1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (2005-2006

97 873 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phương pháp thống kê phân loại: Được dùng trong quá trình khảo sát chương trình… 6/ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: - Qua luận văn này, người viết sẽ cố gắng giới thiệu, phâ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG I:

BÁO CHÍ VỚI SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN

GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO

8

1.1 Các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về

giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới

8

1.1.1 Giáo dục và đào tạo nhằm phát triển toàn diện con

người

9

1.1.2 Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu 10

1.1.3 Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng,

của Nhà nước và của toàn dân

11

1.1.4 Phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu

phát triển kinh tế- xã hội

13

1.1.5 Xã hội hoá giáo dục đào tạo, thực hiện công bằng

xã hội trong giáo dục và đào tạo

1.3.1 Tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối,

chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo

21

1.3.2 Biểu dương các điển hình giáo dục tiên tiến (tập 23

Trang 3

thể, cá nhân)

1.3.3 Phát hiện, phê phán những biểu hiện, những việc

làm sai trái trong ngành giáo dục

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH GIÁO DỤC

VÀ ĐÀO TẠO TRÊN SÓNG ĐÀI TIẾNG NÓI

VIỆT NAM (2005 – 2006)

29

2.1 Giới thiệu về chương trình phát thanh Giáo dục và

2.4 Những ưu điểm và hạn chế của chương trình 47

Trang 4

3.1 Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới 60

3.2 Một số đề xuất, kiến nghị nhằm tiếp tục nâng

cao chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục

và đào tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam

64

3.2.1 Cải tiến về nội dung của chương trình 65 3.2.2 Cải tiến về hình thức của chương trình 67

3.2.3 Cải tiến về công tác tổ chức quản lý nhân sự, đào

tạo đội ngũ phóng viên, biên tập viên

72

3.2.5 Cải tiến Quy trình sản xuất chương trình phát

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1/ Tính cấp thiết của đề tài:

Từ lâu, Đảng và Nhà nước ta đã hết sức coi trọng vai trò, vị trí của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp cách mạng, trong công cuộc xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Ngay sau khi khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng

hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”

Do đó, cùng với các mặt trận diệt giặc đói, diệt giặc ngoại xâm, thì giáo dục phải là mặt trận diệt giặc dốt, góp phần nâng cao dân trí

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, vai trò, vị trí, cũng như tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo lại càng được thể hiện rõ nét (đặc biệt trong đào tạo nguồn nhân lực) Bởi như tất cả chúng ta đều đã biết, con người là vốn quí nhất, đầu tư cho con người chính là đầu tư cho phát triển, phát huy nguồn lực con người chính là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước

Hiện nay, Việt Nam chúng ta đang trong quá trình phát triển và chuyển đổi kinh tế rất nhanh, từ điểm xuất phát thấp tiến tới mục tiêu cao Quá trình này đòi hỏi cung cấp nguồn lực cho đất nước, cũng có nghĩa là ngành giáo dục cần phải lột xác, thay đổi về mọi mặt

Trong những năm qua, quy mô giáo dục và đào tạo ở Việt Nam (cũng như trên thế giới) có sự phát triển mạnh mẽ Chúng ta cũng đã đạt được rất nhiều thành tựu mới quan trọng Song, những kết quả đó vẫn còn thấp so với yêu cầu ngày càng cao của đất nước cũng như những mong mỏi ngày càng lớn của nhân dân Mặt khác, Việt Nam là cộng đồng dân số trẻ (lao động là nguồn lực phát triển), do đó vấn đề giáo dục đào tạo càng phải được

Trang 6

đặt ra hơn bao giờ hết Có thể nói, giáo dục và đào tạo đã và đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận

Ra đời gần 10 năm nay, chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo (Đài Tiếng nói Việt Nam) đã đạt được những thành công, đồng thời thu được nhiều kinh nghiệm đáng ghi nhận (tham gia như người trong cuộc) Tuyên truyền đầy đủ và sâu rộng các Nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo; luôn luôn bám sát thực tiễn giáo dục, phát hiện những nhân tố điển hình, từ đó làm sáng tỏ và phong phú hơn quan điểm giáo dục đúng đắn của Đảng ta; phản ánh đầy đủ mối quan tâm của xã hội đối với ngành, kịp thời phát hiện những sai lệch, góp phần giúp ngành đi đúng hướng và thực hiện tốt mục tiêu đào tạo

Điều này đã cho thấy, báo chí (trong đó có phát thanh) đóng một vai trò vô cùng to lớn trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo nước nhà nói riêng, cũng như trong quá trình phát triển đất nước nói chung Do đó, việc tổng kết những mặt tích cực, hạn chế cũng như tìm kiếm những giải pháp để nhằm nâng cao chất lượng chương trình Phát thanh Giáo dục và đào tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam tại thời điểm này là rất cần thiết

Đây cũng chính là lý do khiến tôi quyết định chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam” để làm Luận văn Thạc sỹ (chuyên ngành Báo chí) của

mình

2/ Lịch sử vấn đề nghiên cứu:

Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm về tuyên truyền phát triển giáo dục và đào tạo ở Việt Nam, song đề tài nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm về phát triển giáo dục và đào

Trang 7

học cấp Đài mang tên: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo”, do nhóm phóng viên Ban

Văn hoá- xã hội Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện năm 2003) Ở đề tài này, người viết chủ yếu tập trung nghiên cứu về thực trạng giáo dục Việt Nam qua các giai đoạn: thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, giai đoạn 1975- 1995, và giai đoạn 1996- 2003 (năm 1996 là năm thành lập chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo- Đài Tiếng nói Việt Nam), trên cơ sở đó nêu lên một số

đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chương trình Phát thanh cho phù hợp với sự phát triển chung của sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà trong thời kỳ mới

Từ đề tài khoa học này, các phóng viên, biên tập viên của Ban Văn hoá- xã hội đã được bổ sung một lượng kiến thức không nhỏ về lĩnh vực giáo dục và đào tạo, để từ đó ngày càng hoàn thiện mình trong công tác chuyên môn, từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng chương trình Tuy nhiên, với đề tài này, các tác giả chủ yếu nghiên cứu, tổng kết các giai đoạn lịch sử trước đây, mặt khác, những người thực hiện chưa chỉ ra được những hướng đi cụ thể để chương trình có thể tự đổi mới mình theo xu thế Phát thanh hiện đại, hạn chế đến mức tối đa khoảng cách giữa thính giả với chương trình, làm sao để chương trình phải thực sự là kênh thông tin bổ ích

và cần thiết đối với thính giả, phải nói được những điều mà thính giả muốn nghe chứ không phải là những điều mà phóng viên có

3/ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

* Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của luận văn này là trên cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng của chương trình, rút ra được những nguyên nhân thành công cũng như hạn chế để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa

Trang 8

năng lực và hiệu quả tác động của chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo- Đài Tiếng nói Việt Nam trong tình hình và điều kiện mới

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện được những mục tiêu như vậy, nhiệm vụ của luận văn là:

- Hệ thống hoá những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới

- Nghiên cứu, xác định vai trò, vị trí quan trọng của báo chí (đặc biệt

là phát thanh) đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói chung

- Khảo sát thực trạng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo (Đài Tiếng nói Việt Nam) trong khoảng thời gian 2 năm (2005- 2006)

- Phân tích những nguyên nhân ưu điểm và hạn chế của chương trình

- Trên cơ sở những nguyên nhân đã được phân tích đó tìm kiếm giải pháp để tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng cũng như hiệu quả tác động của chương trình

4/ Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

* Đối tượng nghiên cứu:

Khảo sát các chương trình, các bài viết đã được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam và nhóm công chúng của chương trình này

* Giới hạn, phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này nhằm vào các chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo của Đài Tiếng nói Việt Nam (đã được phát sóng trong 2 năm 2005- 2006)

Trang 9

Cụ thể: Chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo, phát từ 19h45 đến 20h00 hàng ngày (phát lại từ 7h15 đến 7h30 sáng hôm sau) trên Hệ VOV2 (Hệ Văn hoá và đời sống xã hội)

- Dựa vào những quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về giáo dục

và đào tạo trong thời kỳ đổi mới (các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và các chính sách của Nhà nước về lĩnh vực giáo dục và đào tạo…)

- Các quan điểm của Đảng ta về báo chí và vai trò của báo chí trong

sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của đất nước

- Những kiến thức được trang bị từ Nhà trường

* Phương pháp công cụ:

- Phương pháp hệ thống hoá: dùng để hệ thống hoá những quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách… của Đảng và Nhà nước ta; cũng như vai trò của báo chí đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Trang 10

- Phương pháp phân tích ngữ văn: phân tích các chương trình, các bài viết… đã được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong khoảng thời gian lựa chọn (hai năm 2005- 2006)

- Phương pháp phỏng vấn An-két: dùng để phỏng vấn những nhóm công chúng của chương trình (điều tra thính giả)

- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn các nhà khoa học, các

chuyên gia, các nhà báo… những người am hiểu sâu và quan tâm đến lĩnh

vực giáo dục và đào tạo

- Phương pháp thống kê phân loại: Được dùng trong quá trình khảo sát chương trình…

6/ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Qua luận văn này, người viết sẽ cố gắng giới thiệu, phân tích một cách có hệ thống các quan điểm, đường lối phát triển giáo dục đào tạo của Đảng ta (đặc biệt là những quan điểm về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới), từ đó nêu lên được thực trạng giáo dục hiện nay ở Việt Nam

- Xác định rõ vai trò, vị trí của báo chí nói chung, của chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo (Đài Tiếng nói Việt Nam) nói riêng đối với

sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo, nêu bật những ưu điểm cũng như những mặt còn hạn chế của chương trình trong quá trình thực hiện công tác tuyên truyền

- Trên cơ sở đó phân tích những nguyên nhân và tìm kiếm giải pháp hữu hiệu cho công tác tuyên truyền

- Đề xuất, kiến nghị nhằm từng bước nâng cao chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam

Trang 11

7/ Bố cục của Luận văn:

Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương sau:

Chương I: Báo chí với sự nghiệp phát triển Giáo dục- đào tạo

Trang 12

CHƯƠNG I:

BÁO CHÍ VỚI SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN

GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO

1.1 Các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới:

Thời gian qua- đặc biệt từ năm 1986 cho đến nay- khi mà đất nước ta bước vào giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương đổi mới giáo dục trên các bình diện, ở các cấp, bậc, ngành học nhằm đưa ngành giáo dục vượt qua những khó khăn, thách thức, vươn lên hoà nhịp với quá trình đổi mới kinh tế- xã hội chung của đất nước

Đại hội lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội- trong đó có đổi mới phát triển giáo dục và đào tạo Đường lối

đó được Đảng ta tiếp tục khẳng định và phát triển qua các kỳ Đại hội VII, Đại hội VIII, Đại hội IX và Đại hội X Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4

khoá VII (1/1993) “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” và Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12/1996) “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ” đã thể hiện những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về đổi mới

giáo dục và đào tạo trong công cuộc phát triển đất nước

Mới đây, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X- Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã xác định mục tiêu phát triển của giáo dục Việt Nam là: Nâng

Trang 13

phương pháp dạy và học, thực hiện: “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”,

chấn hưng nền giáo dục Việt Nam Và trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001- 2010 do Chính phủ phê duyệt cũng đã nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phấn đấu đưa sự nghiệp giáo dục đào tạo nước nhà ngày một phát triển

Những định hướng, chủ trương đó của Đảng, Nhà nước đã trở thành kim chỉ nam, hướng dẫn, chỉ đạo, động viên, khuyến khích toàn thể cán bộ, đảng viên trong ngành và mọi lực lượng, mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội quyết tâm đổi mới, đưa giáo dục đào tạo phát triển lên tầm cao mới:

1.1.1 Giáo dục và đào tạo nhằm phát triển toàn diện con người

Quan điểm nhất quán và cũng là quan điểm xuyên suốt của Đảng ta trong công cuộc đổi mới là coi con người là vốn quý nhất, đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) đã khẳng định: Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học

và công nghệ hiện đại, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa có tài vừa có đức

Trong toàn bộ di sản tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì vấn đề cơ bản nhất, nổi bật nhất cũng chính là vấn đề xây dựng và hoàn thiện con người thông qua hoạt động giáo dục và tự giáo dục Đối với Người, nhân tố con người- với những hiểu biết, năng lực, đạo đức là yếu

tố then chốt, có tính quyết định đối với thành công của cách mạng, sự tiến

Trang 14

bộ của xã hội và hạnh phúc của nhân dân Người từng nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”; và

“Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Chính vì

vậy, cần phải giáo dục toàn diện trên các mặt: đạo đức, văn hoá, kỹ thuật, lao động sản xuất đồng thời coi trọng giáo dục nhân cách, lý tưởng, đạo đức, trí tuệ, thể dục và mỹ dục Giáo dục đào tạo phải gắn liền dạy người với dạy chữ và dạy nghề- trong đó dạy người là mục tiêu cao nhất Coi trọng trí tuệ, tài năng nhưng phải lấy đạo đức làm gốc

Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đất nước ta gặp không ít những khó khăn, thách thức Để có thể nhanh chóng bắt kịp các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, thì con đường tốt nhất chúng ta

có thể thực hiện đó là: “Phát triển giáo dục- phát triển toàn diện con người” (theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá và dân chủ hoá,

phấn đấu xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập, từng bước làm chủ

và tiến tới sáng tạo các công nghệ hiện đại ) Có như vậy, chúng ta mới có được môi trường thuận lợi để phát triển toàn diện con người- đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước

1.1.2 Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu

Đối với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới, con người cũng luôn được coi là nhân tố quan trọng nhất Con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển bền vững của xã hội (và ngược lại) Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khoá IX) đều coi phát triển giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước Chính vì vậy, Nhà nước luôn coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển và thường có những chính sách ưu tiên, phát huy tiềm lực sẵn có của ngành giáo dục và huy động sự đóng góp của toàn xã hội

Trang 15

Một điều đáng mừng là: yêu cầu tăng cường đầu tư cho giáo dục đúng với vai trò quốc sách hàng đầu đã được thể hiện cụ thể trong Chiến lược

giáo dục: “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục trong tương quan với các ngành khác ” Kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX còn nêu rõ: “Tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục đào tạo, bảo đảm tốc độ tăng chi ngân sách cho giáo dục hàng năm cao hơn tốc độ tăng chi ngân sách Nhà nước Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục đào tạo sẽ tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà quyết định, nhưng không được thấp hơn tỷ lệ chi ghi trong chiến lược giáo dục ”

Từ nhiều năm nay, Chính phủ Việt Nam đã và đang tìm mọi cách để tăng thêm nguồn lực về tài chính đầu tư cho giáo dục Ngân sách Nhà nước vẫn là nguồn cung cấp chính cho quá trình phát triển và hiện đại hoá giáo dục ở tất cả các bậc học cũng như các nhóm mục tiêu của ngành giáo dục Trong những năm gần đây, ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục đã tăng lên đáng kể Năm 2004, ngân sách cho giáo dục chiếm trên 17% tổng ngân sách Nhà nước; và năm 2005 là 18% (Dự kiến đến năm 2010, ngân sách dành cho giáo dục sẽ chiếm khoảng 20% tổng ngân sách Nhà nước) Ngoài

ra, Chính phủ cũng đã huy động từ trái phiếu, vay vốn nước ngoài và vận động các khoản viện trợ không hoàn lại dành cho giáo dục

Điều đó khẳng định: trong bất kỳ thời điểm nào, giáo dục và đào tạo

cũng luôn được coi là quốc sách hàng đầu

1.1.3 Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân

Giáo dục- đào tạo không chỉ là công việc của nhà trường mà còn là công việc chung của toàn xã hội Toàn Đảng, toàn dân có trách nhiệm chăm

lo cho sự nghiệp giáo dục- đào tạo Từng người dân, từng gia đình, từng tập thể, tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức kinh tế- xã hội, các tổ

Trang 16

chức quần chúng cùng xây dựng cộng đồng trách nhiệm đối với sự phát triển giáo dục- đào tạo và phối hợp tạo dựng môi trường giáo dục lành mạnh Gia đình phối hợp với nhà trường và xã hội trong sự nghiệp trồng người

Điều này cũng đã được chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 2 (khoá

VIII): “Các cấp uỷ và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế- xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục- đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục đào tạo Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể ”

Như vậy, trong xã hội hiện đại, mọi người đều được học tập, học ở mọi nơi, mọi lúc, học bằng mọi cách Xã hội hiện đại sẽ tiến tới một xã hội

học tập Điều này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng ta: “Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi, là trách nhiệm của mỗi công dân”, là sự phát triển của quan điểm: “Ai cũng được học hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trên thực tế, tư tưởng: “Ai cũng được học hành” của Bác đã và đang

có sức sống mạnh mẽ trong thực tiễn đời sống giáo dục nước ta Hàng năm, Nhà nước đã tạo cơ hội học tập cho biết bao người thông qua các lớp xoá

mù chữ, bổ túc trung học và hàng trăm ngàn người theo học các lớp ngoại ngữ, tin học, cao đẳng, đại học tại chức, học nghề Đặc biệt, năm 2000, chúng ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học trong phạm vi cả nước và đang thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Có thể nói, trong bất kỳ thời điểm nào- ngay cả khi mà ngân sách cho giáo dục còn hạn hẹp, cơ sở vật chất trường, lớp còn thiếu thốn, thì sự nghiệp giáo dục vẫn luôn được coi trọng

Trang 17

Cùng với việc Nhà nước tăng cường đầu tư từ ngân sách cho giáo dục

và đào tạo, thì người học, người sử dụng lao động, các tổ chức kinh tế- xã hội cũng cần hăng hái đóng góp nguồn lực cho giáo dục và đào tạo, coi đó

là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với xã hội

Có như vậy, giáo dục đào tạo mới thực sự là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân

1.1.4 Phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội

Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 đã cụ thể hoá quan điểm giáo dục này như sau: đảm bảo sự hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định: trên cơ sở nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, trong thời gian từ nay đến khoảng năm

2010 đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước

ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Để đạt được mục tiêu đó, cần phải có những con người có học vấn, có năng lực chuyển đổi nghề nghiệp, tiếp cận nhanh với tiến bộ của công nghệ, thích ứng nhanh với những thay đổi trong sản xuất và có điều kiện tham gia nhiều và tích cực hơn vào mọi mặt sinh hoạt xã hội Với Việt Nam- một đất nước đang trên đà phát triển, thì vai trò của giáo dục- khoa học công nghệ lại càng có tính quyết định Giáo dục phải đi trước một bước, nâng cao

Trang 18

dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội

Thực tế cho thấy, công tác đào tạo nhân lực của ngành giáo dục và đào tạo Việt Nam thời gian qua đã đảm bảo cung cấp được nguồn nhân lực qua đào tạo, đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp đổi mới phát triển kinh tế-

xã hội của đất nước Một điều dễ cảm nhận là: thành tựu của sự tăng trưởng kinh tế đất nước trong những năm gần đây là kết quả đóng góp quan trọng của đội ngũ người lao động- trong đó phần lớn do nền giáo dục đào tạo trong nước cung cấp, đồng thời bước đầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ xuất khẩu

Có thể nói, quá trình phát triển giáo dục đào tạo chịu sự chi phối của nhiều yếu tố kinh tế và ngược lại, việc phát triển giáo dục góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, phát triển giáo dục nước ta đã có những tác động tích cực đến công tác phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo- đặc biệt đối với khu vực miền núi, dân tộc, vùng sâu vùng xa với nền kinh tế chưa phát triển và trình độ dân trí còn thấp

Định hướng phát triển kinh tế- xã hội nước ta đến năm 2020 và các năm tiếp theo dự kiến đẩy mạnh quá trình tăng trưởng kinh tế với tốc độ khá cao (từ 8 đến 10%), chuyển đổi mạnh cơ cấu kinh tế và phân công lao động

xã hội Điều đó đòi hỏi phải phát triển giáo dục với quy mô lớn, chất lượng cao và bền vững, đáp ứng yêu cầu về nhân lực cho quá trình phát triển các ngành kinh tế

Do đó, việc quán triệt và thực thi các quan điểm phát triển giáo dục, phối hợp chặt chẽ giáo dục với phát triển kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng

Trang 19

1.1.5 Xã hội hoá giáo dục đào tạo, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo

Xã hội hoá giáo dục là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức kinh tế- xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình

độ chuyên môn nhằm xây dựng xã hội học tập Điều này cũng có nghĩa là mọi người trong xã hội đều phải được đảm bảo quyền hưởng một mức giáo dục tối thiểu (phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở ) phù hợp với trình độ phát triển và khả năng đáp ứng chung của xã hội

“Gắn xây dựng xã hội học tập với phát triển kinh tế- xã hội”- đó là nội dung chính của Đề án: “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005- 2010” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hồi tháng 5/2005 Trong đó,

xác định tiêu chí cơ bản là: xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để người dân ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc học tập và tham gia tích cực xây dựng xã hội học tập Cụ thể là: nâng cao kết quả xoá mù chữ, phấn đấu tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên tăng từ 94% (năm 2000) lên trên 98% Đặc biệt tăng nhanh tỷ lệ xoá mù chữ trong các dân tộc ít người Huy động trẻ em vì hoàn cảnh khó khăn không được đến trường đi học theo các chương trình phổ cập đạt trên 65% (đối với trẻ trong độ tuổi từ 6 đến 10) và 55% (đối với trẻ trong độ tuổi từ 11 đến 14) Phấn đấu đạt tỷ lệ trên 80% số cán bộ cấp

xã, phường, thị trấn được học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật kiến thức về nghiệp vụ, lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ

Trang 20

Và ngay trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã xác định vấn đề cốt lõi của đường lối đổi

mới giáo dục là: Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở- mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu giáo dục thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội học tập khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng trong giáo dục

Thực tế cho thấy, việc học tập để cập nhật tri thức, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp đã và đang trở thành nhu cầu phổ biến của hầu hết người dân trong xã hội Các trung tâm giáo dục thường xuyên được duy trì, phát triển Ngành giáo dục và đào tạo cũng đã thử nghiệm thành công việc xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng ở nông thôn, tăng khả năng cung ứng cơ hội học tập cho nhân dân (Từ 15 trung tâm học tập cộng đồng được thành lập năm 1999, đến nay cả nước đã có gần 6000 trung tâm học tập cộng đồng, thu hút hàng triệu lượt người theo học mỗi năm)

Xã hội hoá giáo dục cũng là giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của Đảng

và Nhà nước ta Ở đây, công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo không chỉ có nghĩa là người dân được xã hội và Nhà nước chăm lo, mà còn biểu hiện cả về mặt đóng góp, cống hiến của người dân đối với hoạt động này (tuỳ theo khả năng thực tế của từng người, từng địa phương) Và tất nhiên, thực hiện công bằng trong chính sách xã hội nhất thiết phải có sự ưu tiên: ưu tiên đối với người có công, trợ giúp người nghèo, vùng nghèo Những người thuộc diện chính sách xã hội phải được miễn, giảm phần đóng góp trong các hoạt động giáo dục

Trang 21

Công tác xã hội hoá giáo dục, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước ta thời gian qua được thể hiện trên những mặt sau:

- Bảo đảm công bằng xã hội trong việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, thực hiện tốt các chính sách, nhằm tạo cơ hội cho mọi người dân đều đạt trình độ giáo dục phổ cập (Đã

có hình thức giáo dục và biện pháp hỗ trợ phù hợp với những vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người )

- Tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người có nhu cầu học tập theo chế độ tuyển sinh (Với những chính sách ưu tiên phù hợp trong tuyển sinh, nhằm tạo ra sự công bằng)

- Đa dạng hoá các loại hình đào tạo, phương thức đào tạo, cho phép

mở các trường, lớp ngoài công lập, hình thức đào tạo không chính quy Đó cũng chính là cách để bảo đảm công bằng về giáo dục và đào tạo cho mọi người

Tóm lại: Những chủ trương của Đảng về đổi mới phát triển giáo dục

và đào tạo trong công cuộc đổi mới đất nước là một thể thống nhất, xác định

rõ mục tiêu, vị trí của sự nghiệp giáo dục và đào tạo; cũng như các nguyên tắc, phương châm cơ bản chỉ đạo đổi mới phát triển giáo dục và đào tạo Những chủ trương đó đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định, làm sao để sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta ngày càng có

sự đổi mới, phát triển, phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.2 Vai trò của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp đổi mới:

Trong công cuộc đổi mới đất nước, hệ thống giáo dục đóng vai trò định hướng giá trị đúng đắn cho sự phát triển nhân cách của người học Nhà

Trang 22

nước đảm bảo điều kiện cho các hoạt động giáo dục phục vụ những mục tiêu trọng điểm của quốc gia và đảm bảo cung cấp giáo dục cho mọi người ở trình độ tối thiểu

Đi tắt đón đầu từ một đất nước kém phát triển thì vai trò của giáo dục- khoa học và công nghệ lại càng có tính quyết định Giáo dục phải đi trước một bước, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, giáo dục và đào tạo đã không còn là công việc riêng của Nhà nước, mà mọi thành phần đều có thể tham gia, làm cho đào tạo ngày càng gắn với sử dụng Lúc này, bên cạnh các trường công lập còn có cả các trường ngoài công lập như dân lập, tư thục

Để phù hợp với sự nghiệp đổi mới đất nước, giáo dục và đào tạo phải huy động nguồn lực từ mọi thành phần, mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội làm cho giáo dục trở thành sự nghiệp của toàn dân và xã hội hoá là một trong nhiều chính sách đảm bảo cho sự thành công của sự nghiệp phát triển đất nước

Trong nền kinh tế thị trường, giáo dục và đào tạo không chỉ có vai trò đáp ứng mà còn có vai trò kích thích Người học ngoài việc nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và rèn luyện phẩm chất liên quan đến nghề nghiệp còn lĩnh hội được khả năng tìm kiếm việc làm gắn với nghề nghiệp của mình, khiến cho những sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường trở nên năng động hơn trong thị trường lao động, nảy sinh nhiều ý tưởng sáng tạo

Cùng với sự đổi mới không ngừng về mọi mặt của đất nước, thì sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại cũng đã mở ra cơ hội cho đất nước ta tiến tới những lĩnh vực khoa học mới, công nghệ cao Điều này phụ thuộc nhiều vào năng lực học hỏi của toàn dân, kỹ năng tinh xảo của đội ngũ công nhân, kỹ sư, đầu óc sáng tạo và tinh thần hợp tác của các nhà nghiên cứu

Trang 23

Đây là một thách thức to lớn đối với Việt Nam, bởi ngay cả khi đã có một số cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ tương đối hiện đại mà thiếu một đội ngũ nhân lực đáp ứng các yêu cầu kể trên, ta cũng không thể tiến hành một cách hiệu quả các hoạt động nghiên cứu và triển khai trong các lĩnh vực công nghệ cao Vì vậy, giáo dục- đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực được coi là một trong những yếu tố quyết định trong cạnh tranh

Sự phát triển khoa học và công nghệ đòi hỏi phải cải tiến quá trình giáo dục

và đào tạo, đổi mới nội dung và phương pháp đầu tư lớn, như vậy mới đào tạo được đội ngũ nhân lực đáp ứng yêu cầu mới

Tiềm lực kinh tế của Việt Nam không cho phép Nhà nước đầu tư cao cho giáo dục- mặc dù đã nhận thức rõ được vị trí đặc biệt quan trọng của giáo dục Giáo dục Việt Nam phải khắc phục sự mất cân đối giữa yêu cầu phát triển nhanh về quy mô và nguồn lực còn rất hạn chế, giữa yêu cầu phát triển nhanh về quy mô và đòi hỏi gấp rút nâng cao chất lượng Hiện nay, giáo dục Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn và cả những thuận lợi Thực tiễn chuyển đổi cơ chế và phát triển kinh tế đòi hỏi giáo dục phải tiếp cận và thích nghi với cơ chế mới, phải luôn phát triển và đi trước một bước đón đầu sự phát triển của xã hội, nhằm xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, hướng tới một xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao phẩm chất toàn diện của con người Việt Nam trong thời đại mới, thúc đẩy tiến bộ xã hội

1.3 Vai trò của báo chí trong việc phát triển giáo dục và đào tạo:

Lịch sử cách mạng nước ta đã chứng minh rằng: báo chí cách mạng luôn gắn với những bước thăng trầm của lịch sử đất nước, là người hướng dẫn tin cậy của đồng bào cả nước, cổ vũ nhân dân đi theo con đường mà nhân dân, Đảng, Bác Hồ đã chọn Báo chí không chỉ là phương tiện chủ yếu

để truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là công

Trang 24

cụ đắc lực nhằm giáo dục ý thức chính trị, hun đúc tinh thần yêu nước, lòng

tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, phát huy sức mạnh toàn dân để tập trung giải quyết các nhiệm vụ của cách mạng Báo chí cũng chính là người châm ngòi và thổi bùng lên các phong trào cách mạng có tính quần chúng

rộng rãi như: “Tất cả cho tiền tuyến”, “Thanh niên ba sẵn sàng”, “ Phụ nữ

ba đảm đang” rồi đến các phong trào: “Thanh niên lập nghiệp”, “Xoá đói giảm nghèo”, “ Kế hoạch hoá gia đình”

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, thực tế những năm qua cho thấy, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Quy mô giáo dục phát triển mạnh mẽ, các loại hình học tập được mở ra phong phú Tuy nhiên, những kết quả đó vẫn còn thấp so với yêu cầu ngày càng cao của đất nước

và những mong mỏi ngày càng lớn của nhân dân, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, công tác tuyên truyền

về lĩnh vực giáo dục- đào tạo ở giai đoạn mới này cần hết sức tỉnh táo, khách quan và linh hoạt Có thể thấy trên bất kỳ một tờ báo nào, một đài phát thanh, truyền hình nào vấn đề này cũng luôn được quan tâm, chú trọng Nó luôn là một trong những đề tài không thể thiếu của các cơ quan báo chí

Riêng đối với phát thanh, (mà điển hình là Đài Tiếng nói Việt Nam),

kể từ ngày thành lập cho đến nay vẫn luôn giữ một hướng chỉ đạo nhất quán, coi quan điểm của Đảng về giáo dục- đào tạo là kim chỉ nam, là linh hồn của các tác phẩm báo chí phát thanh

Mặc dù mãi đến sau này (năm 1996), Đài Tiếng nói Việt Nam mới thành lập chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo, song từ trước đó, nội dung truyền thông về giáo dục- đào tạo đã luôn được Lãnh đạo Đài quan tâm và chiếm một thời lượng khá lớn Từ chương trình phát thanh Thời sự cho đến các chương trình phát thanh Văn hoá- xã hội, phát thanh Thanh niên, Thiếu niên đều thường xuyên chú trọng đến việc chuyển tải những

Trang 25

hoạt động thuộc lĩnh vực giáo dục- đào tạo cũng như các vấn đề mà sự nghiệp giáo dục đặt ra Một mặt, các chương trình phát thanh tiếp tục cổ vũ cho thành tựu giáo dục đã đạt được, phân tích kỹ nguyên nhân của các thành tựu đó đồng thời có tiếng nói khách quan, thẳng thắn phê phán những mặt yếu kém, những biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo

Với hướng chỉ đạo đó, nội dung tuyên truyền về giáo dục- đào tạo trên sóng phát thanh thời gian qua luôn đảm bảo đúng định hướng tư tưởng

và đạt được tính hấp dẫn, phong phú

1.3.1 Tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách… của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo

Trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, nội dung tuyên truyền

về lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên các phương tiện truyền thông đại chúng

đã luôn đáp ứng được yêu cầu: tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục- đào tạo đến với các tầng lớp nhân dân, các nhà trường đồng thời phản ánh kịp thời những diễn biến đời sống của các nhà trường, những tâm tư, nguyện vọng của nhà giáo, của học sinh và của mọi tầng lớp nhân dân giúp cho người dân thấm sâu những quan điểm, đường lối giáo dục sáng tạo của Đảng ta-

đó là: xây dựng nền giáo dục nhân dân, của dân, coi trọng giáo dục toàn diện, đào tạo nguồn lực có chất lượng về đức- tài để phụng sự nhân dân, phụng sự đất nước

Giáo dục đào tạo là một lĩnh vực khoa học thực tiễn đang rất sôi động, một vấn đề vô cùng nhạy cảm đối với xã hội (vì như đã nói ở trên- sản phẩm của giáo dục chính là con người), cho nên công tác tuyên truyền về lĩnh vực này phải rất thận trọng Chính vì vậy, các tác phẩm báo chí trước đây cũng như sau này, đều luôn đảm bảo tính định hướng, tính xây dựng, tính giáo dục theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước Đặc

Trang 26

biệt trong quá trình đổi mới đất nước, báo chí đã góp một tiếng nói vô cùng quan trọng trong việc đổi mới tư duy, đổi mới sự nghiệp giáo dục- đào tạo, chấn hưng nền giáo dục nước nhà

Thực tế những năm qua đã cho thấy, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta có nhiều thay đổi lớn Người dân quan tâm hơn tới giáo dục đào tạo- với những vấn đề cụ thể như: tuyển sinh, hướng nghiệp, dạy nghề Và báo chí, với vai trò của mình đã làm rất tốt điều này, đáp ứng được phần nào nhu cầu của người dân

Đơn cử như ở Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, với những đặc trưng vốn có của mình là: nhanh, rẻ, tiện, phù hợp với mọi tầng lớp nhân dân và trình độ dân trí khác nhau nên đã phát huy tác dụng rất lớn Xin nêu ví dụ: việc tuyển sinh đại học, cao đẳng hiện nay khá phức tạp Không phải ai cũng hiểu hết các quy định về tuyển sinh như nguyện vọng 1,2,3 Thí sinh và phụ huynh cũng không thể biết hết được các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trong cả nước để hướng nghiệp

Đó cũng chính là lý do mà trong các kỳ tuyển sinh đại học, cao đẳng bao giờ Đài Tiếng nói Việt Nam cũng nhận được rất nhiều thư của bạn nghe đài

từ khắp các địa phương trên cả nước hỏi về vấn đề này

Cùng với chức năng thông tin, tuyên truyền, báo chí hiện nay còn được xem như là diễn đàn của các nhà giáo, các cán bộ quản lý giáo dục và các tầng lớp nhân dân về lĩnh vực giáo dục- đào tạo Từ việc nắm đầy đủ, chính xác các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực này (qua việc thâm nhập thực tế của các nhà báo), các phóng viên, biên tập viên chương trình còn có những bài viết, những cuộc toạ đàm, phỏng vấn đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của đông đảo công chúng trên cả nước

Báo chí không những cố gắng làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giới thiệu các chủ trương, đường lối, chính sách mà còn theo sát sự vận động

và quá trình thực hiện, nhằm góp phần từng bước đưa chính sách đi vào

Trang 27

cuộc sống Bên cạnh đó, việc tuyên truyền cần phải xoáy vào những trọng tâm, trọng điểm, làm sao để người dân thấy rõ được sự cần thiết phải đổi mới giáo dục theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng Giáo dục đào tạo phải phục vụ hiệu quả cao nhất cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (cung cấp nguồn lực, giáo dục truyền thống )

1.3.2 Biểu dương các điển hình giáo dục tiên tiến (tập thể, cá nhân)

Ngay trong giai đoạn đất nước có chiến tranh, hai miền Nam- Bắc còn chưa thống nhất trên khắp các tờ báo, các chương trình của đài phát thanh đều tràn ngập những bài viết ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ kính yêu, giúp cho người dân (trong đó có các thày giáo, cô giáo, các em học sinh ) thêm quyết tâm, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc, từ đó

cố gắng học tập, chiến đấu, góp hết sức mình vào công cuộc dựng xây đất nước

Lúc này, nội dung truyền thông về giáo dục và đào tạo chiếm một dung lượng (đối với báo viết) và thời lượng (đối với phát thanh) khá lớn, mang tính thường xuyên Nhiều tác phẩm đã đánh giá được đúng những bước đi, phân tích kỹ những thành tựu, quá trình trưởng thành của sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Thực tế đã có rất nhiều tấm gương điển hình học tập và giảng dạy thời kỳ này được báo chí phát hiện, tuyên truyền như: gương anh Nguyễn Ngọc Ký viết bằng chân, như phong trào giáo dục ở trường Bắc Lý, phong trào bổ túc văn hoá Cẩm Bình, trường Thanh niên Lao động xã hội chủ nghĩa Hoà Bình Những mô hình giáo dục hiệu quả này đã được nhiều tờ báo tổ chức tuyên truyền thành vệt sâu, đậm góp phần làm thổi bùng lên phong trào học tập thi đua sôi nổi ở khắp mọi nơi Người ở chiến trường yên

Trang 28

tâm nơi hậu phương, người ở hậu phương hừng hực một khí thế học tốt, dạy

tốt, tham gia “Ba sẵn sàng” trong tất cả các nhà trường phổ thông

Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, mảng tuyên truyền về giáo dục đào tạo vẫn thường xuyên được đăng tải trên các tờ báo, tạp chí, các chương trình phát thanh, truyền hình với tần suất ngày một tăng Những gương điển hình tiên tiến (tập thể và cá nhân) không ngừng được báo chí phát hiện, tuyên truyền Điển hình như việc tuyên dương, khen thưởng các em học sinh giỏi, học sinh ngoan; tôn vinh các Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú Cùng với đó, nhiều phong trào ở nhiều địa phương cũng được thông tin rộng rãi đến toàn thể người dân trên các phương tiện thông tin đại chúng, như phong trào Bộ đội biên phòng làm giáo viên xoá mù chữ; phong trào thanh niên, sinh viên tình nguyện tham gia chiến dịch ánh sáng văn hoá; phong trào phụ nữ giúp nhau kết hợp xoá mù chữ, học nghề với phát triển kinh tế, tăng thu nhập; phong trào hiến đất xây dựng trường học và xoá cầu khỉ ở các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng như nhiều địa phương khác

Ví dụ:

- Những mái ấm nghĩa tình trên biên cương Nậm Giải (Quỳnh

Hương- Giáo dục&Thời đại)

- Cổ tích "cô Tấm" từ nỗi đau da cam (TTO- Tuổi trẻ TP HCM)

- Ở một nơi thày trò không nhìn thấy nhau (Hùng Thuật- Thanh

niên)

- Sáng mãi hình ảnh người thầy (Văn Lê- Giáo dục&Thời đại)

- Vợ chồng giáo viên chuyên cắm bản (Thu Hiền- Tiền Phong)

- Tập thể của những tấm gương sáng (Thành Nam- Giáo dục&Thời

đại)

- Cô giáo nơi vạn chài biển (Phương Lan- Gia đình&Xã hội)

Trang 29

- Chất lượng giáo dục ở một vùng "đất học" (Nguyễn Thị Trâm-

Giáo dục&Thời đại)

- Dựng lều trọ học nơi núi rừng Tây Bắc (Thy Nhung- Giáo

dục&Thời đại)

v.v

Tất cả những nội dung tuyên truyền đó đã thực sự đem lại hiệu quả thiết thực đối với ngành giáo dục Việt Nam, góp phần đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục thời kỳ đổi mới

1.3.3 Phát hiện, phê phán những biểu hiện, những việc làm sai trái trong ngành giáo dục

Đây cũng được coi là một trong những nội dung tuyên truyền không thể thiếu đối với lĩnh vực truyền thông trong suốt những năm qua Bằng việc

đi sâu, đi sát các phóng viên giáo dục đã chỉ ra những biểu hiện, những việc làm sai trái trong ngành, từ việc giáo dục chưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, đào tạo chưa gắn với sử dụng, cho đến tình trạng yếu kém của đội ngũ giáo viên, những hạn chế trong công tác quản lý

Cũng nhờ báo chí mà rất nhiều những vụ việc tiêu cực trong ngành giáo dục đã bị phanh phui Điển hình như nạn dạy thêm, học thêm tràn lan, nạn chạy trường, chạy lớp, những bất cập trong thi cử, tuyển sinh, rồi tình trạng lạm thu, thiếu công khai, minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính ở một số trường học, cơ sở giáo dục

Ví dụ:

- Nhà ở công vụ cho giáo viên- vấn đề bức xúc hiện nay (Tuyết

Mai- Giáo dục&Thời đại)

- Hàng tỷ đồng thiết bị đã bị "ném qua cửa sổ" (Tiến Dũng- Tiền

Phong)

Trang 30

- Học tại chức bằng phong bì (Hồ Thu- Tiền Phong)

- Thực hư sau đại học (Lê Huy Bá- Tuổi trẻ TP HCM)

- Nan giải chuyện nhà ở cho giáo viên miền núi (Phan Thiên Sơn-

Tiền Phong)

- Cần đổi mới trong cách dạy và học ngoại ngữ trong các nhà trường hiện nay (Hà Ánh- Thanh niên)

- Giáo viên yếu + Cơ sở vật chất thiếu = Học sinh bỏ học!? (Hưng

Tân- Gia đình&Xã hội)

- Học hết lớp 7, chưa rành mặt chữ vẫn được tiên tiến (B.Đ- Sài

Gòn giải phóng)

- Về việc: "Xén tóc, hớt quần, cắt quai dép" ở trường THPT Sơn

Hà (Quảng Ngãi)- UBND tỉnh và Sở GDĐT cần vào cuộc, xử lý nghiêm

(Nguyễn Rộng- Thanh niên)

v.v

Việc báo chí công khai chống tiêu cực trên mặt trận giáo dục đã mang lại hiệu quả vô cùng lớn đối với công cuộc đổi mới giáo dục, đổi mới đất nước, vừa khuyến khích được người dân tham gia quá trình xã hội hoá giáo dục, vừa hỗ trợ kịp thời cho Đảng, Nhà nước trong việc điều chỉnh, uốn nắn những quan niệm, những việc làm sai trái, lệch lạc trong lĩnh vực giáo dục

và đào tạo Điều đó cũng thể hiện tính chiến đấu, dám nói thẳng, nói thật của những người làm báo- những chiến sỹ xung kích trên mặt trận văn hoá

Trang 31

tươi sáng trên mặt trận giáo dục Việt Nam (dẫn đến phong trào rộng lớn của

toàn ngành thi đua “dạy tốt- học tốt”) từ đó thấy được tính sáng tạo của

Đảng ta đối với đường lối phát triển giáo dục- đào tạo Nhìn chung đã ngăn chặn được tình trạng tan trường, vỡ lớp, thày bỏ dạy, trò bỏ học, góp phần

xoá các điểm “trắng” về giáo dục (đặc biệt ở những khu vực miền núi,

vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ) Nhiều loại hình trường, lớp ra đời được báo chí quan tâm tuyên truyền như: nhóm trẻ gia đình, trường mẫu giáo dân lập, tư thục, lớp tiểu học bán trú, trung tâm giáo dục hướng nghiệp, lao động kỹ thuật và dạy nghề, lớp buổi tối xoá mù chữ, lớp hệ B, trường phổ thông cơ sở, phổ thông trung học phân ban, trường đại học dân lập, đại học mở, hệ thống trường chuyên Chính điều này đã góp phần tạo nên một bầu không khí học tập sôi nổi trong nhân dân

Thực tế cho thấy, tuy hiện nay vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế, song Việt Nam đã và đang tiến dần đến một nền quốc học nhân dân tương đối hoàn chỉnh Số học sinh ở các cấp tăng dần, số học sinh lưu ban và bỏ học giảm hẳn Chất lượng giáo dục cũng có nhiều tiến bộ Số học sinh đoạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế ngày một tăng Trong nhân dân cũng phát triển phong trào học tập và nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu mới của xã hội và nghề nghiệp- nhất là việc học tin học, ngoại ngữ, quản trị kinh doanh và một số các kỹ năng nghề nghiệp khác

Rõ ràng, có được điều này một phần là do tính chủ động, năng động, sáng tạo của báo chí trong việc tuyên truyền đối với lĩnh vực này- một lĩnh vực vô cùng nhạy cảm, vừa có tính cấp thiết, vừa có tính lâu dài

Có thể nói, tuyên truyền về giáo dục- đào tạo thời kỳ này không chỉ góp phần cổ vũ phong trào thi đua của ngành, mà còn xác định cho công chúng thấy rõ được hướng đi của sự nghiệp giáo dục cách mạng trong tương lai Không những thế, nó còn khơi dậy phong trào học tập sôi nổi, rộng khắp trong nhân dân, giúp cho người dân hiểu rõ rằng: học không chỉ là trách

Trang 32

nhiệm mà còn là quyền lợi của mỗi người, là phương sách chủ yếu nhằm tăng cường phát triển nguồn lực quốc gia, bảo đảm phát triển bền vững cho đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân cư

Trang 33

CHƯƠNG II:

CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRÊN SÓNG ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM

chương trình: “Vì tương lai con em chúng ta”, “Nhà trường xã hội chủ nghĩa”, “Măng non đất nước”, “Tiến lên đoàn viên”

Lúc này, lĩnh vực Giáo dục và đào tạo được thể hiện qua những nội dung tuyên truyền cụ thể:

- Cách nuôi dạy con cái

- Giáo dục ý thức lao động cho thanh thiếu niên

- Điển hình giáo dục kết hợp dạy chữ- dạy nghề

- Mô hình nhà trường vừa học vừa làm

- Điểm sáng về bổ túc văn hoá, xoá nạn mù chữ

- Khí thế: “Ba sẵn sàng” trong các trường học

- Các trường thi đua học tập giảng dạy tốt và sẵn sàng chiến đấu tốt…

Trang 34

Trong bom đạn chiến tranh, trong bộn bề khó khăn về kinh tế làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam vẫn bay cao, bay xa, chuyển tải được nhiều nội dung phong phú, thiết thực- trong đó giáo dục và đào tạo là mảng đề tài quan trọng, không thể thiếu Đó là chuyện về những tấm gương anh dũng tại các trường cấp 2, cấp 3, về những bạn nhỏ mưu trí, dũng cảm, vừa học giỏi vừa biết bảo vệ bản thân, gia đình, bảo vệ gia súc gia cầm rồi công tác

phòng không trong nhà trường nhằm động viên tinh thần “Ba sẵn sàng”,

đẩy mạnh phong trào học tập trong nhà trường

Từ những năm 70, khi Đài Tiếng nói Việt Nam cho phép thành lập chương trình phát thanh Văn hoá và Đời sống (với thời lượng 15 phút mỗi ngày), mảng tuyên truyền về giáo dục và đào tạo cũng được xác định là 1 trong 5 lĩnh vực tuyên truyền chính của chương trình (đó là: Giáo dục, Văn hoá, Thương binh- xã hội, Thể thao và Y tế) Thời kỳ này, nội dung tuyên truyền về lĩnh vực giáo dục- đào tạo chủ yếu tập trung vào những vấn đề chính như:

- Phản ánh về những cơ sở giáo dục điển hình, phong trào giáo dục tiên tiến

- Gương thày, cô giáo dạy giỏi, học sinh giỏi, chăm ngoan

- Điển hình về phong trào bổ túc văn hoá, xoá nạn mù chữ

- Phong trào khuyến học

- Chăm lo, bảo vệ và động viên học sinh đi học (phong trào bện mũ rơm cho học sinh đến trường)

v.v

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác tuyên truyền đối với lĩnh vực nhạy cảm này, bắt đầu từ năm 1996, Lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam đã cho phép tách mảng giáo dục- đào tạo ra khỏi chương trình

Trang 35

Văn hoá và đời sống, thành lập thành một chương trình phát thanh riêng

mang tên: “Chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo” Chương trình

này thuộc Ban Văn hoá- xã hội, với thời lượng phát sóng 15 phút mỗi ngày-

từ 19h45 đến 20h00 (phát lại từ 7h15 đến 7h30 sáng hôm sau) trên Hệ VOV2 (Hệ Văn hoá và đời sống xã hội) Đối tượng của chương trình là các thầy giáo cô giáo, các em học sinh, sinh viên và các nhà trường

Như vậy là lần đầu tiên kể từ khi thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam (năm 1945), lĩnh vực giáo dục- đào tạo đã có hẳn một chương trình riêng, phát hàng ngày

Trải qua 10 năm trưởng thành và phát triển, Chương trình Phát thanh Giáo dục và đào tạo cũng đã đạt được nhiều thành tích trong lĩnh vực tuyên truyền, riêng phóng viên Ngô Thiệu Phong đã 2 lần đoạt Giải báo chí toàn quốc của Hội Nhà báo Việt Nam:

- Giải A: “Thêm một lần phân ban, thêm nhiều lần rắc rối” (năm 2003);

- Giải C: “Hội khoẻ phù đổng có xa rời mục đích?” (năm 2004)

2.2 Nội dung chương trình:

Qua khảo sát chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo trong khoảng thời gian 2 năm (2005 – 2006)- với tổng số gần 2000 tin, bài các loại người viết xin được đưa ra một vài con số thống kê cụ thể như sau:

Trang 37

nhiều hơn cả (33% và 31%) Trong khi đó, ở các bậc học, ngành học khác thì tỷ lệ này lại quá thấp (chỉ khoảng vài %) Điều này cũng là do chương trình luôn đặt mục tiêu: hướng vào nhóm đối tượng thính giả chính của chương trình- đó là các bậc phụ huynh, các thày cô giáo, các em học sinh Như đã trình bày ở trên, những vấn đề liên quan đến thi cử, tuyển sinh (nhất là ở bậc đại học) luôn phức tạp, rắc rối chính vì vậy các bài viết tuyên truyền về nội dung này thường xuyên thu hút được sự quan tâm, theo dõi của đông đảo bạn nghe đài trong cả nước (nhất là những thính giả thuộc khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ) Với bậc trung học cơ sở cũng vậy, những vấn đề phức tạp về chương trình học, sách giáo khoa đã khiến cho lượng thính giả thuộc nhóm đối tượng này tăng lên đáng kể Và cũng chính vì lý do đó mà tần số tuyên truyền về 2 bậc học này trên chương trình Giáo dục và đào tạo thời gian qua chiếm một tỷ lệ khá lớn

Tuy nhiên, nói như thế cũng không có nghĩa rằng đây đã là một tỷ lệ hoàn toàn hợp lý Vì trên thực tế, ở những bậc học khác (như mầm non, trung học phổ thông ) cũng nổi cộm với hàng loạt những vấn đề cần được tuyên truyền Rồi sau đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề- đặc biệt là trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Tỷ lệ tuyên truyền quá ít như vậy (chỉ có khoảng 1%), phải chăng là do xã hội chưa thực sự coi trọng tới 2 bậc học này? Rõ ràng, những người làm chương trình dường như đã không mấy quan tâm đến những nội dung này, mặc dù nhu cầu tiếp nhận thông tin của thính giả không phải là không có (điều này được thể hiện thông qua lượng thư từ của thính giả gửi về chương trình thời gian qua)

Sự mất cân đối này có lẽ cũng là điều mà những người làm chương trình cần phải lưu ý, vì nếu không, tự bản thân chương trình sẽ dần mất đi những thính giả của mình- nếu như các thính giả cảm thấy mình không được tiếp nhận thông tin một cách đầy đủ, đa dạng, đa chiều; và nhất là khi họ

Trang 38

cảm thấy mình là người ngoài cuộc- khi mà chương trình chỉ nhắm đến một

số đối tượng nhất định nào đó

2.2.2 Những đề tài cụ thể

Vì là chương trình phát sóng hàng ngày (với thời lượng 15 phút/ngày) nên chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo có điều kiện để đề cập đến nhiều nội dung, đề tài khác nhau của ngành Ngoài việc tiếp tục nêu những điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt chương trình còn có nhiều bài viết tuyên truyền về những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của ngành, những yêu cầu, kiến nghị, đề xuất do cơ sở giáo dục và cơ sở đào tạo nêu ra trong thực tiễn hoạt động của mình Chương trình cũng đã có những phát hiện về các vấn đề còn tồn tại trong ngành giáo dục- đào tạo Chẳng hạn như những bất cập trong việc triển khai thí điểm chương trình phân ban ở bậc trung học phổ thông, vấn đề đào tạo 2 giai đoạn ở bậc đại học, vấn đề cấp phát- sử dụng văn bằng, chứng chỉ, vấn đề dạy thêm học thêm tràn lan, vấn đề thương mại hoá giáo dục, rồi những yếu kém trong quản lý giáo dục, căn bệnh chạy theo thành tích trong giáo dục

Có thể nói, cùng với chức năng thông tin, tuyên truyền, phát hiện và biểu dương kịp thời những điển hình giáo dục (tập thể và cá nhân), chương trình còn phát huy chức năng là diễn đàn của các nhà giáo, các cán bộ quản

lý giáo dục và mọi tầng lớp nhân dân trong lĩnh vực này Từ việc nắm đầy

đủ, chính xác các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước (về giáo dục và đào tạo), từ những chuyến công tác thâm nhập cơ sở, lắng nghe tiếng nói từ cơ sở các phóng viên chương trình đã có những bài viết, những cuộc phỏng vấn, toạ đàm đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của đông đảo bạn nghe đài

Chương trình không những cố gắng làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giới thiệu chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, mà còn

Trang 39

luôn theo sát sự vận động và quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách

đó trong cuộc sống, trong thực tiễn giáo dục Kịp thời động viên những đơn vị, cá nhân làm tốt, góp phần uốn nắn, điều chỉnh những lệch lạc, sai trái trong quá trình triển khai thực hiện Bên cạnh đó, chương trình còn là cầu nối, phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, những ý kiến của các nhà giáo, các cán bộ quản lý giáo dục cũng như ý kiến của quần chúng nhân dân đối với những vấn đề giáo dục đang đặt ra

Trang 40

Đa số các bài viết được sử dụng trong chương trình đều là do phóng viên, biên tập viên chương trình thực hiện Tiếp sau đó là bài khai thác (có thể khai thác từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là từ các báo, hoặc gần đây là qua mạng Internet), rồi mới tới cộng tác viên chương trình (các nhà khoa học, nhà chuyên môn ); và cuối cùng là công chúng (thính giả của chương trình)

Từ tỷ lệ này cũng cho thấy mức độ sử dụng bài có tiếng động trong chương trình đã được nâng lên nhiều (tương ứng với tỷ lệ bài viết của phóng viên, biên tập viên chương trình) Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng bài viết của công chúng (thính giả chương trình) chỉ có 3% là quá ít, trong khi đó, bài khai thác từ các nguồn lại chiếm tới 18% (gần gấp 3 lần số bài cộng tác viên- mà

ở đây đa phần là các nhà khoa học, nhà chuyên môn ) Con số này theo tôi

là chưa hợp lý Sở dĩ có điều này là do những người làm chương trình đã không mấy quan tâm đến nhu cầu của thính giả, của các cộng tác viên chương trình- đó là họ không chỉ muốn nghe mà còn phải được nói Và như vậy cũng có nghĩa là chương trình đã chưa thực sự đến được với công chúng

Mặt khác, có một tâm lý chung hiện nay là: nếu sử dụng bài khai thác thì phóng viên sẽ nhàn hơn rất nhiều, chỉ việc copy rồi in ra (mặc dù không phải bài nào cũng có chất lượng tốt về mặt nội dung nhưng đa phần đều sạch sẽ, câu cú rõ ràng, mạch lạc) trong khi đó, để biên tập một bài cộng tác viên cho hoàn chỉnh để có thể dùng được (phát sóng được), thì người phóng viên đó thường phải mất rất nhiều thời gian xử lý bài vở Vì vậy mà nhiều khi vì vội, sắp đến ngày phải đi công tác xa, hay sát đến giờ duyệt chương trình chẳng hạn phóng viên thường tìm cách chọn luôn một bài khai thác cho nhanh, lại ít sai sót (Nhiều khi nó cũng chỉ được xem như là một cách để lấp sóng mà thôi)

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết TW4 khoá VII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết TW4 khoá VII
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết TW2 khoá VIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết TW2 khoá VIII
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
3. Ban Văn hoá xã hội- Đài Tiếng nói Việt Nam, Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI- Kinh nghiệm của các Quốc gia, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI- Kinh nghiệm của các Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
7. Dương Xuân Sơn, Đinh Hường, Trần Quang, Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí truyền thông
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội 2004
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
12. Đặng Bá Lãm, Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI: Chiến lược phát triển, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI: "Chiến lược phát triển
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
13. Đinh Văn Hường, Tổ chức và hoạt động toà soạn, Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động toà soạn
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội 2004
14. Đoàn Hương, Văn hoá và báo chí, Tập bài giảng, Khoa Báo chí, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và báo chí
15. Đức Dũng, Viết báo như thế nào? Nhà xuất bản VH-TT, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết báo như thế nào
Nhà XB: Nhà xuất bản VH-TT
16. Lê Quốc Hùng, Xã hội hoá giáo dục - Nhìn từ góc độ pháp luật, Nhà xuất bản Tư pháp, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hoá giáo dục - Nhìn từ góc độ pháp luật
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
18. Nguyễn Đình Lương, Nghề báo nói, Nhà xuất bản VH-TT, Hà Nội 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề báo nói
Nhà XB: Nhà xuất bản VH-TT
19. Nguyễn Thị Minh Thái, Phê bình tác phẩm văn học - nghệ thuật trên báo chí, Tập bài giảng, Khoa Báo chí, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình tác phẩm văn học - nghệ thuật trên báo chí
20. Nguyễn Văn Dững, Báo chí với vấn đề phát triển Giáo dục - đào tạo, Tạp chí Giáo dục, số tháng 6/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với vấn đề phát triển Giáo dục - đào tạo
21. Nguyễn Văn Dững, Công chúng phát thanh, Tạp chí Báo chí và tuyên truyền, số 4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chúng phát thanh
22. Nguyễn Văn Dững, Đối tượng tác động của báo chí, Tạp chí Xã hội học, số 4/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối tượng tác động của báo chí
23. Nguyễn Văn Dững (biên dịch), Nhà báo - bí quyết kỹ năng nghề nghiệp, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà báo - bí quyết kỹ năng nghề nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tần số tuyên truyền về các ngành học, bậc học - Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (2005-2006
Hình 1 Tần số tuyên truyền về các ngành học, bậc học (Trang 36)
Hình 2: Người viết - Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (2005-2006
Hình 2 Người viết (Trang 39)
Hình 3: Tỷ lệ bài tích cực- tiêu cực - Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (2005-2006
Hình 3 Tỷ lệ bài tích cực- tiêu cực (Trang 41)
Hình 4: Thể loại - Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (2005-2006
Hình 4 Thể loại (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w