Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, Các chương trình phát thanh kinh tế của Đài TNVN cần được đổi mới và nâng cao chất lượng hơn nữa, bởi vì: Thứ nhất: Do yêu cầu tất yếu của công cuộc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM NGUYÊN LONG
ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH KINH TẾ
CỦA ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH BÁO CHÍ
Hà Nội, 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM NGUYÊN LONG
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH : BÁO CHÍ
MÃ SỐ: 60 32 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS - TS DƯƠNG XUÂN SƠN
Hà Nội, 2009
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU: 01-06
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
6 Phương pháp luận nghiên cứu
7 Kết cấu Luận văn
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM VÀ CÁC
CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH KINH TẾ CỦA ĐÀI TNVN
07-39
1.1 Đài TNVN - Quá trình hình thành và phát triển 07 1.2 Điều kiện để Đài TNVN tiếp tục phát triển trong hệ thống báo chí VN 15 1.3 Vị thế của Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp (VOV1) - Đài TNVN
1.4 Chương trình phát thanh và chương trình phát thanh kinh tế trên Hệ VOV1
18
23 1.4.1 Những khái niệm cơ bản:
1.4.1.1 Phát thanh
1.4.1.2 Chương trình phát thanh
1.4.1.3 Chương trình phát thanh kinh tế
1.4.2 Vị trí của các chương trình phát thanh kinh tế trong hệ thống các chương
trình phát thanh của Đài TNVN
1.4.3 Quá trình hình thành và phát triển của các chương trình phát thanh kinh tế
Trang 42.1.1 Về nội dung:
2.1.1.1 Cung cấp thông tin nóng hổi về các vấn đề kinh tế cho các chương
trình thời sự trong nước
2.1.1.2 Đóng góp của ca ́c chương trình phát thanh kinh tế (khảo sát thực tế
mô ̣t số chương trình nổi bật: Nông nghiê ̣p - Nông thôn; Công nghiê ̣p &
Thương ma ̣i; Chương trình Diễn đàn kinh tế trực tiếp sáng chủ nhật hàng tuần
2.1.2.2 Thời lượng chương trình
2.1.2.3 Sử dụng các thế mạnh của phát thanh trực tiếp
54
54
63
67 2.1.3 Thế mạnh của các chương trình phát thanh kinh tế:
2.1.3.1 Ưu điểm nổi bật
2.2.3 Việc áp dụng phương thức phát thanh trực tiếp trong Diễn đàn kinh tế
2.2.4 Phương thức sản xuất chương trình …
78
79
83
Chương 3 GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH KINH TẾ CỦA ĐÀI TNVN
86-115
3.2 Một số giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng các chương trình
phát thanh kinh tế của Đài TNVN:
88
3.2.1 Giải pháp đổi mới về tổ chức bộ máy và quy trình sản xuất các
chương trình phát thanh kinh tế
3.2.1.1 Về tổ chức bộ máy, nhân sự
3.2.1.2 Về quy trình sản xuất các chương trình phát thanh kinh tế
3.2.1.3 Giải pháp nâng cao chất lượng Chương trình Diễn đàn kinh tế
(tọa đàm) phát sóng trực tiếp sáng chủ nhật hàng tuần
Trang 53.2.2.1 Đổi mới khung chương trình
3.2.2.2 Thời lượng cho các chương trình phát thanh kinh tế
94
97 3.2.3 Giải pháp quảng bá, mở rộng diện phủ sóng và nghiên cứu thính giả
3.2.3.1 Quảng bá trên các phương tiện truyền thông của Đài TNVN
3.2.3.2 Phát sóng trực tuyến và lưu trữ / hỗ trợ tra cứu, có thể nghe lại những
nội dung chương trình kinh tế thính giả quan tâm, những vấn đề kinh tế
quan trọng trên báo điện tử VOVNews của Đài TNVN
3.2.3.3 Nghiên cứu, điều tra thính giả một cách khoa học cho từng
chương trình, đối tượng cụ thể
3.3 Một số ý kiến đóng góp của chuyên gia và thính giả
3.4 Tổng hợp ý kiến đóng góp trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng các
chương trình phát thanh kinh tế của Phòng Kinh tế tổng hợp - VOV1:
3.4.1 Nguyên tắc đổi mới chung:
Đề xuất việc cần thiết có một Kênh phát thanh kinh tế và tiến tới một Hệ
Phát thanh kinh tế trong tương lai bởi vai trò của kinh tế trong đời sống chính
trị - xã hội; đáp ứng nhu cầu thông tin của thính giả cũng như quy mô phát
triển của Đài TNVN trong thời gian tới…
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTV Biên tâ ̣p viên
CNH - HĐH Công nghiê ̣p hóa - hiê ̣n đa ̣i hóa
CT Chương trình
CTV Cô ̣ng tác viên
CQTT Cơ quan thường trú
GĐ Giám đốc
HTX Hơ ̣p tác xã
NQL Người quản lý
PV Phóng viên
PTTT Phát thanh trực tiếp
TNVN Tiếng nói Viê ̣t Nam
VOV1 Hê ̣ Thời sự chính tri ̣ tổng hợp
VOV2 Hê ̣ Văn hóa đời sống khoa giáo
VOV3 Hê ̣ Âm nha ̣c thông tin giải trí
VOV4 Hê ̣ Phát thanh dân tô ̣c
VOV5 Hê ̣ Phát thanh đối ngoa ̣i
VOVaS Trung tâm quảng cáo và di ̣ch vụ phát thanh VOVNews Báo điện tử của Đài Tiếng nói Việt Nam VOVTV Hê ̣ Phát thanh có hình
SOS Tín hiệu kêu cứu
SR Đài phát thanh Thụy Điển
SEP Cô ̣ng đồng kinh tế các nước xã hô ̣i chủ nghĩa XHCN Xã hội chủ nghĩa
WTO Tổ chức thương ma ̣i thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
TRANG
01 Hình 1.1 Mô hình sáng ta ̣o chương trình phát thanh 25
02 Hình 1.2 Mô hình e-kip thực hiê ̣n chương trình phát thanh 26
03 Hình 1.3.1 Bảng tổng hợp các chương trình kinh tế 2003 34
04 Hình 1.3.2 Bảng tổng hợp các chương trình kinh tế hiện nay 37
05 Hình 2.1 Sơ đồ biểu thi ̣ tỷ lê ̣ tin kinh tế trong các CT thời sự 42
06 Hình 2.2 Bảng tham khảo ý kiến thính giả về CT kinh tế 72
07 Hình 2.3 Mô hình hoa ̣t đô ̣ng hiê ̣n nay của Hê ̣ VOV 1 73
08 Hình 2.4 Tỷ lệ sử dụng nguồn tin của các CT kinh tế 75
09 Hình 3.1 Mô hình cơ cấu tổ chức mới của Hê ̣ VOV1 90
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vào ngày 02/09/1945 tới toàn thể đồng bào (với câu nói bất hủ : “Tôi nói đồng bào nghe rõ không”), ngày 07/09/1945, Người đã ký quyết định thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam Lời xướng “Đây
là Tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội - Thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng Hoà” (nay là Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) đã được bắt đầu từ
đó, khẳng định vị thế của một dân tộc có chủ quyền, có tiếng nói riêng; Đồng thời, cũng khẳng định vị thế và tầm quan trọng của một cơ quan ngôn luận chính thống của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam Đài Tiếng nói Việt Nam chính là cơ quan thông tin đại chúng đầu tiên của nước Việt Nam mới
Kể từ năm 1954, sau khi hoà bình được xác lập ở miền Bắc, với nhiệm
vụ tất cả vì miền Nam ruột thịt, miền Bắc thực hiện hai nhiệm vụ lớn, đó là:
ổn định tình hình chính trị - xã hội, đi lên xây dựng CNXH, đồng thời, tích cực phát triển kinh tế để hỗ trợ, chi viện cho miền Nam đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước Lúc này, vai trò của công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức làm kinh tế, ca ngợi những tấm gương lao động giỏi, phê phán những nơi làm ăn kém, chống tham nhũng, lãng phí… được Đài Tiếng nói Việt Nam đặc biệt coi trọng Các chương trình phát thanh kinh tế lần lượt ra đời, bắt đầu là Chương trình dành riêng cho nông thôn, nông dân (có lúc gọi
là Chương trình Nông nghiệp, tiếp ngay sau đó là Chương trình dành cho công nhân (có lúc gọi là chương trình “Từ nhà máy đến công trường”)
Đã 64 năm trôi qua, cùng với sự hình thành và phát triển của Đài Tiếng nói Việt Nam, nhiều chương trình phát thanh kinh tế cũng đã trải qua hơn nửa
Trang 9thế kỷ phát thanh và hiện nay vẫn đang phát huy được thế mạnh lịch sử và trường tồn như mô ̣t điều tất yếu
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, Các chương trình phát thanh kinh
tế của Đài TNVN cần được đổi mới và nâng cao chất lượng hơn nữa, bởi vì:
Thứ nhất: Do yêu cầu tất yếu của công cuộc đổi mới kinh tế đất nước
khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới - WTO, đặc biệt là sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đang ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Nghị quyết số 20 BCH Trung ương Đảng khóa X đã chỉ rõ: về cơ bản đến năm
2020 nước ta sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Do vậy công tác tuyên truyền các vấn đề kinh tế, chủ trương phát triển kinh tế … phải được triển khai một cách sâu rộng nhất;
Thứ hai, Ngày 04/02/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số
16/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài TNVN Theo đó, Đài TNVN sẽ có 06 hệ phát thanh, bao gồm: Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1); Hệ Văn hoá - Đời sống - Khoa giáo (VOV2); Hệ Âm nhạc - Thông tin - Giải trí (VOV3); Hệ Phát thanh Dân tộc (VOV4); Hệ phát thanh đối ngoại (VOV5) và Hệ phát thanh có hình (VOVTV);
Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1) là hệ phát thanh đối nội quan trọng hàng đầu (chiếm vị trí trang nhất của Đài TNVN) với những thông tin, vấn đề, sự kiện thời sự chính trị, kinh tế, đời sống xã hội … do đó cần phải có sự đổi mới và nâng cao chất lượng các chương trình nói chung, các chương trình phát thanh kinh tế nói riêng cho phù hợp với nội dung và cách thức thông tin trên Hệ VOV1;
Thứ ba, sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin đại chúng
(báo in, báo hình, báo điện tử…) đòi hỏi tất yếu phải có sự đổi mới về cách
Trang 10thức thông tin cũng như không ngừng nâng cao chất lượng nội dung trong các chương trình phát thanh kinh tế nhằm gia tăng lượng thính giả nghe đài;
Thứ tư, nhu cầu được thông tin của thính giả trong một nền kinh tế
năng động, hội nhập đòi hỏi thông tin nóng, nhanh, có quan điểm rõ ràng, có chính kiến, đi sâu phân tích, bình luận những vấn đề, sự kiện kinh tế từ vĩ mô đến vi mô… đòi hỏi có những chương trình phát thanh kinh tế phát trực tiếp (tọa đàm trực tiếp) - nhằm thể hiện đầy đủ những yêu cầu của việc đổi mới thông tin và sức sống, ưu thế riêng của làn sóng phát thanh - đó chính là phát thanh trực tiếp;
Với bốn lý do cơ bản nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn vấn đề Đổi
mới, nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh kinh tế của Đài TNVN làm đề tài luận văn thạc sỹ với mong muốn góp phần vào việc đổi mới
và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh kinh tế nói riêng, các chương trình phát thanh nói chung của Đài TNVN
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Cho đến thời điểm hiện nay, đã có một số cuốn sách nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của Đài TNVN như: Cuốn “Nửa thế kỷ Tiếng nói Việt Nam” - xuất bản năm 1995; Cuốn “Đài Phát thanh giải phóng A - Một thời để nhớ” - Hồi ký của nhiều tác giả - xuất bản năm 2000; Cuốn “60 năm Tiếng nói Việt Nam” - xuất bản năm 2005; Cuốn “Phát thanh trực tiếp” - xuất bản năm 2007; Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về việc đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình Thời sự của Đài TNVN của tác giả Đồng Mạnh Hùng; Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về việc đổi mới trong cách viết tin thời sự trên Đài TNVN của tác giả Lê Huy Nam…
Về những đổi mới của Đài TNVN và Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1) đã có những công trình nghiên cứu khoa học, như: Công trình
“Nghiên cứu tổng kết 60 năm Phát thanh Việt Nam” do GS.TS Vũ Văn Hiền
Trang 11làm chủ nhiệm tiến hành vào năm 2005; Công trình nghiên cứu khoa học “Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp của Đài TNVN” do Thạc sỹ Tạ Toàn tiến hành vào năm 2004; và một số nghiên cứu của sinh viên các trường đại học khi thực hiện đề tài khoá luận tốt nghiệp;
Về các chương trình phát thanh kinh tế của Đài TNVN có cuốn “Nửa thế kỷ phát thanh Công nghiệp” xuất bản năm 2006 (lưu hành nội bộ); Một số tác phẩm, đề tài nghiên cứu, trao đổi nghiệp vụ… đăng trong Nội san “Nghiệp
vụ phát thanh” của Đài TNVN, đăng trên tờ báo in “Tiếng nói Việt Nam”, báo điện tử VOVNews; Một số Khoá luận tốt nghiệp Đại học khoa báo chí của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Học viện Báo chí & Tuyên truyền…
Hiện vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách cụ thể về tính cấp thiết cũng như những giải pháp trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng các
chương trình phát thanh kinh tế của Đài TNVN Vì vậy, Luận văn Đổi mới,
nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh kinh tế của Đài TNVN
là một công trình khoa học mới, độc lập, có kế thừa những kết quả nghiên cứu của các đề tài và công trình khoa học cũng như sách, báo, tạp chí… có liên quan.v.v
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1./ Mục đích: Trên cơ sở đánh giá đúng những thành tựu trong việc
đổi mới nội dung, cách thức thông tin trong các chương trình phát thanh kinh
tế của Đài TNVN thời gian qua, đồng thời nêu lên những tồn tại cần khắc phục, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh kinh tế của Đài TNVN trong thời gian tới;
3.2./ Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thứ nhất, nghiên cứu khái quát về quá trình phát triển, đổi mới của
Đài TNVN nói chung và các chương trình phát thanh kinh tế nói riêng; Vai
Trang 12trò của công tác thông tin các vấn đề liên quan đến kinh tế trong đời sống chính trị, xã hội…
- Thứ hai, nghiên cứu về thực trạng sản xuất các chương trình phát
thanh kinh tế thời gian qua và sự cần thiết phải đổi mới, nâng cao chất lượng sao cho phù hợp - đặc biệt là sau khi sáp nhập các chương trình thuộc Ban Kinh tế Khoa học và Công nghệ, xóa bỏ mô hình tổ chức theo cấp Ban để vận hành theo mô hình Hệ, mà cụ thể ở đây là Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1);
Thứ ba, nghiên cứu về hoàn cảnh ra đời và phát triển của Chương trình
phát thanh kinh tế trực tiếp (Tọa đàm trực tiếp); Từ những ưu điểm, hạn chế của Chương trình phát thanh kinh tế trực tiếp trên Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1) đề xuất phương hướng và giải pháp để tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh kinh tế của Đài TNVN Từ lợi thế riêng có của phát thanh là khả năng thông tin, trao đổi một cách trực tiếp, cách thức truyền thông nhanh nhất, sống động nhất… và, với vai trò của thông tin các vấn đề, sự kiện liên quan đến lĩnh vực kinh tế trong đời sống xã hội ngày càng văn minh, hiện đại - tác giả đi đến đề xuất - cần tiến tới một Kênh phát thanh chuyên biệt về kinh tế (cao hơn - có thể là một Hệ phát thanh kinh tế) trong tương lai…
4./ Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
4.1./ Đối tượng nghiên cứu: Những hoạt động cơ bản của Hệ Thời sự
chính trị tổng hợp VOV1 trong quá trình sản xuất và phát sóng các chương trình phát thanh kinh tế;
4.2./ Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu một cách khái quát lịch
sử phát triển các CT kinh tế nhưng chủ yếu đi sâu nghiên cứu về những đổi mới của các CT kinh tế kể từ khi vận hành trên Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp (VOV1) theo Nghị định số 16/2008/NĐ-CP của Chính phủ
Trang 135./ Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
5.1./ Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn là những luận
cứ góp phần vào việc đổi mới và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh kinh tế trên Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1) của Đài TNVN
5.2./ Ý nghĩa thực tiễn: Từ những giải pháp Luận văn nêu ra, sẽ là tài
liệu tham khảo cho việc đổi mới và nâng cao chất lượng các chương trình trên
Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1) cũng như các Hệ phát thanh khác của Đài TNVN và các đài phát thanh khác
6./ Phương pháp luận nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng
Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, về quan điểm báo chí cách mạng của nước ta
Các phương pháp cụ thể để thực hiện đề tài, như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, nghiên cứu văn bản tác phẩm báo phát thanh,… trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả cũng như quan điểm, phương pháp tiếp cận của các công trình nghiên cứu và tư liệu liên quan
7 Kết cấu luận văn:
Luận văn Đổi mới, nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh
kinh tế của Đài TNVN bao gồm: Phần mở đầu, Phần kết luận và 03 chương
chính:
Chương 1: Tổng quan về Đài Tiếng nói Việt Nam và các chương trình
phát thanh kinh tế của Đài TNVN
Chương 2: Thực trạng vận hành của các chương trình phát thanh kinh
tế của Đài TNVN
Chương 3: Giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng các chương trình
phát thanh kinh tế của Đài TNVN
* Tài liệu tham khảo - phụ lục
Trang 14CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VỀ ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM VÀ
CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH KINH TẾ CỦA ĐÀI 1.1 Đài TNVN - Quá trình hình thành và phát triển:
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của loại hình báo phát thanh:
Công nghiệp hóa trong thế kỷ XIX thúc đẩy các ngành kỹ thuật phát triển đã tạo cơ sở vật chất cho sự đổi mới kỹ thuật truyền thông đại chúng Vào những năm cuối của thế kỷ XIX khi nhu cầu thông tin của con người ngày càng đòi hỏi cao hơn, cộng với những điều kiện về kỹ thuật phát triển mạnh mẽ với những phát minh vĩ đại trong lĩnh vực điện từ và điện tử phát thanh - radio đã ra đời Nguồn gốc sâu xa của radio xuất phát từ ý tưởng
“truyền tin không cần dây” của Ambrose Fleming - cố vấn khoa học của nhà bác học người Ý - Halia Marconi - người đã tiến hành thí nghiệm truyền tín hiệu vô tuyến đầu tiên với khoảng cách 400m, rồi 2.000m…
Ngay khi mới chào đời, radio đã đứng trước chân trời rộng mở của sự phát triển David Slandes nhấn mạnh: “Radio đã chứng tỏ sự tồn tại của một thế giới kiến thức - nơi người ta chia nhau một kho chung các ý tưởng Sự hoàn thiện các công cụ truyền thông đã đẩy nhanh đến mức ghê gớm sự phổ biến mọi ý tưởng mới”
Radio là sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, kỹ sư chế tạo, nhà sản xuất công nghiệp, đã tạo ra sự bùng nổ về kỹ thuật truyền thông Sự xuất hiện của radio được ví von rằng “radio là thiên thần của các phương tiện truyền thông, nó vừa nhỏ đến mức bỏ lọt trong một cái chai, nhưng cũng đủ lớn để bao phủ các châu lục”
Một số dấu mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời và phát triển của radio trên thế giới:
Trang 15- 1895 - Alexandre S.PoPov (người Nga) phát minh ra ăng ten vô tuyến điện Ngày 07/05/1895 ông giới thiệu máy thu sóng điện tử đầu tiên tại Hội vật lý và hóa học Saint - Petersbourg Cũng năm này, Halia Marconi (người Italia) thí nghiệm thành công việc tuyên truyền tín hiệu vô tuyến đầu tiên trên khoảng cách 400m, rồi 2.000m…
- 1912: Những máy radio nghiệp dư bắt được tín hiệu kêu cứu (SOS)
do tàu chở khách Titanic phát đi (15/04/1912)
- 1913: Các máy thu thanh băng galen có thể nghe được những buổi truyền thanh ca nhạc hàng tuần đầu tiên được phát đi từ một căn nhà phụ của lâu đài Lacken (Bỉ)
- 1915: Phát thanh quốc tế đầu tiên, hàng ngày một bản tin tức được phát đi từ nước Đức
- 1917: Những người bôn-sê-vich (Nga) sử dụng radio để tác động đến thái độ của ngưới Đức trong cuộc đàm phán Hiệp ước Bust-Litovsk
- 1920: Thao diễn đầu tiên về truyền tin radio tại Ôxtrâylia Các máy thu thanh có đèn và tai nghe chạy bằng pin thay ăcquy được sản xuất tại Pháp Mùa thu, Liên Xô bắt đầu phát chương trình phát thanh ra nước ngoài
- 1922: Từ Matxcơva phát đi chương trình phát thanh cho toàn thể các đài phát thanh Xô viết; Thành lập đài BBC (Tháng 10/1922); Đài phát thanh Trung Quốc ra đời tại Thượng Hải
- 1923: Phát thanh đều đặn xuất hiện, đầu tiên tại Đức, Bỉ, Phần Lan, Na-uy, Thụy Điển, Tiệp Khắc, Ôxtrâylia
- 1925: Liên hiệp quốc tế phát thanh (UIR) được thành lập tại Gerneve
do Hội Quốc liên bảo hộ (SDN)
- 1927: Một đạo luật thứ 2 tại Hoa Kỳ liên kết vấn đề phát thanh với bản bổ sung đầu tiên của Hiến pháp và thành lập Ủy ban phát triển liên bang (FRC) Từ nay, muốn phát thanh phải có giấy phép
Trang 16- 1933: Hội viên của Liên hiệp Quốc tế phát thanh (UIR) họp tại Lurcene (Thụy Sỹ) thỏa thuận phân chia các sóng
- 1936: Ngày 23/9: Công ước về sử dụng truyền thanh và lợi ích của hòa bình được ký tại Geneve (Thụy Sỹ)
- 1937: Quảng cáo đem lại 70 triệu đô la cho các dài phát thanh thương mại của Mỹ
- 1939: Nước Đức phát thanh ra thế giới bằng 26 thứ tiếng
- Quá trình phát triển kỹ thuật phát thanh trên thế giới có hai bước nhảy vọt quan trọng Đó là những năm bốn mươi, phát thanh FM ra đời, phát triển
và cuối thế kỷ XX, phát thanh số DAB ra đời và hiện nay đang đi vào cuộc sống
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của loại hình báo phát thanh ở nước ta:
Thời điểm đánh dấu sự hình thành và phát triển của ngành phát thanh Việt Nam là ngày 07/09/1945 - sau 5 ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản
“Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 02/09/1945
* Giai đoạn hình thành:
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, ở Việt Nam chưa có Đài phát thanh với tính chất là cơ quan truyền thông đại chúng của một quốc gia có chủ quyền mà chỉ có đài phát thanh tư nhân với công suất nhỏ để quảng cáo thương mại hoặc đài của thực dân Pháp phục vụ chính sách cai trị
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Hồ Chủ Tịch từ Tân Trào
- Tuyên Quang vừa về tới Hà Nội đã nghĩ ngay tới việc giới thiệu nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới Tại số nhà 48- Hàng Ngang- Hà Nội, Hồ Chủ Tịch đã chỉ thị cho Bộ Nội vụ và Bộ tuyên truyền phải xây dựng ngay một Đài phát thanh quốc gia để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân
Trang 17Ngày 05/9/1945, tại trụ sở số 04 phố Đinh Lễ- Hà Nội, đồng chí Trần Lâm, lúc đó đang công tác tại Bộ tuyên truyền được phân công nhiệm vụ thành lập Đài phát thanh quốc gia đã tổ chức triệu tập một cuộc họp quan trọng, quyết định 3 vấn đề lớn: Một là : lấy ngày 07/09/1945 làm ngày thành lập Đài phát thanh quốc gia; Hai là: đặt tên Đài phát thanh quốc gia là Đài Tiếng nói Việt Nam; Ba là: chọn bài hát “Diệt phát xít” của nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi làm nhạc hiệu chính thức của Đài TNVN
Đúng như kế hoạch, 11h30 phút ngày 07/9/1945 , Đài TNVN phát sóng chương trình đầu tiên và bắt đầu bằng lời xướng: "Đây là tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, Thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hoà", do hai phát thanh viên là Dương thị Ngân và Nguyễn Văn Nhất đọc
Trong cuốn “Trong lòng tôi Tiếng nói Việt Nam” đồng chí Trần Lâm - Tổng biên tập đầu tiên của Đài TNVN đã viết: “ Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ chỉ đạo thành lập Đài phát thanh ngay vì đài phát thanh có tác dụng quan trọng cả về mặt tuyên truyền đối nội và đối ngoại Về đối nội, Đài là phương tiện thông tin nhanh nhất, rộng khắp nhất để truyền bá những chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ, phản ánh kịp thời diễn biến của tình hình trong nước và thế giới, là cầu nối giữa trung ương và địa phương, giữa chính phủ và nhân dân Sóng đối ngoại có thể vượt qua biên giới quốc gia, không cần hộ chiếu để chọc thủng bức màn bưng bít của chủ nghĩa đế quốc về tình hình cách mạng ở Việt Nam, đập lại những luận điệu tuyên truyền xuyên tác của chúng và nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp cách mạng của Việt nam” [22, tr.18]
* Với ý nghĩa trọng đại đó, từ thời điểm lịch sử 07/9/1945 Đài TNVN ra đời trải qua các giai đoạn phát triển:
- Thời kỳ 1945 - 1954 ; 1954 - 1975 ; 1976 - 1986: Thời kỳ này kéo
dài 30 năm, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của nhà nước Việt
Trang 18Nam Dân chủ Cộng hòa, gắn bó máu thịt với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xây dựng miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà Trong điều kiện kháng chiến chống thực dân Pháp, Đài TNVN phải tìm mọi cách di chuyển địa điểm để tiếng nói của Đảng, chính phủ và của Bác Hồ đến với nhân dân trong mọi tình huống Sau khi miền Bắc được giải phóng hoàn toàn, Đài TNVN có điều kiện để hoàn thiện một cách tổng thể từ cơ sở vật chất kỹ thuật đến nội dung Đánh giá sự đóng góp của Đài Tiếng nói Việt Nam trong thời kỳ này, Thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã khẳng định: “Đài Tiếng nói Việt Nam đã vượt qua những khó
khăn gian khổ viết nên những trang sử đấu tranh oanh liệt, liên tục làm tròn
sứ mệnh cao quý của mình là ngày ngày đem lại cho đồng bào cả nước những điều cực kỳ quan trọng mà mọi người chờ đợi: Những lời chỉ bảo của Bác
Hồ, những chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ, những tin tức quan trọng ở trong nước và trên thế giới…có tác dụng động viên và cổ vũ đồng bào đoàn kết một lòng, kiên trì sự nghiệp cách mạng, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa củng cố hậu phương lớn, vừa đẩy mạnh cuộc chiến đấu ở tiền tuyến lớn, đi đến thắng lợi hoàn toàn, đem lại độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc” [24, tr.256]
Ký ức về Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trải qua hơn hai mươi năm chống Mỹ cứu nước, với tính chiến
đấu và tinh thần cách mạng tiến công, “Đài TNVN đã có nhiều cống hiến
quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc Đài đã nêu cao đại nghĩa của cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược thực dân mới và chiến tranh phá hoại của tên đế quốc đầu sỏ đối với hai miền Nam - Bắc Việt Nam,
cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của quân và dân cả nước, vạch trần tội
ác của quân xâm lược, tranh thủ trái tim bè bạn, phân hóa, cô lập kẻ thù… Đặc biệt, trong các mốc son lịch sử: cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân
Trang 19Mậu Thân 1968, chiến dịch đường số 09 - Khe Sanh 1968, chiến dịch Trị Thiên 1972 và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 toàn thắng, Đài TNVN thực sự là một binh chủng cùng hiệp đồng tác chiến, tiến công về chính trị, ngoại giao, binh-địch vận, kịp thời, sôi nổi, đạt hiệu quả cao…”
[24, tr.260]
- Thời kỳ 1975 - 1986: Quán triệt nghị quyết Trung ương 6 (khóa IV
tháng 8 năm 1979), Đài TNVN đã nắm bắt tư tưởng mới của Đảng, đi sát thực
tế, phản ánh kịp thời những chuyển động mới, phát hiện nhân tố mới Đài TNVN cùng báo chí cả nước đã góp tiếng nói tích cực, tạo thành kênh thông tin quan trọng giúp Đảng và Chính phủ ban hành chỉ thị 100 của Trung ương
và Nghị định 25 của Chính phủ “dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện đúng chế độ dân chủ, hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa” Đó là sự khẳng định của Đảng ta trong Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ V
Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) với đường lối đổi mới toàn diện được hoàn chỉnh và đi vào cuộc sống Nội dung thông tin tuyên truyền trên các làn sóng Đài TNVN đã khẳng định mạnh mẽ quan điểm đổi mới toàn diện của Đảng ta Thời kỳ này, Đài TNVN có quyết định quan trọng là đổi mới tư duy, đổi mới thông tin, đổi mới phong cách làm báo nói theo hướng thông tin kịp thời, nhanh nhạy, đa dạng, đa chiều, tăng cường tính chiến đấu, tính phát hiện và coi trọng ý kiến thính giả
- Đài TNVN thời kỳ đổi mới - từ 1986 đến 2009:
+ Thời kỳ 1986 - 2000: Đây là thời kỳ sôi động, phát triển mạnh mẽ theo
hướng phát thanh hiện đại Đài TNVN đã đúc rút kinh nghiệm, phát huy truyền thống tốt đẹp, lựa chọn con đường đi trong thời đại bùng nổ thông tin là: đổi mới và nâng cao chất lượng nội dung các chương trình trên sóng phát thanh cùng với đổi mới mạnh mẽ công nghệ phát thanh theo hướng hiện đại
Trang 20hóa làm trục xoay trọng tâm cho toàn bộ hoạt động của Đài TNVN, đó là: tăng thời lượng chương trình, mở ra nhiều hệ chương trình mới
Trong 20 năm đổi mới này, Đài TNVN đã 07 lần đều chỉnh, bổ sung,
mở thêm hệ chương trình phát thanh (bao gồm 04 hệ đối nội, trong đó có hệ chương trình tiếng dân tộc và 02 hệ đối ngoại) với tổng thời lượng 141 giờ
chương trình/ngày, tăng hơn trước thời kỳ đổi mới ba lần (32, tr.44)
Cụ thể, đến năm 2000, Đài TNVN đã có 6 hệ phát thanh, gồm:
-VOV1: Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp
-VOV2: Hệ Văn hóa đời sống xã hội
-VOV3: Hệ Âm nhạc, thông tin và giải trí
-VOV4: Hệ các chương trình phát thanh dân tộc
-VOV5: Hệ dành cho cộng đồng nước ngoài ở Việt Nam
-VOV6: Hệ chương trình đối ngoại và người Việt Nam ở nước ngoài
Song song với việc tăng thời lượng, mở thêm hệ chương trình phát thanh mới, chất lượng nội dung và hình thức thể hiện các chương trình phát thanh, tác phẩm phát thanh không ngừng được đổi mới mạnh mẽ theo lộ trình phát thanh hiện đại Trong một thời gian dài, Đài TNVN đã phấn đấu theo mục tiêu đổi mới cả về nội dung và hình thức nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu thông tin của thính giả, cùng với việc đổi mới công nghệ phát thanh theo hướng hiện đại, mở rộng vùng phủ sóng và đảm bảo sóng phát thanh nghe càng ngày càng tốt hơn và rõ nét hơn
Đặc biệt, để nối dài cánh sóng thông tin, từ 05/8/1998 Đài TNVN đã thành lập Tuần báo Đài TNVN, đánh dấu sự ra đời của tờ báo in “Tiếng nói Việt Nam” Ngày 03/02/1999, Đài TNVN hòa mạng Internet bản tin tiếng Việt và tiếng Anh, khai sinh tờ báo điện tử mang tên VOVnews - là một trong
số ít tờ báo mạng đầu tiên ở nước ta
Trang 21Như vậy đến năm 1999, lần đầu tiên Đài TNVN có đầy đủ 3 phương thức truyền tải thông tin, trong đó, nội dung thông tin trên sóng phát thanh là chủ đạo Báo điện tử VOVnews và tờ báo in Tiếng nói Việt Nam đã thực sự phối hợp, gắn kết, hỗ trợ cho sóng phát thanh, làm cho nội dung thông tin của Đài TNVN ngày càng phong phú và hiệu quả, đa dạng và hấp dẫn hơn
+ Thời kỳ 2000 - nay: Đây là thời kỳ khẳng định sự phát triển vượt bậc
cả về số lượng cũng như chất lượng các chương trình phát thanh của Đài TNVN
Hàng ngày, Đài TNVN có gần 500 chương trình phát thanh (kể cả phát lại) trên các hệ/kênh phát thanh, tăng gấp hơn 8 lần so với thời kỳ trước đổi mới Đồng thời với đó là việc tăng cường các chương trình phát thanh trực tiếp đáp ứng yêu cầu thông tin nhanh nhất Tăng cường mạnh mẽ tính giao lưu, tạo diễn đàn cho đông đảo quần chúng tham gia chương trình phát thanh Tính chiến đấu, tính phát hiện của Đài ngày càng được phát huy hiệu quả Tính trung thực được coi là nguyên tắc bất di bất dịch Làn sóng Đài TNVN
đã tích cực tham gia mạnh mẽ vào mặt trận đấu trnah chống tiêu cực, chống tham nhũng, cửa quyền, chống tình trạng mất dân chủ và đã thực sự có tác dụng sâu rộng trong xã hội
Đánh dấu sự đổi mới rõ nhất trong giai đoạn hiện nay chính là: ngày 04/02/2008, Chính phủ Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ban hành Nghị định số 16/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Đài TNVN Theo đó, Đài TNVN có 06 hệ phát thanh [bao gồm:
Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1); Hệ Văn hoá - Đời sống - Khoa giáo (VOV2); Hệ Âm nhạc - Thông tin - Giải trí (VOV3); Hệ Phát thanh Dân tộc (VOV4); Hệ phát thanh đối ngoại (VOV5) và Hệ phát thanh có hình (VOVTV); Trung tâm Tin; Trung tâm Kỹ thuật phát thanh; Trung tâm Âm thanh; Trung tâm Quảng cáo và Dịch vụ phát thanh (VOVas); Trung tâm Ứng
Trang 22dụng tin học và Phát triển công nghệ phát thanh (RITC); Báo Điện tử VOVNews; Báo Tiếng nói Việt Nam; Cơ quan thường trú khu vực Tây Bắc;
Cơ quan thường trú khu vực miền Trung; Cơ quan thường trú khu vực Tây Nguyên; Cơ quan thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh; Cơ quan thường trú khu vực đồng bằng sông Cửu Long và các cơ quan thường trú tại nước ngoài
do Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam quyết định sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép
1.2 Những điều kiện thuận lợi để Đài TNVN tiếp tục phát triển
1.2.1 Công cuộc Đổi mới của đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo giành được những kết quả to lớn là điều kiện và động lực
để báo chí trong đó có Đài TNVN tiếp tục phát triển Trên cơ sở mục tiêu phát
triển chung, Đảng ta xác định, trong những năm tới, sẽ tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế-xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong lĩnh vực thông tin, tuyên truyền Đảng xác định “Tạo điều kiện
cho các lĩnh vực xuất bản, thông tin đại chúng phát triển, nâng cao chất lượng tư tưởng và văn hóa, vươn lên hiện đại về mô hình, cơ cấu tổ chức và
cơ sở vật chất - kỹ thuật đồng thời xây dựng cơ chế quản lý phù hợp, chủ động, khoa học” [Nghị quyết Trung ương V khóa X]
1.2.2 Đài Tiếng nói Việt Nam là một trong những cơ quan ngôn luận lớn nhất của Đảng và Nhà nước nên được đặc biệt quan tâm phát triển Căn cứ
Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Xét đề nghị của Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 quy định rõ: “Đài Tiếng nói Việt Nam là đài phát thanh quốc gia, là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp
Trang 23luật của Nhà nước, góp phần nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân bằng các chương trình phát thanh, phát thanh trên Internet, phát thanh có hình và báo viết”
Việc Chính phủ cho phép Đài TNVN thành lập Hệ phát thanh có hình (VOVTV) đã cho phép Đài TNVN trở thành cơ quan truyền thông đa phương tiện, có đầy đủ tất cả các loại hình báo chí truyền thống và hiện đại là: báo phát thanh, báo in, báo hình và báo điện tử Chính điều đó đã là điều kiện để Đài TNVN phát triển mạnh mẽ trong điều kiện bùng nổ phương tiện, phương thức truyền thông như hiện nay, để Đài TNVN có điều kiện để đổi mới cả về nội dung và hình thức cũng như áp dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực
kỹ thuật thực hiện nhiệm vụ phủ sóng của Đài TNVN ngày càng rộng lớn tới các vùng nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo
1.2.3 Trình độ dân trí ngày càng được nâng lên, nhu cầu thông tin và giải trí của nhân dân qua sóng phát thanh ngày càng lớn là động lực để Đài TNVN
không ngừng cải tiến và nâng cao chất lương chương trình, mở thêm chương trình mới, kênh mới, cải tiến các hệ phát thanh
Hiện nay, về cơ bản, Hệ Thời sự chính trị tổng hợp đã hoàn thiện theo hướng phát thanh hiện đại Các hệ phát thanh khác đã và đang được cải tiến thành những kênh phát thanh chuyên biệt, phục vụ theo đối tượng có nội dung phong phú và hình thức thể hiện hấp dẫn
1.2.4 Đài có nguồn nhân lực và tài chính đủ mạnh để thực hiện đổi mới:
Hiện nay, Đài TNVN có tổng số (hơn 2000) cán bộ, công nhân viên chức Đội ngũ phóng viên, biên tập viên và kỹ thuật viên của Đài TNVN hiện nay được
bổ sung hàng năm nên tương đối trẻ Có trình độ từ đại học trở lên, nhiều người được đào tạo cơ bản về báo chí trong nước và nước ngoài
Hiện nay Đài TNVN là đơn vị sự nghiệp có thu, vì vậy ngoài phần ngân sách nhà nước cấp, Đài TNVN đã đảm bảo thực hiện thu qua quảng cáo
Trang 24và dịch vụ phát thanh, tạo ra thuận lợi để thực hiện mọi cán bộ công nhân viên được hưởng 2,5 lần lương cơ bản và bộ phận phóng viên, biên tập viên được hưởng chế độ nhuận bút nếu hoàn thành vượt mức định mức được giao
1.2.5 Đài TNVN có đầy đủ các điều kiện kỹ thuật của một Đài phát thanh quốc gia: Hiện nay, mỗi ngày Đài TNVN phát sóng hơn 200 giờ trên 6 hệ
phát thanh Để đáp ứng yêu cầu này, Đài TNVN đã trang bị hàng trăm máy phát sóng có công suất từ 10KW đến 2000KW được vận hành đúng chế độ, đảm bảo an toàn Đến nay, Đài TNVN đã và đang quản lý số thiết bị có tổng công suất 8700 kw trong đó có máy phát công suất 2000kw lớn nhất khu vực châu Á được đặt tại các đài phát sóng phát thanh trải dài từ Nam tới Bắc, từ miền đồng bằng tới miền núi, vùng biển của Tây Nguyên, Tây Bắc, Đồng bằng sông Cửu long Để có thể phủ sóng tới các vùng khó khăn địa hình phức tạp, Đài TNVN đã trang bị nhiều máy phát sóng trung bằng sóng FM Các đài phát sóng FM được đặt tại Tam Đảo, Hàm Rồng, Vũng Chua (Quy Nhơn); núi Bà Đen (Tây Ninh), Sìn Hồ (Lai Châu); Pha Đin (Sơn la), Cầu Đất (Lâm Đồng), Cổng Trời (Quản Bạ, Hà Giang), Mẫu Sơn (Lạng Sơn); Đắc Nông…
Trung tâm Âm thanh của Đài TNVN hiện nay có 40 studio trong đó có
34 studio được sản xuất và truyền âm theo công nghệ số và 400 trạm làm việc âm thanh bằng kỹ thuật số tại các ban biên tập Đây được coi là trung tâm kỹ thuật phát thanh hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á hiện nay
1.2.6 Đài TNVN hiện có đủ các loại hình báo chí và hệ thống các cơ quan thường trú trong nước và nước ngoài đủ mạnh: Cùng với 6 hệ phát thanh,
hiện nay tờ báo Tiếng nói Việt Nam ra một tuần 2 số và báo điện tử VOVnews đã và đang phát huy tác dụng của mình Báo điện tử VOVnews hiện nay là tờ báo điện tử âm thanh lớn nhất ở Việt Nam, đã và đang thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền đối nội, đối ngoại và thông tin mọi mặt đời sống xã hội tới công chúng
Trang 25Hiện Đài TNVN có 5 cơ quan thường trú tại các vùng như Tây Nguyên, Đồng bằng Sông Cửu Long, thành phố Hồ Chí Minh, Miền Trung và Tây Bắc và 6 cơ quan thường trú nước ngoài là Nga, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Ai Cập, Thái Lan Các cơ quan thường trú trong và ngoài nước đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng thông tin, phản ánh kịp thời, đảm bảo tính toàn quốc, toàn diện và quốc tế của Đài Quốc gia
1.2.7 Ngày 18/05/2009, Đài TNVN đã tổ chức khánh thành Trung tâm Phát thanh Quốc gia 58 Quán Sứ - Hà Nội; Phát sóng mặt đất Hệ phát thanh có
hình và phát sóng thử nghiệm Kênh phát thanh giao thông tần số 91MHZ Trung tâm Phát thanh Quốc gia được thiết kế xây dựng đáp ứng yêu cầu tổ chức sản xuất 04 loại hình báo chí: báo nói, báo in, báo điện tử và báo hình, phục vụ mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước cũng như bạn bè quốc tế Công trình đã đánh dấu sự đổi mới, phát triển của Đài TNVN trong xu thế hội nhập, trên bước đường CNH-HĐH đất nước, góp phần thúc đẩy sự đổi mới phong cách làm việc theo hướng chuyên nghiệp hơn, văn minh và hiệu quả hơn
1.3 Vị tri ́ của Hệ thời sự chính trị tổng hợp (VOV1):
1.3.1 Hệ phát thanh:
Xu thế phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường và sự phát triển như
vũ bão của công nghệ thông tin làm cho nhu cầu của con người ngày càng có tính khu biệt, hay nói cách khác là sự “cá biệt hóa” sản phẩm theo thị hiếu của từng nhóm nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân đơn lẻ
Trong nền văn minh công nghiệp, người ta tuân thủ 6 nguyên tắc là: Tiêu chuẩn hóa, chuyên môn hóa, đồng bộ hóa, sự tích tụ, cực đại hóa và tập trung hóa Ngày nay, trong thời đại văn minh hậu công nghiệp - nền văn minh tin học, các nguyên tắc này đang dần dần thay đổi Truyền thông đại chúng hiện nay không giống như trước, mà nó đi sâu vào việc đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng nhiều chiều, thông tin sâu cho từng đối tượng, từng
Trang 26nhóm nhỏ Thực tế cho thấy, quá trình “phi đại chúng hóa” các phương tiện truyền thông diễn ra hết sức mạnh mẽ ở tất cả các loại hình thông tin đại
chúng, đặc biệt là phát thanh và truyền hình
Phát thanh là phương tiện thông tin đại chúng phục vụ đông đảo công chúng Các đài phát thanh phục vụ hàng triệu người nhưng cũng chấp nhận chỉ phục vụ một người, hoặc một nhóm người trong một thời gian nhất định
Xu thế chung của phát thanh hiện nay là ngày càng cố gắng xác định rõ đối tượng để phục vụ Chính vì vậy, tất cả các đài phát thanh lớn trên thế giới đều hình thành những Hệ phát thanh riêng biệt
Ví dụ: Đài phát thanh quốc gia Austraylia hiện có 07 kênh phát thanh, trong đó có các kênh như: News rađio, local Radio; Rađio National; Classical musis FM; Tripple J (nhạc giành cho tuổi trẻ); đài đối ngoại
Đài phát thanh Trung ương Trung quốc hiện có 9 hệ phát thanh trong
đó có các hệ thời sự chính trị, hệ tiếng nói kinh tế, tiếng nói âm nhạc, tiếng nói đô thị, tiếng nói dân tộc, tiếng nói Văn nghệ Trong đó, hệ Thời sự chính trị là hệ tin tức, còn các hệ khác đều mang tính chất chuyên đề phục vụ đối tượng
Đài BBC nằm trong hệ thống phát thanh tại Liên hiệp Vương quốc Anh cũng có rất nhiều kênh phục vụ các đối tượng khác nhau, ví dụ: BBC radio1 chuyên nhạc Rock và Pop cho thính giả dưới 25 tuổi; BBC radio2 cho thính giả trên 50 tuổi; BBC radio3 chuyên phát nhạc cổ điển; BBC radio4 chuyên
về tin tức thời sự; BBC radio5 chỉ chuyên các chương trình trực tiếp Ngoài ra còn hệ thống các đài phát thanh thương mại và các đài của địa phương
Đài phát thanh Thụy Điển (SR) cũng có tới 32 kênh khác nhau, trong
đó có kênh 1 cũng phát thời sự chính trị với nhiều bản tin và phóng sự; kênh 2 chuyên về giáo dục và âm nhạc; kênh 3 là giành cho lứa tuổi dưới 40 và kênh
4 chủ yếu phát tin tức và chương trình hướng về các địa phương
Trang 27Sự phân chia các kênh này là xu hướng tất yếu, nhưng nội dung lại tùy theo tập quán của mỗi quốc gia Ví dụ ở châu Âu bắt buộc phải có một kênh riêng giành cho người yêu thích Âm nhạc cổ điển Người ta phát nhạc cổ điển
cả ngày đêm và có những chương trình hòa nhạc cổ điển trực tiếp với sự tham gia của hàng nghìn thính gỉa trong phòng thu lớn và hàng triệu người khác qua Rađio Nếu như kênh giáo dục, đào tạo ở châu Âu ngày càng có xu hướng thu hẹp lại thì ở Châu Á và các nước đang phát triển kênh này lại có xu hướng phát triển mạnh hơn Ở Việt Nam, Hệ Văn hóa và đời sống xã hội (VOV2) Đài TNVN có chương trình giáo dục từ xa, dạy ngoại ngữ hoặc các chương trình phổ biến kiến thức khác… là một trong những hệ phát thanh có nhiều người nghe, đặc biệt là những người trẻ đang cần kiến thức và kinh nghiệm sống Sở dĩ phân ra các kênh/hệ khác nhau, bởi càng ngày người nghe càng có
xu hướng muốn được lựa chọn nội dung chương trình phù hợp với mình Nếu
họ muốn được cập nhật thông tin từng giờ, từng phút thì đã có kênh Thời sự - Tin tức; muốn biết tình hình giao thông đã có kênh Giao thông, thời tiết… Đặc biệt là giới trẻ và người già trên 50 tuổi luôn là hai đối tượng được quan tâm phục vụ với các kênh riêng biệt Hầu như đài phát thanh nào trên thế giới cũng có kênh nhạc Rock và POP giành cho tuổi trẻ Chương trình âm nhạc này được đan xen với chương trình tin tức ngắn gọn, bình luận thời sự nhanh
và đa dạng khiến cho giới trẻ vừa được nghe nhạc, vừa biết thông tin Cùng với đó kênh giành cho đối tượng người trên 50 tuổi với các loại nhạc cổ điển, đồng quê và những bản tin đọc với tốc độ chậm hơn, nhiều tin dài hơn
Với Đài Tiếng nói Việt Nam, nếu như trước đây các chương trình phát thanh chỉ phát sóng trên cùng một hệ nối tiếp nhau phục vụ tất cả các đối tượng, thì từ năm 1990, Đài TNVN đã hình thành 3 hệ phát thanh song song phục vụ các đối tượng thính giả khác nhau Việc xây dựng các hệ phát thanh riêng rẽ xuất phát từ quan điểm: Phát thanh không nên chỉ bắt thính giả nghe
Trang 28những gì mình có, mà phải nói những điều thính giả cần, quan tâm Cho tới nay, Đài TNVN đã thành lập 6 hệ tương đương với 6 kênh sóng , phục vụ cho từng đối tượng riêng biệt
Như vậy, Hệ phát thanh còn gọi là kênh phát thanh chuyên phục vụ
một hoặc một nhóm đối tượng người nghe cụ thể Trong một thời lượng nhất định, hệ phát thanh có nhiều chương trình phát thanh, hoặc show phát thanh riêng, nhưng nội dung và hình thức đều thống nhất theo một tiêu chí được xác định Hệ phát thanh có bản sắc riêng, được phát trên một hay nhiều tần
số trong một khoảng thời gian nhất định
1.3.2 Hệ thời sự chính trị tổng hợp (VOV1):
Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1) của Đài TNVN được chính thức phát sóng ngày 7-9-2003 Đây là hệ sóng kế thừa hệ chương trình phát thanh đối nội hình thành từ khi Đài TNVN được thành lập Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1) là hệ phát thanh quan trọng nhất của Đài TNVN, được phát trên tần số quen thuộc nhất AM 675Mhz và FM100Mhz Hệ này có các chương trình phát thanh quan trọng như các chương trình thời sự, bản tin thời
sự, các chương trình kinh tế, chính sách và cuộc sống, văn học nghệ thuật, ca nhạc… Hệ VOV1 được phát trong thời gian từ 4h45 phút đến 24 giờ hàng ngày và là hệ mở
Đối tượng của Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1) là đông đảo quần chúng nhân dân, những người ở tuổi trưởng thành, vì thế công tác giáo dục truyền thống, truyền bá chủ nghĩa Mác Lê-nin là một nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu chính vì vậy, mỗi chương trình phát thanh, mỗi sản phẩm phát thanh phát trên Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp đều thể hiện rõ tính chính trị, thể hiện rõ đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nguyện vọng của nhân dân Tin, bài trên hệ này cũng có nhiệm vụ tuyên truyền, phổ
Trang 29biến chính sách, pháp luật của nhà nước trong từng lĩnh vực cụ thể, đồng thời phổ biến kiến thức, hướng dẫn nhân dân…
Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1) cũng có nhiệm vụ phản ánh các
sự kiện chính trị lớn của đất nước và của Đảng; các kỳ họp Quốc hội, hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các hoạt động đối ngoại, các hoạt động văn hóa thể thao… Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1) cũng có các chương trình ca nhạc đáp ứng một phần nhu cầu giải trí với những bài hát truyền thống, bài hát ca ngợi Đảng, Bác Hồ, Đất nước và tình yêu cuộc sống
Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1) của Đài TNVN được chia thành các cụm: Cụm chương trình buổi sáng (gồm thông tin thời sự trong nước, quốc tế); Cụm chương trình thời sự buổi trưa (gồm thông tin kinh tế-khoa học công nghệ); Cụm chương trình buổi chiều (gồm thông tin pháp luật, nội chính, xây dựng Đảng); Cụm chương trình buổi tối (gồm các chương trình văn hóa, xã hội, thể thao và văn học nghệ thuật) Các chương trình trong mỗi cụm được liên kết chặt chẽ với nhau bằng một người dẫn chương trình trực tiếp Các chương trình Thời sự là điểm nhấn của các cụm và tin tức được cập nhật qua các bản tin thời sự đầu giờ
Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1) gắn bó với công chúng chặt chẽ hơn bởi các cuộc tường thuật trực tiếp, các cuộc tọa đàm trực tiếp có sự tham gia của thính giả
Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1) là hệ phát thanh chuyên về tin tức và thời sự chính trị của Đài TNVN, có nhiệm vụ cung cấp thông tin và định hướng thông tin mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước và thế giới, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời có nhiệm vụ giáo dục và truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh cho các tầng lớp nhân dân
Trang 30Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1) hiện được phát sóng hơn 20 giờ/ngày (từ 5h00-24h00), cung cấp thông tin nhanh nhất về các vấn đề thời
sự và chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn học nghệ thuật , âm nha ̣c cho thính giả trong và ngoài nước… Bắt nguồn từ chương trình đầu tiên của Đài Tiếng nói Việt Nam , được phát triển qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, chương trình Thời sự phát triển mạnh mẽ,
là vai trò nòng cốt trong hệ phát thanh Đối nội của Đài TNVN Ngày 01/07/1994, mô hình Hệ Thời sự được thành lập từ hệ Đối nội phát sóng 18 giờ/ngày Ngày 07/09/2003, Hệ Thời sự được bổ sung sắp xếp lại , phát sóng hơn 20h00/ngày từ 4h45 đến 24h00 trên sóng trung và sóng ngắn Tần số từ (594, 630, 648, 655, 666, 675, 690, 711) Khz và (5975, 9530, 7210) Khz Và trên sóng FM 100 Mhz Suốt hơn 64 năm hình thành và phát triển , đến nay ,
Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1) vẫn luôn khẳng định thế mạnh - là trang nhất của Đài phát thanh quốc gia TNVN
1.4 Chương trình phát thanh và chương trình phát thanh kinh tế:
1.4.1 Một số khái niệm:
1.4.1.1 Phát thanh:
Có nhiều khái niệm về phát thanh khác nhau, nhưng thông thường nhất người ta dựa vào phương thức truyền thông tin và đặc điểm của loại hình để đưa ra khái niệm về phát thanh Trong cuốn Báo phát thanh đã chỉ ra rằng:
“Báo phát thanh được hiểu như một kênh truyền thông, một loại hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới âm thanh phong phú, sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để chuyển tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, tác động vào thính giác (vào tai) của công chúng”.Vì vậy, có thể đưa ra một khái niệm chung về báo
phát thanh như sau: “Phát thanh là loại hình báo chí sử dụng kỹ thuật sóng
Trang 31điện từ và hệ thống truyền thanh truyền tới đối tượng ngôn ngữ âm thanh, tác động trực tiếp vào thính giác”.[32, tr.51]
Phát thanh có những đặc điểm: Đây là loại hình truyền sóng tức thì, vì vậy trở thành một loại hình báo chí thông tin nhanh nhất Cũng do cách thức truyền sóng đơn giản nên phát thanh có khả năng phủ sóng rộng, vì vậy thông tin của phát thanh đến với công chúng rộng rãi Do chi phí thấp từ khâu sản xuất, phát sóng đến thiết bị nghe nên phát thanh là loại hình báo chí rẻ tiền nhất nhưng lại tiện lợi nhất bởi người nghe có thể nghe đài ở bất cứ đâu và ở bất cứ thời gian nào Phát thanh là một loại hình báo chí hấp dẫn, bởi nó tạo ra hình ảnh thông qua ngôn ngữ nói, gợi cảm xúc cho người nghe và đặc biệt phát thanh có khả năng tương tác giữa người nghe và người làm chương trình phát thanh thông qua các chương trình phát thanh trực tiếp
1.4.1.2 Chương trình phát thanh:
Theo định nghĩa của các tác giả trong cuốn “Báo phát thanh” thì:
“Chương trình phát thanh là sự liên kết, sắp xếp hợp lý tin, bài, băng tư liệu,
âm nhạc trong một thời lượng nhất định được mở đầu bằng nhạc hiệu và kết thúc bằng lời chào tạm biệt nhằm đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo phát thanh, đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe” [32, tr.216] Còn trong cuốn “Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh” các tác giả không đưa ra một định nghĩa chung về chương trình phát thanh cụ thể, nhưng trong mục “Lên chương trình âm nhạc”, các tác giả cho rằng: “Việc sắp xếp chương trình phát thanh là một sự kết hợp mang tính khoa học cao việc nghiên cứu âm nhạc, thính giả và thị trường”[ 41, tr.166]
Từ góc độ của biên tập viên, thực hiện đề tài luận văn “Đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình thời sự của Đài TNVN”, Ths Đồng Mạnh Hùng
đã đưa ra các yếu tố cơ bản tạo nên một chương trình phát thanh là: Đầu tiên phải có một “ý tưởng” Sau đó mới cụ thể ý tưởng đó bằng tin, bài, hay băng
Trang 32tư liệu - đó chính là “nội dung” của chương trình, còn để liên kết, sắp xếp các nội dung đó thành một chỉnh thể thống nhất, khoa học là nhờ “lời dẫn” Để chương trình hay hơn, hấp dẫn hơn và hợp lý hơn người ta sử dụng “âm nhạc” Tất cả các yếu tố này kết hợp với nhau một cách khoa học sẽ tạo ra một chương trình phát thanh hoàn hảo Chương trình phát thanh này có được phải dựa vào kết quả nghiên cứu thính giả và thị trường Ths Đồng Mạnh
Hùng đưa ra khái niệm chương trình phát thanh như sau: “Chương trình phát
thanh là sự liên kết, sắp xếp hợp lý khoa học giữa nội dung - lời dẫn và âm nhạc, thể hiện được ý tưởng của cơ quan phát thanh và đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí của thính giả”
Nội dung: Là tin, phóng sự, phỏng vấn, voxpop…
Âm nhạc: Là nhạc hiệu, nhạc cắt, nhạc nền, bài hát…
Lời dẫn: Là nội dung lời nói của người dẫn chương trình kết nối các sản
phẩm nội dung và âm nhạc
Có thể mô hình hóa mô ̣t chương trình phát thanh như sau :
Hình 1.1 Mô hình sáng tạo chương trình phát thanh
Mô hình trên cho thấy: Chương trình phát thanh là một tổng thể hoàn chỉnh: Mở đầu bằng nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào Thực ra, mỗi chương trình phát thanh cũng như một tờ báo bắt đầu từ măng-set và kết thúc là thông
Trang 33tin về tòa soạn Nếu một tờ báo sử dụng chữ viết và tranh ảnh để truyền đạt thông tin, thì chương trình phát thanh sử dụng âm thanh gồm lời nói, âm nhạc
và tiếng động để chuyển tải thông tin Cụ thể:
Lời nói: Là giọng nói của người dẫn chương trình, phát thanh viên, biên
tập viên, phóng viên, khách mời, công chúng tham gia chương trình…
Âm nhạc: Gồm nhạc hiệu, nhạc cắt, nhạc nền, nhạc minh họa, bài hát
Tiếng động: hiện trường, trong phòng thu, thu qua điện thoại…
Chương trình phát thanh có thời lượng ổn định và phát trong thời gian nhất định Mỗi chương trình phát thanh có một đối tượng thính giả rõ ràng
Có chương trình giành cho toàn bộ dân chúng (chương trình thời sự), có chương trình dành cho đối tượng như bộ đội, công an, chuyên gia, doanh nghiệp, thanh niên, phụ nữ, người già…(chương trình chuyên đề)
Muốn sản xuất được một chương trình phát thanh, thì dù là một đài nhỏ như đài phường, xã hay đài trung ương, đều phải thành lập những ekip sản xuất chương trình Ekip này gồm:
Hình 1.2: Mô hình ekip thực hiện chương trình phát thanh
Đạo diễn: Là người chịu trách nhiệm chính tổ chức thực hiện chương
trình; đề ra kế hoạch, đề tài, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành
BIÊN TẬP VIÊN KỸ THUẬT
VIÊN
Trang 34viên trong nhóm; viết kịch bản, lập đồng hồ chương trình Đạo diễn trực tiếp điều hành thành viên trong nhóm và đưa ra quyết định xử lý tình huống xảy ra trong quá trình phát sóng
Dẫn chương trình: Là người dẫn dắt chương trình từ đầu đến cuối
Chịu trách nhiệm kết nối từng phần của đồng hồ chương trình bằng những lời dẫn do chính mình viết hoặc viết lại
Phóng viên: Là người chịu trách nhiệm viết tin, bài, phỏng vấn cung
cấp theo yêu cầu của Ban biên tập
Biên tập viên: Là người chịu trách nhiệm sản xuất chương trình, biên
tập và trình bày phần tin, phỏng vấn khách mời
Kỹ thuật viên: Là người chịu trách nhiệm thu thanh, pha âm chương
trình phát thanh và phát sóng chương trình trực tiếp
Chương trình phát thanh là một công trình tập thể Mỗi vị trí có một vai trò quan trọng ngang nhau trong việc thực hiện chương trình Tuy nhiên, người đạo diễn nắm vai trò quyết định từ việc tìm ra ý tưởng, phân công các thành viên và chịu trách nhiệm đến khi phát sóng
1.4.1.3 Chương trình phát thanh kinh tế:
Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích Nghĩa hẹp của từ này chỉ "hoạt động sản xuất và làm ăn của cá nhân hay hộ gia đình" như trong câu: Gia đình tôi chuyển đi xây dựng vùng kinh tế mới Nghĩa rộng của từ này chỉ "toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông" của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia trong một khoảng thời gian, thường là một năm Ví dụ câu: Kinh tế Việt Nam dự kiến đạt mức độ tăng trưởng là 8,2% năm 2006
Trang 35Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên định nghĩa về kinh tế đã thay đổi theo lịch sử các hoạt động kinh tế
Chương trình phát thanh kinh tế: thuô ̣c da ̣ng chương trình phát thanh
chuyên đề, thực hiê ̣n chức năng thông tin đầy đủ , sâu sắc, có trọng tâm, trọng điểm Trên cơ sở định nghĩa, khái niệm về chương trình phát thanh, với tính đặc thù của thông tin kinh tế trong các chương trình phát thanh kinh tế (mang tính chuyên biệt), có thể nêu khái quát về khái niệm chương trình phát thanh
kinh tế như sau: “Chương trình phát thanh kinh tế là sự liên kết , sắp xếp hợp
lý, khoa học giữa nội dung cu ̉a các vấn đề, sự kiê ̣n thuộc lĩnh vực kinh tế được phản ánh , phân tích, bình luận… một cách chuyên sâu , thông qua viê ̣c dẫn dắt, kết nối các vấn đề , sự kiê ̣n liên quan và tạo điểm nhấn qua những chuyên mục, tiết mục… nhằm đáp ứng nhu cầ u thông tin về kinh tế của thính giả”
1.4.2 Vị trí của các chương trình phát thanh kinh tế trên hệ thống các chương trình phát thanh của Đài TNVN:
Trong hệ thống các chương trình phát thanh của Đài TNVN hiện nay, các chương trình phát thanh kinh tế giữ vị trí, vai trò quan trọng, không thể thiếu của Hệ thời sự chính trị tổng hợp (VOV1)
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tháng 4-2006, Đảng ta khẳng định: Đất nước có sự thay đổi cơ bản và toàn diện, đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối
đại đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng cường Đảng ta xác định: “Nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt
Trang 36nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”
Vì vậy, việc đưa tin, phản ánh, phân tích chuyên sâu các vấn đề kinh tế thông qua các chương trình phát thanh kinh tế có ý nghĩa quan trọng, góp phần cung cấp thông tin về các lĩnh vực kinh tế đến với đông đảo tầng lớp thính giả trong và ngoài nước Không chỉ vậy, thông qua các chương trình phát thanh kinh tế, nhiều phân tích, nhận định, đánh giá của các chuyên gia kinh tế giúp cho thính giả là các doanh nghiệp - hạt nhân của nền kinh tế, các nhà hoạch định chính sách hiểu sâu sắc hơn các vấn đề kinh tế vĩ mô, vi mô…
để có những quyết sách đúng đắn, phù hợp
Mô ̣t vấn đề nữa được quan tâm hiê ̣n nay , đó chính là các vụ tham nhũng kinh tế ngày càng có nguy cơ gia tăng , vớ i nhiều dấu hiê ̣u phức ta ̣p , hình thức tinh vi hơn… Các chương trình phát thanh kinh tế với chức năng chuyên đề, với đô ̣i ngũ PV theo dõi chuyên sâu các ngành nghề , lĩnh vực cùng với sự trải nghiê ̣m của mình có điều kiê ̣n để phân tích , mổ xẻ từng vấn đề để thông tin ki ̣p thời tới thính giả , góp phần định hướng dư luận và là cơ sở giúp cho các cơ quan chức năng không chỉ có thông tin mà còn hỗ trợ trong quá trình điều tra , thực thi nhiê ̣m vụ Có thể thấy , trong thời gian qua đã có rất nhiều vụ viê ̣c tiêu cực đươ ̣c phản ánh thông qua các chương trình phát thanh kinh tế và đã có tác dụng rõ rê ̣t Cùng với tiến trình CNH -HĐH đất nước, bên cạnh đi sâu phân tích , phản ánh những mặt tích cực của nền kinh tế , các chương trình phát thanh kinh tế có vi ̣ trí , vai trò quan tro ̣ng trong viê ̣c phê phán những thói hư , tâ ̣t xấu, lơ ̣i dụng chức quyền , tham ô, tham nhũng… làm
Trang 37ảnh hưởng tới quá trình phát triển cũng như tá c đô ̣ng tiêu cực tới nền kinh tế , đất nước.
1.4.3 Quá trình hình thành và phát triển của các chương trình phát thanh kinh tế
Sự hình thành và phát triển của các chương trình , tiết mục , thể tài báo chí phát thanh là kết quả của viê ̣c tăng cường cơ sở vâ ̣t chất kỹ thuâ ̣t , tăng cường lực lượng làm chương trình , đồng thời cũng là do nhu cầu được thông tin của các tầng lớp nhân dân trong từng giai đoa ̣n cách ma ̣ng mới , do yêu cầu của nhiệm vụ chính trị củ a đất nước và thông tin đối ngoa ̣i
Thời điểm đánh dấu sự ra đời và phát triển của các chương trình phát thanh kinh tế trên làn sóng Đài TNVN là vào những năm 1954 - 1960, khi cơ sở kỹ thuâ ̣t của Đài được cải thiê ̣n , khi nguồ n nhân lực được tăng cường và
đă ̣c biê ̣t là đòi hỏi tất yếu của công cuô ̣c xây dựng miền Bắc đi lên XHCN , tất
cả vì miền Nam ruột thịt Năm 1955 - 1956, khi viê ̣c thảo luâ ̣n sôi nổi về đối tươ ̣ng nghe đài ở miền Bắc , hê ̣ chương trình dành cho miền Nam Đài đã xây dựng hàng loa ̣t các chương trình cho các đối tượng khác nhau
Năm 1956, Chương trình dành riêng cho nông thôn (có lúc gọi là chương trình Nông nghiê ̣p ) ra đời Thời gian mới giải phóng , chương trình này tập trung cổ vũ và hướng dẫn tiến hành cải cách ruộng đất , tiến hành sửa sai, nhưng không phủ đi ̣nh những thành quả to lớn của cải cách ruô ̣ng đất ; Động viên sức chi viện của hậu phương để giành toàn thắng ở Điê ̣n Biên Phủ ; Cổ vũ và và hướng dẫn phong trào hợp tác hóa cả bằng bài viết và
những bài hát , những làn điê ̣u dân ca và hát chèo để dễ đi vào nông dân , nhất
là những người có tuổi ; Sử dụng những tấm gương hợp tác xã làm ăn giỏi , tuyên truyền phong trào Đa ̣i Phong (HTX Đa ̣i Phong ở Quảng Bình sản xuất giỏi) do đồng chí Nguyễn Chí Thanh phát đô ̣ng , phổ biến những kiến thức khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t và kinh nghiê ̣m của tỉnh Thái Bình , nổi tiếng nhất về thâm
Trang 38canh lúa Trong 10 năm liên tục , Đài TNVN ủng hô ̣ chủ trương chuyển vụ lúa chiêm thành vụ lúa xuân
Bên ca ̣nh những tấm gương HTX tiên tiến , Đài cũng phê phán những nơi làm ăn kém , đă ̣c biê ̣t là khâu quản lý và do ba n quản tri ̣ tham ô lãng phí Để tuyên truyền nông nghiê ̣p sát với thực tế , Bộ biên tâ ̣p chủ trương Đài TNVN (đã đươ ̣c giải nhất cuô ̣c thi làm máy galen nghe đài ) Mục đích kết nghĩa nhằm có một cơ sở cụ thể vào loại trung bìn h kém để thể nghiê ̣m viê ̣c thực hiê ̣n các chủ trương chính sách của Đảng , thể nghiệm chủ trương cấy lúa xuân và thực hiê ̣n phương pháp chăn nuôi tiên tiến Kết quả là chỉ sau hai năm, Văn Quán đã từ mô ̣t HTX trung bình kém tiến lên thành mô ̣t HTX giỏi nổi tiếng trong cả nước Cũng nhờ việc kết nghĩa với HTX Văn Quán mà một số phóng viên của chương trình này rút ra được nhiều bài ho ̣c kinh nghiê ̣m trong công tác
Cũng trong năm 1956, Chương trình dành c ho công nhân (có lúc gọi là chương trình « Từ nhà máy đến công trư ờng ») chuyên đi sâu vấn đề sản xuất công nghiê ̣p , xây dựng, giao thông vâ ̣n tải và thương nghiê ̣p… Chương trình này quan tâm cả những xí nghiệp quốc doanh , công tư hợp doanh và các HTX tiểu thủ công nghiê ̣p Đồng thời với phong trào Đại Phong trong nông nghiệp , trên mă ̣t trâ ̣n công nghiê ̣p , Đài TNVN đã tuyên truyền ma ̣nh phong trào Sóng Duyên Hải nhằm phát huy điển hình sản xuất và quản lý tố t của nhà máy cơ khí Duyên Hải , Hải Phòng Cũng như trong các chương trình nông nghiệp - vừa nêu những tấm gương người tốt viê ̣c tốt , vừa phê phán những xí nghiê ̣p làm ăn kém do quản lý kém , có những biểu hiện tiêu cực
Đến năm 1962, Đài TNVN được nâng cấp thành mô ̣t cơ quan thường trực Hô ̣i đồng Chính phủ Từ đó, Đài thành lâ ̣p các ban biên tâ ̣p tương đương cấp vụ, cục, trong đó, có Ban biên tập đối nội với hai chương trình trọng tâm
là « Từ nhà máy đến công trường » và « Nông thôn »
Trang 39Vấn đề phổ biến kiến thức khoa ho ̣c , ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống được Đài TNVN quan tâm , nhất là thời kỳ khôi phục và phát triển đất nước sau năm 1954 Những năm 60 của thế kỷ hai mươi , vấn đề phổ biến khoa ho ̣c và đời sống trở thành tiết mục chuyên sâu của Câu la ̣c bô ̣ Khoa học và đời sống thuộc Ban đối nội
Năm 1976, chương trình « Khoa học và đời sống » được thành lập Nô ̣i
dung chủ yếu của chương trình là truyền đa ̣t quan điểm , chủ trương , chính sách về cách mạng khoa học kỹ thuật ; phổ biến kiến thức phổ thông về khoa học kỹ thuật trong sản xuất và đời sống , đồng thời , nâng cao mô ̣t số chuyên
đề cho đối tượng thính giả là trí thức
Tổng kết kế hoạch 5 năm 1991-1995, Đa ̣i hô ̣i Đảng lần th ứ VIII đã
khẳng đi ̣nh : nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài hơn 15 năm, tạo đươ ̣c tiền đề cần thiết để chuyển sang t hời kỳ phát triển mới : đẩy ma ̣nh công nghiê ̣p hóa - hiê ̣n đa ̣i hóa đất nước Nô ̣i dung phát triển khoa ho ̣c và công nghê ̣ đươ ̣c đă ̣t ra rõ ràng , vừa đáp ứng được yêu cầu trước mắt , vừa mở lối cho tương lai Đó là « phát triển khoa ho ̣c công nghê ̣ , nâng cao năng lực nô ̣i sinh để thúc đẩy sự nghiê ̣p CNH - HĐH, nắm bắt những thành tựu khoa ho ̣c của thế giới , lựa cho ̣n và làm chủ công nghê ̣ cao về điê ̣n tử , thông tin , sinh học, vâ ̣t liê ̣u mới và tự đô ̣ng hóa » Đa ̣i hô ̣i IX của Đảng nêu rõ : phương hướng phát triển khoa ho ̣c công nghê ̣ là phát triển đồng bô ̣ « từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng , gắn kết quả khoa ho ̣c với sản xuất , kinh doanh, quản lý và dịch vụ »
Quán triệt các Nghị quyết của Đảng , nội dung tuyên truyền của Đài TNVN chuyển dần sang khoa ho ̣c và công nghê ̣ , từ cải tiến kỹ thuâ ̣t cụ thể sang ứng dụng khoa ho ̣c và công nghê ̣ vào mo ̣i mă ̣t của cuô ̣c sống Vai trò của tri thức, trí thức và chất xám ngày càng được đề cao và tôn trọng
Trang 40Những năm 1986 đến 1990, đất nước gă ̣p nhiều khó khăn và thử thách
trong tiến trình đổi mới toàn diê ̣n Đảng ta nhâ ̣n đi ̣nh : « Mô ̣t thành tựu khá của đổi mới kinh tế là bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vâ ̣n đô ̣ng theo cơ chế thi ̣ trường có sự quản lý của Nhà nước » Trong
bối cảnh li ̣ch sử ấy , lãnh đạo Đài TNVN quyết định thành lập chương trình
« Kinh tế t ổng hợp » nhằm phản ánh , phân tích , bình luận , tổng hơ ̣p các vấn
đề nóng bỏng của cuộc sống ở tầm vĩ mô , bao gồm các lĩnh vực kinh tế nông nghiê ̣p, công nghiê ̣p , thương ma ̣i , dịch vụ , ngân hàng Thông qua mổ xẻ , phân tích c ác quan điểm , lý luận, tham khảo các vấn đề kinh tế thế giới , đưa
ra luâ ̣n điểm, đi ̣nh hướng lâu dài về các vấn đề phát triển kinh tế Thời kỳ này
Ban đối nội đươ ̣c đổi tên thành Ban chuyên đề
Đa ̣i hô ̣i Đảng lần thứ VIII đ ã xây dựng kế hoạch 5 năm 1996-2000 với mức phấn đấu cao cả về tốc đô ̣ phát triển , chất lượng và hiê ̣u quả , thực hiê ̣n đồng thời ba mục tiêu về kinh tế -xã hội : tăng trưởng cao , bền vững và có hiê ̣u quả , ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô , chuẩn bi ̣ tiền đề cho bước phát triển cao hơn sau năm 2000, chủ yếu là phát triển nguồn nhân lực , khoa ho ̣c
và công nghệ , kết cấu ha ̣ tầng, hoàn thiện thể chế
Qua những năm đầu thực hiê ̣n kế hoa ̣ch , đã bô ̣c lô ̣ rõ những khuyết điểm, yếu kém , đó là : nền kinh tế phát triển chưa vững chắc và sức ca ̣nh tranh thấp Cơ chế chính sách không đồng bô ̣ và chưa ta ̣o đô ̣ng lực ma ̣nh để phát triển Trong bối cảnh đó , vấn đề đưa các thông tin kinh tế đòi hỏi nhanh nhưng hiê ̣u quả Nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh của thính giả và nâng cao chất lươ ̣ng nô ̣i dung tuyên truyền , lãnh đạo Đài TNVN quyết định thành
lâ ̣p chương trình « Thời sự kinh tế và giá cả thi ̣ trườ ng » Nội dung phản ánh
các sự kiện kinh tế nóng bỏng , các chủ trương , chính sách mới ban hành đến các nhà lãnh đạo , quản lý , nghiên cứu , các doanh nghiệp , những vấn đề bức xúc, nguyê ̣n vo ̣ng , kiến nghi ̣ của các tầng lớp cô ng nhân, lao đô ̣ng