộc trên song phát thanh quốc gia” Đề tài nghiên cứu khoa học Ban

phát thanh dân tộc Đài tiếng nói Việt nam 2006

Tô Ngọc Trân:“Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng

Khơme Nam Bộ” Đề tài nghiên cứu khoa học- Đài Tiếng nói Việt Nam

2004

4 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm có 3 chương:

Chương I: Đặc điểm dân tộc Thái và nhu cầu tiếp nhận thông tin của dân tộc Thái

Chương II: Hiện trạng chương trình phát thanh tiếng Thái

Chương III: Các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng Thái

Trang 4

Chương 1: : ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC THÁI VÀ NHU CẦU TIẾP

NHẬN THÔNG TIN CỦA DÂN TỘC THÁI

1.Đặc điểm dân tộc Thái

Tộc danh đồng bào tự gọi là Táy hoặc Thay cùng các tên gọi khác là: Tay Thanh, Man Thanh, Tay mười, Tay Mường Các nhóm địa phương gồm có:

- Ngành đen ( Tay Đăm): Trước đây phụ nữ thường mặc áo đen

Trang 5

- Ngành trắng( Tay Đón, hay Tay Khao) : Trước đây phụ nũ thường mặc áo trắng

Tuy phân chia hai ngành đen trắng nhưng họ không có gì khác biệt

về văn hoá

Tiếng nói dân tộc Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái

Theo số liệu điều tra dân số công bố năm 2001 của Tổng cục thống

kê thì dân tộc Thái có 1.328.725 người, cư trú tập trung tại các tỉnh Sơn la, Điện Biên, Hoà Bình, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hoá, Nghệ An, Lâm Đồng

Văn hoá sản xuất

Người Thái còn gọi là Táy, có nghĩa là người cày ruộng, điều đó nói lên từ lâu đời người Thái đã thành thạo canh tác nông nghiệp ruộng lúa nước, dùng sức kéo đôi trâu để cày bừa làm đất, gieo mạ cấy lúa theo cách lấy giống ngâm nước ấm, cứ 20kg thóc giống cho một lạng muối; thóc nảy mầm thì gieo vào ruộng xâm xấp nước; khi mạ cao 2 đốt tay thì tháo nước đi; mạ cao 20-2cm thì nhỏ cấy dầy vào ruộng khác; khi mạ cao cứng cáp mới nhổ cấy thành ruộng lúa Đồng bào giải thích cấy chuyển mạ 2 lần thì cây lúa mới khoẻ, trổ bông trắc hạt Người Thái có tập quán cấy lúa nếp đại trà, nay đã cấy nhiều giống lúa tẻ có năng suất cao

Người Thái đã thành thạo làm thuỷ lợi, thể hiện qua câu thành ngữ:" Mương phai lài lín "( Khơi nước đắp đập, dẫn nứơc qua chướng ngại, đặt máng trên cánh đồng ) Đặc biệt là lợi dụng sức nứơc dựng hệ thống cây cọn quay đưa nước từ sông suối lên cánh đồng

Người Thái vẫn canh tác nương rẫy bằng cách dùng cày cuốc làm đất nương, thâm canh trồng ngô, khoai, sắn, vừng, lạc, trồng bông, trồng chàm

Trang 6

Người Thái cũng canh tác vườn để trồng cây ăn quả, rau xanh, và họ

sử dụng cả vườn treo (đổ đất vào máng đặt lên sân sàn trồng rau,gia vị, húng, hành

Người Thái trước đây có tập quán nuôi trâu thả rông trong những Púng rào giậu kín, tụ chúng sống sinh đẻ, đến mùa mới bắt trâu về kéo cày Nay thì họ đã nuôi trâu theo gia đình, có chuồng trại riêng Còn chăn nuôi lợn gà ngan ngỗng thì rất phát triển Vật nuôi vừa trở thành hàng hoá vừa trở thành vật sử dụng trong lễ tết

Nghề thủ công của người Thái rất phong phú, phát triển đạt đến trình

độ cao Phổ biến trong mỗi gia đình là nghề đan lát mây tre, mạy loi thành những tấm cót trải sàn, những vật dụng hàng ngày ( như: nong, nia, dần, sàng, dậu, mặt ghế ) Đặc biệt nghề kéo sợi, dệt vải là công việc gắn với mỗi gia đình, gắn với mỗi người phụ nữ Thái Ngoài ra còn có những nghề thủ công mang tính chuyên nghiệp như nghể rèn nông cụ xẻng, cuốc, lưỡi cày, dao, kéo Người Thái đã biết dùng bàn xoay, độ nung cao trong nghề làm gốm tạo thành những chum, vại, nồi, chõ đất, bát đĩa đạt trình độ kỹ thuật và mỹ thuật

Kinh tế hái lượm vẫn chiếm địa vị đáng kể trong đời sống của người Thái Rừng cung cấp các loại rau, quả, hạt, nấm, mộc nhĩ, măng, rêu đá, các loại côn trùng, các loại thú nhỏ và thú lớn Rừng còn cho các lậi cây thuốc quý, tre, gỗ, song, mây Các khe suối cho tôm, cua, ốc, cá nhỏ; các suối cho cá lớn Người Thái có thói quen nuôi cá trong ruộng lúa, hay nuôi

cá trong lồng dọc theo hai bên các dòng sông Người Thái có câu: " Pây hỉn

pá, má kin lẩu" (đi ăn cá, về uống rượu) nói lên việc ăn cá là một thú vui của họ

Văn hoá tổ chức đời sống

Trang 7

Người Thái phổ biến sống theo kiểu gia đình nhỏ phụ quyền Biểu hiện bằng việc mỗi nóc nhà được tượng trưng bằng chiếc cột chính( sâu hẹ hay sâu cốc), ở đầu cột treo các vật thiêng liêng như lông gà, xương thú

hay xương cá to Ông chủ nhà nằm bên cột chính, cạnh bàn thờ là ma nhà,

như để khẳng định tính chất phụ quyền của gia đình Con gái như người ngoài, không được quyền quyết định gì trong việc gia đình ngoài việc sinh con và công việc nội trợ Con dâu phaỉ đổi họ theo chồng Quan hệ dòng họ của người Thái được biểu hiện ở hai khía cạnh:

- Khía cạnh tô tem giáo như: Họ Lò kiêng ăn thịt chim láng lò, không ăn măng lò; hị Vi kiêng dùng quạt( vi) để quạt sôi; họ Lộc không giết và không ăn thịt hổ; họ Lường kiêng ăn nấm mọc trên cây đã ngả sẵn trên rừng

- Quan hệ dòng họ liên minh, biểu hiện ra:

Quan hệ Ải noọng: Quan hệ giữa những người con trai cùng thế hệ

có hôn nhân với những người con gái của dòng họ khác

Quan hệ Lúng ta: Quan hệ giữa những người con trai trong dòng họ

có quan hệ hôn nhân với thành viên trai của Ải noọng, nói cách khác là con gái làm râu bên Ải noọng.

Quan hệ Nhính sao: là quan hệ giữa nhữn người con trai dòng họ có quan hệ hôn nhân với thành viên gái của Ải noọng, nói cách khác là có con trai về làm rể Ải noọng.

Ba quan hệ trên đây xuất phát từ hình thái hôn nhân thuận chiều, tàn tích của liên minh thị tộc Trong ba quan hệ đó, quan hệ giữa những người

Ải noọng là cơ bản, quan hệ của những người có trách nhiệm duy trì sự

trường tồn của dòng họ Còn quan hệ Lúng ta biểu thị chủ yếu vị trí của

ông cậu với cháu ngoại

Trang 8

Người Thái gắn kết xã hội trong phạm vi cơ bản, bởi một số dòng

họ cùng chung nhau hệ thống thuỷ nông và lịch canh tác ruộng nước cũng như nương rẫy, cùng chung nhau những cánh rừng, những con sông con suối Nói chung là kiên kết với nhau về kinh tế trên một địa bàn dân cư nhất định Đồng thời liên kết về đời sống chính trị dưới sự điều hành của Tạo bản ( làm nghĩa vụ cuông, nhóc, pụa đối với hệ thống chúa mường làng xã, hàng tổng hàng châu)

Trong xã hội người Thái trước đây, danh nghĩa tất cả đất đai, ruộng nương, nguồn nước, rừng đều là sở hữu công cộng; nhưng thực chất các

chúa đất lớn a nha giành chiếm những khu rừng nhiều sản vất quý hiếm,

nhiều thú, những khúc sông nhiều cá,lắm tôm, những hang động, những tổ ong lớn làm của riêng Nhân dân săn được thú lớn từ hươu nai trở lên trong khu rừng chúa cai quản phải nộp đìu, nộp da, xương ( nều là hổ) mật ( nều là gấu) cho chúa

Ngày nay, tổ chức đời sống đã khác hẳn Người Thái cũng như các dân tộc anh em khác, theo già làng truởng bản, thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng một cuộc sống dân giàu nước mạng, xã hội công bằng văn minh

Văn hoá vật chất

* Nếp ăn

Cơ cấu bưa ăn của người Thái đầu bảng vẫn là chất bột cộng thêm rau, thịt, cá Trước đây người Thái có thói quen cấy nhiều lúa nếp nên gạo nếp được coi là lương ăn truyền thống Gạo nếp được ngâm đồ trên chõ, dỡ

ra mủng nắm tay ăn bốc là thói quen trong mỗi bữa ăn hàng ngày Ngày nay việc dùng gạo tẻ thổi cơm đang trở nên phổ biến Trên mâm cơm hàng ngày không thể thiếu món muối ớt dầm thêm tỏi, rau thơm, hàng mùi, có

thể thêm gan gà luộc, ruột cá nướng gọi chung là món chéo Người Thái

Trang 9

không có thói quen ăn luộc, rau hàng ngày xào mỡ hoặc rang bỏ muối Khi

có giết trâu, bò, nai thì thể nào cũng tuốt lấy sữa đắng ở ruột non các con vật hoà với tỏi ớt, nước chua làm thành món nước chấm hoặc sốt để ăn gọi

là Nậm pịa

Người Thái cũng có lệ cúng cơm sau vụ gặt Món ăn truyền thống trong lễ cơm mới là xôi nhiều màu như dân tộc Mường, với món cá muối từng khúc tẩm bột gói lá đồ lên Tuy ở miền rừng núi nhưng thói quen ăn

cá của người Thái vẫn rất phổ biến Có gia đình hàng năm thả nuôi cá và đánh bắt hàng tạ cá để muối ăn dần Câu tục ngữ " đi ăn cá, về uống rượu"

đã nói lên điều đó Người Thái từ lâu đã biết cất rượu trắng ( lẩu xiêu) bằng gạo, sắn, ngô và men lá Rượu cần ( lẩu xá) là loại rượu đặc trưng của

người Thái, được dùng hàng ngày, nhất là dịp lên nhà mới, cưới xin hội hè Người Thái có thói quen hút thuốc lào bằng điếu ống tre nứa to, khi hút có lệ mời người bên cạnh uống trước

* Trang phục

Tục ngữ Thái có câu : " Đàn bà dệt vải đàn ông đan chài" Người

Thái Thanh Hoá lại có câu :

Trời sinh con gái phải biết trồng bông dệ vải

Trời sinh con trai đi cày bừa chớ có đánh trâu

Truyện nàng Hoan của người Thái lại có đoạn " cha nàng làm nương săn thú, mẹ nàng quay sợi dệt vải " Những câu trên đây nói lên việc lo cái mặc của người Thái đã được phân công cho phụ nữ

Người Thái còn có câu " Nhác trồng bông nghĩ đến mùa đông", " đất đen trồng bông, chọn được ngày lành tháng tốt, chồng đi trước trọc lỗ, vợ

đi sau trỉa hạt bông" và " Nương bông hửng nắng trưa phải cố thu hoạch"

Trang 10

Đàn ông có thể tham gia vào công việc trồng bông, chăm sóc bông, thu hoạch bông, thu hái bông, nhưng khi bông đã về nhà thì việc chọn bông, cán bông, cuộn bông kéo sợi, nhuộm sợi, dệt thành vải thì hoàn toàn

do bàn tay người phụ nữ đảm nhiệm Trong nhà người Thái quanh năm lúc nào cũng thấy có vải dệt dở trên khung cửi Tranh thủ ngày mùa, trước lúc lên nương, trước lúc đi ngủ là người phụ nữ Thái ngồi vào khung cửi Những câu ngạn ngữ:

"Thóc lúa lo trồng, sợi bông lo dệt

Yêu chồng chăm dệt vải, thương con chăm vá may"

đã nói về đức tính chịu thương chịu khó của người phụ nữ Thái

Người Thái cũng giỏi nghề trồng dâu nuôi tằm, kéo tơ dệt lụa Những váy lụa, áo lụa có hàng khuy bạc ónh ánh, quấn quýt mềm mại trong điệu múa xoè, nhảy sạp là nhờ vào đôi bàn tay phụ nữ Thái

Vải của người Thái chủ yếu nhuộm chàm Cây chàm trồng trên nương đến độ thu hoạch được thì cắt về ngâm vào chum dăm bảy ngày, nước thôi màu đỏ là tốt Nước chàm lọc sạch, nhúng vải nhuộm phơi khô, dăm bảy lần thành màu xanh đậm Lại nhuộm thêm nước vỏ cây hoa lan và

vỏ cây năm lau, màu chàm trở nên xanh đen đậm, chỉ có thể thấy ở Tây bắc

Còn khi nhuộm sợi các màu dệt thổ cẩm, chăn đệm, khăn piêu thì màu đỏ nhuộm từ nước vỏ cây phong hoặc cây xơm pú màu vàng ( hương) nhuộm từ nước vỏ cây hom, màu đen thì dùng vải tràm nhuộm thêm nước

củ nâu ( mắc ban) là được Vải người Thái mặc rách vẫn bền màu

Người Thái có câu tục ngữ: " ở bản cái nhà, đi xa bộ váy áo" nói lên việc mặc đối với người Thái rất quan trọng, nhất là đối với người phụ nữ Trang phục người Thái đen gồm:

Trang 11

- Váy ( xỉu hoặc nổng): váy Thái được tạo từ 4 tấm vải khổ 0,4m dài

từ nganh thắt lưng tới chấm gót Phía trên có cạp váy hay đầu váy ( hua nịu) cao khoảng 10cm bằng vải xanh hoặc đỏ, đôi khi cũng dệt cạp váy riêng, thêu hoa văn giống cạp váy người Mường Gấu váy cũng khâu nẹp thường là màu đỏ cao khoảng 3cm Khi khâu váy, đườn dọc can các tấm váy khâu vắt cho mềm, còn đường khâu cạp và gấu váy khâu đột cho cứng Váy Thái có lót bên trong, thường là màu trắng, may ngắn hơn váy ngoài 15cm Váy Thái phổ biến là màu đen, đôi khi màu tràm Khi mặc váy có thể gấp vào trước bụng hay bên sườn Ở nhà mặc váy dài, đi làm lao động trên ruộng nương thì xắn váy ngắn lên Khi ngồi trên sàn thì duỗi hai chân

ra phía trước gấp váy vào lòng chân hoặc gấp chéo hai chân sang một bên, váy gấp thu vào lòng, khi ngồi ghế cũng phải thu váy vào lòng Người Thái

có câu nhắc nhở phụ nữ ngồi: " Ngồi xổm phải xem gấu váy" Ngày nay phụ nữ Thái có thói quen mặc váy ngang bọng chân để tiện khi lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi Váy mặc lao động hàng ngày may bằng vải thường, váy mặc vào dịp lễ tết, ngày cưới may bằng vải lụa lanh, sa tanh Mặc váy tiện lợi khi mang thai, là "buồng tắm di động" tắm suối khi đi làm nương

về Trong nhà có chỗ quy định riêng để thay váy goi là hỏng téng vẻng ( cửa sổ trang điểm) sát trong vách chỗ cầu thang xia bước lên sàn

- Thắt lưng ( xai ẻo): thường làm bằng lụa tơ tằm nhuộm màu xanh

lá cây, hai đầu can thêm 2 mảnh vải đỏ thêu thùa có rua 3 phía Khi xải ẻo quấn vào giữ cạp váy, hai miếng vải để hai đầu được giắt vào bụng hoặc lệch sang bên hông Thắt lưng không có trang trí trừ hai đầu tua rua

- Áo ( sửa): gồm có

Sửa hổm nôm: là áo lót bên trong, may bằng một tấm vải khoét lỗ chui đầu, phủ trùm hai vai xuống ngực, đính khuy hai bên sườn Ngày nay, phụ nữ Thái đã bỏ kiểu áo này, dùng kiểu áo lót như phự nữ người Kinh

Trang 12

Sửa cỏm: là cái áo ngắn từ xưa đến nay vẫn phổ biến ở cả hai ngành Thái đen và Thái trắng Áo may dài tay hẹp, thân cũng hẹp, bó sát người

Áo chỉ ngắn đến thắt lưng.Khi mặc gấu áo giấu trong thắt lưng Áo phụ nữ Thái nổi bật là hàng khuy dọc trước bụng, khuy có thể tết bằng vải hoặc bằng bạc, hình con bướm ve sầu hoặc cánh hoa gọi là măk pém Ngày nay hiếm bạc thì làm bằng nhôm Măk pém bao giờ cũng là số lẻ ( 9 hoặc 11), số dương cầu mong sự sinh sôi.Giải thích về măk pém có nhiều cách: măk là quả, nghĩa bóng là nhành cây, bông hoa mà phụ nữ đại diện cho sinh

nở nên măk là khai hoa kết quả Còn pém là bám vào, mà theo quan niệm của người Thái chiếc áo là nơi trú ngụ của hồn người Măk pém còn được giải thích như sau: bên khuyết là giống cái nữ, bên khuy là giống đực, măk pém là một đôi nam nữ phối hợp là nguồn gốc của sự sinh sôi nảy nở Áo ngắn dùng khi lao động may bằng vải thường; áo lễ hội, cưới xin may bằng vải lụa, sa tanh Áo thường màu trắng và màu đen, màu xanh lam hoặc lá cây Bộ váy áo thắt lưng của phụ nữ Thái vừa kín đáo vừa phô bày thêm nét quyến rũ

- Khăn piêu: phụ nữ chưa chồng thì búi tóc thả xuống sau gáy, khi có chồng búi tóc chổng ngược lên đỉnh đầu sau đó đầu đội chiếc khăn piêu Piêu là một tấm vải bông nhuộm màu chàm, hai đầu thêu nhiều hoa văn, chỉ màu phối hợp sặc sỡ Dân ca Thái có câu:

Em se sợi thành vóc hoa dâu

Em dệt cửi thành gấm vân chéo

Em dệt tơ thành đoá hoa vàng Người các bản mường muốn khóc Đều ước ao được như em

Khăn piêu có tác dụng che đầu khi nắng gió, làm ấm đầu khi mùa đông lạnh Khăn piêu là trang sức quan trọng trong lúc đi chơi hay lễ hội

Trang 13

Vải được chọn làm piêu phải mịn, nhuộm chàm được nước Piêu Thái không trang trí ở toàn bộ diện tích mà chủ yếu ở hai viền vải màu đỏ rộng khoảng 1cm, sau đó làm cút dính vào piêu Việc thêu piêu đòi hỏi nhiều công sức, tài nghệ của người phụ nữ Thái, thể hiện trang trí hình rồng, hình cành lá, hình hoa ban.

- Nón ( cúp): Phụ nữ Thái đội nón rộng vành, bên trong có đính khua nón đi đôi cho cân nón Đội bên trên chiếc khăn piêu, chiếc nón rộng vành không che kín mặt mà vành nón như bông hoa nỏ xoè trên đầu

- Xà cạp ( pe păn kha): là miếng vải như cờ đuôi nheo nhuộm chàm Phụ nữ Thái cuốn xà cạp quanh bắp chân khi đi làm đồng, vừa để chống giá lạnh vừa bảo vệ da ở bắp chân

Trang sức của phụ nữ Thái có: Trâm cài tóc (may khắt cẩu) đôi hoa tai ( cóng ku), vòng cổ ( pok co), đôi vòng đeo hai cổ tay ( pok khẻn), bộ sà tích (pua sỏi) đều được làm bằng bạc, chạm trổ đẹp, công phu Đó là những

đồ trang sức quý giá nhất

Trang phục Nam giới người Thái bao gồm: khăn, áo, quần

- Khăn: khăn của nam giới không như piêu của người phụ nữ mà chỉ

là một miếng vải chàm màu đen Khăn có 2 loại: Khăn pau dài hơn 1m, quấn nhiều vòng quanh đầu khi đi xa hoặc hội hè lễ tết Loại thứ 2 là khăn trọc ngắn hơn khăn pau, quấn khi lao động trên ruộng nương hoặc ở nhà Khăn trọc cuốn hình chữ nhân ở trán Thiếu niên Thái ( 14,15 tuổi) được nhận biết dấu hiệu trưởng thành bắt đầu từ việc cuốn khăn Khăn che nắng chống rét, giữ gọn tóc khi lao động Trời rét khăn có thể vừa bịt đầu vừa quấn cổ Thanh niên ưa dùng khăn màu chàm biếc Các cụ già ưu dùng khăn chàm đen

- Áo: may cổ đứng, xẻ tả, mổ bụng, cài khuy, ống tay rộng Quanh 2 bên cổ áo được lót một miếng vải tròn phủ kín hai vai gọi là tấm giữ mồ

Trang 14

hụi, vừa là để cho ỏo đứng, bền Hai vạt trước may hai tỳi to, nẹp ỏo trước bụng tỏp thờm miếng vải cho dày, cứng Bờn phải đớnh khuy, bờn trỏi đớnh khuyết Áo của nam giới Thỏi may " thưọng thu hạ thỏch" bờn trờn bú sỏt ngực và đụi vai, bờn dưới cỏc vạt sau xốo ra trựm kớn quần Áo khụng thờu thựa nhưng với quan niệm chỗ xả tà như chỗ xẻ cỏnh cõy, chố chia đụi nảy

nở nờn nếu để ý ta thấy chỗ xẻ tà đớnh lấp lỏnh đụi măk mạy ( quả chỉ) cuốn bằng chỉ màu xanh đỏ vàng Hiện nay thanh niờn Thỏi thường mặc ỏo vải dệt kẻ sọc ụ vuụng với nhiều màu: cà phờ, đỏ, trắng, xanh

- Quần ( xuổng): nay rộng đũng bằng cỏch xếp chồng cỏc miếng vải cắt ống lượn xoố rộng chỗ đũng Trứơc đõy, quần may cạp gấp thu ở bụng, thắt dõy lưng ra ngoài, nay may cạp gấp lồng chun Nếu như ỏo dựng nhiều màu vải khỏc nhau nhưng quần chỉ cú một màu chàm

Việc cắt may quần ỏo của cả gia đỡnh đều do đàn bà đảm nhiệm Người Thỏi đen kiờng cắt may vào thỏng giờng, thỏng 2 lịch Thỏi ( tức thỏng 7 õm lịch) vỡ những thỏng đú cụng việc bận rộn trờn nương, " hồn người" cũng theo ỏo quần lờn đú nờn những ngày này cắt may thỡ hồn người quanh quẩn ở nhà, hồn lỡa khỏi xỏc, cú thể xảy ra những điều khụng may khi đi làm nương

* Nếp ở

Từ lâu ngời Thái đã quần c thành bản, mỗi bản bao gồm đất ở, đất canh tác ( ruộng, nơng), bãi cỏ chăn nuôi, khu rừng, khu nghĩa địa và nguồn nớc suối riêng Bản lớn có tới hàng trăm nóc nhà, nơI ít ruộng bản chỉ có m-

ơi nóc nhà Các bản ngời Thái thờng ở chân sờn núi trông xuống cánh đồng Khi làm nhà, ngời Thái tránh đòn nóc nhà này đâm vào cửa nhà kia

Đặcbiệt là số đo vật liệu làm nhà ngời Thái theo độ dài ngắn các khoảng tay của ngôi nhà, nh:

Ba: chiều dài sải tay

Trang 15

- Xó hay Xoóc: chiều dài từ khuỷu tay đến mép bàn tay

- Khén: chiều dài từ bả vai bên này qua ngời đến mép bàn tay bên kia

- Căn hay căm pẳn: chiều ngang bàn tay nắm vào cây gậy đo

- Bai hay ca bai: chiều dài từ cổ tay đến mút ngón giữa

- Căm dn: chiều ngang bàn tay nắm với ngón cái xoè ra

- Khứp hay cứp: chiều dài gang tay

Từ các số đo trên đây, áp dụng vào các số đo kiến trúc vật làm nhà sàn tính nh sau:

- Chiều cao cột từ mép dới lỗ đục bắc dầm lát sàn đến đầu cột là 4 xó 3 căm;

xó ( cánh tay) dài khoảng 45cm, 4 xó là khoảng 180-190 cm, còn 4 căm ( độ 40cm) cộng bằng khoảng 220cm Chiều cao này còn lại trên sàn từ 180-190cm, hợp với ngòi đứng trên sàn với lấy các thứ trên sàn

- Chiều dài dầm hoạc quá giang, tiếng TháI gọi là khứ khang xà vợt

dài 4 sải 1 khuỷu; 1 sải khoảng 1,6m còn 4 sải khoảng 8,4m cộng 1 khuỷu

độ 45cm nh vậy chiều ngang lòng nhà lên sàn là 9m rất hợp lý

- Chiều dài gian nhà: gian chính ( buông cuông) là 2 sải bằng 3,2m, gian đầu

hồi( buông típ) là 1 sải 2 khuỷu tính ra là 2,5m Nhà thờng từ 3 đến 5 gian chính với gian đầu hồi thích hợp với một tiểu gia đình hai ba thế hệ chung sống

Các nhà kiến trúc gọi tỷ số đo trên đây là tỷ số vàng vì nó thích hợp với khổ ngời trong kiến trúc

Từ số đo trên đây mỗi gia đình ngời Thái hình thành nên ngôI nhà sàn của mình lợp mái nhà hình mai rùa, với hai kèo đầu nhà nhô lên cao một đoạn gọi là đôi khau cút Nhà giàu khau cút đựoc chạm khắc nh hai cánh hoa xoè ra hai bên Giải thích về khau cút, có ngời giải thích là đôi sừng trâu Riêng hai bên cửa sổ gắn hai sừng trâu quắp trở lại cũng có ngòi

Trang 16

giai thích đó là hai đầu của mảnh trăng non để ghi dấu ngời Thái đến vùng Tây Bắc vào lúc hạ tuần.

Nhà sàn ngời Thái bố trí: mở hai cửa sổ vào 2 đầu hồi, hai bên suờn nhà mở nhiều cửa sổ Lên xuống nhà bằng hai cầu thanh 9 hoặc 11 bậc( ý niệm các số lẻ thiêng liêng) Cầu thang đầu bên phải gọi là cầu thang quẩy- cầu thang khách Cầu thang bên trái nhà gọi là cầu thang xia, dành cho phụ

khách, bàn ghế tiếp khách Liền giờng chủ nhà là cột xạn hè; trên cột thờng treo hạt giống, một mai rùa một dơng vật bằng gỗ Đây là cột nghi lễ cầu mong us sinh sôi nảy nở Quan gian hỏng hónh vào gian cang hớn gian này

phía sau dành cho con gái nằm, phía trớc để trống Kế đến là gian hỏng chan; phía trong là nơi đặt khung cửi và là nơi phụ nữ thay váy áo, trang

điểm và để lơng thực hàng ngày; phía ngoài là chỗ đặt nứoc sinh hoạt Từ gian hỏng chan qua cửa ra sàn đầu là nơi phơi phóng, phụ nũ ngồi khâu vá gọi là gian cuông

Nhà sàn của Ngời Thái không có phòng riêng cho từng thàng viên mà chỉ có ngăn chia ô Hiện tợng này mang tính cổ xa, giống nh các dân tộc Tây Nguyên Ngày nay nhiều vùng ngòi Thái đã tách bếp ra khỏi nhà ở Nhà sàn bếp thờng mở cửa đối diện với cửa gian hỏng chan, gọi là sàn kép

Ngời Thái có hẳn một trờng ca gọi là khá khén bớn gắn với ngôi nhà

Từ việc sửa soạn dụng cụ làm nhà, lên rừng lấy gỗ, tìm gianh để lợp, pha chế gỗ, dỡ dựng nhà, dựng nhà mới Đoạn nói về dụng cụ nh sau :

"Ông thợ rèn rèn thanh dao sắc lỡi bén

Trang 17

Rèn rìu nên rìu khoẻ họng chắc Rèn đục thành lỡi đục phẳng bằng Rèn liềm thành lỡi liềm cát gianh

Đoạn về chọn gỗ:

Cây vàng tâm đen vỏ lõi vàng Nhìn xem gốc cây đầy vòng trâu buộc

Rễ nó cuốn gà vịt về đông Cánh nó nảy nở trai gái con đàn Thân nó thêm dâu mới ngời ngoan"

Phơng tiện vận chuyển:

Ngời Thái vận chuyển bằng gánh đôi đậu đựng các thứ, đi rừng đi núi thì đeo gù, dùng ngựa cỡi thồ hàng Ngời Thái ở dọc các dòng sông nổi tiếng xuôi ngợc bằng thuyền đuôi én

Văn hoá tinh thần

* Hôn nhân

Ngời Thái cho phép thanh niên nam nữ tự do tìm hiểu bạn đời, nhng trớc đây trong chế độ phong kiến và phìa tạo và thị tộc mẫu hệ chi phối thì việc hôn nhân phảI đợc hai gia đình cho phép và diễn ra theo hai khía cạnh:

Một là: Hôn nhân phải môn đăng hộ đối Thanh niên nhà dân không

đợc lấy con gái nhà quan Con gái nhà dân lấy con trai nhà quan thì dù cho cới cũng không đợc làm vợ cả mà phải làm vợ lẽ hoặc nàng hầu

Hai là: Hôn nhân c trú bên nhà vợ là hình thức cho việc ngời con trai

bỏ tiền mua ngòi con gái gọi là tiền ca hua Khi cha trả hết tiền cho nhà gái thì ngời chồng cha có toàn quyền với ngời vợ, cho đến khi chồng chết vẫn cha đợc xum họp với vợ Giá mua ngời con gái tính vào công lao động của

Trang 18

ngời con trai cho nhà vợ Tình hình trên đây dẫn đến việc nam nữ thanh niên phản đối hôn nhân bằng cách:

- Nếu hai nam nữ thanh niên yêu nhau mà cả hai gia đình không nhất trí thì họ rủ nhau trốn sang mờng khác hoặc trốn vào nhà chúa đất chịu thân phận côn hơn ( ngòi ở)

- Nếu chỉ có bên nhà trai đồng ý thì ngời con trai tổ chức cớp vợ bằng cách: ngời con trai dắt ngời yêu về nhà mình làm lễ nhập ma nhà mình sau

đó đI bắt buộc nhà gái phải chấp nhận hoặc ngời con trai cứ đem chăn màn

đền nhà ngời yêu ở rể, chịu sự lạnh nhạt của gia dình nhà gái cho đến khi

bố mẹ vợ ng thuận

Qua ngời mai mối ( gồm cả hai vợ chồng) hôn lễ diễn ra theo bốn

b-ớc :

- Đi dạm tiếng ( pay tham do): hay là lễ đi thăm Ông bà mối mang

lẽ rợu, chè đến nhà gái đánh tiếng đặt vấn đề hôn nhân

- Lễ ăn hỏi: hay cũng gọi là xin ngày cới Ông bà mai mối dẫn

đoàn nhà trai mang lễ vật ( lợn, gạo, rợu, bánh trái, tiền cới, vòng tay hoặc bạc tặng mẹ vợ), tổ chức ăn uống ở nhà gái Sau lễ này chú rể tơng lai hàng tháng phải sang làm cho đến ngày cới Thời gian có thể vài ba năm, nếu đủ tiền nộp cho nhà gái thì xin rút ngắn thời gian lao động

- Lễ cới: nhà trai dẫn lễ gồm: lợn, gao, rợu, bạc trắng ( bạc có thể đa sau) Số lợn phải đủ 4 con đủ để làm lễ cho ông bà nội ngoại bên vợ Tổ chức ăn uống linh đình ở nhà gái

Trong lễ cới phải trình của hồi môn, tối thiểu là bộ váy mới tặng mẹ chồng, một bộ quần áo mới tặng bố chồng, 4 cái đệm, 4 tấm chăn bông, 4

đôi gối bông, đôi chiếu, đồ dùng gia đình, hạt giống…

Lễ đón dâu về nhà chồng: Trớc khi bớc lên cầu thang khách đôi vợ chồng trẻ đợc ông bà làm mối làm lễ rửa chân tay trong thau nớc lạnh bỏ

Trang 19

vài đồng bạc trắng ( bạc trắn này thuộc về ông bà mối) Cô dâu đợc mẹ chồng ra đón, dẫn vào buồng riêng Đại diện nhà trai bng khay trầu rợu ra xin cất nón cho nhà gái gọi là lễ bốt cúp.

- Lễ lại mặt: sau 3 ngày đôi vợ chồng trẻ đem gạo nếp, gà, rợu, trầu cau sang nhà vợ làm lễ xin nhập ma nhà vợ, xin cho con gái theo chồng Từ

đó chú rể phải ở lại nhà vợ làm rể, có thể kéo dài vài ba năm ( có sách viết kéo dài 10-12 năm) Sau đó vợ chồng con cái mới về ở hẳn nhà chồng

Nh vậy ta thấy hôn lễ của ngời Thái có hai khía cạnh:

- Chế độ mẫu hệ không còn nặng nề nhng vai trò lao động của phụ nữ khiến họ rất có giá trị Họ góp vào quyết định cái ăn mặc cho gia đình Bởi thế khi diễn ra hôn lễ không có vai trò quyết định của ngời cậu cô dâu Nhà trai phải dẫn lễ vật tốn kém sang nhà gái, phải ở rể cho nhà gái trong một thời gian dài

- Hôn lễ của ngời sống nhng ý nghĩa tâm linh gắn kết với ma, lấy đợc

ma tức là lấy đợc ngời Vì thế người con trai cớp vợ làm lễ nhập ma cho cô gái trớc bàn thờ tổ tiên nhà mình và ngời con trai đặt đợc lễ lên bàn thờ tổ tiên nhà gái thì nhà gái phải chấp nhận con gai mình đã là vợ nhà ngời rồi

Ngày nay, luật hôn nhân gia đình đã thực sự tạo điều kiện cho thanh niên nam nữ dân tộc Thái tự do hôn nhân nhng lễ vật và tổ chức ăn uống vẫn rất nặng nề

Trang 20

- Khuân thân thể thành một Phi ở mờng pú pẩu ( đông phi) nơi bìa rừng, đó là nơi chôn cất ngời chết Muờng pú pẩu ở ngời Thái giống nh m-ờng ma của ngời Mờng.

- Khuân tứ chi thành một Phi gọi là ma nhà sống quanh quẩn bên bàn thờ tổ tiên

Riêng ma đầu lên trời lại chia thành ba cấp ở ba tầng:

- Tầng trên cùng gọi là Liêu ban luông ( niết bàn lớn), là nơi ngự trị

ma đầu tầng lớp Anha do Then Luông ( trời) phái xuống cai quản dân, thực chất là tầng lớp chúa đất

- Tầng giữa gọi là Lieu ban noi ( niết bàn nhỏ) là nơi ngự tri ma đầu tầng lớp Phìa tạo, tay chân của Anha

- Ma đầu tầng lớp bình dân ở tầng thấp nhất gọi là bờ trời

Nh vậy, vũ trụ luân của ngời Thái đối với ngời chết gồm có thế giới hai bên và thế giới hai tầng Ở thế giới hai tầng còn pha thêm yếu tố Phật giáo trong việc phân chia đẳng cấp xã hội, biểu hiện ở niết bàn lớn và niết bàn nhỏ Đây là vấn đề khá phức tạp trong tang lễ của ngời Thái Thực chất tang lễ của ngời Thái vẫn là tang lễ thổ táng nên các nghi thức mai táng tử thi đợc diễn ra nh sau:

- Thi hài đợc lau bằng nớc thơm, thay váy áo ( quần) mới, đặt thi hài lên trên đệm bông gần cột chỗ ngời chết nằm ngủ Đồng bào dùng chỉ buộc ngón chân, ngón tay cái, đắp lên thi hài tất cả những tấm vải liệm của mỗi con cháu và làm mâm cỗ thịt gà cúng ngời chết Lúc đó mới đánh chiêng, bắn súng báo tang, con cháu mới đợc khóc, dân bản kéo đến

Lễ nhập quan: Quan tài bằng khúc gỗ to khoét hình lòng thuyền nh thuyền đuôi én,ý là ngời chết theo thuyền về chín suối Quan tài có lót lớp tro bông lau, trải chiếu tre đen sau đó mới đặt thi hài vào, đậy khít lắp Ngời TháI kiêng chôn theo đồ đồng, sắt, sợ sau này con cháu ốm đau, chột mắt

Trang 21

Nhà giàu có thể đeo cho ngời chết vòng cổ, vòng tay bằng bạc Trong trờng hợp ăn ở với nhau hết đời nhng vẫn cha đợc sự đồng ý của hai gia đình thì ngời chết đợc chôn theo một nửa ống trúc, còn nửa kia ngời sống giữ lại khi chết chôn theo để làm dấu hiệu n hận ra nhau.

Con cháu giết trâu, lợn to làm cỗ cúng ngời chết Thầy mo khắp (đọc) lời ẳm óc chẩu na nói ngời chết nhận lấy trâu, lợn, đồ dùng của con cháu chia cho để về mờng pú pẩu (mờng ma) làm vốn sinh sống

- Lễ đa tang: Quan tài khiêng tay qua cầu thang xia xuống đất trên

đòn khiêng (bằng cây bơng cạo sạch vỏ, cuốn thêm vải cho đẹp; thắp 4 nến

4 đầu đòn khiêng) Con rể cả cầm đuốc dẫn đờng Ngời chết chôn trong bãi tha ma dòng họ Ngời Thái rất sợ phải đụng tới mồ mả sau khi chôn cất nên huyệt đào sâu tới 1,5- 1,8 m Mộ đợc làm nhà mồ có sàn che giữ.Quanh mộ chôn nhiều hòn đá gọi là hòn mồ, hòn mồ to nhất chôn ở đầu và chân mộ

Ngời Thái cũng có tục chia của cho ngời chết bằng cách: trên sàn nhà

mồ để các vật dụng của ngời chết (chăn, đệm )

Sau khi chôn cất, ngay ngày hôm đó hoặc sáng hôm sau, con cháu làm lễ đa cơm cuối cùng bằng mâm cơm thịt gà ra mộ cúng Con cháu dựng tợng trng chuồng lợn, chuồng gà, vờn rau, máng nớc rửa chân quanh mộ Khi về họ bỏ lại trên mộ cả mâm cơm cúng, bộ ấm chén, giỏ đựng áo quần

áo cũ của ngời chết Sau đó, họ bỏ mặc nhà mồ vì họ quan niệm:nhà mộ càng bị tiêu huỷ sớm càng tốt

- Lễ rửa nhà ( mái hơn): sau hai ba ngày chôn cất thi hài, gia chủ giết gà làm cỗ mời thầy mo đến khắp ( đọc) lời xua đuổi tà ma Thầy mo lấy chổi lá gai nhúng vào chậu nớc ngâm bồ kết quét qua các xó xỉnh trong nhà Sau đó, chậu nớc và chổi đợc vội vàng mang ra đổ vứt xuống suối Từ

đó con cháu mới đợc nhẹ nhõm, nỗi buồn nhớ thơng ngòi chết nhanh chóng vơi đi Ngời Thái cũng có tục mang khăn áo tang màu trắng xổ gấu

Trang 22

Thực chất tang lễ của ngời Thái chỉ là thổ táng Biểu hiện ở việc tạo nhà mồ, tạo vờn rau, máng nớc và các vật dụng cùng quần áo để ngời chết tiếp tục sống ở mờng pú pẩu và thờ cúng ma nhà ( tổ tiên) trong nhà.

Nhng do tầng lớp Anha tự coi là ngời Trời phái xuống trị dân, rồi tiếp thu thêm yếu tố phật giáo cho rằng ngời chết còn có ma đầu lên “ sống” ở trên trời theo đẳng cấp niết bàn lớn, niết bàn nhỏ nên hình thành thế giới hai tầng, nên sinh ta tục làm hiếu với quan niệm nếu con cháu cha làm hiếu thì hồn ngời chết cha đợc lên mờng trời, vẫn chịu cực nhọc quanh quẩn ở mờng

pú pẩu Vì thế, phải làm hiếu sau khi thờ cúng ma nhà ( tổ tiên) mới chọn vẹn một tang

2 Nhu cầu tiếp nhận thụng tin của dõn tộc Thỏi

Cỏc loại hỡnh thụng tin chủ yếu:

Đồng bào Thỏi cư trỳ tại vựng nỳi cao, giao thụng đi lại khú khăn, đường xỏ kộm phỏt triển Nhu cầu thụng tin giao tiếp văn hoỏ giữa cỏc vựng miền là hết sức quan trọng, là nhu cầu cần thiết nhưng cũng gặp rất nhiều khú khăn trở ngại

Loại hỡnh thụng tin trực tiếp: thụng qua cỏc đội thụng tin lưu động, họp dõn, phiờn chợ, lễ hội mà thụng tin về mọi mặt đời sống xó hội, văn hoỏ được chuyển tải đến từng người, từng thụn bản, từng gia đỡnh Đõy là hỡnh thức thụng tin đơn giản, khụng tốn kộm, dễ thực hiện Thế nhưng đõy

là hoạt động được tổ chức hàng thỏng, hàng quý nờn hiệu quả truyền thụng

sẽ khụng cao, khụng liờn tục, khụng đỏp ứng đủ nhu cầu thụng tin toàn diện

và mọi mặt trờn mọi lĩnh vực

Loại hỡnh thụng tin giỏn tiếp: Thụng qua hỡnh thức cấp bỏo đến tận điạ phương, tận trụ sở, nhà văn húa của bản xó Cỏc tờ bỏo được cấp thụng thường là: Bỏo Nhõn dõn, Bỏo Sơn la,Bỏo Điện Biờn, Bỏo Lai Chõu, Bỏo Lao động, Bỏo Nụng thụn ngày nay… Cỏc tờ bỏo đó cung cấp đầy đủ

Trang 23

thụng tin thời sự đến bà con dõn tộc một cỏch khỏ đầy đủ Thế nhưng, do giao thụng chưa cú sự phỏt triển để phục vụ tốt cụng tỏc vận chuyển nờn khụng phải lỳc nào những tờ bỏo đú cũng đến tận tay đồng bào cựng lỳc với sự kiện đang diễn ra Mặt khỏc trỡnh độ dõn trớ của phần đụng đồng bào cũn hạn chế, tỷ lệ mự chữ và tỏi mự vẫn cao Vỡ thế số người trực tiếp đến đọc bỏo khụng nhiều Cụng việc ruộng nương hàng ngày cũng khụng cho phộp đồng bào cú thời gian để tiếp nhận những thụng tin cần thiết.

Phỏt thanh vẫn là loại hỡnh thụng tin chiếm ưu thế nhất trong việc truyền tải thụng tin đến đồng bào Với loại hỡnh này đồng bào vẫn cú thể vừa làm việc vừa nghe đài Chỉ cần một chiếc radio đơn giản mọi thụng tin

đó đến tận nhà, tận bản làng

Điều tra dư luận thớnh giả của Đài Tiếng núi Việt Nam phối hợp với Trung tõm nghiờn cứu dư luận xó hội- Ban tư tưởng Văn hoỏ Trung ương năm 2001 cho thấy: Tỷ lệ người nghe đài ở nụng thụn là 88% , ở thành thị

là 37% Tỷ lệ người nghe đài là đồng bào dõn tộc là 61% , người Kinh là 46,8%

Có một thực trạng là hiện nay, nhiều bà con ở các bản gần vùng thị xã, thị trấn không hay nghe đài phát thanh mà chủ yếu xem các chơng trình truyền hình, nhất là lớp trẻ Theo kết quả điều tra thính giả do Ban th kí Đài tiếng nói Việt Nam thực hiện( tháng 4 năm 2007) tại bản Púng xã Chiềng

Ve huyện Mai Sơn tỉnh Sơn la, một số huyện khác nh Thuận Châu tỉnh Sơn

La ( là những xã cách trung tâm khoảng 20 km, đã phủ sóng phát thanh truyền hình) thì chơng trình phát thanh tiếng Thái của Đài TNVN cha đợc nhiều ngời biết đến, cha chú ý nghe

Thời gian, khụng gian tiếp nhận thụng tin hợp lý nhất đối với đồng bào là vào sỏng sớm và chiều tối, nghe tại nhà Trước khi đi làm và sau khi

đi làm về là thời điểm họ rảnh rỗi nhất

Trang 24

Điều đặc biệt đối với nhu cầu và tõm lý tiếp nhận thụng tin của đồng bào Thỏi là: Tõm lý yờu thớch ca nhạc, văn nghệ Nhất là cỏc bài hỏt dõn ca, cỏc điệu mỳa xoố, mỳa nún những cõu chuyện cổ tớch…

Tỡm hiểu đỳng và đầy đủ nhu cầu tiếp nhận thụng tin, tõm lý tiếp nhận thụng tin sẽ là cơ sở để phũng phỏt thanh tiếng Thỏi tiếp tục nõng cao đổi mới nội dung và phương phỏp truyền tin Nhằm phục vụ tốt nhất cuộc sống tinh thần của đồng bào

Chương 2: HIỆN TRẠNG CHƯƠNG TRèNH PHÁT THANH

Bằng việc sắp xếp hợp lý các tin, bài trong một chỉnh thể chơng trình

sẽ giúp ngời nghe tiếp nhận một cách đầy đủ và hệ thống

Trang 25

Trong thực tế tuỳ theo từng tiêu chí phân loại, mỗi chơng trình phát thanh có đối tợng tác động riêng, có nội dung phản ánh và cách tác động riêng Nếu lấy lĩnh vực phản ánh, sẽ có các dạng chơng trình kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng ; theo tiêu chí lứa tuổi có ch… ơng trình cho ngời cao tuổi, thanh niên, chơng trình thiếu nhi Dù đợc phân chia theo tiêu chí nào thì các chơng trình phát thanh vẫn có mục tiêu chung là phục vụ thính giả theo mục tiêu tuyên truyền của chơng trình, đồng thời phảI tôn trọng và khai thác triệt để các phơng pháp viết cho phát thanh.

Đặc điểm của chơng trình phát thanh:

Nhìn chung các chơng trình phát thanh có các đặc điểm sau:

- Khung thời lợng ổn định: Đây là yêu tố đảm bảo mặt thời lợng , kết cấu cho toàn bộ các chơng trình khác của đài phát thanh Không thể có một chơng trình ngày hôm nay phát 15 phút, hôm sau lại phát 20 phút Khung thời lợng đựơc xây dựng phù hợp với vấn đề thờng xuyên đề cập trong ch-

ơng trình Mỗi chơng trình có một thời điểm phát sóng nhất định Yêu tố này phù hợp tơng đối với nhóm đối tợng mà chơng trình phục vụ, trên cơ sở cân đối hợp lý trong toàn hệ chơng trình Ngời sản xuất chơng trình xây dựng bản tin 5 phút hay chơng trình 30 phút, chơng trình thời sự tổng hợp hay chơng trình chuyên đề chính là lúc họ giải quyết mối liên hệ định lợng

và định tính trong thông tin phát thanh

Trong một vài trờng hợp đặc biệt khung thời lợng có thể thay đổi so với thờng nhật

- Thời điểm phát sóng: có ý nghĩa tạo tính địng kỳ cho thông tin phát thanh Thời điểm phát ổn định tạo ở thính giả thói quen chờ đón chơng trình phát thanh mà họ yêu thích Thói quen tâm lý của thính giả là thích nghe thời sự vào buổi sáng, các chơng trình văn nghệ vào buổi đêm khuya Bởi vậy những chơng trình thông tin quan trọng cần đợc phát vào thời điểm có

đông ngời nghe nhất mới tạo đợc hiệu qủa thông tin sâu rộng

Trang 26

- Nội dung thông tin: mỗi chơng trình phát thanh có tính độc lập riêng, nói cách khác có chức năng và nhiệm vụ riêng Chơng trình thời sự thông tin những nội dung nóng hổi, hoặc vừa xảy ra, đáp ứng nhu cầu thông tin tức thời của thính giả thì các chơng trình chuyên đề lại chọn những sự kiện, vấn đề quan trọng có ý nghĩa nổi bật trong từng lĩnh vực, nhằm cung cấp thông tin toàn diện và sâu sắc, tạo ảnh hởng trực tiếp đến nhận thức và hành động của ngời nghe.

Nội dung chơng trình phát thanh mang tính chuyên biệt rõ ràng gần gũi với đối tợng và thiết thực đối với họ thì càng dễ hấp dẫn Dĩ nhiên nội dung thông tin cần phải đợc thực hiện dựa trên sự nắm bắt đúng, đầy đủ nhu cầu của đối tợng mà chơng trình hớng tới Không thể xuất phát từ ý kiến chủ quan của những ngời làm chơng trình mà đa ra những nội dung áp đặt cho ngời nghe Các chơng trình phát thanh phải phát ra những gì thính giả cần chứ không phải những gì mình có

- Về hình thức thông tin: hầu hết các đài phát thanh đếù sử dụng khá phổ biến các dạng chơng trình nh: bản tin, thông tin, âm nhạc, ca nhạc, sân khấu truyền thanh, các chơng trình chuyên đề Dù kiểu dạng ch… ơng trình nào thì mục tiêu cuối cùng vẫn là thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình và đáp ứng nhu cầu thông tin của ngời nghe

1.2 Hệ phỏt thanh dõn tộc Đài tiếng núi Việt Nam

Trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nớc, Đảng và Nhà nớc ta đã ban hành nhiều chính sách về dân tộc và miền núi Nghị quyết Đại hội 6 của

Đảng nêu rõ : ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đòi hỏi tăng cờng công tác nghiên cứu dân tộc học và công tác điều tra xã hội học, hiểu biết đầy

đủ những đặc điểm khác biệt cụ thể của từng vùng từng dân tộc Trên cơ sở

đó bổ sung cụ thể hoá và thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc, tránh những

điều sai lầm, rập khuôn chủ quan, áp đặt những hình thức không phù hợp trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở vùng dân tộc.

Trang 27

Nghị quyết 22 NQ/ TW ( 27/11/1989) của Bộ Tài chính về những chủ trơng chính sách lớn để phát triển kinh tễ xã hội miền núi Quyết định số

72 của Hội đồng Bộ trởng ngày 13/3/1990 ( nay là Chính Phủ) thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ tài chính đã cụ thể hoá nội dung đổi mới cơ cấu kinh

tế và tổ chức sản xuất ở Miền núi theo hớng chuyển sang kinh tế hàng hoá phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng tiểu vùng, từng dân tộc, gắn phát triển kinh tế , văn hoá với giải quyết các vấn đề dân tộc gắn với an ninh quốc phòng

Cùng với việc xoá đói giảm nghèo cho dân tộc thiểu số ở sâu vùng

xa Đảng và Nhà nớc đặc biệt quan tâm đến xoá đói thông tin ở những địa bàn này mà mũi xung kích trong các phơng tiện thông tin đại chúng là làn sóng phát thanh

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ, Đài tiếng nói Việt Nam xây dựng chơng trình: Thành lập các chơng trình phát thanh tiếng dân tộc thiểu số, Chơng trình đầu tiên là tiếng H’ mông Lên sóng các chơng trình phát thanh tiếng dân tộc thiểu số đối với đài Tiếng nói Việt Nam có 2 thuận lợi trực tiếp:

+ Một là: Đài đã có kinh nghiệm ban đầu của chơng trình phát thanh:

“ Đại đoàn kết dân tộc( bằng tiếng Việt)”

+Hai là:Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, Đài tiếng nói Việt Nam đã phát sóng các thứ tiếng Ê đê, Gia rai, Mơ nông, Hrê, Châu ro

Khó khăn nhất là tổ chức đội ngũ biên tập viên, phát thanh viên

Giai đoạn chống Mỹ cứu nớc ( 1954- 1975): Đài Tiếng nói Việt Nam phát 6 thứ tiếng dân tộc thiểu số là : Hrê, Ba na, Jơrai, Êđê, M nông, và Châu ro

Ban biên tập, phát thanh viên các chơng trình này là cán bộ ngời dân tộc thiểu số miền nam tập kết

Trang 28

Hệ Phát thanh Dân tộc là một hệ chơng trình của Đài tiếng nói Việt Nam có chung đối tợng phục vụ là đồng bào các dân tộc thiểu số đợc phát bằng thứ tiếng các dân tộc thiểu số, đợc tổ chức sắp xếp, liên kết trong hệ thống, dới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Đài tiếng nói Việt Nam Hệ phát thanh tiếng dân tộc hình thành trên cơ sở các chơng trình tiếng dân tộc hiện có, tổ chức lại, đinh danh, thiết lập mối quan hệ trong hệ thống, đồng thời có sự điều chỉnh, bổ sung thời lợng và nội dung chơng trình cho phù hợp.

Các chơng trình trong hệ do nhiều đơn vị của Đài tiếng nói Việt Nam trực tiếp sản xuất, nhng lại tuân thủ chỉ đạo, điều hành tập trung về

đầu mối là Hệ phát thanh dân tộc, thực hiện tuyên truyền theo định hớng chung nhng vẫn đảm bảo tính đặc thù của từng chơng trình

Bình quân hơn một năm trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam phát mới một chơng trình tiếng dân tộc thiểu số Đây là tốc độ phát triển và số l-ợng kỷ lục Nhng quan trọng hơn là qua làn sóng Đài tiếng nói Việt Nam

đồng bào các dân tộc thiểu số đã đợc hởng thụ thông tin về chủ chơng chính sách của Đảng và Nhà nớc, đờng lối chính sách Đại đoàn kết dân tộc, mở mang kiến thức, học hỏi thêm nhiều cách làm ăn mới, xây dựng cuộc sống mới

Hệ phát thanh dân tộc không bố trí toàn bộ các chơng trình phát thanh hiện có theo trục thời gian nh các hệ khác, mà bố trí theo các nhóm tiếng tơng ứng với khu vực phủ sóng, gồm phía Bắc, nhóm Trung bộ- Nam

bộ và Tây Nguyên

Hệ phát thanh Dân tộc có nhạc hiệu là nhạc hiệu Đài tiếng nói Việt

Na m với lời xớng: Đây là tiếng nói Việt Nam

Hệ phát thanh Dân tộc Việt Nam dành cho đồng bào thiểu số

Trang 29

Mỗi chơng trình trong Hệ có nhạc hiệu riêng, gồm phần nhạc đặc

tr-ng của dân tộc đó và lời xớtr-ng: Chơng trình phát thanh Thuộc hệ phát

thanh dân tộc Đài tiếng nói Việt Nam

Mỗi chơng trình có bộ nhạc cắt riêng, nhạc tiết mục riêng, thể hiện văn hoá riêng của từng dân tộc Các chơng trình phát thanh trong hệ đợc liên kết bằng các lời dẫn, lời giới thiệu giữa chơng trình trớc với chơng trình sau; chơng trình sau với chơng trình trớc Hệ có phần giới thiệu chơng trình trong ngày và lời chào cuối ngày

Các chơng trình trong hệ sẽ dành một thời lợng thích hợp cho nôi dung mang tính định hớng Khi có sự kiện thời sự – chính trị quan trọng

sẽ có những điều chỉnh kịp thời trong nội dung tuyên truyền và có thể sử dụng phát thanh trực tiếp trên sóng các chơng trình hàng ngày

Chơng trình phát đầu tiên trong ngày vào lúc 5 giờ, chơng trình cuối trong ngày kết thúc vào lúc 22h 30 phút

Hớng phát triển của Hệ:

+ Tăng cờng tính chỉ đạo, tập trung trong các chơng trình hệ

+ Mở thêm một số chơng trình phát thanh mới, đặc biệt là các chơng trình thuộc nhóm tiếng dân tộc Tây bắc và Tây Nguyên

+ Thiết lập kênh vệ tinh cho hệ, đa tín hiệu các chơng trình về Tổ khống chế tại Hà nội

+ Quản lý các chơng trình phát thanh hàng ngày thông qua mạng Khi có điều kiện cho phép lần lợt đa các chơng trình trong Hệ Phát thanh Dân tộc lên Báo điện tử VOV News

+ Bổ sung thêm máy phát sóng, tăng cờng công suất máy phát sóng cho Hệ Phát thanh Dân tộc

Trang 30

2 Bối cảnh ra đời và quá trình hình thành phát triển chương trình phát thanh tiếng Thái.

2.1 Bối cảnh ra đời của chương trình phát thanh tiếng Thái.

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội ( 2001-2010) của Đại hội Đảng IX, công tác thông tin tuyên truyền được đặc biệt quan tâm coi trọng,

cụ thể là:" Phát triển và hiện đại hoá mạng lưới thông tin đại chúng nâng

cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ phát thanh truyền hình, báo chí xuất bản Đến năm 2010 hoàn thành cơ bản việc phổ cập các phương tiện phát thanh truyền hình đến mọi gia đình Dùng tiếng nói dân tộc, và chữ viết các dân tộc có chữ viết trên các phương tiện thông tin đại chúng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số"

Tại Hà Nội, bàn về công tác thông tin dân tộc và miền núi do Bộ VHTT, Uỷ ban DTMN và Bộ Tài chính tổ chức ( tháng 6,7,8- 2001) xác

định: " Phát thanh truyền hình là mũi nhọn trong công tác thông tiin, công

tác tư tưởng văn hoá trên địa bàn dân tộc miền núi, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác này trong thời gian tới"

Như vậy công tác thông tin tới đồng bào dân tộc miền núi luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, đầu tư Nhằm đem lại cuộc sống tinh thần lành mạnh, từ đó thúc đẩy sự phát triển mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội

Hệ phát thanh dân tộc Đài tiếng nói Việt Nam đến thời điểm năm

2002 đã có 5 chương trình phát thanh tiếng dân tộc Cơ quan thường trú Tây Bắc đã được thành lập từ năm 1998, đã có sự ổn định về mặt tổ chức, nhân lực, đủ điều kiện để sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc

Dân tộc Thái là một trong số 10 dân tộc có số dân đông nhất trong cộng đồng 54 dân tộc anh em,có truyền thống văn hoá rực rỡ, có chữ viết

và ngôn ngữ riêng; cũng như các dân tộc khác, dân tộc Thái cũng có nhu cầu thông tin, nhu cầu giao lưu về các lĩnh vực với các dân tộc anh em

Trang 31

Trong hai cuộc khỏng chiến người Thỏi đó cú những đúng gúp to lớn về sức người và sức của, cựng nhõn dõn cả nước làm nờn chiến thắng Điện Biờn Phủ lịch sử.

Xuất phỏt từ nhu cầu muốn cú một chương trỡnh phỏt thanh tiếng mẹ

đẻ của chính dân tộc Thái, xuất phỏt từ khả năng đủ điều kiện đảm bảo cho một chương trỡnh phỏt thanh dõn tộc ( số dõn phự hợp với khả năng phủ súng, cú sự tương quan với đầu tư kỹ thuật, đủ khả năng tiếp nhận chương trỡnh và khả năng tự sản xuất chương trỡnh…) ra đời và phát triển, xuất phỏt

từ chủ trương chớnh sỏch của Đảng và Nhà nước về cụng tỏc nõng cao đời sống tinh thần cho đồng bào dõn tộc Ngày 7/5/02, sau một thời gian chuẩn

bị và làm thử việc sản xuất chơng trình phát thanh tiếng Thái, Lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam phê duyệt nhiệm vụ phát thanh của Cơ quan thờng trú Tây Bắc tại Sơn La với thời lợng mỗi ngày một chơng trình 30 phút, phát 3 buổi, có thay tin Chơng trình phát thanh tiếng Thái ra đời chắc chắn sẽ góp phần quan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho đồng bào dân tộc Thái

2.2 Quỏ trỡnh hỡnh thành và sự phỏt triển của chương trỡnh phỏt thanh tiếng Thỏi.

Ngay từ khi ra đời chương trỡnh phỏt thanh tiếng Thỏi đó được sự quan tõm chỉ đạo của lónh đạo Đài Tiếng núi Việt Nam và sự điều hành trực tiếp của lónh đạo cơ quan thường trỳ Tõy Bắc

Tớnh đến thỏng 01/2003 chương trỡnh phỏt thanh tiếng Thỏi của Đài tiếng núi Việt Nam do cơ quan thường trỳ Tõy Bắc thực hiện đó được 8 thỏng với 239 chương trỡnh và 717 lượt buổi phỏt súng Gần một năm sản xuất chương trỡnh cỏn bộ, cụng nhõn viờn chức và lao động của phũng tiếng Thỏi đó cố gắng hết sức mỡnh hoàn thành nhiệm vụ đối với cơ quan, phục

vụ đồng bào ngày một chất lượng hơn

Trang 32

Tuy mới ra đời nhưng chương trình phát thanh tiếng Thái đã được đông đảo bạn nghe đài là ngưòi dân tộc Thái ở nhiều tỉnh trong cả nước quan tâm theo dõi Nhiều cán bộ ở xuôi lên công tác tại Lai Châu, Sơn La

từ những năm 60 đến nay giao tiếp được tiếng Thái cũng có thư hoặc điện thoại ghi nhận sự cố gắng của chương trình và coi đây là địa chỉ củng cố vốn tiếng dân tộc của họ

Hai phòng phóng viên, biên tập và phòng Phát thanh tiếng Thái đã phối hợp ngày càng chặt chẽ trong điều hành, phân công phóng viên, biên tập viên thực hiện tin bài

Ngoài nhiệm vụ chính là biên dịch, dựng chương trình và đọc chương trình hàng ngày; thu thanh khai thác các tiết mục hát dân ca, tấu nhạc cụ của các dân tộc vùng Tây Bắc phục vụ sản xuất chương trình,cán

bộ công nhân viên phòng phát thanh tiếng Thái còn chủ động đề xuất nội dung tuyên truyền, thực hiện các chuyến đi thực tế ở cơ sở để thực hiện tin bài, xây dựng củng cố mạng lưới cộng tác viên là các nghệ nhân người Thái; tham gia có hiệu quả các cầu phát thanh trực tiếp Trong năm, phòng phát thanh dân tộc thực hiện 10 chuyến đi công tác cơ sở, tổ chức được 01 chương trình toạ đàm bằng tiếng Thái

Năm 2003: Trong năm 2003 toàn phòng đã tham gia sản xuất được

365 chương trình phát thanh tiếng Thái, với tổng thời lượng là 10.950 phút đảm bảo an ninh trên sóng quốc gia Tập thể phóng luôn tập trung dân chủ, bàn bạc, tìm biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng nội dung, hình thức chương trình, kịp thời khắc phục những vướng mắc, đạt hiệu quả tuyên truyền cao, được đông đảo thính gỉa hoan nghênh, khích lệ ( trực tiếp đến trụ sở cơ quan, hoặc gửi thư khen ngợi, góp ý kiến xây dựng) như các chương trình trong dịp tết Quý Mùi được nhiều bạn nghe đài đề nghị phát lại Chương trình văn hoá văn nghệ Chủ nhật hàng tuần được đông đảo

Trang 33

ngưòi nghe đón nhận, chờ đợi và được các nghệ nhân (sáng tác, biểu diễn ) nhiệt tình cộng tác làm phong phú thêm chương trình.

Công tác quản lý, điều hành của phòng đi vào nề nếp, chặt chẽ, phân công lao động hợp lý nên hoạt động nghiệp vụ nâng lên rõ rệt, nhất là việc biên dịch, dựng đọc chương trình Riêng phát thanh viên nam, được anh chị

em trong phòng tận tình giúp đỡ vừa học vừa làm, nên từ tháng 3/3003 đến cuối năm, hai phát thanh viên nam đã luyện tập và thể hiện được chuyên mục văn nghệ thứ bảy ( chuyện cổ tích và tấu) có chất lượng

Phòng làm tốt công tác tham mưu, chủ động đề xuất nôi dung truyên truyền hàng tháng với lãnh đạo cơ quan, đảm nhận công việc cơ quan khi đồng chí Giám đốc và Trưởng phòng đi vắng; nhất là biên tập duyệt tin bài phóng viên và chương trình phát thanh tiếng Thái hàng ngày, xây dựng kế hoạch thu thanh ca nhạc, cải tiến nâng cao chất lượng chương trình Trong năm, bên cạnh quản lý khai thác tốt các bài hát dân tộc đã có phòng cùng

tổ kỹ thuật đi thu ca nhạc 2 đợt ở Điện Biên và Phù yên (Sơn La) Tổ chức được một cuộc trao đổi nghiên cứu nghiệp vụ công tác biên tập, biên dịch tiếng Thái với những người am hiểu, nghiên cứu về dân tộc học tỉnh Sơn la

và Lai Châu Tổ chức gặp mặt trao đổi với một số nghệ nhân văn nghệ các huyện Thuận Châu, Mường La, Sông Mã, Yên Châu Tham gia lớp tập huấn nghiệp vụ phát thanh do Cơ quan thường trú phối hợp với Ban thời sự- chính trị- tổng hợp Đài tiếng nói Việt Nam tổ chức tháng 4/2003 Tham gia 2 lớp tập huấn về tiếng và chữ Thái và biên tập biên dịch tiếng Thái do Trung tâm đào tạo Đài tiếng nói Việt Nam và Cơ quan thường trú khu vực Tây Bắc phối hợp tổ chức thành công, đạt kết quả tốt

Cán bộ, phóng viên, biên tập viên, biên dịch viên, phát thanh viên trong phòng đều nâng cao ý thức học tập, trau dồi, nâng cao kiến thức nghiệp vụ, nhất là những anh chị em mới được tuyển dụng, chưa qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ báo chí

Trang 34

Năm 2005: Công tác biên dịch, dựng chương trình và sản xuất chương trình phát thanh tiếng Thái, chương trình ca nhạc các dân tộc thiểu

số đã được cán bộ, biên tập biên dịch, phát thanh viên thực hiện có kết quả tốt, có cải tiến về hình thức thể hiện ( dẫn chương trình, dịch thuật) Phòng phát thanh dân tộc đã biên dịch, biên tập trên 12.000 tin bài phục vụ sản xuất 330 chương trình Thời sự - chính trị - Tổng hợp; dựng và phát 365 chương trình ca nhạc dân tộc Thái, biên tập 3 câu chuyện truyền thanh bằng tiếng Thái của cộng tác viên Có một ấn phẩm đoạt giải khuyến khích Liên hoan phát thanh toàn quốc, một giải khuyến khích của giải " Suối Reo" Hội nhà báo tỉnh Sơn La

Trong năm, phòng đã chủ động đề xuất và thực hiện thu thanh hơn

630 bài hát ( chủ yếu là dân ca các dân tộc Thái, Tày, Mông, Dao, Mường, Giáy…) tại phòng thu của Cơ quan thường trú và ở các xã, bản khu vực Tây Bắc khai thác thu thanh tại Đài PT-TH 5 tỉnh

Bước đầu đổi mới chương trình ca nhạc dân tộc Thái chủ nhật hàng tuần theo hình thức:" Thính giả với chương trình ca nhạc" đã tạo sự gắn kết giữa chương trình với bạn nghe đài, thu hút được bạn nghe đài Xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ với cộng tác viên là phóng viên biên tập viên chương trình tiếng dân tộc ít người của Đài PTTH tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La cũng như cộng tác viên tin bài nói chung, các kiểm thính viên và nghệ nhân chương trình tiếng Thái ở hầu khắp các tỉnh

Năm 2006: Các chương trình tiếng Thái đã khẳng định được vị thế, được bạn nghe đài là người Thái trong và ngoài nước biết đến có thư, điện thoại góp ý xây dựng, khích lệ Chương trình ca nhạc thiểu số đã khơi dậy

sự sáng tạo của các nghệ nhân dân tộc, sáng tác và thể hiện, góp phần làm cho chương trình thêm phong phú

Ngày 6/5/07, tại Cơ quan thường trú Tây Bắc đã diễn ra lễ kỷ niệm 5 năm buổi phát song đầu tiên Năm năm hình thành và phát triển đối với một

Ngày đăng: 23/12/2014, 22:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w