Tuy nhiên, trong việc sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình của Đài đã bộc lộ những khó khăn nhất định, mặc dù được đầu tư tối đa về công nghệ và trình độ phóng viên, biên t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ SỐ: 60.34.04.12
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Hải
Hà Nội, 2013
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
3 Mục tiêu nghiên cứu 12
4 Phạm vi nghiên cứu 12
5 Câu hỏi nghiên cứu 12
6 Giả thuyết nghiên cứu 12
7 Mẫu khảo sát 13
8 Phương pháp nghiên cứu 13
9 Kết cấu của Luận văn 14
CHƯƠNG 1 ……….15
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 15
1.1 Chính sách khoa học và công nghệ 15
1.1.1 Khái niệm chính sách 15
1.1.2 Khái niệm công nghệ 18
1.1.3 Chính sách khoa học và công nghệ 21
1.1.4 Chính sách công nghệ 22
1.2 Chương trình phát thanh, truyền hình 24
1.2.1 Định nghĩa chương trình phát thanh, truyền hình 24
1.2.2 Đặc điểm chương trình phát thanh, truyền hình 24
1.2.3 Phân loại chương trình phát, thanh truyền hình 25
1.2.1 Lịch sử hình thành công nghệ phát thanh, truyền hình 26
1.3.2 Khát quát công nghệ phát thanh, truyền hình 27
1.3.3 Đặc điểm công nghệ phát thanh, truyền hình 33
1.3.4 Phân loại công nghệ phát thanh, truyền hình 36
1.4 Tính hấp dẫn của chương trình phát thanh, truyền hình 38
1.4.1 Khái niệm tính hấp dẫn chương trình Phát thanh, truyền hình 38
1.4.2 Tiêu chí đánh giá tính hấp dẫn của chương phát thanh, truyền hình 38
* Kết luận Chương 1 40
CHƯƠNG 2 ……….42
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ TRONG 42
PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH 42
CỦA ĐÀI PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH BẠC LIÊU 42
2.1 Giới thiệu tổng quan Đài Phát thanh, truyền hình Bạc Liêu: 42
2.2 Nhân lực khoa học và công nghệ của Đài phát thanh, truyền hình Bạc Liêu 43 2.2.1 Khái quát về nhân lực khoa học và công nghệ của Đài 43
2.2.2 Tuyển dụng nhân lực khoa học và công nghệ của Đài 46
2.2.3 Đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ của Đài 47
2.3 Hiện trạng công nghệ sản xuất chương trình Phát thanh, truyền hình của Đài Phát thanh, truyền hình Bạc Liêu 47
2.3.1 Hoạt động khoa học và công nghệ của Đài 47
2.3.2 Hoạt động đổi mới công nghệ của Đài 51
2.3.3 Hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) của Đài 57
Trang 42.4 Hiện trạng tài chính cho công nghệ sản xuất chương trình phát thanh, truyền
hình của Đài 59
2.4.1 Tài chính cho nhân lực khoa học và công nghệ của Đài 59
2.4.2 Tài chính cho bảo trì, sữa chữa mua sắm thiết bị 60
2.4.3 Tài chính cho công tác nghiên cứu của Đài 60
2.5 Đánh giá tổng quát 61
2.5.1 Đánh giá tính hấp dẫn của chương trình phát thanh, truyền hình của Đài 61
2.5.2 Đánh giá thực trạng chính sách công nghệ trong phát thanh truyền hình của Đài 63
* Kết luận chương 2 65
CHƯƠNG 3 ……….67
HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ 67
TRONG PHÁT THANH, TRUYỀN HÌNH 67
CỦA ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH BẠC LIÊU 67
3.1 Chính sách liên kết với các tổ chức KH&CN và tích hợp công nghệ phát thanh với công nghệ truyền hình 67
3.1.1 Chính sách liên kết với các tổ chức KH&CN trong lĩnh vực Phát thanh, truyền hình 67
3.1.2 Chính sách liên kết tích hợp công nghệ phát thanh với công nghệ truyền hình 68
3.1.3 Khắc phục những rào cản khi thực thi chính sách liên kết 71
3.2 Chính sách xã hội hóa nguồn lực tài chính để nâng cao tính hấp dẫn chương trình phát thanh, truyền hình 76
3.2.1 Xã hội hóa hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình 76
3.3.2 Phát triển dịch vụ để thu hút nguồn lực tài chính 77
3.3 Chính sách nâng cao năng lực nhân lực khoa học và công nghệ của Đài 79
3.1.1 Nâng cao năng lực quản lý của nhân lực KH&CN 80
3.1.2 Nâng cao năng lực của nhân lực KH&CN 88
3.4 Đánh giá tác động của chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền hình của Đài 96
3.4.1 Tác động dương tính qua các khía cạnh mà giả thuyết nghiên cứu chủ đạo đã đặt ra 96
3.4.2 Tác động dương tính về mức độ hấp dẫn qua tính phát hiện và hiệu quả xã hội 98
3.4.3 Tác động dương tính về mức độ hấp dẫn qua các khía cạnh khác 100
3.4.4 Tác động âm tính 101
* Kết luận Chương 3 102
KẾT LUẬN ……… 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Biểu đồ trình độ nhân lực KH&CN……… ……… 21
Bảng so sánh ……… ……… ……… 22
Sơ đồ hệ thống dựng hình phi tuyến 29
Hình giao diện phần mềm Vectobox 30
Sơ đồ mạng phát sóng truyền hình 31
Sơ đồ mạng cộng tác tin 32
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại thông tin, phát thanh, truyền hình đóng mô ̣t vai trò rất lớn không thể thiếu trong đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của các quốc gia Tại Việt Nam, bên ca ̣nh các yếu tố văn hóa , kinh tế và chính tri ̣, các chương trình Phát thanh , truyền hình còn được xem là mô ̣t công cu ̣ thông tin quan trọng trong công tác xây dựng xã hội thông tin, góp phần phát triển nhanh quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước Các chương trình phát thanh, truyền hình Viê ̣t Nam đã có sự phát triển ma ̣nh mẽ và ngày càng phong phú
đa da ̣ng
Song song với sự phát triển kinh tế , văn hóa, xã hội và bùng nổ thông tin là sự phát triển cả về chiều rô ̣ng lẫn chiề u sâu của khán thính giả phát thanh, truyền hình cả nước
Tính đến tháng 3 năm 2012 nước ta có 786 cơ quan báo chí in (184 báo
in, trên 592 tạp chí) với 1016 ấn phẩm trong đó báo có 194 cơ quan gồm 81 báo Trung ương, 113 báo địa phương; tạp chí có 592 cơ quan (475 tạp chí Trung ương và 117 tạp chí địa phương; 1 hãng thông tấn quốc gia; 2 Đài Phát thanh, truyền hình quốc gia; 1 Đài truyền hình ngành; 64 Đài Phát thanh, truyền hình thành phố, 47 đơn vị được cấp phép hoạt động truyền hình cáp, 9 đơn vị cung cấp dịch vụ truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp Trong lĩnh vực thông tin điện tử, cả nước có 61 báo, tạp chí điện tử, 191 mạng xã hội, hơn 1.000 trang thông tin điện tử tổng hợp con số đó vừa nói nên sự đa dạng phong phú của truyền thông đại chúng, song cũng nói lên sự cạnh tranh thông tin giữa các loại hình truyền thông và ngay cả trong từng loại hình với nhau ngày càng gay gắt [17;12]
Từ đó, đòi hỏi các Đài phát thanh , truyền hình ở Viê ̣t Nam phải không ngừng nâng cao chất lượng, đa da ̣ng nô ̣i dung các kênh, các chương trình phát thanh, truyền hình Vì vậy , yêu cầu nâng cao tính hấp dẫn chương trình chương trình phát thanh, truyền hình của các đài phát thanh , truyền hình ở Viê ̣t Nam thông qua viê ̣c hình thành chính sách nguồn lực xã hô ̣i theo hình
Trang 8thức hợp tác sản xuất là vấn đề tất yếu , đă ̣c biê ̣t xét trong mối quan hê ̣ tương quan với phát thanh, truyền hình thế giới hiê ̣n nay Tuy nhiên, trong nhiều năm qua các Đài phát thanh , truyền hình ở Việt Nam vẫn chưa thực sự có chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền hình nhằm nâng cao tính hấp dẫn chương phát thanh, truyền hình cho mình
Đài phát thanh , truyền hình Bạc Liêu là mô ̣t trong số các Đài Phát thanh, truyền hình trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung nhâ ̣n ra thực tế đó , đã và đang thực hiê ̣n theo chủ trương của Đảng và sự chỉ đa ̣o trực tiếp của Tinh ủy , UBND Bạc Liêu Đài luôn là một trong những đơn vị đi đầu trong cả tỉnh về đầu tư và ứng dụng hiệu quả công nghệ mới trong các khâu sản xuất chương trình và truyền dẫn phát sóng Đây
là định hướng chung của Đài trong lĩnh vực công nghệ và dịch vụ là tận dụng các phát triển công nghệ mới để đa dạng hóa các phương thức sản xuất và truyền dẫn kênh chương trình, tận dụng các ưu thế của Đài để đầu tư và phát triển hạ tầng của Đài trở thành trung tâm truyền thông lớn của khu vực đồng bằng sông Cửu Long Từng bước ứng dụng công nghệ kỹ thuật số trong sản xuất và phát sóng chương trình phát thanh, truyền hình Từ đầu năm 2010, Đài đã sản xuất và phát sóng chương trình bằng hệ thống kỹ thuật số, chấm dứt việc sử dụng băng Betacam, băng VHS, băng Cassette, đĩa Minidics
Đài đã có rất nhiều cố gắng trong việc sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu của công chúng Tuy nhiên, trong việc sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình của Đài đã bộc lộ những khó khăn nhất định, mặc dù được đầu tư tối đa về công nghệ và trình độ phóng viên, biên tập, nhưng chương trình phát thanh truyền hình Bạc Liêu cho đến nay thực sự chưa hấp dẫn thu hút bạn nghe và xem Đài sau 15 năm tách tỉnh, đây là vấn đề nhức nhối trong đơn vị Câu hỏi được đặt ra là vấn đề mấu chốt nằm ở đâu? Nguyên nhân tại sao?
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài Hình thành chính sách
công nghệ trong phát thanh truyền hình nhằm nâng cao tính hấp dẫn chương trình phát thanh truyền hình Bạc Liêu làm Luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên
ngành Quản lý KH&CN
Trang 92 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Với sự phát triển mạnh mẽ của KH&CN trên thế giói nói chung, công nghệ phát thanh, truyền hình trên thế giới nói riêng cùng với sự chuyển đổi từ
cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình đã góp phần thúc đẩy ngành phát thanh, truyền hình Việt Nam phát triển mạnh mẽ và trở thành phương tiện của thông tin đại chúng không thể thiếu trong đời sống xã hội hiện nay Tuy nhiên, trong giai đoạn hội nhập và phát triển này đã xuất hiện những bất cập về công tác quản lý của hoạt động phát thanh, truyền hình nói chung và hoạt động KH&CN trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình nói riêng
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định quan điểm: "Phát triển
mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, Phát thanh, truyền hình, xuất bản và phát hành sách trên tất cả các vùng, chú ý nhiều hơn đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số" [17, tr.214] Chính vì
lý do đó, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực truyền thông, lãnh đạo của các Đài phát thanh, truyền hình trong cả nước, các nhà nghiên cứu khoa học, các nhân lực KH&CN trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình… đã bắt đầu có những quan tâm sâu sắc và đầu tư nghiên cứu các đề tài khoa học cũng như tổ chức các hội thảo về hoạt động KH&CN trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình tiêu biểu, các đề tài nghiên cứu hoạt động KH&CN trong lĩnh vực Phát thanh, truyền hình của các Đài phát thanh, truyền hình tại Việt Nam được thể hiện qua một số nghiên cứu sau đây:
- Xây dựng hệ thống các chức danh trong sản xuất chương trình truyền
hình chuyên nghiệp của tác giả Tạ Bích Loan (nhân lực KH&CN của Đài
Truyền hình Việt Nam) Trong đề tài này, tác giả đã mô tả các vị trí công tác
để xây dựng các chức danh quản lý trong quá trình sản xuất chương trình truyền hình
- Nghiên cứu của Ngô Huy Hoàng được thể hiện tại Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý KH&CN với đề tài Đổi mới cơ chế quản lý nguồn
nhân lực KH&CN tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục
Trang 10tiêu phân tích, đánh giá và chỉ ra những bất cập trong công tác quản lý nguồn nhân lực KH&CN đồng thời đưa ra các giả pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu của Cao Anh Minh được thể hiện tại Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý KH&CN với đề tài Đổi mới quản lý hoạt động công
nghệ ngành truyền hình Việt Nam nhằm đổi mới các quan điểm về cơ chế
quản lý hoạt động truyền hình cũng như hoạt động công nghệ truyền hình để thúc đẩy phát triển các hoạt động công nghệ trên toàn ngành truyền hình Việt Nam trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay
- Nghiên cứu của Lê Quang Trung được thể hiện tại Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý KH&CN với đề tài Ảnh hưởng của kinh tế thị trường
đối với hoạt động KH&CN ở Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh nhằm
đánh giá tác động của kinh tế thị trường đối với hoạt động quản lý KH&CN tại Đài Truyền hình TP.HCM khi chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế tự chủ về tài chính và đề xuất các giải pháp đổi mới trong công tác quản lý KH&CN tại Đài Truyền hình TP.HCM cho phù với nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa như nước ta hiện nay
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền được thể hiện tại luận văn
Tính tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp của Đài PT- TH
Hà Nội Từ việc đánh giá thành công, hạn chế của tính tương tác trong hai
chương trình thuộc diện khảo sát, luận văn đưa ra giải pháp đổi mới, nhằm nâng cao tính tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp của Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội
- Nghiên cứu của Phạm Tuấn Anh được thể hiện tại Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN với đề tài Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) nhằm nâng cao năng lực công nghệ sản xuất các chương trình truyền hình - Đài truyền hình TP Hồ Chí Minh, Luận văn này đã đề ra mục tiêu nghiên cứu để thúc đẩy hoạt động R&D để nâng cao năng lực công nghệ sản xuất các chương trình truyền hình tại Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh, trong đó đã khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động R&D tại Đài
Trang 11Truyền hình TP Hồ Chí Minh và đề xuất giải pháp trong việc thúc đẩy hoạt động R&D để nâng cao năng lực công nghệ sản xuất các chương trình truyền hình tại Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh
- Các hội thảo khoa học do Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức gần đây như: Hội thảo giới thiệu về thiết bị công nghệ truyền hình của một số hãng nổi tiếng trên thế giới như Coemar (Ý), BE (Mỹ), Maxtro ( Tây Ban Nha), Sony (Nhật), Panasonic (Nhật Bản) Hội thảo khoa học giới thiệu công nghệ phát thanh, truyền hình số và ứng dụng tại Việt Nam được tổ chức trong khuôn khổ các lần Liên hoan phát thanh, truyền hình toàn quốc
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đây chủ yếu mới chỉ đề cập đến việc đổi mới công nghệ sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình, nhân lực KH&CN trong phát thanh, truyền hình, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền hình nhằm nâng cao tính hấp dẫn của chương trình phát thanh, truyền hình
Mặt khác, cho đến thời điểm này, vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào bàn về việc nhận diện những hạn chế trong công nghệ phát thanh, truyền hình để hình thành chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền hình nhằm nâng cao tính hấp dẫn chương trình phát thanh, truyền hình
Vào năm 2010, với tư cách thành viên Hội đồng kỹ thuật và công nghệ
của Đài Phát thanh, truyền hình tỉnh Bạc Liêu, tác giả của Luận văn này đã trình bày ý tưởng khoa học nhằm hình thành chính sách công nghệ trong Phát thanh, truyền hình nhằm nâng cao tính hấp dẫn của chương trình Phát thanh,
truyền hình trước Hội đồng kỹ thuật và công nghệ, nhưng ý tưởng này đã bị
đa số thành viên Hội đồng bác bỏ Sau 1 năm bổ sung những luận cứ khoa
học cho ý tưởng trên, vào năm 2011 Hội đồng kỹ thuật và công nghệ của Đài
đã chấp nhận cho việc thí điểm áp dụng một số nội dung trong ý tưởng khoa học trên Đặc biệt, vào năm 2012 tác giả Luận văn đã trình bày ý tưởng khoa học này trước Hội đồng thẩm định đề cương Luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành Quản lý KH&CN và đã được Hội đồng bổ sung và nâng ý
Trang 12tưởng khoa học trên thành Luận văn Thạc sĩ khoa học Như vậy, việc hình thành chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền hình nhằm nâng cao tính hấp dẫn của chương trình phát thanh, truyền hình đã được áp dụng tại Đài phát thanh, truyền hình tỉnh Bạc Liêu
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đề ra mục tiêu nghiên cứu: xây dựng chính sách công nghệ
trong phát thanh, truyền hình nhằm nâng cao tính hấp dẫn của chương trình phát thanh truyền hình Bạc Liêu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể sau:
- Khảo sát thực trạng chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền hình của Đài phát thanh, truyền hình Bạc Liêu
- Đề xuất các giải pháp chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền hình của Đài phát thanh, truyền hình Bạc Liêu
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: giai đoạn 2006-2013
- Phạm vi không gian: Đài phát thanh, truyền hình tỉnh Bạc Liêu
5 Câu hỏi nghiên cứu
a Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo: Cần phải hình thành chính sách công nghệ
trong phát thanh, truyền hình như thế nào nhằm nâng cao tính hấp dẫn của chương trình phát thanh, truyền hình tỉnh Bạc Liêu?
b Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Thực trạng chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền hình của Đài phát thanh, truyền hình Bạc Liêu như thế nào?
- Cần phải có giải pháp chính sách gì để nâng cao tính hấp dẫn của chương trình phát thanh, truyền hình tỉnh Bạc Liêu?
6 Giả thuyết nghiên cứu
a Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo: hình thành chính sách công nghệ trong
phát thanh, truyền hình theo hướng liên kết với các tổ chức KH&CN trong
lĩnh vực phát thanh, truyền hình; liên kết tích hợp công nghệ phát thanh và
Trang 13công nghệ truyền hình; xã hội hóa nguồn lực tài chính nhằm nâng cao tính
hấp dẫn của chương trình phát thanh, truyền hình tỉnh Bạc Liêu
b Các giả thuyết nghiên cứu cụ thể:
- Thực trạng chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền hình của Đài Phát thanh, truyền hình Bạc Liêu được thể hiện qua các mặt:
+ Nhân lực KH&CN của Đài hạn chế về số lượng và chất lượng nên khó tiến hành các hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D)
+ Hoạt động nghiên cứu và triển khai, đổi mới công nghệ trong phát thanh, truyền hình của Đài không được coi trọng
+ Tài chính đầu tư cho công nghệ sản xuất chương trình chưa đóng góp tích cực và hiệu quả
- Để nâng cao tính hấp dẫn của chương trình phát thanh, truyền hình tỉnh Bạc Liêu, cần phải hình thành chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền hình theo các hướng:
+ Liên kết với các tổ chức KH&CN trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình;
+ Liên kết tích hợp công nghệ phát thanh và công nghệ truyền hình; + Chính sách đổi mới hoạt động R&D
+ Chính sách xã hội hóa nguồn lực tài chính của Đài nhằm nâng cao tính hấp dẫn chương trình phát thanh, truyền hình Bạc Liêu
+ Chính sách nâng cao năng lực nhân lực KH&CN của Đài nhằm nâng cao tính hấp dẫn chương trình phát thanh, truyền hình Bạc Liêu
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tác phẩm khoa học
có liên quan đến đề tài;
Trang 14- Phương pháp khảo sát thực địa: quan sát có chuẩn bị trước, quan sát không chuẩn bị trước, quan sát hình thái và quan sát chức năng
- Phương pháp phỏng vấn:
+ Phỏng vấn trực tiếp Ban Giám đốc Đài ; Trưởng/Phó Trưởng ban của Đài; Các chuyên viên Cách phỏng vấn: gửi trước câu hỏi, đối tượng được phỏng vấn chuẩn bị trả lời, tác giả trực tiếp nghe và trao đổi ý kiến với người được hỏi
+ Phỏng vấn khán, thính giả tại thành phố Bạc Liêu và khán, thính giả tại các xã thuộc 4 huyện chưa phủ sóng truyền hình Cách phỏng vấn: trực tiếp, không có chuẩn bị trước
- Điều tra bằng bảng hỏi: phát 150 phiếu hỏi khán, thính giả tại thành phố Bạc Liêu và khán, thính giả tại các xã thuộc 4 huyện chưa phủ sóng truyền hình
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của Luận văn
Chương 2: Thực trạng chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền
hình của Đài phát thanh, truyền hình Bạc Liêu
Chương 3: Giải pháp chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền
hình của Đài phát thanh, truyền hình Bạc Liêu
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
1.1 Chính sách khoa học và công nghệ
1.1.1 Khái niệm chính sách
Trong mục này, Luận văn sử dụng tài liệu của Vũ Cao Đàm [11;25]
Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó có: tiếp cận chính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp
Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây:
- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá trị
pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà
chủ thể quyền lực mong đợi
- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể
quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó
- Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động
của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra
- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời
khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội)
- Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một
Trang 16đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ
thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý
Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa:
Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một
ý nghĩa khái quát, đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,
Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích
thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các
đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, )
- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và
nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là
cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách
- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói
trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh
doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,
Trang 17Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:
- Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó
trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn
thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau
- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất
đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách thực
chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới
những bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo
tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển
- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những
biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm
“Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ” theo một nghĩa nào đó
Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ
có thể một vài cách tiếp cận trong đó
Định nghĩa của Luận văn:
Từ những phân tích trên đây, Luận văn sử dụng định nghĩa Chính sách
là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội [11; 29]
Trang 181.1.2 Khái niệm công nghệ
Trên thế giới hiện nay việc đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về công nghệ lại chưa có được sự thống nhất, các công nghệ hiện có trên toàn cầu nhiều đến mức không thể thống kê được Công nghệ lại hết sức đa dạng, khiến những người sử dụng một công nghệ cụ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau sẽ dẫn đến sự khái quát của họ về công nghệ sẽ khác nhau Bên cạnh đó, sự phát triển như mạnh vũ bão của KH&CN làm thay đổi nhiều quan niệm cũ tưởng như vĩnh cửu, cũng là nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất trên Tuy nhiên, xét trên góc độ khoa học quản lý, việc đưa ra được định nghĩa khái quát về công nghệ là một việc làm mang tính cần thiết, bởi vì không thể quản lý được công nghệ khi chưa biết rõ công nghệ là gì Hiện nay, công nghệ có rất nhiều khái niệm khác nhau tùy ở mỗi
tổ chức mà công nghệ được định nghĩa ở một dạng khác nhau chẳng hạn như:
Công nghệ có nguồn gốc từ technologia, hay τεχνολογια, trong tiếng
Hy Lạp; techne có nghĩa là thủ công và logia có nghĩa là "châm ngôn"
- Là một hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề hoặc một lớp vấn đề kỹ thuật
- Công nghệ là một cơ thể kiến thức:
+ Một hoặc một số giải pháp để quyết một số vấn đề kỹ thuật + Con đường để giải quyết một số vấn đề kỹ thuật
+ Toàn bộ kiến thức được chuyển vào hệ thống, bất kể từ nguồn nào để luận cứ cho sự phát triển
- Công nghệ là một phương tiện
- Công nghệ gồm bốn phần:
+ Phần kỹ thuật + Phần thông tin + Phần con người + Phần tổ chức Khái niệm công nghệ hiện được dùng không chỉ trong công nghiệp mà
đã thâm nhập vào hàng loạt bộ môn khoa học và lĩnh vực hoạt động khác nhau như: công nghệ dạy học, công nghệ quản lý, công nghệ kiểm tra
Trang 19Theo luật KH&CN (2000) của Việt Nam đưa ra khái niệm công nghệ:
“Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công
cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”
Để phù hợp với quy định của Luật Chuyển giao công nghệ (2006),
Theo luật KH&CN (2013) của Việt Nam đưa ra khái niệm công nghệ: Công
nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [15;
điều 3.2]
Theo J Baranson (1976) định nghĩa công nghệ như sau: “Công nghệ là
tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoan chỉnh”
Theo R.Jones (1970) đưa ra, cho rằng: “ Công nghệ là cách thức mà
qua đó các nguồn lực chuyển thành hàng hóa”
Theo OECD trong một nghĩa chung nhất đã tập trung vào các hành
động và quy tắc như sau: “ Công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật,
mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và qui tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong hoàn cảnh cụ thể nhất định” [22;31]
Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (United
Nations Industrial Development Organization – UNIDO): “công nghệ là hệ thống tập hợp kiến thức và kết quả của khoa học ứng dụng nhằm mục đích biến đổi nguồn lực tự nhiên thành những mục tiêu sinh lợi cho xã hội” [25]
Theo quan điểm của Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific –
ESCAP): “công nghệ là kiến thức có hệ thống về qui trình và kỹ thuật dùng
để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ” Quan điểm này đã được thừa nhận là bước ngoặt quan trọng trong
khái niệm về công nghệ Tiến sĩ K Ramanathan, Giám đốc Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dương, đơn vị trực thuộc ESCAP đã chỉ
Trang 20ra rằng: công nghệ có bốn thành phần là thiết bị, con người, thông tin và tổ chức
+ Thành phần thiết bị (Technoware): bao gồm các công cụ, các phương tiện sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm mong muốn Thành phần thiết bị gồm hệ thống biến đổi nguyên vật liệu và hệ thống xử lý thông tin
+ Thành phần con người (Humanware): là kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất biểu hiện về mặt con người của công nghệ
+ Thành phần tổ chức (Orgaware): đề cập tới sự hỗ trợ về nguyên lý, thực tiễn và bố trí để vận hành hiệu quả việc sử dụng thành phần thiết bị
(Technoware) bởi thành phần con người (Humanware) nó có thể được thể
hiện thông qua các thuật ngữ như nội quy công việc, tổ chức công việc, sự thuận tiện trong công việc, đánh giá công việc và giảm nhẹ công việc
+ Thành phần thông tin (Inforware): Biểu thị việc nhạy bén nắm bắt thông tin, tích lũy kiến thức bởi con người Dù có tổ chức tốt, “con người” cũng không thể sử dụng “máy móc” hiệu quả nếu không có cơ sở “thông tin, tài liệu”
Định nghĩa này đã được ESCAP mở rộng thêm: “bao gồm tất cả các kỹ
năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất chế tạo, dịch
vụ, quản lý, thông tin”.[25;37]
Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể, mà mở rộng khái niệm công nghệ ra các lĩnh vực dịch vụ và quản lý Và do vậy, nó được coi là một bước ngoặt trong lịch sử quan niệm về công nghệ
Ở Việt Nam, trước đây thường có quan niệm cho rằng: “Công nghệ là
kiến thức, kết quả của khoa học ứng dụng nhằm biến đổi các nguồn lực thành các mục tiêu sinh lợi”.[13;4] Tuy nhiên, cách hiểu phổ biến nhất hiện nay,
phù hợp với các quan điểm, chính sách phát triển và quản lý công nghệ
Tùy theo mục đích, người ta phân loại các công nghệ như sau:
- Theo tính chất: Công nghệ sản xuất, công nghệ biên tập, công nghệ
dịch vụ, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ đào tạo
Trang 21- Theo ngành nghề: Công nghệ công nghiệp, công nghệ nông nghiệp;
công nghệ sản xuất hàng tiêu dùng, công nghệ vật liệu
- Theo đặc tính công nghệ: Công nghệ đơn chiếc, công nghệ hàng loạt,
công nghệ liên tục
- Theo sản phẩm: Phân theo sản phẩm mà công nghệ sản xuất ra ; Ví
dụ: công nghệ xi măng, năng lượng, ô tô, xe đạp,
- Theo mức độ hiện đại: Cổ điển, trung gian, tiên tiến
- Theo mục tiêu: Dẫn dắt, thúc đẩy, phát triển
- Theo sự ổn định công nghệ: Công nghệ cứng, công nghệ mềm, công
nghệ Nano
Định nghĩa của Luận văn
Tổng hợp các quan niệm được nêu trên về công nghệ, trong luận văn,
tác giả sử dụng định nghĩa: công nghệ là tập hợp của bốn thành phần thiết bị,
con người, thông tin và tổ chức Bốn thành phần này là một tập hợp không thể
thiếu của một công nghệ bất kỳ nào dù là đơn giản hay phức tạp Chúng tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra sự biến đổi mong muốn
1.1.3 Chính sách khoa học và công nghệ
Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc
(UNESCO): "Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành
pháp được thực hiện để nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN với mục tiêu đạt được mục đích quốc gia" [25]
Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN
Theo thông lệ chung chính sách KH&CN là những phương châm, điều
lệ, qui định Đó là những nguyên tắc và qui tắc do một Nhà nước, một ngành, một cơ sở trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhất định, đặt ra nhằm phát triển KH&CN
Định nghĩa của Luận văn:
Trang 22Trên cơ sở chính sách mà Vũ Cao Đàm đã định nghĩa [11;31], Luận văn xin đưa ra định nghĩa về chính sách KH&CN như sau:
Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Quốc hội và HĐND các cấp
Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Chính phủ và UBND các cấp
Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh:
- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN
- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới
dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN
- Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá
nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN
- Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã
hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế -
xã hội nói chung
1.1.4 Chính sách công nghệ
Trong một nghiên cứu của Edward Elgar1
trong tác phẩm The New
Economics of Technology Policy [21;15] đã bàn đến khái niệm chính sách
công nghệ, trong đó bao gồm các thành tố:
- Là tập hợp các biện pháp, giải pháp, kế hoạch của bốn thành phần thiết bị, con người, thông tin và tổ chức của một tổ chức hoặc một chủ thể quản lý đưa ra nhằm định hướng cho hoạt động công nghệ phát triển
- Chính sách về thành phần thiết bị: Là các giải pháp, phương thức,
1 Tác giả tham khảo từ Edward Elgar (2011), The New Economics of Technology Policy, Publishing Limited
The Lypiatts, ISBN 978 1 84844 349 5 P.19-21
Trang 23hoạch định, dự trù kế hoạch mua sắm, đầu tư, xây dựng, bảo trì, bảo dưỡng hệ thống thiết bị, dây chuyền sản xuất, máy móc, duy tu, chỉnh trang cơ sở sản xuất, trụ sở làm việc nhằm tạo nên sản phẩm phù hợp và hiệu quả với thị trường
- Chính sách về nhân lực (con người): Là các phương pháp, giải pháp nhằm đào tạo, phát triển kỹ năng và đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người kết hợp với kinh nghiệm sản xuất đồng thời thông qua đó đánh giá, thẩm định
về năng lực của con người nhằm có các biện pháp, hoạch định thay đổi phù hợp, hiệu quả, tích cực cho con người phát triển
- Chính sách về tổ chức: Là các phương thức, cách thức, nguyên tắc, bố trí kết hợp với thực tiễn nhằm áp dụng, khai thác, vận hành thành phần thiết
bị, hệ thống dây chuyền sản xuất, máy móc hiệu quả bởi con người thông qua quy tắc công việc, tổ chức, sự thuận lợi công việc, đánh giá công việc và giảm nhẹ công việc
- Chính sách về thông tin: Là các giải pháp, phương pháp tạo điều kiện cho con người tiếp cận, học hỏi, cập nhật, tích lũy thông tin, dữ liệu nhằm tạo nên mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố con người, thiết bị, thông tin được tổ chức toàn diện và phát triển theo mong muốn của đơn vị
Định nghĩa của Luận văn:
Trong khuôn khổ của Luận văn, để phù hợp với đối tượng nghiên cứu,
do đó chính sách công nghệ trong phát thanh, truyền hình phải hướng tới các tiêu chí sau:
- Liên kết về công nghệ phát thanh, truyền hình với các tổ chức KH&CN chuyên nghiệp Tổ chức KH&CN chuyên nghiệp trong mục này được hiểu là tổ chức phát thanh, truyền hình đã và đang sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình đạt tính hấp dẫn;
- Liên kết chuyển giao công nghệ phát thanh, truyền hình được hiểu là chuyển giao thông qua một khâu trung gian
- Liên kết chuyển giao công nghệ phát thanh, truyền hình còn được hiểu là chuyển giao trực tiếp cả phần cứng và phần mềm công nghệ phát thanh, truyền hình từ các nhà cung cấp độc lập, được liên kết tích hợp để tạo
Trang 24thành sản phẩm phát thanh, truyền hình mới, đạt hiệu quả về tính hấp dẫn mà từng công nghệ độc lập không thể mang lại
- Đổi mới hoạt động nghiên cứu và triển khai, nhằm nâng cao năng lực tiếp nhận và làm chủ công nghệ phát thanh, truyền hình
- Xã hội hóa nguồn lực tài chính để tiếp nhận công nghệ sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình đạt tính hấp dẫn;
- Chính sách nâng cao năng lực công nghệ của nhân lực KH&CN trong việc sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình đạt tính hấp dẫn;
Các tiêu chí của chính sách công nghệ vừa nêu là những luận cứ khoa học đã nêu trong giả thuyết nghiên cứu và sẽ được Luận văn chứng minh trong chương 3
1.2 Chương trình phát thanh, truyền hình
1.2.1 Định nghĩa chương trình phát thanh, truyền hình
Là tập hợp liên kết các yếu tố như: Thiết bị máy móc, con người như: Các biên tập viên nội dung, các đạo diễn, các kỹ sư chuyên về âm thanh ánh sáng hình ảnh phim trường, các kỹ thuật viên thu dựng lồng ghép âm thanh ánh sáng hình ảnh v.v.v với sự hỗ trợ đắc lực của tài chính Tất cả được tổ chức, kiểm duyệt theo định hướng của một chủ thể và sản xuất thành một sản phẩm phát thanh, truyền hình Một chương trình phát thanh, truyền hình bao gồm nhiều sản phẩm phát thanh, truyền hình được sắp xếp theo một chuẩn khung lịch do Đài quyết định
1.2.2 Đặc điểm chương trình phát thanh, truyền hình
Trong các loại truyền thông đại chúng, phát thanh, truyền hình là phương tiện truyền thông mang tính đặc thù riêng, tuy nhiên nó là sản phẩm của nền văn minh của KH&CN phát triển Phát thanh, truyền hình có sự khái quát triết lý của báo in, báo nói, tính chuẩn xác cụ thể bằng sự thể hiện sống động âm thanh, hình ảnh
- Lượng thông tin: Thông tin trong phát thanh, truyền hình thường mang tính tức thời, cụ thể, dễ nghe, dễ hiểu, âm thanh tự nhiên, hình ảnh tự nhiên có tính thuyết phục cao
Trang 25- Âm thanh, hình ảnh trong phát thanh, truyền hình: Âm thanh, hình ảnh trong phát thanh, truyền hình vừa là phương tiện vừa là nội dung thể hiện
ý đồ tư tưởng của tác phẩm Âm thanh, hình ảnh trong phát thanh, truyền hình là những yếu tố tồn tại khách quan trong đời sống xã hội, nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình thông tin Phát thanh, truyền hình thể hiện âm thanh của phát thanh và kế thừa kinh nghiệm xử lí hình ảnh của điện ảnh Các yếu tố cơ bản của âm thanh, hình ảnh (lời bình, tiếng động, âm nhạc, hình ảnh) được sử dụng trong phát thanh, truyền hình nhằm thông tin phản ánh cuộc sống Nhờ sự trợ giúp của thiết bị kỹ thuật hiện đại, phát thanh, truyền hình trở nên sống động như bản thân cuộc sống đang hiện hữu
Ví dụ: Âm nhạc trong bản thân tác phẩm phát thanh, truyền hình phải
là âm thanh từ cuộc sống thực tế, hình ảnh sống động từ cuộc sống thực tế, những hình ảnh và âm thanh ghi lại hơi thở, động thái của cuộc sống Tính trung thực, rõ ràng, sắc nét, sinh động của âm thanh, hình ảnh trong Phát thanh, truyền hình là sức mạnh của thể loại này
- Tiếng động hiện trường: Tiếng động hiện trường bao gồm âm thanh của thiên nhiên (mưa, gió, nước chảy…), âm thanh do sinh hoạt con người tạo nên (tiếng dụng cụ lao động, máy móc, tiếng reo hò…) tiếng động nhân tạo
Rõ ràng làm tăng sự gợi cảm, cảm xúc, tính chân thực của phát thanh, truyền hình, tác động và nhận thức, tình cảm của người nghe và xem Nó giúp cho người nghe và xem, người nghe có thể hiểu rõ hơn về nội dung của những bản nhạc do ai sáng tác và ai thể hiện và thể hiện như thế nào khi trên sân khấu và những âm nhạc được lồng sâu lời bình cũng làm cho công chúng đón nhận những sự kiện, hiện tượng đó qua những dòng nhạc
- Phát thanh, truyền hình là phương tiện nghe và quan sát trực tiếp cuộc sống của mỗi gia đình, khả năng trực quan có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình nhận thức của con người Âm thanh, hình ảnh trong phát thanh, truyền hình là phương tiện để tác giả biểu thị ý đồ, tư tưởng
1.2.3 Phân loại chương trình phát, thanh truyền hình
Trên thế giới hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ phát thanh, truyền hình
Trang 26hiện đại vẫn liên tục cho ra đời nhiều hình thức sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình phong phú, đa dạng chưa thể định danh Nhưng nhìn chung, thực tiễn sinh động của phát thanh, truyền hình hiện nay có thể được phân chia:
+ Chương trình phát thanh, truyền hình cho chính sự
+ Chương trình phát thanh, truyền hình cho giải trí
1.2.1 Lịch sử hình thành công nghệ phát thanh, truyền hình
Trong lịch sử hình thành và phát triển lĩnh vực báo chí tại Việt Nam, các loại hình báo chí đều có một đặc điểm chung là muốn truyền tải thông tin đến đối tượng, để thực hiện được điều đó thì cần phải có phương tiện mang
thông tin trung gian (Media of Communication) hay gọi tắt là phương tiện
truyền thông (Media) Bao gồm của tất cả các thông tin đầu vào, dây chuyền
xử lý để có được thông tin đầu ra, và cuối cùng là thông tin được truyền tải đến người thụ hưởng thì gọi là công nghệ truyền thông
Tuy nhiên, vì yêu cầu thúc đẩy sự phát triển của công nghệ truyền thông với động cơ chính là mục tiêu về truyền tải thông tin, mục tiêu đưa thông tin nhanh nhất đến số lượng nhiều nhất các đối tượng khán giả … đã phân loại công nghệ truyền thông Việt Nam thành 04 loại như sau:
+ Báo in (báo viết): Là các ấn phẩm xuất bản và phát hành định kỳ đưa
thông tin đến với công chúng Hình thức của loại báo này được thể hiện trên giấy, có hình ảnh minh họa Báo viết là loại báo truyền thống và xuất hiện đầu tiên trong lĩnh vực truyền thông đại chúng
+ Báo tiếng (phát thanh): Phát thanh có thế mạnh của sự nhanh nhạy,
linh hoạt và phương thức thông tin sinh động bằng lời nói so với báo in Trong thời đại mà nhu cầu nắm bắt thông tin ngày càng trở nên bức thiết - không chỉ chiếm ưu thế về khả năng to lớn trong việc cung cấp cho công chúng những thông tin nhanh nhất - phát thanh còn có lợi thế hơn hẳn trong việc tiếp cận nguồn tin đối với những địa điểm xa xôi, hiểm trở, cách xa các trung tâm đô thị Thông tin được chuyển tải qua thiết bị đầu cuối là vô tuyến
truyền thanh ( radio ) bằng ngôn ngữ
Trang 27+ Báo hình (truyền hình): Truyền hình ra đời để đáp ứng nhu cầu
thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người Sự phát triển của truyền hình bắt nguồn từ nhu cầu phát triển của báo chí muốn tiếp cận đến đông đảo đối tượng khán giả và khi sự phát triển đã đạt đến khả năng phổ cập rất lớn bởi vai trò phản ánh hiện thực của nó, truyền hình đã thay đổi tính chất, trở thành hoạt động truyền thông đại chúng và là một ngành của công nghệ truyền thông đại chúng Tuy nhiên tính chất báo chí vẫn còn nguyên và
có phần ngày càng được phát huy mạnh mẽ hơn nhờ sự tiến bộ của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
+ Báo mạng (báo điện tử): Là loại báo mà người ta đọc nó trên máy
tính, điện thoại di động, máy tính bảng bằng cách sử dụng giao diện website trên môi trường Internet để truyền tải thông tin bằng bài viết, âm
thanh, hình ảnh, các đoạn video gồm cả hình ảnh động và âm thanh (video
clip) Báo điện tử là loại báo mới được xuất hiện trong giai đoạn bùng nổ
công nghệ thông tin
Định nghĩa của Luận văn:
Tóm lại, khái niệm phát thanh, truyền hình có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo từng quan điểm và cách tiếp cận Nhưng chung quy phát thanh,
truyền hình là sự kết hợp hài hòa giữa báo nói (phát thanh) và báo hình
(truyền hình)
Trong khuôn khổ phạm vi Luận văn này tác giả sử dụng khái niệm phát thanh, truyền hình là một ngành của công nghệ truyền thông đại chúng và là một bộ phận của lĩnh vực công nghệ truyền thông
1.3.2 Khát quát công nghệ phát thanh, truyền hình
Từ góc nhìn công nghệ, lĩnh vực phát thanh, truyền hình là một tập hợp các yếu tố cơ hữu phải có: Thiết bị, con người, thông tin và tổ chức Nhìn tổng quan, ta thấy phát thanh, truyền hình là một hệ thống các phân xưởng, các dây chuyền sản xuất và hệ thống phân phối sản phẩm là chương trình phát thanh, truyền hình Một sản phẩm phát thanh, truyền hình luôn luôn phải qua các giai đoạn cơ bản: chuẩn bị, tiền kỳ, hậu kỳ, lưu trữ và cuối cùng là giai đoạn phân phối, cụ thể như sau:
Trang 28Giai đoạn chuẩn bị (Planning): Một chương trình phát thanh, truyền hình muốn thực hiện thì công việc trước tiên là phải có ý tưởng về nội dung với việc xác định mục tiêu và đối tượng khán giả chương trình Tiếp theo là công việc biên tập chương trình, biên tập chương trình là một thiết kế, mô tả chi tiết về chương trình sẽ thực hiện: Kịch bản lời thoại của nhân vật, kịch bản về bố cục các hình ảnh, kịch bản về âm thanh, kịch bản về ánh sáng (kỹ xảo, tiếng động, khói lửa, sấm chớp mưa gió, âm nhạc…) Làm tăng sự phong phú chương trình phát thanh, truyền hình tránh đi trùng lắp gây nhàm chán, trong thời gian gần đây việc xã hội hóa các kịch bản phát thanh, truyền hình qua phương cách đặt hàng hay mua các kịch bản từ các công ty, đơn vị, cá nhân bên ngoài hoặc cùng nhau hợp tác Giai đoạn chuẩn bị rất quan trọng vì đây là mấu chốt sự thành công của chương trình phát thanh, truyền hình Các công tác khác như lựa chọn nhân sự (đạo diễn chương trình, diễn viên, kỹ thuật, đội ngũ làm việc…), tài chính (đầu tư, thuê máy móc thiết bị), kế hoạch thực hiện v.v.v Thực chất đây có thể xem như là giai đoa ̣n nghiên cứu và triển khai (R&D) Tuy nhiên, sản phẩm của giai đoa ̣n này là công nghệ, có giá trị thương mại nên được xem như nằm trong lĩnh vực hoa ̣t động công nghệ
Giai đoạn tiền kỳ (Acquisition): Đây là giai đoạn thu thập các dữ liệu,
nguyên liệu chuẩn bị cho quá trình sản xuất chương trình Nguyên liệu, dữ liệu ở giai đoạn này là thông tin thô có nhiều dạng khác nhau: âm thanh, hình ảnh, ánh sáng, văn bản… các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho tác nghiệp của phóng viên, biên tập như: Máy ghi âm, mirophone, máy ghi băng, hệ thống âm thanh ánh sáng, hệ thống phim trường, trường quay v.v.v đây được xem là phần cứng Mặt khác các kỹ năng, khả năng, nghiệp vụ để tập hợp được nhiều thông tin có ích nhất phục vụ cho quá trình hậu kỳ sau này được xem như là phần mềm Bất kỳ một chương trình, sản phẩm phát thanh, truyền hình luôn luôn tồn tại phần cứng và phần mềm tùy theo từng giai đoạn
có sự biến đổi khác nhau, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tế Sự thành công của giai đoạn tiền kỳ phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn chuẩn bị từ khâu nhân sự, kế hoạch thực hiện, tài chính, đặc biệt là chất lượng của kịch bản, vì kịch bản càng chi tiết, sâu sát thì thông tin càng chính xác, dễ dàng và phong
Trang 29phú Ở đây tính hiệu quả chủ yếu đƣợc tính theo tỉ lệ các thông tin hữu ích (sử dụng đƣợc) trên chi phí bỏ ra
(sơ đồ 1: Quy trình sản xuất chương trình Phát thanh, truyền hình Bạc Liêu)
Trang 30Giai đoạn hậu kỳ (Post Production = Ingest + Edit): Đây là giai đoạn
quan trọng để hình thành một sản phẩm hoàn chỉnh là một tác phẩm phát thanh, truyền hình Lúc này, các thông tin, dữ liệu sẽ được tổng hợp lại để truyền tải về và đưa vào xử lý như: thực hiện quá trình biên tập lại, thể hiện lời bình, chọn lọc âm thanh hình ảnh, lồng tiếng, kỹ xảo, Đây là giai đoạn tốn kém nhiều chi phí, thời gian, nhân lực (phụ trách, âm thanh, hình ảnh, kỹ thuật dàn dựng, biên tập, đạo diễn…) và cần các trang thiết bị kỹ thuật phục
vụ đa dạng, phức tạp và có giá thành rất cao Chính vì độ phức tạp và trọng yếu của giai đoạn này nên việc sắp xếp dây chuyền trang thiết bị kỹ thuật cùng với các công đoạn xử lý một cách phù hợp sẽ tạo hiệu quả trong quá trình sản xuất
Các giai đoạn nêu trên luôn luôn quan hệ hệ chặt chẽ và gắn kết với nhau theo một dây chuyền công nghệ sản xuất ra sản phẩm là chương trình Phát thanh, truyền hình Chúng có mối tương tác qua lại lẫn nhau và sự ra đời của một sản phẩm truyền hình không thể thiếu một trong các giai đoạn trên
Giai đoạn phân phối (Distribution): Giai đoạn phân phối sản phẩm phát thanh, truyền hình là quá trình truyền tải sản phẩm hoàn thiện thông qua một chuỗi hệ thống dây chuyền thiết bị phức tạp được liên kết từ trung tâm phát
Trang 31hình đến trung tâm truyền dẫn phát sóng để kết thúc mục tiêu đặt ra là đưa sản phẩm phát thanh, truyền hình đến khán giả, đến công chúng với số lượng nhiều nhất có thể Công nghệ truyền dẫn, phân phối sản phẩm phát thanh, truyền hình cũng rất đa dạng và ngày càng phát triển như: phát thanh số, truyền hình số, truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh, truyền hình Internet… Ngoài các hình thức phân phối nêu trên, sản phẩm phát thanh, truyền hình còn
có thể được phân phối thông qua các kênh bán hàng dưới hình thức băng, đĩa VCD, DVD…
Tóm lại, công nghệ phát thanh, truyền hình là tập hợp một chuỗi các sự kiện tương tác đến các yếu tố liên quan về dây chuyền thiết bị, nhân lực, tổ chức và thông tin để tạo ra sản phẩm vô hình (thông tin) hoặc hữu hình (máy móc, dây chuyền thiết bị kỹ thuật)
Như vậy, hoạt động công nghệ phát thanh, truyền hình là những hoạt động về khai thác công nghệ, nghiên cứu và triển khai công nghệ, phát triển công nghệ, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, dịch vụ
tư vấn v.v.v
(Sơ đồ 2: Tổng quát dây chuyền công nghệ Phát thanh, truyền hình Bạc Liêu)
Trang 331.3.3 Đặc điểm công nghệ phát thanh, truyền hình
- Sản phẩm Phát thanh, truyền hình là một loại hình hàng hóa công:
Hàng hóa công có 2 tính chất đặc thù: Một là tính không phụ thuộc (non-rival), nghĩa là người sử dụng này không làm suy giảm số lượng hàng hóa làm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng của người khác ; hai là tính không
Trang 34thể loa ̣i trừ (non-excludable), nghĩa là không thể loa ̣i trừ (ngăn cản) một người nào đó sử dụng hàng hóa công Tính chất thứ 2 là một bất lợi cho việc phát triển và thương mại hóa hàng hóa công do khó có thể buộc người dân trả tiền cho hàng hóa khi mà họ có thể sử dụng miễn phí Phát thanh, truyền hình quảng bá là một thí dụ rất điển hình Lợi ích của phát thanh, truyền hình mang lại cho xã hội rất lớn, nhưng giá trị thương mại của sản phẩm phát thanh, truyền hình thì lại khó đánh giá được Thông thường, các dịch vụ hàng hóa công đều do Nhà nước phụ trách do khó có thể có tư nhân đầu tư Một trong những nỗ lực để thị trường hóa hàng hóa công là khắc phục tính không loa ̣i trừ, qua đó tạo được nguồn thu từ các dịch vụ phân phối hàng hóa công Một
số nước đưa ra chính sách đánh thuế phát thanh, truyền hình Một giải pháp khác là tận dụng thế mạnh của truyền thông đại chúng, thu tiền gián tiếp thông qua các dịch vụ quảng cáo hàng hóa Với sự phát triển của công nghệ, tính không loại trừ cũng được khắc phục thông qua công nghệ khóa mã Khán giả muốn nghe và xem phát thanh, truyền hình phải sử dụng đầu thu chuyên du ̣ng và phải trả tiền để được nghe và xem chương trình mong muốn
- Sản phẩm phát thanh, truyền hình là hàng hóa thông tin:
Hàng hóa thông tin là một loại hàng mà giá trị của nó nằm ở thông tin được lưu trong vật ghi (CD, DVD, băng từ, sách, báo, ) Các thông tin này
có thể được tiếp nhận trực tiếp bởi con người (thông qua đọc, xem, …), hay thông qua sự trợ giúp của thiết bị (máy tính, điện thoại di động, tivi, …) Việc thương mại hóa thông tin cũng có một số đặc thù Do tính chất thông tin là không sờ thấy, không nhìn thấy nên việc giới thiệu sản phẩm đến khách hàng khó khăn hơn, thông thường phải thông qua các dịch vụ thông tin khác như quảng cáo, tạo dư luận, … Các sản phẩm thông tin thường được sao chép và phân phối rất nhanh nhờ sự tiến bộ của các công nghệ số và mạng viễn thông hiện nay Tuy nhiên, cũng chính vì điều này mà khả năng sao chép và phân phối lậu cũng tràn lan hơn Do nhận thức của xã hội về tài sản vô hình (thông tin) chưa đầy đủ nên việc lên án các hành vi ăn cắp thông tin chưa đúng mức
Do đó trên thế giới, việc ứng dụng các thể chế về quyền sở hữu trí tuệ ngày càng được phát triển chặt chẽ hơn Phát thanh, truyền hình trong trường hợp
Trang 35này đóng 2 vai trò: Bản thân mình sản xuất ra sản phẩm là sản phẩm thông tin nên chịu tác động của những ảnh hưởng trên, mặt khác Phát thanh, truyền hình cũng là kênh thông tin để giúp quảng bá các sản phẩm thông tin và tuyên truyền giáo dục về những hành vi ăn cắp thông tin
- Hoạt động Phát thanh, truyền hình chia ra thành hai giai đoạn chính
và độc lập tương đối với nhau:
Các giai đoa ̣n của hoa ̣t động Phát thanh, truyền hình chia ra làm 2 phần
rõ rệt với chức năng độc lập: sản xuất và phân phối
Giai đoa ̣n sản xuất tập trung vào việc sản xuất ra sản phẩm có chất lượng nội dung tốt, đáp ứng đúng nhu cầu của nhóm đối tượng khán giả Giai đoa ̣n phân phối sẽ tập trung vào việc làm sao đưa sản phẩm đến đ ược đúng và nhiều nhất nhóm đối tượng khán giả Với bản chất thông tin của sản phẩm phát thanh, truyền hình hàm lượng tri thức của con người trong sản phẩm rất lớn Trong giai đoa ̣n sản xuất, yếu tố con người, đóng vai trò quan trọng nhất, thiết bị kỹ thuật chỉ đóng vai trò hỗ trợ mã hóa thông tin (biến đổi hình ảnh,
âm thanh thành tín hiệu điện- diện tử)
Giai đoạn phân phối phụ thuộc nhiều vào dây chuyền thiết bị và kỹ thuật hạ tầng mạng viễn thông Con người chỉ đóng vai trò thứ yếu (vận hành) Thực chất các hàm lượng trí tuệ đã được “cứng hóa” trong các thiết bị truyền dẫn rồi Các hàm lượng thông tin , sáng tạo trong giai đoa ̣n này , thường chỉ dừng ở mức tổ chức hệ thống, cải tiến kỹ thuật là chủ yếu Một đài phát thanh, truyền hình có thể chỉ làm một hay cả hai giai đoạn Tại một số nước, có những Đài phát thanh truyền hình chỉ sản xuất chương trình, chức năng phân phối được được giao, hoặc hợp đồng với các công ty viễn thông thực hiện Có những Đài phát thanh, truyền hình chỉ thực hiện sản xuất tin tức, còn những chương trình khác được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng sản xuất, mua bán bản quyền, … Thậm chí có những Đài phát thanh, truyền hình chỉ có các bộ phận tổ chức và quản lý, toàn bộ hoạt động sản xuất
và phân phối đều được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng dịch vụ với các đơn vị khác, hoặc thậm chí chấm dứt chương trình để tránh sự nhàm chán
Trang 36của khán giả Nói tóm lại , cho dù ở thể loa ̣i nào thì nhu cầu sáng tạo và đổi mới chương trình luôn cấp thiết
Trong giai đoa ̣n mới , quá trình thông thương, giao lưu văn hóa phát triển mạnh theo nhu cầu xã hội Phát thanh, truyền hình đóng vai trò là kênh thông tin không thể thiếu trong đời sống văn hóa và tinh thần của công chúng hiện nay
1.3.4 Phân loại công nghệ phát thanh, truyền hình
Sơ lược các giai đoạn của quá trình hình thành và phân phối sản phẩm, công nghệ phát thanh, truyền hình có thể phân loại theo hai cách sau:
Cách phân loại thứ nhất là căn cứ theo từng chủng loại, thể loại chương trình phát thanh, truyền hình hay nội dung chương trình mà người ta phân loại thành: công nghệ sản xuất thời sự phát thanh, công nghệ sản xuất chuyên mục phát thanh, công nghệ sản xuất thời sự truyền hình, công nghệ sản xuất chuyên mục truyền hình, công nghệ sản xuất kịch, cải lương, công nghệ sản xuất phim, công nghệ sản xuất ca nhạc v.v.v Các chương trình đa số có định dạng khá cố định về nội dung, hình thức thể hiện, bố cục hình ảnh v.v.v trong đó, bao gồm quyền được sản xuất chương trình và kèm theo toàn bộ tài liệu, thông tin và các chi phí đào tạo chuyển giao qui trình cho nhóm thực hiện chương trình Về cơ bản đây chính là một sản phẩm công nghệ sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình theo đúng nghĩa Một sản phẩm của công nghệ phát thanh, truyền hình khác với sản phẩm của các dây chuyền công nghệ sản xuất khác Nghĩa là, các sản phẩm phát thanh, truyền hình chỉ giống nhau về định dạng, về qui trình sản xuất nhưng khác nhau về mặt hình thức và nội dung trên cùng một dây chuyền sản xuất tạo nên nét riêng đặc thù cho sản phẩm nhằm thu hút khán thính giả Sự khác biệt cơ bản của sản phẩm đều do yếu tố con người mang lại vì các sản phẩm phát thanh, truyền hình luôn mang hàm lượng sáng tạo cao mà con người thì đóng vai trò quyết định
về mặt hình thức và nội dung Vì thế, sự thể hiện khác nhau trên từng sản phẩm là cơ sở đánh giá chất lượng của sản phẩm phát thanh, truyền hình hoàn thiện
Trang 37Ví dụ: Cuộc thi tiếng hát phát thanh, truyền hình do Đài phát thanh, truyền hình Bạc Liêu tổ chức hai năm một lần là một sản phẩm phát thanh, truyền hình có cùng qui trình sản xuất, cùng cách thức tổ chức nhưng về mặt hình thức và nội dung của sản phẩm thì khác nhau và thay đổi theo từng kỳ
Hoặc chương trình phát thanh, truyền hình trực tiếp ca cổ theo yêu cầu
“ Giai điệu dạ cổ hoài lang” tùy theo chủ đề mà có hình thức và nội dung sản phẩm tương ứng, mặc dù qui trình sản xuất, tổ chức và định dạng hầu như ổn định
Hay chương trình phát thanh, truyền hình chuyên mục “ Nhịp cầu nhân
ái ” hằng tháng, chỉ thay đổi về hình thức và nội dung còn về dây chuyền sản xuất, qui trình sản xuất, tổ chức không thay đổi
Cách phân loại thứ hai là căn cứ theo hệ thống thiết bị kỹ thuật của từng giai đoạn: công nghệ ghi hình, công nghệ dựng hậu kỳ, công nghệ phát hình, công nghệ phát sóng, công nghệ lưu trữ… Cách phân loại này đề cao vai trò của thành phần thiết bị, nguyên nhân chính là do trong thực tế chưa có
sự thống nhất định nghĩa về công nghệ đã dẫn đến các bất cập trong việc đánh giá các yếu tố vô hình (phần mềm, bí quyết, tổ chức quản lý, khả năng biên tập chương trình…) Vì thế, các yếu tố vô hình thường được áp vào trong một vật mang cụ thể nào đấy
Ví dụ: như hệ thống dựng âm thanh hình ảnh, biên tập lại sản phẩm trong giai đoạn hậu kỳ bao gồm: Máy tính, phần mềm chuyên dụng, bo mạch
xử lý, tài liệu hướng dẫn thao tác, kỹ năng sử dụng, v.v.v Nhưng trong công tác quản lý, tài sản chỉ được xem đơn giản là một hệ thống máy móc hoặc là máy tính chuyên dùng
Vi dụ: Những thước phim quí báu của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ sắc nét hơn, âm thanh nghe rõ hơn so với bản gốc do ngày nay công nghệ biên tập, công nghệ số được ứng dụng trong phát thanh, truyền hình nhằm giữ gìn lịch sử dân tộc và cuốn hút công chúng Thật là phiến diện nếu ta có nhận xét đây là sản phẩm do thiết bị kỹ thuật, máy móc hiện đại tạo nên Bởi vì để tạo dựng lại được sản phẩm mang tính lịch sử hấp dẫn này là sự kết hợp cơ hữu của các yếu tố: Nhân lực, Tài lực, Tin lực, Vật lực Trong đó nhân lực đóng
Trang 38vai trò chủ đạo, vì phần lớn như: tài lực, tin lực, vật lực đều do con người tạo nên và quyết định chúng
Quan niệm của Luận văn:
Trong luận văn này, tác giả sử dụng cách phân loại thứ nhất về công nghệ phát thanh, truyền hình nhằm đánh giá tính hấp dẫn chương trình phát thanh, truyền hình Bạc Liêu
1.4 Tính hấp dẫn của chương trình phát thanh, truyền hình
1.4.1 Khái niệm tính hấp dẫn chương trình Phát thanh, truyền hình
Tính hấp dẫn chương trình phát thanh, truyền hình là các sự kiện thông tin nóng được đặt lên vị trí đầu tiên, tức thời, nhanh chóng đến với công chúng, cùng sự tác động của âm thanh hình ảnh sinh động với hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại làm thỏa mãn được nhu cầu thưởng thức của bạn nghe và xem Đài
1.4.2 Tiêu chí đánh giá tính hấp dẫn của chương phát thanh, truyền hình
+ Về nội dung: Thông tin số liệu, sự kiện và thông tin phải mang tính
chân thật, nóng, nhanh chóng, khách quan, chính xác, cụ thể… Tính thời sự là điểm chung của báo chí Nhưng phát thanh, truyền hình với tư cách là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiện khác Với Phát thanh, truyền hình, sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra thậm chí khi
nó đang diễn ra, người xem có thể nghe, quan sát một cách sống động, chi tiết, tường tận qua phát thanh, truyền hình trực tiếp Phát thanh, truyền hình
có khả năng phát sóng liên tục 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho bạn nghe và xem Đài những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật những tin tức mới nhất Đây là sự hấp dẫn của phát thanh, truyền hình
so với các loại hình báo chí khác
Ví dụ: chương trình phát thanh, truyền hình trực tiếp “Đồng hành cùng
bạn nhà nông” sẽ hướng dẫn được cho nông dân tận ngoài đồng lúa, với
chiếc máy radio nhỏ, người nông dân được sự chỉ dẫn cách tường tận hiện tượng nhiễm sâu rầy của đồng lúa nơi họ đang canh tác, hoặc với chiếc máy điện thoại di động, người nông dân nghe và xem một cách rõ ràng sống động
Trang 39các thao tác tìm bệnh sâu rầy trên thân lúa đồng thời cách thức pha thuốc trừ bệnh sâu rầy cho lúa tăng năng suất trên cánh đồng nơi họ canh tác
+ Về hình thức: Đúng tính chất thể loại của tác phẩm/chương trình, kết
cấu và phong cách thể hiện sinh động Tác phẩm/chương trình đảm bảo tính mới, thời sự Phát thanh, truyền hình mang đến cho khán giả cùng lúc hai tín hiệu cơ bản là âm thanh và hình ảnh đem lại độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức của con người Phát thanh, truyền hình có khả năng truyền tải, thể hiện một cách chân thực
âm thanh, hình ảnh của chương trình, tác phẩm, sự kiện đi xa nên đáp ứng yêu cầu chứng kiến nghe thấy tận mắt của công chúng., chính phát thanh, truyền hình đã cung cấp những âm thanh, hình ảnh sống động, hấp dẫn thỏa mãn nhu cầu “ nghe thấy” của khán thính giả
Ví dụ: khi cơn bão đang hoành hành ven biển Bạc Liêu thì lập tức được đưa lên phát thanh truyền hình cho công chúng nghe và xem trực tiếp thông qua chiếc điện thoại của phóng viên bằng cách truyền tải qua mạng viễn thông đưa tín hiệu về Đài phát sóng Tuy âm thanh, hình ảnh chưa rõ ràng, sắc nét do ảnh hưởng từ môi trường xung quanh nhưng tính chất thể loại thời sự này đã đem lại sự “nóng”, cuốn hút bạn nghe và xem Đài nâng tính hấp dẫn của chương trình cao hơn tác động đến tính nhân văn hơn trong cộng đồng xã hội, đó là các tấm lòng vàng tự nguyện từ những người hảo tâm trong và ngoài nước tương trợ cho đồng bào bị bão lũ gây ra mà không cần đến sự kêu gọi của chính phủ, hay lời tuyên truyền, dân vận của địa phương
+ Về kỹ thuật: Hình ảnh âm thanh rõ ràng, sáng đẹp, nét, sinh động
Hiện nay, các thiết bị kỹ thuật hiện đại nên phát thanh, truyền hình có thể truyền trực tiếp cả âm thanh lẫn hình ảnh cùng một thời gian về sự kiện, sự việc “khi sự kiện diễn ra phát thanh báo tin, truyền hình trình bày và báo tin giảng giải “ nó ” với chất lượng sắc nét, sinh động Do vậy, phát thanh, truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao,
có khả năng hấp dẫn làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện với
sự trợ giúp đắc lực của thiết bị kỹ thuật
Trang 40Ví dụ: thông qua mạng viễn thông, dù bất cứ người Việt Nam ở nơi đâu trên thế giới họ vẫn nghe và xem được phát thanh, truyền hình trực tiếp chương trình “ Dạ cổ hoài lang” trên Website của Đài phát thanh, truyền hình Bạc Liêu với chất lượng âm thanh, hình ảnh khá rõ nét và sống động tạo nên
sự hấp dẫn thể loại nghệ thuật có một không hai của đất và người Bạc Liêu, lôi cuốn khán thính giả, làm cho họ có sự cảm nhận thiện cảm, hiếu khách và tài năng của đất và người Bạc Liêu
Tóm lại, một chương trình Phát thanh, truyền hình thực sự hấp dẫn phải hội đủ các tiêu chí như trên đã phân tích
Quan niệm về tính hấp dẫn của Luận văn:
Trong khuôn khổ của Luận văn, để phù hợp với đối tượng nghiên cứu, tác giả sử dụng quan niệm của Nhà báo Hữu Thọ khi bàn về tính hấp dẫn, trong đó hướng tới 3 tiêu chí là tính phát hiện, tính hiệu quả xã hội và tính nghề nghiệp [18;5]
- Tính phát hiện thể hiện khả năng, năng lực nắm bắt vấn đề kịp thời
của chương trình phát thanh, truyền hình
- Tính hiệu quả xã hội được đo bằng sự tác động, ảnh hưởng, lan tỏa
sâu rộng của chương trình phát thanh, truyền hình đối với dư luận xã hội và công chúng theo chiều hướng tích cực
- Tính nghề nghiệp là thể hiện tài năng và đức độ của chương trình phát
thanh, truyền hình trong việc tiếp cận, chuyển tải, lý giải, phân tích, bình luận vấn đề, sự kiện đạt tính sinh động, lôi cuốn và phù hợp với chương trình phát thanh, truyền hình
Định nghĩa của Luận văn
Trong Luận văn này, tác giả sử dụng định nghĩa: tính hấp dẫn là một
thuật ngữ dùng để chỉ sự lôi cuốn, sự cuốn hút con người vào chương trình phát thanh, truyền hình, đồng thời tính hấp dẫn của chương trình phát thanh,
truyền hình phải đạt 3 tiêu chí vừa nêu trên
* Kết luận Chương 1
Trong chương 1, luận văn đã đưa ra một số khái niệm, lý thuyết như: