Hòa cùng với hướng đi của các đài phát thanh trong cả nước, cũng như mong muốn được mang đến cho bạn nghe đài những chương trình phát thanh bổ ích, thiết thực, sinh động, chuyển tải đư
Trang 1Tính tương tác trong các chương trình phát
thanh trực tiếp của Đài PT- TH Hà Nội (khảo sát chương trình “60 phút bạn và tôi” và “Gặp thầy thuốc nổi tiếng” từ 6.2012 đến 6.2013)
Nguyễn Thị Thu Huyền
Trường Đại học KHXH&NV Luận văn ThS Chuyên ngành: Báo chí học; Mã số: 60 32 01
Người hướng dẫn: PGS, TS Nguyễn Đức Dũng
Năm bảo vệ: 2014
Keywords: Phát thanh trực tiếp; Phát thanh
Content
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát thanh là sản phẩm của nền kỹ thuật điện tử Ra đời trước truyền hình nên phát thanh từng được coi là loa ̣i hình truyền thông hiê ̣u quả nhất Sự sinh đô ̣ng của lời nói , âm nha ̣c, tiếng
đô ̣ng truyền qua làn sóng radio đã được thính giả đón nhâ ̣n mô ̣t cách nồng nhiê ̣t Tuy nhiên, những năm 40 của thế kỷ XX , vô tuyến truyền hình ra đời với sự kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh đã ta ̣o nên thế giới hiê ̣n thực vô cùng sinh đô ̣ng v ề cuô ̣c sống trước mắt thính giả mà ho ̣ không cần đi đâu xa Ưu thế của truyền hình là hình ảnh , điều mà phát thanh không có Đến thâ ̣p niên cuối của thế kỷ XX , khi Internet lên ngôi và các tờ báo ma ̣ng tung hoành đã làm cho phát thanh thêm lo ngại Chính vì vậy , trong bối cảnh bùng nổ các phương tiê ̣n truyền thông đa ̣i chúng hiện nay, muốn có chỗ đứng riêng của mình, phát thanh cần phải phát huy tối đa những ưu
Trang 2thế để vươ ̣t lên trong viê ̣c cung cấp thông tin nhanh , chính xác với mô ̣t phương thức sinh đô ̣ng , gần gũi với thính giả
Hướng đi mới được nhiều đài phát thanh từ trung ương đến địa phương lựa chọn là phát thanh trực tiếp Việc kết hơ ̣p giữa phương tiê ̣n sản xuất hiê ̣n đa ̣i , phát huy tối đa năng lự c truyền thông của radio giúp người nghe luôn câ ̣p nhâ ̣t được những thông tin nóng hổi nhất Phát thanh trực tiếp đòi hỏi sự tham gia , phối hợp ăn ý của cả m ột nhóm thực hiê ̣n chương trình Bên ca ̣nh đó, thính giả cũng đóng vai trò quan tro ̣ng ta ̣o nên thành công cho chương trình đó
Ví dụ, trên kênh phát thanh VOV Giao thông, không chỉ có phóng viên của Đài tiếng nói Việt Nam là những người cung cấp thông tin tại hiện trường mà còn có rất nhiều thính giả gọi điện về từ các tuyến phố Những thính giả của VOV giao thông đã không còn xa lạ với câu nói
của người dẫn chương trình: “Thính giả có số điện thoại vừa gọi điện về cho chương trình và thông báo tình hình giao thông tại tuyến đường X như sau ”
Hòa cùng với hướng đi của các đài phát thanh trong cả nước, cũng như mong muốn được mang đến cho bạn nghe đài những chương trình phát thanh bổ ích, thiết thực, sinh động, chuyển tải được nhiều nội dung trong khoảng thời gian ngắn nhất với sự tham gia trực tiếp của thính giả, Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội (từ đây viết tắt là Đài PT- TH Hà Nội) rất chú tro ̣ng đến viê ̣c xây dựng các chương trình phát thanh trực tiếp mang tính tương tác cao Trong số đó, những chương trình phát thanh trực tiếp được bạn nghe đài yêu thích nhất là tư vấn trực tiếp, chia sẻ ý kiến cá nhân với nhiều chuyên đề trong lĩnh vực đời sống xã hội Bên cạnh đó, từ nhu cầu hiểu biết về tâm lý tình cảm, các vấn đề về sức khỏe đã tạo điều kiện cho việc xuất hiện những chương trình phát thanh trực tiếp liên quan đến tư vấn một số bệnh thường gặp, hay về tình yêu, giới tính Những chương trình như vậy thường thu hút một lượng thính giả đông đảo bởi sự hấp dẫn, tương tác qua lại giữa nhiều đối tượng trong chương trình Hơn nữa, thính giả sẽ được giải đáp những thắc mắc hay chia sẻ ý kiến chung mà họ đang quan tâm Nổi bật nhất trong các chương trình phát thanh trực tiếp của Đài PT- TH Hà Nội phải kể đến hai chương trình mang
tính tương tác cao: “Gặp thầy thuốc nổi tiếng” và “60 phút Bạn và tôi”
Rõ ràng trong thời đa ̣i bùng nổ thông tin như hiê ̣n nay , viê ̣c ca ̣nh tranh không chỉ về thông tin nhanh mà hình thức thể hiê ̣n cũng là yếu tố tăng cường và thúc đẩy sự phát triển của mô ̣t loa ̣i hình báo chí Có thể thấy, việc tăng cường tính tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp
Trang 3đang là mô ̣t xu hướng ma ̣nh mẽ của phát thanh hiê ̣n đa ̣i Đây cũng là một trong những yếu tố giúp thu hút thính giả tìm đến các chương trình phát thanh Đó là lý do để chúng tôi lựa chọn đề
tài: Tính tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp của Đài PT- TH Hà Nội (Khảo
sát chương trình “60 phút bạn và tôi” và “Gặp thầy thuốc nổi tiếng” từ 6.2012 đến 6.2013) làm
đề tài cho luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học Những kết quả của luận văn có thể làm phong phú hơn nguồn tài liê ̣u về chương trình phát thanh trực tiếp mang tính tương tác cao
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Thời gian qua, có khá nhiều cuốn sách, đề tài khóa luận, luận văn nghiên cứu về các chương trình phát thanh trực tiếp và tính tương tác trong chương trình phát thanh Trong phạm vi liên quan gần với đề tài của chúng tôi, có thể kể một số nghiên cứu đã được công bố như sau:
Về các cuốn sách đã xuất bản, theo trình tự thời gian đã có:
Giáo trình Báo phát thanh của Phân viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp với Đài Tiếng
nói Việt Nam thực hiện, NXB Văn hóa - Thông tin xuất bản năm 2002 Trong giáo trình này, phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp được đề cập đến trong chương 8
Trong cuốn Lý luận báo phát thanh (2003), ở chương 1, tác giả Đức Dũng đã dành 21 trang để đề cập đến phát thanh trực tiếp Tác giả khẳng định “Có thể nói phát thanh trực tiếp là hình thức thể hiện mới của phát thanh hiện đại, tạo ra sức hấp dẫn mới cho làn sóng phát thanh Tính thời sự và sự gần gũi, thân mật là hai yếu tố đảm bảo sức mạnh của phát thanh trong bối cảnh của đời sống hiện đại và phát thanh trực tiếp đã có cả hai ưu thế quan trọng này.”
Cẩm nang hươ ́ ng dẫn Phát thanh trực tiếp do Đài Tiếng nói Việt Nam- Bô ̣ Văn hóa Thông
tin - Tổ chứ c SIDA (Thụy Điển) phối hợp xuất bản năm 2005 Nội dung sách được biên soạn từ kinh nghiệm của các giảng viên nước ngoài về cách thực hiện các chương trình phát thanh trực tiếp dành cho những người làm phát thanh Việt Nam
Sách Phát thanh trực tiếp do GT,TS Vũ Văn Hiền và TS Đức Dũng chủ biên, NXB Lý
luận chính trị xuất bản năm 2007 Toàn bộ nội dung của cuốn sách dày hơn 350 trang này tập trung làm sáng tỏ những vấn đề có liên quan đến lý thuyết và kỹ năng sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp trong điều kiện của Việt Nam
Trang 4Về các nghiên cứu dưới dạng luận văn, khóa luận ở cấp độ thạc sỹ và tốt nghiệp đại học, có thể kể một số công trình tiêu biểu sau đây:
Khóa luận Các hình thức tương tác giữa thính giả với chương trình phát thanh của tác giả
Ngô Thái Hà (Bảo vệ năm 2009 tại Ho ̣c viê ̣n Báo chí và Tuyên truyền ) Trong khóa luận này, tác giả Ngô Thái Hà chỉ dừng lại ở việc chỉ ra yếu tố tương tác giữa thính giả với một số chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam
Khóa luận Kỹ năng dẫn chương trình phát thanh tương tác trực tiếp 60 phút Bạn và Tôi của Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội 2 của tác giả Nguyễn Thị Huyền (Bảo vệ năm 2009 tại
Học viện Báo chí và Tuyên truyền ) Trong khóa luận, tác giả Nguyễn Thị Huyền tập trung nghiên cứu vào những kỹ năng của người dẫn chương trình trong chương trình 60 phút Bạn và Tôi của Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nô ̣i 2
Khóa luận “Vấn đề tương tác trên Kênh phát thanh giao thông – Đài Tiếng nói Việt Nam FM91mhz” của tác giả Kim Văn Hiền (Bảo vệ năm 2009) tại Đại học Khoa học xã hội và nhân
văn) Khóa luận chỉ ra việc thực hiện tính tương tác trên kênh phát thanh giao thông của Đài
Tiếng nói Việt Nam trong chương trình Giờ cao điểm, đồng thời cũng chỉ ra điểm mạnh, hạn chế
của việc thực hiện tương tác trên kênh phát thanh này
Khóa luận Tính tương tác của phát thanh trong hai chương trình “Hành trình cùng bạn” của Đài PT- TH Hà Nội và Cửa sổ tình yêu của Đài Tiếng nói Việt Nam của tác giả Vũ Đức
Huỳnh (Bảo vệ năm 2011 tại Đại học Khoa học xã hội và nhân văn) Trong khóa luận, tác giả chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả tính tương tác của hai chương trình từ phía thính giả
Luận văn Chương trình phát thanh trực tiếp trên Đài tiếng nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Dương Thị Anh Đào (Bảo vệ năm 2011 tại trường Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn) Trong đó, tác giả đã dành chương 1 để đưa ra những lý luận chung về phát thanh trực tiếp Theo tác giả, phát thanh trực tiếp có ưu thế trong việc cung cấp thông tin nhanh, tức thời Đồng thời, phát thanh trực tiếp còn hấp dẫn thính giả bởi tính tương tác cao
Những cuốn sách và đề tài nghiên cứu nói trên sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu của tác giả Tuy nhiên, vấn đề mà tác giả quan tâm nghiên c ứu là những yếu tố tương tác được thể hiện trong các chương trình phát thanh trực tiếp của đài PT- TH Hà Nội
Trang 5Trong luận văn của mình, tác giả đi sâu phân tích và chỉ ra thế mạnh và hạn chế riêng của từng yếu tố tương tác Luận văn cũng đánh giá một cách khái quát về vị thế, sự phát triển của chương trình phát thanh trực tiếp mang tính tương tác cao tại Việt Nam, khẳng định đây là xu hướng phát triển chủ đạo của phát thanh Việt Nam trong tương lai gần
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm đưa đến cái nhìn tổng quan về các yếu tố tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp Trên cơ sở nghiên cứu hai chương trình phát thanh trực tiếp của Đài PT- TH Hà Nội, luận văn hy vọng sẽ chỉ ra được đặc trưng, ưu điểm, hạn chế của từng yếu tố tương tác Từ đó đánh giá được hiệu quả của tính tương tác đối với việc tiếp nhận thông tin của thính giả cũng như giá trị đối với người làm báo phát thanh ở Việt Nam
Tác giả luận văn cũng bước đầu đề xuất những cách thức và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của tính tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp của Đài PT- TH Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiê ̣n được mu ̣c đích trên, luâ ̣n văn có nhiê ̣m vu ̣ sau:
- Nghiên cứ u tài liê ̣u , xác định cơ sở lý thuyết về tính tương tác trong chương trình phát thanh nói chung và phát thanh trực tiếp nói riêng
- Khảo sát hai chương trình phát thanh trực tiếp nổi bật của Đài PT- TH Hà Nội, phân tích những yếu tố tương tác xuất hiện trong chương trình phát thanh trực tiếp
- Xác định những thành công, chỉ ra những hạn chế, tồn tại trong quá trình tương tác của một số chương trình phát thanh trực tiếp và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp của đài PT- TH Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những yếu tố tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp của đài PT- TH Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các chương trình 60 phút Bạn và Tôi và chương trình Gặp thầy thuốc nổi tiếng của Đài PT- TH Hà Nội, trong đó:
Trang 6- Chương trình 60 phút Bạn và Tôi: khảo sát từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013
- Chương trình Gặp thầy thuốc nổi tiếng: bắt đầu khảo sát khi chương trình ra đời, là từ tháng
9 năm 2013 đến tháng 6 năm 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiê ̣n đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để nghiên cứu các tài liệu lý luận báo chí
nói chung và tài liệu về báo chí phát thanh, tác phẩm phát thanh trực tiếp để tìm kiếm những kiến thức lý thuyết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Ngoài ra, tác giả cũng tham khảo một số sách báo, tạp chí, internet, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong chương 1 là chương xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn, làm điểm tựa cho việc khảo sát, phân tích trong các chương 2 và chương 3
- Phương pháp khảo sát thực tế được sử dụng để nghiên cứu chương trình 60 phút Bạn và Tôi và chương trình Gặp thầy thuốc nổi tiếng của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội từ
tháng 6 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013
- Các phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng cho việc đánh giá các chương trình
phát thanh trong diện khảo sát, qua đó rút ra những luận điểm khoa học cho luận văn
- Phương pháp so sánh được sử dụng để rút ra những tương đồng và khác biệt trong các yếu tố tương tác giữa chương trình 60 phút Bạn và Tôi và chương trình Gặp thầy thuốc nổi tiếng
cũng như với một số chương trình phát thanh trực tiếp mang tính tương tác cao của các đài khác
- Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện với một số đối tượng đang trực tiếp làm
việc trong các chương trình phát thanh trong diện khảo sát nhằm thu thập những quan điểm, ý kiến, cứ liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn sâu cũng được thực hiện với một số thính giả đã từng tham gia
vào các chương trình để đánh giá những thành công và hạn chế mà các chương trình phát thanh trực tiếp của đài PT- TH Hà Nội đạt được
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Về mặt lý luận, luận văn đã góp phần hệ thống hóa lý luận về tính tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp Rõ ràng hiện nay, khi các phương tiện đua nhau thu hút công chúng, phương tiện nào tương tác tốt hơn, hấp dẫn hơn thì sẽ được nhiều công chúng ưu ái hơn
Trang 7Chính vì thế, tính tương tác trong phát thanh là cách để các đài biết công chúng muốn gì, công chúng thích các tác phẩm như thế nào? Ngoài ra, công chúng sẽ tích cực tham gia hơn vào các chương trình có tính tương tác Vì ở đó, ý kiến của họ được coi trọng
Thông qua viê ̣c nghiên cứu, khảo sát về tính tương tác trong chương trình phát thanh tr ực tiếp, luận văn sẽ bư ớc đầu cung cấp một số cứ liệu đáng tin cậy để các nhà nghiên cứu có thể tham khảo, vận dụng khi khái quát lý luâ ̣n về phát thanh hi ện đại Quá trình tương tác trong chương trình phát thanh thúc đẩy quá trình dân chủ hóa thông tin trong cơ chế truyền thông Thính giả tham gia vào chương trình đã khẳng định báo chí của chúng ta thực sự là diễn đàn của nhân dân, là nơi nhân dân có thể phát biểu ý kiến, trình bày tâm tư, nguyện vọng Thính giả từ chỗ chỉ là người tiếp nhận thông tin một chiều, đến với chương trình phát thanh tương tác họ đã trở thành một thành viên của chương trình Lúc này họ đóng hai vai: vừa là đối tượng tiếp nhận thông tin, vừa là người tham gia vào quá trình xử lý thông tin, góp phần quyết định nội dung chương trình Họ gợi mở thông tin, nên lên những vấn đề cần bàn, làm cho quá trình thông tin được dân chủ hóa sâu sắc Sự giao lưu của thính giả đối với chương trình sẽ tạo nên một diễn đàn ngôn luận dân chủ, công khai Không chỉ tạo ra một kênh thông tin dân chủ hơn, phát thanh tương tác còn tạo ra những chương trình mang đậm hơi thở đời sống, gần gũi thiết thực với bạn nghe đài
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thực tế cho thấy, bên cạnh nhu cầu tiếp nhận thông tin, thính giả ngày nay không chỉ đóng vai người nghe đài một cách thụ động mà còn muốn được tham gia vào trong các chương trình phát thanh một cách chủ động Nét đặc thù trong tâm lý tiếp nhận thông tin của thính giả hiện nay là mong muốn có được cảm giác gần gũi, thân mật, mong tìm được sự mới mẻ, đa đạng và xác thực Vì thế, phát thanh phải đáp ứng được nhu cầu này bằng việc khơi mở rộng rãi con đường giao lưu, đối thoại, tương tác với thính giả Nhờ vào việc gia tăng sự xuất hiện của các yếu tố tương tác, thính giả của chương trình phát thanh trực tiếp không chỉ nghe thụ động một chiều mà còn có thể trình bày ý kiến, quan điểm của mình đối với những vấn đề mà chương trình
đề cập Họ sẽ mang đến cho chương trình những thông tin thiết thực từ nhiều góc độ khác nhau Người nghe có thể xen vào nội dung và góp phần định hướng phát triển của nội dung vấn đề họ quan tâm Tiếng nói của thính giả trong các chương trình phát thanh tương tác sẽ xóa đi tính một chiều, áp đặt của thông tin
Trang 8Có thể thấy rằng, một chương trình phát thanh trực tiếp mang tính tương tác cao có thính giả tham gia, tính đối tượng của chương trình được cụ thể hóa và được nâng cao Khi đối tượng phục vụ càng được xác định cụ thể thì chương trình càng gắn bó, có ý nghĩa thiết thực đối với thính giả Thu hút thính giả tham gia vào chương trình là cách để chương trình phát thanh gắn với họ, thuộc về họ Những người làm chương trình có cơ hội để nắm bắt nhu cầu, tâm lý, sơ thích, đặc điểm của nhóm đối tượng mà chương trình hướng tới, từ đó tiếp tục xây dựng nội dung chương trình theo hướng đối tượng hóa Chương trình nào càng khu biệt rõ đối tượng phục
vụ của mình, hiệu quả truyền thông càng cao Bên cạnh đó, phát thanh tương tác cho phép người nghe tác động đến chương trình mình tham gia Với một kịch bản mở, nội dung chương trình phát thanh tương tác không chỉ là những thông tin mà phóng viên, biên tập viên soạn ra theo quan điểm mà còn là những thông tin phản hồi đa chiều từ phía người nghe Với cách làm này, phát thanh tương tác sẽ thay đổi cách nghe đài, cách thức tiếp nhận thông tin của thính giả (từ thụ động sang chủ động)
Hiện nay, phát thanh trực tiếp đang ngày càng phát triển và được ưa chuộng ở nước ta
Cùng với chương trình 60 phút Bạn và Tôi và G ặp thầy thuốc nổi tiếng của đài P T- TH Hà Nội
là rất nhiều các chương trình phát thanh trực tiếp khác Tuy nhiên, không phải chương trình nào cũng đề cao tính tương tác cũng như tận dụng được hiệu quả của tính tương tác nhằm thu hút sự quan tâm của thính giả Vì vậy, với đối tượng nghiên cứu của luận văn chính là các chương trình
“60 phút bạn và tôi” và “Gặp thầy thuốc nổi tiếng” Tác giả luận văn sẽ thực hiện phân tích kỹ quá trình tương để từ đó đánh giá điểm mạnh, yếu của từng chương trình Từ đó, tác giả cũng sẽ đưa ra một vài điểm khuyến nghị nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng tính tương tác Bên cạnh đó, luận văn sẽ góp phần đề ra hướng đi m ới nhằm nâng cao hiệu quả của phát thanh trực tiếp trong tương lai
Những đồng nghiê ̣p trẻ cũng có thể tìm được những kinh nghiê ̣m thực hiê ̣n chương trình phát thanh trực tiếp mang tính tương tác cao
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu và Kết luận, các nội dung chính của luận văn được trình bày trong
3 chương, 11 tiết
Cuối luận văn, sau Tài liệu tham khảo là phần Phụ lục, trong đó có các tài liệu liên quan
đến quá trình nghiên cứu
Trang 9REFERENCES
1 Đài Tiếng nói Viê ̣t Nam – SIDA (Thụy Điển) – Bô ̣ Văn hóa thông tin (2005), Cẩm nang hướng dẫn phát thanh trực tiếp, Hà Nội
2 Đức Dũng (2003), Lý luận báo phát thanh, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội
3 PGS- TS Nguyễn Đức Dũng, Bài viết “Phát thanh trực tiếp - động lực mới của phát thanh hiện đại”, web Songtre.vn, Hà Nội
http://www.songtre.tv/news/nghien-cuu-trao-doi/phat-thanh-truc-tiep-dong-luc-moi-cua-phat-thanh-hien-dai-45-3464.html
4 TS Nguyễn Văn Dững chủ biên – TS Hoàng Anh (1998), Nhà báo bí quyết kỹ năng - nghề nghiê ̣p, NXB Lao đô ̣ng, Hà Nội
5 PGS.TS Nguyễn Văn Dững chủ biên (2006), Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản,
NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội
6 Hà Minh Đức chủ biên (1997), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn tập 3, NXB
Đa ̣i ho ̣c Quốc gia, Hà Nội
7.The Missouri Group (2009), Nhà báo hiện đại, NXB Trẻ
8 Vũ Quang Hào (2001), Ngôn ngư ̃ báo chí, NXB Đa ̣i ho ̣c Quốc Gia, Hà Nội
9 GS.TS Vũ Văn Hiền – TS Đức Dũng (2007), Phát thanh trực tiếp, NXB Lý luâ ̣n chính trị, Hà Nội
10 Nguyễn Lân (2000), Tư ̀ điển Từ và ngữ Viê ̣t Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Thành
phố Hồ Chí Minh
11 Nhiều tác giả (2002), Báo phát thanh, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội
12 Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đa ̣i chúng, NXB Chính tri ̣ Quốc gia, Hà Nội
13 Tạ Ngọc Tấn chủ biên (1999), Cơ sơ ̉ lý luận báo chí, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội
14 Th.s Thanh Tịnh (20/9/2008), Bài viết “Mấy vấn đề về công chúng phát thanh hiện đại”,
web Songtre.tv
15 Hoàng Phê chủ biên (2002), Tư ̀ điển Tiếng viê ̣t, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng
16 Rafaeli (1988), Interactivity: From new media to communication, Sage Annual Review of Communication Research: Advancing Communication Science, Sage: Beverly Hills, CA
Trang 1017 Dương Xuân Sơn - Đinh Hườ ng - Trần Quang (1995), Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội
18 V.V Xmirnốp, Các thể loại báo chí phát thanh, NXB Thông tấn, Hà Nội
19 Văn bản và băng âm thanh lưu trữ các chương trình “60 phút bạn và tôi, Gặp thầy thuốc nổi tiếng” của Đài PT- TH Hà Nội
20 Nguyễn Như Ý chủ biên (1999), Đại Từ điển Tiếng Viê ̣t, NXB Văn hóa Thông tin, Hà
Nô ̣i