1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách nghệ thuật Tô Hoài trong hồi ký Chiều chiều và Cát bụi chân ai

127 1,1K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 776,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với nhiều ý kiến đánh giá của các tác giả, Mai Văn Thọ trên tuần báo Văn nghệ trẻ, Đặng Tiến trong Tổng quan về hồi kí Tô Hoài đều khẳng định hồi kí là thể văn sở trường của Tô Hoà

Trang 1

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO TRường đại học sư phạm Hà Nội 2

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong luận văn là kết quả

nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS TS Nguyễn Đăng

Điệp Những nội dung này chưa được công bố ở công trình nghiên cứu nào Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

ấn riêng của mình "Đời văn Tô Hoài gợi hình ảnh một dòng sông miên man chảy và mang trong mình cả cuộc sống bất tận"[44] Có thể nói hiếm một nhà văn nào có tuổi

đời, tuổi nghề gắn bó với công việc sáng tạo nghệ thuật chung thủy như Tô Hoài Sự

nỗ lực đó được ghi nhận khi năm 1996 ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật Một phần thưởng xứng đáng cho một đời lao động nghệ thuật bền bỉ đầy tâm huyết của một nhà văn có tài

Tô Hoài viết nhiều thể loại nhưng thể loại mà ông gặt hái nhiều thành công nhất chính là hồi kí Điều đó được giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định: "Tô Hoài sinh ra để viết hồi kí, tự truyện…Hồi kí, tự truyện là thể văn sở trường nhất của Tô Hoài Đúng như thế ở thể văn này tất nhiên nhân vật trung tâm chính là cái tôi … cho nên sự hấp dẫn của hồi kí Tô Hoài xét cho cùng là sự hấp dẫn của cái tôi ấy"

[51] Từ Cỏ dại (1944), Tự truyện (1978) đến Cát bụi chân ai ( 1992), Chiều chiều

Trang 3

(1999) Tô Hoài được xem là một tác giả hồi kí tài năng Thể văn này thu hút được sự quan tâm của xã hội, nó vừa thể hiện bút lực của Tô Hoài, lại vừa cho thấy cách viết riêng, độc đáo sớm định hình một phong cách không lẫn với bất cứ ai

Ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn, các tác phẩm của Tô Hoài đã được giới nghiên cứu phê bình văn học chú ý Là người phát hiện và nâng đỡ tài năng của Tô hoài từ khi mới vào nghề trong Nhà văn hiện đại (1942) Vũ Ngọc Phan đã khẳng

định: "Tô Hoài "thuộc loại tả chân" và "có khuynh hướng về mặt xã hội" Ông tỏ ra

là nhà tiểu thuyết có con mắt quan sát sâu sắc và lối văn dí dỏm, tinh quái đầy những phong vị và màu sắc thôn quê, ông tỏ ra không giống một nhà văn nào trước ông và cũng không giống một nhà văn nào mới nhập tịch làng văn như ông"[58] Nhà văn

Vũ Ngọc Phan đã sớm nhận ra tài năng trong sáng tác Tô Hoài: Biệt tài quan sát và lối văn độc đáo

Giáo sư Phan Cự Đệ gần giống Vũ Ngọc Phan khi đánh giá cao Tô Hoài ở "sự phản ánh xã hội " với "nhãn quan phong tục sinh hoạt" nhất là khả năng: "quan sát

đặc biệt rất thông minh, tinh tế, hóm hỉnh…và có vốn ngôn ngữ quần chúng được nghệ thuật hóa rất tài tình sống động…"[8]

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Khái luận của Tổng tập văn học 30A

thì nhận xét: "Nhà văn có khiếu quan sát hết sức phong phú và sắc sảo, tài hoa hiểu theo nghĩa vận dụng toàn bộ các giác quan để ghi nhận cảnh vật bên ngoài với tất cả hình dáng, sự hoạt động, âm thanh, màu sắc, mùi vị của nó ông có một trí tưởng tượng mạnh mẽ giúp ông rất nhiều khi miêu tả…đồng thời có một vốn ngôn ngữ giàu

có mà ông cần cù tích lũy, để tạo nên những bức tranh chân thực, góc cạnh và đầy hương sắc…"[50]

Giáo sư Hà Minh Đức cũng nhận xét khái quát về tài năng của Tô Hoài ở khả năng sử dụng ngôn ngữ khi miêu tả: "Sự tìm tòi rõ nhất trong nghệ thuật văn xuôi của Tô Hoài thuộc lĩnh vực ngôn từ Ông là một nhà văn sử dụng nhiều thể loại văn học và ở loại thể nào mạch văn của ông cũng vươn tới giá trị của nghệ thuật ngôn từ hay nói một cách nôm na là có văn Tính văn của ngôn từ được tạo nên bằng nhiều

Trang 4

nỗ lực tìm tòi, sáng tạo Ông không để câu văn rơi vào tình trạng chữ nghĩa sáo mòn

và lối biểu hiện nghèo nàn Có nhiều hiện tượng còn khô khan, khó miêu tả nhưng dưới ngòi bút của ông trở nên sinh động, cách diễn tả nhiều cảm hứng, liên tưởng

đẹp, so sánh thích hợp, chữ nghĩa chọn lọc và gợi cảm…"[11]

PGS TS Nguyễn Đăng Điệp thì nhận thấy: "Cái nhìn không nghiêm trọng hóa là nét trội trong cảm quan nghệ thuật của Tô Hoài" và "Viết về cái của mình, quanh mình là định hướng nghệ thuật cũng là kênh thẩm mĩ của Tô Hoài Đúng hơn

đây là yếu tố cốt lõi làm nên quan niệm nghệ thuật của ông, nó khiến cho văn Tô Hoài có được phong cách, giọng điệu riêng Đó là một giọng kể nhẩn nha, tinh quái, hóm hỉnh…"[10] Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất ý kiến cho rằng Tô Hoài là một nhà văn có tài năng, có một tiếng nói riêng, một cái nhìn riêng và một phong cách riêng độc đáo

Bên cạnh các công trình nghiên cứu nói trên, hồi kí cũng là mảng sáng tác

"được đọc nhiều, đọc kĩ trong vài giới hạn đọc" Cuốn hồi kí đầu tiên của Tô Hoài

mang tên Cỏ Dại ra đời năm ông mới ngoài 20 tuổi Tự truyện cuốn tiếp theo in ra

khi ông ở tuổi 50 Nếu cuốn thứ nhất đã phát hiện ra khả năng của tác giả trong việc nắm bắt quá khứ ngay khi nó vừa hình thành cũng như khách quan hóa bản thân, biến mình thành một đối tượng miêu tả thì cuốn thứ hai cho thấy ông sống kĩ lưỡng biết bao với đời sống xung quanh mình từ chuyện riêng tư đến chuyện nghề rồi chuyện hoạt động cách mạng Cái gì cũng có thể đưa lên trang giấy để trở thành văn chương, sức chứa của đầu óc ông thật hơn người mà sự chi li, tỉ mỉ thì lại ít ai bì kịp Dường như trong kho văn chương của tác giả luôn có một góc riêng giành cho cái mà người xưa hay gọi là dĩ vãng và nó được ông quan niệm như một bộ phận không thể thiếu của hiện tại

Tuy nhiên phải đến Cát bụi chân ai (1992) hồi kí Tô Hoài mới thực sự thu hút dư luận Sự ra đời của Cát bụi chân ai là một sự kiện văn học đáng chú ý Dù nhiều ý

kiến khen chê khác nhau nhưng điều cốt lõi là không ai phủ nhận giá trị nội dung

Trang 5

nghệ thuật của nó Trong lòng bạn đọc nhất là trong lòng đồng nghiệp, nhà văn Tô Hoài như vừa tái sinh để trở lại với cái thời lẫy lừng uy tín

Theo Trần Đình Nam trong bài Nhà văn Tô Hoài: "Cỡ tuổi 72 ông hiến cho

độc giả một Cát bụi chân ai mà với nó ông trở thành nhà văn thượng thặng trong thể

hồi kí Chưa nói đến đóng góp nghệ thuật viết hồi kí đến với cái chất Tô Hoài rất đặc biệt trong cuốn sách này riêng phần tư liệu đã là vô giá Nếu Tô Hoài sống để dạ, chết mang theo không kể lại những chuyện sau đây thì bạn đọc sẽ thiệt thòi lắm"

[51] Riêng nhận xét về nghệ thuật viết văn Trần Đình Nam cũng nhận định: "Cát bụi chân ai có lối hành văn thật tự nhiên, biến hóa phức tạp một cách thú vị Phải là một nhà văn bậc thầy mới viết được những trang đẹp đẽ nhường ấy"

Trên tuần báo Văn nghệ ngày 13.11.93 Xuân Sách,Trần Đức Tiến đã có cuộc trao đổi về Cát bụi chân ai Theo Trần Đức Tiến với Cát bụi chân ai: "Lần đầu tiên

Tô Hoài đã cho thế hệ cầm bút của ông nhìn những nhân vật lớn của văn chương nước nhà ở một cự li gần một khoảng cách khá tàn nhẫn nhưng chính vì thế mà chân thực và sâu sắc" Xuân Sách thì khẳng định: "So với những tác phẩm của ông mà tôi

đọc thì Cát bụi chân ai là quyển tôi thích nhất Tác phẩm mang đậm nét phong cách

của Tô Hoài từ văn phong đến con người Thâm hậu mà dung dị, thì thầm mà không

đơn điệu, nhàm chán(…) Sức hấp dẫn chủ yếu của tác phẩm là sự chân thực"[61]

Đến Vương Trí Nhàn trong lời bạt Tô Hoài và thể hồi kí thì coi: "Cát bụi chân

ai là dịp ngòi bút hồi kí của Tô Hoài tung hoành giữa những chuyện đã sống qua để rồi dựng lên ngồn ngộn một bức tranh hoành tráng…"[56]

Chiều chiều là cuốn hồi kí tiếp nối của Cát bụi chân ai Về Chiều chiều giáo

sư Phong Lê nhận định: "Cuốn sách luôn được người đọc cuốn hút bởi những gì mới

mẻ, không trùng lặp, không mờ nhạt không sút kém trong cái kho kỉ niệm của nhà văn Chẳng lên giọng, cũng chẳng cần ra bộ khiêm nhường, Tô Hoài cứ tự nhiên mà

kể những gì mình đã trải, đã biết (…) và khả năng hoán đổi vị thế ấy làm nên sức hút của văn hồi kí Tô Hoài"[44]

Trang 6

PGS TS Nguyễn Đăng Điệp cũng đưa ra nhận định khẳng định giá trị của tác

phẩm: "Chiều chiều là những câu chuyện được ông thể hiện qua cái nhìn của mình

về những chuyện quanh mình Đây là một trong trong hai tác phẩm xuất sắc nhất trong văn nghiệp Tô Hoài" Theo PGS nét đặc sắc đó thể hiện trên ba phương diện:

"Trước hết là nghệ thuật tạo dựng không khí, giọng điệu, thứ hai là đặt nhân vật trong muôn mặt đời thường, thứ ba là các chi tiết giàu chất văn xuôi"[10]

Cùng với nhiều ý kiến đánh giá của các tác giả, Mai Văn Thọ trên tuần báo

Văn nghệ trẻ, Đặng Tiến trong Tổng quan về hồi kí Tô Hoài đều khẳng định hồi kí là

thể văn sở trường của Tô Hoài, ở đó Tô Hoài đã xây dựng cả thế giới riêng của mình với những cảm quan nhân bản đời thường thấm thía, chân thực mà sâu sắc

Bên cạnh các bài nghiên cứu, phê bình, tiểu luận về Tô Hoài người viết cũng

có dịp tiếp xúc với một số luận văn, luận án nghiên cứu về Tô Hoài:

- Tìm hiểu hồi kí Tô Hoài - Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn của Lê Minh

Hiền (1998) ĐHSP Hà Nội

- Phong cách nghệ thuật Tô Hoài - Luận án tiến sĩ khoa học ngữ văn của Mai

Thị Nhung (2005) ĐHSP Hà Nội

- Nghệ thuật trần thuật của Tô Hoài qua hồi kí - Luận văn thạc sĩ khoa học

ngữ văn của Đoàn Thị Thuý Hạnh (2001) ĐHSP Hà Nội…

Các đề tài trên đã nghiên cứu hồi kí Tô Hoài ở một số phương diện như: nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật tổ chức và phát triển cốt truyện, chất tiểu thuyết trong hồi

kí Ngay luận án tiến sĩ ngữ văn của Mai Thị Nhung cũng khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu của Tô Hoài ở các thể loại trong mỗi thời kì để tìm ra phong cách nghệ thuật của Tô Hoài mà chưa chỉ rõ nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật hồi kí Tô Hoài Chuyên luận của chúng tôi là sự tiếp nối mạch nghiên cứu đã được khai mở từ

rất nhiều công trình luận văn, luận án trước đây Với đề tài Phong cách nghệ thuật Tô Hoài trong hồi kí Chiều chiều và Cát bụi chân ai chúng tôi muốn hiểu rõ hơn về

thời đại ông đã sống, về chân dung những nhà văn lớn cùng thời với ông, về sự phát

Trang 7

triển của hồi kí trong thế kỉ XX để từ đó khái quát nên nét đặc sắc trong nghệ thuật hồi kí Tô Hoài

2 Mục đích nghiên cứu

Đi sâu vào nghiên cứu hai tác phẩm hồi kí Cát bụi chân ai, Chiều chiều chúng

tôi hi vọng qua đó phát hiện những đóng góp riêng về thể loại hồi kí của Tô Hoài trong nền văn học Việt Nam hiện đại

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi không đặt nhiệm vụ nghiên cứu toàn bộ sự

nghiệp văn học của Tô Hoài mà chỉ tập trung vào hai hồi kí chính là Cát bụi chân ai

và Chiều chiều nhằm đạt được những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Tìm hiểu chung về hồi kí, sự phát triển của hồi kí ở Việt Nam và quan niệm của Tô Hoài về hồi kí

- Qua hai tác phẩm hồi kí tiêu biểu khảo sát những nét nổi bật về nội dung ; cuộc sống, con người, lịch sử thể hiện trong tác phẩm

- Khảo sát những nét đặc sắc trong nghệ thuật hồi kí của Tô Hoài từ nghệ thuật

tổ chức điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện yêu cầu đặt ra trong đề tài là nghiên cứu về phong cách nghệ

thuật hồi kí Tô Hoài trong Chiều chiều và Cát bụi chân ai Người viết tiến hành khảo sát hai tác phẩm chính là: Chiều chiều, Cát bụi chân ai

Ngoài ra chúng tôi cũng khảo sát thêm một số hồi kí khác của Tô Hoài: Những gương mặt chân dung văn học, Cỏ dại, Tự truyện và một số tác giả hồi kí

Nguyên Hồng, Nguyễn Khải để làm nổi bật nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật

hồi kí Tô Hoài giúp cho việc tìm hiểu, đánh giá của luận văn thêm căn cứ khoa học

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp hệ thống

Phương pháp hệ thống được dùng trong việc đặt thể loại hồi kí của Tô Hoài trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông để thấy được sự độc đáo, khả năng riêng

Trang 8

của nhà văn ở từng thể loại Đồng thời thấy được những đổi mới, cách tân trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn ở thể hồi kí

5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Đặt tác phẩm trong sự so sánh, đối chiếu với các tác phẩm cùng thể loại và với một vài tác giả khác nhằm khẳng định sự khác biệt, độc đáo, cá tính sáng tạo riêng của Tô Hoài trong nghệ thuật viết hồi kí

Trang 9

Chương 1

Hồi kí và những yếu tố tạo nên phong cách nghệ thuật

hồi kí Tô Hoài 1.1 Một số vấn đề lý luận về thể loại

1.1.1 Quan niệm chung về kí

Là một loại hình văn học ra đời từ rất sớm trong lịch sử văn học nhân loại nhưng phải đến thế kỉ XVII đặc biệt là từ thế kỉ XIX kí mới thực sự phát triển mạnh

mẽ Với tư cách là một thể loại văn học mang tính thời sự, nhạy bén, kịp thời nhất, kí

là một hình thức biểu hiện của cuộc sống trong trạng thái vận động trôi chảy, phát huy được sức mạnh của thể loại vào những khúc quanh, những bước ngoặt của lịch

sử, của thời đại Chính vì vậy, so với các thể loại khác như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, thơ thì kí là thể loại gây ra nhiều tranh cãi, bàn luận xung quanh các vấn đề liên quan đến nó nhất

Theo Từ điển văn học: "Kí phản ánh sự việc và con người có thật trong cuộc

sống, tính chính xác tối đa là đặc trưng cơ bản của kí Do đó sức hấp dẫn, sức thuyết phục của kí một phần do chính sự việc được phản ánh trong tác phẩm So với tiểu thuyết, truyện ngắn, kí phản ánh nhanh chóng, chính xác và linh hoạt cuộc sống" [21]

Trang 10

Từ điển Tiếng Việt cho rằng: "Kí là một thể văn tự sự viết về người thật, việc

thật có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực ở mức cao nhất"[14]

Từ điển thuật ngữ văn học xác định: "Kí là một loại hình văn học trung gian,

nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể văn xuôi tự sự(…) không nên căn cứ vào cách gọi tên của nhà văn để xác định thể loại(…) Kí không nhằm vào việc miêu tả quá trình hình thành tính cách cá nhân trong tương quan với hoàn cảnh(…) Đối tượng nhận thức thẩm mĩ của kí thường là một trạng thái đạo đức - phong hóa xã hội (thể hiện qua những cá nhân riêng lẻ) một trạng thái tồn tại của con người hoặc những vấn đề xã hội nóng bỏng…Vì thế nhiều tác phẩm kí gần gũi với truyện ngắn Nhưng khác với truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, kí mang đặc trưng thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống và hư cấu Người viết kí phải luôn đảm bảo cho tính xác thực của đời sống phản ánh trong tác phẩm Kí thường không có cốt truyện nhưng lại có tính hư cấu Sự việc và con người trong kí phải xác thực hoàn toàn, có địa chỉ hẳn hoi vì kí dựng lại những sự thật đời sống cá biệt một cách sinh động chứ không xây dựng hình tượng mang tính khái quát" [59]

Có thể nói, tính chính xác là đặc trưng cơ bản và quan trọng nhất của kí Nói như vậy không có nghĩa là người viết kí không có quyền hư cấu, tưởng tượng Nhưng hư cấu trong kí khác với hư cấu trong truyện Nếu truyện dùng hư cấu tưởng tượng

để tạo ra cái hiện thực thứ hai cao hơn hiện thực ngoài đời sống thì kí chỉ thể hiện vai trò sáng tạo chủ quan thông qua liên tưởng, ước đoán trong việc lựa chọn, tổ chức, sắp xếp, bình giá những sự việc, hiện tượng, con người được nổi bật ở những nét tiêu biểu điển hình của nó Mặc dù có hư cấu song ta hiểu, kí vẫn luôn lấy "người thực, việc thực" làm điểm tựa sáng tác Trong người thực, việc thực có những thành phần xác định như tên tuổi, lai lịch, ngoại hình, nguồn gốc gia đình, văn hoá mà người viết phải đạt đến mức tối đa Có nhiều trường hợp người viết có thể quên lúc đó người ta phải dùng đến bút pháp hư cấu Tuy nhiên nếu hư cấu vượt quá ngưỡng cho phép kí

sẽ trở thành thể loại khác như: truyện kí, tiểu thuyết, tự truyện…

Trang 11

Nói như Chế Lan Viên: "Với thể kí, ngoài việc phản ánh người thật, việc thật

ra còn có thể nói cái cảm xúc, suy tưởng, thậm chí tưởng tượng nữa"[39] Điều đó có nghĩa là "kí cần tái tạo sự sống, miêu tả sự sống với đầy đủ sức sống chứ không phải

là những ghi chép khô khan"[39] (Nguyễn Tuân) Muốn vậy, người viết kí phải đi nhiều, có vốn sống, tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, phải thực sự sống với tư liệu hay nói như Tô Hoài mỗi con số trong kí phải "đằm thắm những tình cảm" Nhưng điều quan trọng nhất do việc trần thuật người thật, việc thật nên kí có giá trị cung cấp những tri thức về cuộc sống và có giá trị như những tư liệu lịch sử quý giá Như lời khẳng định của giáo sư Hoàng Ngọc Hiến: "Ngoài gây hiệu quả khoái cảm mỹ học, thể kí gây ở người đọc những khoái thú thuần trí tuệ bằng việc cung cấp những tri thức người đọc quan tâm"[39]

1.1.2 Hồi kí và các đặc trưng thể loại

"Hồi kí là một thể thuộc loại hình kí, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến"[59] Các vấn đề trong hồi kí thuộc bình diện quá khứ mà người viết ghi lại bằng những ấn tượng, những hồi ức trực tiếp của mình Lẽ dĩ nhiên, đó là những điều vẫn còn ám ảnh và có ý nghĩa quan trọng

đối với người viết Điểm khác biệt của chủ thể trần thuật trong hồi kí so với tiểu thuyết là người viết hồi kí chỉ tiếp nhận và ghi chép phần hiện thực mà tác giả nhìn

rõ hơn cả dựa trên cơ sở những ấn tượng về hồi ức riêng trực tiếp của mình Bản thân người viết hồi kí luôn ở bình diện thứ nhất Chính vì vậy, hồi kí thường khó tránh khỏi phiến diện, ít nhiều tính chủ quan của thông tin, tính không đầy đủ của sự kiện Song dưới hình thức diễn đạt sinh động, trực tiếp của tác giả các sự kiện này trở nên

có giá trị như một tài liệu đáng tin cậy

"Hồi kí đòi hỏi phải hết sức tôn trọng tính chân thực của câu chuyện: sự việc,

số liệu, thời gian phải chính xác"[21] Tuy nhiên tính chính xác, chân thực trong hồi

kí không đòi hỏi tới mức nó phải là sự sao chép thụ động theo kiểu máy ảnh, máy ghi

âm, cũng không phải là bản tin thông báo về các sự kiện lịch sử hay tiểu sử của nhà văn Tính chân thực trong hồi kí phụ thuộc vào khả năng ghi nhớ, vào sự chân thực

Trang 12

của chính tác giả, người viết hồi kí Nếu người viết hồi kí có biệt tài riêng trong việc ghi nhớ các sự kiện xảy ra trong quá khứ thì sự việc dù xảy ra đã lâu nhưng mọi chi tiết, sự kiện vẫn được tái hiện một cách chân thực như vừa mới diễn ra Hồi kí Tô

Hoài là một điển hình cho khả năng ghi nhớ của nhà văn, đặc biệt là hai cuốn Cát bụi chân ai, Chiều chiều

Hồi kí thường chú ý đến các sự kiện mang tính tiểu sử Nhưng khác với các sử gia, các nhà nghiên cứu tiểu sử người viết: "Chỉ tái hiện cái phần hiện thực nằm trong tầm nhìn của mình, anh ta thường chỉ căn cứ chủ yếu vào những ấn tượng và hồi ức của bản thân mình"[2] Vấn đề nổi lên hàng đầu ở thể văn này là bản thân người viết hoặc các nhân vật, sự kiện liên quan đến anh ta trong đời sống, được đặt trong trường nhìn, sự đánh giá nhận xét của chính anh ta Hồi kí do vậy thường mang đậm tính chủ quan Các sự việc, hiện tượng được phản ánh, được kể lại trong hồi kí chịu sự tác động của quy luật "quên lãng" và "làm méo lệch" của cơ chế hồi ức Nếu câu chuyện xảy ra trong quá khứ gần hoặc mới xảy ra người viết còn nhớ rõ thì dòng hồi tưởng có thể chân thực, sinh động đến từng chi tiết Song cũng có khi câu chuyện đã lùi sâu vào dĩ vãng, người kể quên đi một số chi tiết đòi hỏi phải dùng trí tưởng tượng

để hư cấu nhào nặn bổ sung cho cái khung hiện thực trở nên sinh động, hấp dẫn

Người viết dùng hư cấu để tái tạo hiện thực nhằm phản ánh một cách đầy đủ

và toàn vẹn diện mạo của đời sống trong tính đa dạng, phức tạp của nó Bản thân nghệ thuật là sự chắt lọc của đời sống, là sự lựa chọn những nét điển hình làm cho tác phẩm có chỗ đứng trong lòng công chúng Xây dựng hình tượng nghệ thuật đòi hỏi nhà văn phải lựa chọn các chi tiết đan cài các suy nghĩ, tâm trạng nhân vật Đó chính là nét hư cấu trong hồi kí Tự bộc lộ, đưa những suy nghĩ, tình cảm, ấn tượng của mình, cấp cho nó một hình dáng, một diện mạo cụ thể âu cũng là nhu cầu của sự sáng tạo Tuy nhiên, mọi sự thêm thắt, hư cấu trong hồi kí cũng không nằm ngoài mục đích tái hiện sinh động cái hiện thực đang dược phản ánh

Là một thể loại tự sự đặc biệt, hồi kí thiên về trần thuật từ ngôi thứ nhất - tác giả Nó mang tính xác thực, tính chủ quan và hình thức tự sự của dòng hồi ức Sức

Trang 13

hấp dẫn của hồi kí chính là bản thân các sự việc, hiện tượng được phản ánh trong tác phẩm và cách kể chuyện của tác giả Nhưng hơn hết đó là cái tôi cá nhân hiện hình, sống động trên trang giấy Nhân vật Tôi - người kể chuyện trong hồi kí tự do lựa chọn điểm nhìn, phạm vi, trình tự phản ánh, giọng điệu nghệ thuật cốt sao tái hiện

được quá khứ rõ nét và sinh động Với vai trò là người tham dự, chứng kiến câu chuyện đã xảy ra trong quá khứ, nhân vật Tôi - tác giả trở thành một đảm bảo khá vững chắc mà câu chuyện đề cập tới

1.1.3 Sự phát triển của hồi kí ở Việt Nam

Hồi kí ra đời từ rất sớm Ngay từ thời cổ đại Hi Lạp nhân loại đã được biết đến những trang hồi ức của Kxenôphon và Xôcrat ghi chép về các cuộc hành quân của người Hi Lạp thế kỉ V - TCN Đây được coi là tác phẩm hồi kí cổ xưa nhất Thế kỉ XVI ở các nước phương Tây khoa học kĩ thuật phát triển, ý thức cá nhân ngày càng nâng cao trở thành cơ sở cho hồi kí phát triển mạnh Hồi kí của các nhà văn, các chính khách, các nhân vật quan trọng đã xuất hiện ở phương Tây từ nhiều thế kỉ trước

Mãi đến thế kỉ XVIII, ở Việt Nam các tác phẩm kí lần đầu tiên mới xuất hiện

như Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác Gần hai thế kỉ sau khi kí xuất hiện, hồi kí mới thực sự ra đời Phan Bội Châu niên biểu

đầu thế kỉ XX được coi là cuốn hồi kí đầu tiên ở Việt Nam Tác phẩm là sự ghi chép những tháng năm hoạt động cách mạng của người chí sĩ yêu nước Ghi lại cách cảm, cách nhìn của một con người không còn là cá nhân riêng lẻ trong đời thường nữa mà

là con người của thời đại đặt số phận mình trong số phận chung của cộng đồng, của dân tộc

Cùng với Phan Bội Châu niên biểu, một số bài viết có tính chất hồi kí như Giấc mộng lớn, Giấc mộng con của Tản Đà ý thức về con người cá nhân, bản lĩnh cá

nhân cùng với cốt cách của bậc trượng phu đã tạo cho Tản Đà cái ngông của người trí thức ý thức rõ về con người của mình Ngoài ra còn phải kể đến sự xuất hiện của

Tương Phố với Giọt lệ thu Đây là tiếng lòng của cô gái Bắc Ninh hồi tưởng lại

Trang 14

những tháng ngày đẹp đẽ của tình nghĩa vợ chồng và bày tỏ nỗi lòng thương nhớ khôn nguôi của người vợ với người chồng quá cố

Những năm 1930-1945 hồi kí phát triển mạnh trên văn đàn văn học Nhiều tác phẩm hồi kí, tự truyện liên tiếp ra đời với nội dung chủ yếu viết về thân phận, số phận của các nhà văn trong một đoạn đời cụ thể Sự phát triển của hồi kí giai đoạn này đánh dấu sự du nhập của văn hoá phương Tây vào Việt Nam, làm thay đổi đời sống xã hội, thay đổi nhận thức, tư tưởng của con người Đánh thức nhu cầu cá nhân, nhu cầu bộc lộ mình, được nói lên tiếng nói của cá nhân mình Tư tưởng đó xuất hiện trong thơ, trong tiểu thuyết rõ nhất là trong hồi kí

Đến giai đoạn 1945-1954, đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Hồi kí lại phát triển theo một hướng khác Thời điểm này do áp lực của xã hội trước các vấn đề xung đột dân tộc và giai cấp kí văn học chuyển hướng phát triển sang thể kí sự, bút kí để kịp thời phản ánh những sự kiện dồn dập đang diễn ra trên khắp đất nước Đến năm 1950, hồi kí mới xuất hiện trở lại nhưng là hồi kí cách mạng Đây là dòng hồi tưởng của các chiến sĩ cách mạng lớp trước, các sĩ quan quân

đội về những năm tháng hoạt động cách mạng đầy gian khổ, những chiến công oanh liệt mà họ và đồng đội đã trải qua Hồi kí cách mạng đề cao chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng bồi đắp tình cảm yêu nước, lòng tự hào về truyền thống

cách mạng của thế hệ đi trước mở đường Những cuốn hồi kí cách mạng Hai lần vượt ngục của Trần Đăng Ninh, Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận Hồi kí của Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Thị Định Các hồi kí Nhân dân ta rất anh hùng, Trên đường thắng lợi, Người trước ngã người sau tiến của nhiều tác giả… Nhân vật trong các hồi kí này

là những con người gắn liền với các biến cố trọng đại của cách mạng, của dân tộc

Họ là những con người vĩ đại chiến đấu vì nước, vì dân

Thời kì 1954-1975, ở miền Nam xuất hiện một số cây bút viết hồi kí văn học

Họ là những nhà văn, nhà thơ thuộc thế hệ tiền chiến nay tái hiện lại đời sống văn

học theo quan điểm cá nhân của riêng mình Các hồi kí Bốn mươi năm nói láo của

Vũ Bằng, Văn thi sĩ tiền chiến của Nguyễn Vĩ… xuất hiện ở Sài Gòn vào những năm

Trang 15

60 ở miền Bắc ngay từ những năm 1970, hồi kí văn học cũng được chú ý Một số nhà văn đã lấy bản thân mình ra làm đối tượng để suy ngẫm Thời điểm này Tô Hoài

cũng cho ra đời cuốn Tự truyện (1973) viết về cuộc sống của những người thợ thủ

công vùng ngoại ô Hà Nội trên con đường tìm kiếm miếng cơm manh áo…

Năm 1975, đất nước thống nhất Sự thức tỉnh của ý thức cá nhân khiến cho hồi

kí văn học phát triển mạnh mẽ Nhiều nhà văn viết hồi kí để nói rõ hơn những sự thật

mà trước kia họ chưa có dịp để nói hay viết những mảng tối còn chìm khuất trong

đời sống hôm qua giúp người đọc hiểu rõ hơn những phức tạp, ấu trĩ đã tồn tại một thời Hồi kí Nguyễn Khải phần lớn được sáng tác trong khoảng thời gian từ 1980 trở lại đây Khi tác giả đang ở độ tuổi "thất thập cổ lai hi" cũng là lúc nhà văn có dịp chiêm nghiệm lại những biến thiên, thăng trầm của cuộc sống Vì vậy, những tác phẩm hồi kí của ông thực sự có giá trị trong chiều sâu suy tưởng Hồi kí Tô Hoài cũng được viết khi ông còn rất trẻ đề cập đến cuộc sống xã hội vùng đất Nghĩa Đô nơi ông sinh ra và lớn lên với cái nhìn rất chân thực Tuy nhiên, cũng có những nhà văn viết hồi kí chỉ đơn thuần để nhìn lại những chặng đường đã qua của bản thân mà tránh đề cập đến những khúc mắc, những vấn đề bên trong của đời sống văn nghệ

Hồi kí Song đôi của Huy Cận được viết theo hướng này

Văn học thời kì đổi mới đã đặt lên hàng đầu cá tính sáng tạo của nhà văn, mỗi nhà văn tự tạo cho mình một diện mạo riêng, một cách nhìn riêng, một giọng

điệu riêng góp phần vào thế giới muôn màu, muôn vẻ của đời sống văn học Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải thì truyền thống, mực thước Dương Hướng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường thì gai góc, sắc nhọn Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp thì gây hấn, khiêu khích Mỗi người một vẻ, một cá tính tự do thể hiện bản sắc cá nhân của mình Chưa bao giờ đời sống văn học lại phong phú, khởi sắc đến như vậy Cũng vào thời điểm ấy giữa cơn lốc của sự đổi mới, trên văn đàn xuất hiện hàng loạt các hồi kí văn học Mảnh đất hồi kí văn học giai đoạn này thu hút đông đảo sự

đánh giá của dư luận Tô Hoài với hai tác phẩm hồi kí Cát bụi chân ai, Chiều chiều

đã thực sự gây tiếng vang lớn trong lòng độc giả và giới nghiên cứu phê bình Hoà

Trang 16

cùng trào lưu đó các nhà văn, nhà thơ vốn rất quen thuộc với bạn đọc cũng tung ra

những trang viết về cuộc đời của chính mình Anh Thơ với hồi kí Từ bến sông Thương(1985), Nguyễn Văn Bổng với hồi kí Thời đã qua (1995), Lưu Trọng Lư với hồi kí Nửa đêm sực tỉnh(2001), Huy Cận với hồi kí Song đôi (2003) và hàng loạt các

hồi kí khác…Phong phú về số lượng, đa dạng trong khuynh hướng sáng tác, hồi kí giai đoạn này đã giành được tiếng nói riêng của mình trên văn đàn văn học nghệ thuật Ta bắt gặp điểm tương đồng giữa hồi kí Tô Hoài và Nguyễn Văn Bổng trong việc xây dựng chân dung của chính mình cũng như chân dung các bạn văn cùng

thời Hai hồi kí Cát bụi chân ai, Chiều chiều Tô Hoài ít đề cập đến quá trình sáng tác

của bản thân mà chủ yếu viết về đời sống văn nghệ với hàng loạt chân dung các nhà văn Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Phùng Quán…Mỗi người một vẻ, một số phận riêng không ai giống ai nhưng thông qua chân dung của

họ Tô Hoài tái hiện lại đời sống văn học văn học ngày hôm qua trong cái nhìn chân thành trong sáng nhưng cũng chứa đựng nhiều sai lầm, ấu trĩ của một thời Khác với Tô Hoài, Nguyễn Văn Bổng, Lưu Trọng Lư lại đắm mình trong dòng hồi tưởng với những cảm xúc riêng tư trước sự thay đổi của số phận con người Anh Thơ, Huy Cận lại đi vào tái hiện những sự kiện đời tư của cá nhân mình mà ít chú ý đến những miền còn khuất lấp trong đời sống xã hội Nhờ không khí dân chủ trong thời kì đổi mới, nghệ sĩ có cơ hội được đối thoại với đời sống một cách cởi mở Hồi kí chính là một hình thức giao tiếp đặc biệt của nhà văn với bạn đọc về mọi vấn đề của cuộc sống hôm nay

1.2 Quan niệm của Tô Hoài về hồi kí

Tô Hoài có quan niệm riêng về hồi kí Đối với ông kí nói chung và hồi kí nói riêng không phải là thể loại đàn em trong sáng tạo văn học, không thể so sánh với các thể loại khác theo lối định mức Hồi kí là một thể loại rất cần đến sự sáng tạo của người nghệ sĩ Viết hồi kí nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại bằng câu chuyện

kể người thật, việc thật ngày hôm qua do chính người kể chuyện chứng kiến hoặc tham dự Dễ mà khó, đó là nhận xét chung của Tô Hoài khi viết hồi kí Dễ vì ai cũng

Trang 17

có thể viết được cái điều mình đã chứng kiến hoặc trải qua Nhưng không phải ai cũng viết hồi kí thành công Điều đó không chỉ phụ thuộc vào vốn sống, kinh nghiệm

và sự từng trải của người viết mà còn phụ thuộc vào tài năng, cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Văn học là sự tái tạo nhưng quan trọng hơn nó là sự sáng tạo.Viết hồi

kí không đơn thuần là việc ghi chép lại một cách máy móc khô khan những điều đã xảy ra trong quá khứ thông qua sự hồi tưởng của người viết mà trước tiên phải viết cho hay, cho hấp dẫn người đọc Nghĩa là người viết phải biết chọn lọc và nhào nặn các sự kiện, biến cố để diễn tả được nhiều nhất tư tưởng và suy nghĩ của mình

Trong Nghệ thuật và phương pháp viết văn Tô Hoài cho rằng: "Nhà văn là thư

kí của thời đại Trách nhiệm và vinh dự câu định nghĩa của đời sống dành cho những ngòi bút chân chính Tôi nghĩ danh dự cao quý ấy, mệnh lệnh chiến đấu ấy trước nhất trân trọng trao tặng những người viết các thể loại kí : phóng sự, tùy bút, kí sự, bút kí cũng như những người cầm cày, cầm cuốc Họ đông nhất và bao giờ cũng đi hàng đầu, có mặt khắp nơi trên các trận tuyến văn nghệ và đời sống"[34] Suy nghĩ như thế chứng tỏ Tô Hoài đánh giá cao vai trò đi đầu của của người viết kí và các thể loại kí

Với Tô Hoài khi viết hồi kí : Phải từ những hiện tượng vặt vãnh lại vừa tinh tế,

đôi lúc tưởng ngẫu nhiên đến mức có sức ngồi dậy trong sáng tạo chỉ vì nó đã được cái nền sống già dặn, từng trải của anh xét duyệt rồi quyết định cho trở ra sống lại lần nữa Chính vì vậy, ở Tô Hoài luôn nảy sinh một cuộc đấu tranh : Có nên viết khác với những gì người khác hay viết không? Bởi những điều mà ông thu nhận được bằng kinh nghiệm cá nhân lại rất khác với những gì hay ho mà những hồi kí trước ông đã viết Có nên viết không? Sự thực không phải bao giờ cũng ngọt ngào, liệu người ta có chấp nhận không, liệu người ta nghĩ về ông như thế nào? Điều đó một lần nữa được

khẳng định qua cuộc trò chuyện với phóng viên báo Lao động năm 2006: "Đối với

tôi hồi kí là một cuộc đấu tranh tư tưởng để viết Mỗi lần viết là một lần đấu tranh tư tưởng để nói ra sự thật Sự thật đó có lẽ nhiều nhà văn cố gắng đạt cho được nhưng

có làm được hay không lại là chuyện khác Khi có cuốn sách không được phát hành

Trang 18

hoặc bị phê phán tôi nghĩ mình vẫn phải viết mà không để ý cuốn sách đó liệu có xuất bản được hay không" Nhà văn giải thích, viết hồi kí là là một cuộc đấu tranh tư tưởng vì: "Không đấu tranh với chính mình thì chưa chắc nói ra sự thật được Mà đôi khi chỉ là nửa sự thật Đã là sự thật thì không tầm thường cho dù có người nói tôi đã

"đập vỡ" các thần tượng của họ Nhìn chung, trong hồi kí thường thì người ta không nói thật về mình lắm hoặc chỉ nói tốt về mình Tôi ít viết về mình mà viết về các nhà văn Đọc bản thảo cho bạn bè, họ thích thế là tôi cho ra một tập chân dung các nhà văn"[75]

Đối với Tô Hoài viết hồi kí không phải để tô hồng kỉ niệm, không phải để khoe mình, nịnh người, không phải để báo công mà là để nói ra sự thật Vì vậy khi

được hỏi vấn đề liệu Tô Hoài có thêm thắt vào những câu chuyện khi xây dựng chân dung các nhà văn trong cuốn hồi kí của mình hay không, Tô Hoài khẳng định rằng:

"Sự thật đã là đẹp rồi Đôi khi tôi tự hỏi cách viết của mình có gì không đúng chăng? Tôi chỉ sợ viết những điều mình không biết…Ví dụ như viết về thời đi học ở trường chính trị hai năm, thực tế thế nào thì tôi viết như thế Cuối cùng viết xong người ta không bằng lòng vì cho rằng ở trường đó không thể có chuyện mất cắp được Còn nếu hỏi có thêm thắt hay không thì tôi khó có thể trả lời câu hỏi này Khi tôi viết

Mười năm có nhiều người phê bình dữ dội mà tôi đâu có nản lòng, chỉ rút kinh

nghiệm cho riêng mình thôi"[75]

Cuộc đấu tranh tư tưởng đó diễn ra trong suốt quá trình ông viết Ông vừa dò dẫm quá khứ, vừa dũng cảm, trung thực đấu tranh với chính bản thân mình Với quan niệm tiến bộ về hồi kí như vậy Tô Hoài đã thể hiện rất sinh động trong các sáng tác của mình Hồi kí Tô Hoài nhất là những tác phẩm hồi kí viết những năm 90 trở lại

đây thực sự gây được tiếng vang lớn với độc giả trong và ngoài nước khẳng định bút lực sở trường của ông trong lĩnh vực này

1.3 Phong cách và những yếu tố tạo nên phong cách nghệ thuật hồi kí Tô Hoài

1.3.1 Giới thuyết về phong cách nghệ thuật

Trang 19

Phong cách là một thuật ngữ không chỉ được dùng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật mà còn được dùng trong nhiều nghành khoa học và đời sống xã hội Thời xưa người Hi Lạp cổ đại dùng chữ Stylos đơn thuần chỉ dụng cụ để viết - có nghĩa là

"một cái que vót nhọn để viết trên các tấm bảng có phủ nến"[64, tr.175] Sau được người La Mã dùng chữ Style để chỉ chữ viết, bút pháp, văn phong và cuối cùng mới

có nghĩa là phong cách Từ cuối thế kỉ XVIII người ta bắt đầu dùng từ phong cách để chỉ các đặc điểm hình thức của tác phẩm thuộc các loại hình nghệ thuật khác như

điêu khắc, hội hoạ, kiến trúc Khái niệm này lan truyền sang lí luận, nghiên cứu văn học

Khái niệm phong cách được đặt ra ở phương Tây ngay từ thời cổ đại với các

đại biểu xuất sắc như Platon, Aristole…Từ thế kỉ XIX đến nay, khái niệm phong cách ngày càng được quan tâm sâu sắc qua các công trình nghiên cứu lí luận của Viện sĩ M.B Khrapchenco, V.V.Vinôgrađop, D.X.Likhatsep ở Việt Nam, khái niệm phong cách tuy đến muộn hơn nhưng cũng được các nhà nghiên cứu giành nhiều công sức tìm hiểu Vấn đề này được đề cập ở các tài liệu mang tính chất công cụ như

Lí luận văn học của Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà,

La Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình Từ điển thuật ngữ văn học, Từ điển văn học,

150 thuật ngữ văn học…Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu khoa học về lí

luận của Nguyễn Thái Hoà, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Dân…Cụ thể hơn nữa là các công trình nghiên cứu về phong cách tác giả của Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Ngọc Hiến, Tôn Phương Lan, Phan Cự Đệ…

Từ các công trình nghiên cứu trên có thể nhận thấy hai cách nhìn nhận về phong cách: Một từ góc độ ngôn ngữ học, một từ góc độ văn học Vì thế về cơ bản các nhà nghiên cứu thống nhất có phong cách ngôn ngữ học và phong cách văn học Trong đó mỗi phạm trù đều có con đường tiếp cận riêng

Trong phạm vi đề tài này chúng tôi tìm hiểu khái niệm phong cách thuộc khoa

học văn học hay phong cách văn học Viện sĩ P.A.Nicolaev trong Dẫn luận nghiên cứu văn học do G.N.Pospelov chủ biên viết: "Phong cách chỉ có ở hình thức hình

Trang 20

tượng và biểu cảm của tác phẩm, biểu hiện một cách hoàn thiện và trọn vẹn nội dung của nó, hoàn toàn phù hợp với nội dung ấy" và "Hình thức của tác phẩm nghệ thuật

có được một phong cách nào đó chính là nhờ tính hình tượng và tính biểu hiện của

nó Tác phẩm xét về mặt hình thức là một hệ thống hình tượng được tạo thành từ nhiều chi tiết, ngữ nghĩa, ngôn từ và khách thể khác nhau, các biện pháp kết cấu và

cú pháp, ngữ điệu khác nhau Hơn nữa các chi tiết, hình tượng và thủ pháp ấy lại mang trong mình một tính biểu cảm, cảm xúc, tư tưởng nào đó Sự thống nhất thẩm

mĩ của mọi chi tiết hình tượng, biểu cảm của hình thức tác phẩm phù hợp với nội dung của nó đó là phong cách"[64,tr.176]

Viện sĩ M.B Khrapchenco sau khi thống kê một số định nghĩa xung quanh phạm trù phong cách cá nhân đã đưa ra ý kiến riêng của mình: "Phong cách cần phải

được định nghĩa như thủ pháp biểu hiện, cách khai thác hình tượng đối với cuộc sống như thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả"[40,tr.152] Cùng với việc quan tâm đến yếu tố hình thức có tính nội dung tác giả còn đặc biệt coi trọng sự thu hút độc giả

Ông cho rằng: "Mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những phương tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và hình tượng của mình, những biện pháp và những phương tiện cho phép nhà văn đó làm cho những tư tưởng và hình tượng ấy trở thành hấp dẫn, dễ lôi cuốn gần gũi với công chúng, độc giả"[40,tr.152]

Như vậy xung quanh khái niệm phong cách còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau nhưng tập trung khái quát ở hai ý cơ bản : Một nhấn mạnh sự thống nhất của những yếu tố nội dung và những yếu tố tạo hình thức của tác phẩm Hai coi phong cách như là hình thức toàn vẹn có tính chất nội dung

ở Việt Nam, các nhà lí luận nghiên cứu văn học cũng nghiên cứu rất nhiều nội

hàm thuật ngữ phong cách Trong Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả Lê Bá Hán,

Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa: "Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ chịu sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong một tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc

Trang 21

Trong chỉnh thể "nhà văn" ( hiểu theo nghĩa các sáng tác của một nhà văn) cái riêng tạo nên sự thống nhất lặp lại ấy, biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và ở hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy"[59,tr.170]

Cùng quan điểm đó, trong cuốn Lí luận văn học Phương Lựu, Trần Đình Sử,

Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình định nghĩa:" Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ thể hiện trong sáng tác của các nhà văn ưu tú"[49,tr 482]

Cả hai định nghĩa trên về phong cách của các nhà văn đều thống nhất ở điểm: Coi tính độc đáo là yếu tố quyết định tạo nên phong cách nghệ thuật của nhà văn

Điều này đã được đề cập tới trong mĩ học của Hêghen Phong cách nói chung bao hàm tính chất độc đáo của một chủ thể nhất định, tính chất độc đáo chân chính là sự sáng tạo duy nhất của một tinh thần không lấy những tài liệu và không chắp vá tài liệu gồm từng mảnh nhỏ ở bên ngoài Trái lại nó tạo nên một chỉnh thể nhất phiến gắn liền với nhau chặt chẽ nói lên một điều duy nhất và được phát triển thông qua bản thân phù hợp với chính cách đối tượng được hợp nhất trong chỉnh thể

Phong cách là diện mạo riêng biệt, độc đáo của sáng tác được tạo thành bởi sự thống nhất của các phương tiện biểu hiện phù hợp với cái nhìn độc đáo đối với đời sống Một nhà văn có phong cách nghệ thuật riêng đòi hỏi nhà văn đó phải có tư tưởng độc đáo, có cách cảm nhận về thế giới độc đáo, có phương thức thể hiện riêng

độc đáo Nét độc đáo đó thể hiện bắt nguồn từ cá tính tinh thần riêng của nhà văn trong tư duy, tình cảm, trong cách cảm nhận và ứng xử đời sống

Nghiên cứu, tìm hiểu phong cách nghệ thuật của nhà văn tức là ta phải tìm hiểu những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật có tính thống nhất và tương đối ổn định, được lặp đi, lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn ấy Từ đó thấy được cách nhìn, sự chiếm lĩnh nghệ thuật của nhà văn với thế giới và con người Thấy được tư tưởng nghệ thuật, được cụ thể hoá trong cảm quan hiện thực, cảm hứng sáng tác chủ đạo, thế giới nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ Nói như nhà văn Nguyễn Tuân: "Mỗi người viết có cái vision (nhãn quan) riêng Nó đẻ ra phong cách"

Trang 22

Phong cách nghệ thuật của nhà văn là quá trình vận động, phát triển không ngừng qua mỗi giai đoạn sáng tác Chúng thường xuyên ở thế vận động, phát triển và chịu ảnh hưởng của thế giới quan, môi trường xã hội và xu thế chung của thời đại Nhưng dù ở môi trường nào, xu thế xã hội ra sao thì phong cách nghệ thuật của nhà văn vẫn phải được đặt trong phong cách thời đại Đó là những cái chung tạo nên sự gần gũi của những phong cách cá nhân Vì không thể tồn tại phong cách riêng lẻ nếu thiếu phong cách khuynh hướng chung Phong cách tác giả còn phải được đặt trong mối quan hệ phong cách và phương pháp, phong cách học và thi pháp học

Nghiên cứu phong cách nghệ thuật Tô Hoài trong hồi kí Cát bụi chân ai, Chiều chiều chúng tôi tiến hành trên cơ sở định hướng : Từ việc khảo sát, phân tích,

tổng hợp một số phương diện đặc sắc về nội dung, nghệ thuật trong hai tác phẩm chúng tôi tìm ra nét độc đáo riêng tạo nên phong cách nghệ thuật trong hồi kí Tô Hoài

1.3.2 Những yếu tố tạo nên phong cách nghệ thuật hồi kí Tô Hoài

1.3.2.1 Hoàn cảnh gia đình và xã hội

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/9/1920 trong một gia đình thủ công nghèo làm nghề dệt lụa ở làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ nay

là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội Quê nội của ông ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây Bút danh Tô Hoài cũng xuất phát từ hai địa danh sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức của quê ngoại nhà văn ở làng Nghĩa Đô

Ngay từ nhỏ ông đã sớm hoà mình vào cuộc sống của gia đình lúc phong lưu cũng như khi sa sút, túng quẫn Với những niềm vui bình dị, đôi khi pha chút buồn thấm thía, xót xa Gia đình trong kí ức Tô Hoài ngày ấy là ngôi nhà cổ với nhiều kỉ niệm Mỗi góc nhà, mỗi cột nhà đều gắn liền trong kí ức ông với những câu chuyện kì lạ, bí ẩn Trong gian nhà ấy ông cảm nhận được niềm vui sum họp và cả nỗi buồn chia li khi người cha phải từ giã quê hương vào Sài Gòn kiếm sống vì đã đi tìm việc nhiều nơi nhưng không có Khi tin tức về người cha bặt vô âm tín, tiền gửi thưa dần rồi mất hẳn cũng là lúc thằng cu Bưởi phải thôi học, rời Kẻ Chợ về cõng em

Trang 23

Trong kí ức Tô Hoài còn in đậm hình ảnh người mẹ hiền lành, tần tảo, cam chịu số phận nhọc nhằn mà cái nghèo, cái đói cứ bám riết lấy và cả nỗi đau về tinh thần mà mẹ phải hứng chịu Đứa con gái xấu số của mẹ đã mất vì bệnh sởi và có tới mấy năm rồi không tin tức bố tôi "người làng bên đồn bố tôi đã lấy vợ trên Sài Gòn" Mảnh đời đầy cay đắng của mẹ đã trở thành hình ảnh sống động ảnh hưởng sâu sắc

đến tâm hồn nhà văn trong những ngày còn thơ dại ngay khi bắt đầu biết cảm nhận những vui buồn trong cuộc sống

Tuổi thơ Tô Hoài gắn bó với ông bà ngoại và các dì Ông ngoại "nghiện rượu ngữ" khi say thì sinh sự đánh bà vì "cái tội không đẻ được con trai", khi thì hiền lành

âu yếm cháu kể lại chuyện ngày xưa Bà ngoại thì vừa nhiều lời, vừa cam chịu nhưng cũng chiều chuộng và yêu thương cháu hết lòng Sống trong bối cảnh gia đình thường xuyên có tiếng xô xát Kí ức về gia đình trong những ngày ấy khiến Tô Hoài không quên được cảm giác: "Nhà tôi còn êm ấm sao được nữa khi sự túng thiếu ngày càng gô cổ mỗi con người lại và mỗi người đều ngày cứ bẳn gắt nhau, càng lúc thương, lúc ghét nhau hết sức thất thường" Hai bên gia đình nội ngoại của Tô Hoài

đều là những người lao động lam lũ, nghèo khó, không có truyền thống văn chương giống như một số nhà văn khác Gia cảnh của Tô Hoài chỉ trang bị cho nhà văn cảnh nghèo đói, túng quẫn tuy chưa đến mức tận cùng dưới đáy xã hội Nhưng nỗi lo cơm

áo gạo tiền đôi khi cũng là nguyên nhân gây ra xô xát giữa những người thân trong gia đình Do tuổi thơ sớm phải chứng kiến những cảnh buồn nhiều hơn vui của gia

đình, sớm nếm trải cuộc sống gian truân đời thường nên cảm quan hiện thực của nhà văn "thấm được và thấm nhanh nỗi buồn" là vì vậy

Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước chìm đắm trong màn đêm nô lệ Cuộc sống của các tầng lớp đều cơ cực Nét đẹp văn hóa bị mai một, trộm cắp vặt thường xuyên xảy ra, làng quê ngày càng trở nên tiêu điều, xơ xác Chứng kiến cảnh sống bất hạnh

ấy Tô Hoài sớm trĩu nặng nỗi buồn Và trong chính những ngày tháng đó, phong trào cách mạng đã tràn về Tô Hoài nhanh chóng hoà mình vào không khí thời đại đem hết sức mình phục vụ cách mạng và phong trào văn nghệ cách mạng Lặng lẽ sống,

Trang 24

quan sát, thu vào trong mình tất cả các biến động của lịch sử bằng một lăng kính riêng, một cách nhìn riêng không giống với bất cứ ai, Tô Hoài đã khéo léo thể hiện cuộc sống từ nhiều chiều chân thực, vẹn nguyên như chính cuộc sống đang diễn ra như thế

1.3.2.2.Hoàn cảnh bản thân

Do hoàn cảnh gia đình ông chỉ được học hết bậc tiểu học rồi sớm trở thành thợ cửi Làng nghề lụi bại, ông phải lận đận trong công cuộc mưu sinh Làm đủ mọi nghề để kiếm sống: Từ bán hàng, phụ kế toán đến coi kho cho hiệu buôn giày, dạy học và trải qua cả những tháng ngày thất nghiệp tủi nhục không một xu dính túi

Những ngày tháng ấy hiện lên qua Tự truyện thật xót xa và cay đắng: "Ngày ngày tôi

cuốc bộ vào thành phố tha thẩn ở các vườn hoa Tôi xem kiến bò đến tận hôm tôi có thể phân biệt rạch ròi ra từng loại kiến xây tổ khác nhau" Và bi đát hơn, trong hoàn cảnh khốn cùng đó Tô Hoài đã từng theo bạn đến nơi ở của những cô gái nhảy với ý

định "sống tạm" theo cách để một cô nào đấy "bao" đến lúc có việc làm hãy hay

Không khuất phục trước hoàn cảnh, luôn nỗ lực vươn lên để khẳng định mình,

Ông tự trau dồi tri thức bằng việc đọc bất cứ thứ gì có thể đọc được Những chồng

Tiểu thuyết thứ bảy bán cân mua ở hiệu sách cũ khiến Tô Hoài "mải mê đọc mà

không hề để ý điều đó" Niềm ham mê đọc sách giúp ông có vốn sống ngày càng phong phú Những câu chuyện thượng vàng, hạ cám như giá cả sinh hoạt, chợ búa, tiếng nhà nghề, tiếng địa phương đều được ông ghi chép một cách tỉ mỉ, chi tiết và trở thành yếu tố quan trọng tạo nên sự gắn bó máu thịt với cuộc sống thôn dã, bình dị

ở các miền quê mà ông từng gắn bó

Không chỉ đọc nhiều, Tô Hoài còn chịu khó học hỏi cuộc sống đang diễn ra xung quanh Với khả năng quan sát tinh tường đến mức "con ruồi bay qua cũng không lọt khỏi mắt" (Vương Trí Nhàn) Mọi biến động cuộc sống xoay quanh cuộc

đời nhân vật đều được nhà văn phản ánh chân thực góp phần đem lại bản chất vốn có của nó Đến với nghề văn một cách tự nhiên, Tô Hoài sớm nhận ra văn xuôi chính là mảnh đất canh tác màu mỡ của mình Ông thực sự say mê cuộc sống sinh hoạt bình

Trang 25

dị của làng quê, gia đình, bạn bè, bản thân và các phong tục tập quán của các dân tộc Cả cuộc đời cầm bút, Tô Hoài bám riết lấy cuộc sống trong cảm quan hiện thực

để tung hoành và bộc lộ sở trường của mình một cách toàn diện, sâu sắc

Là người sớm giác ngộ cách mạng, nhiệt tình tham gia nhiều công việc đoàn thể, chính quyền từ khi còn rất trẻ, Tô Hoài đã từng giữ nhiều cương vị trong Hội văn nghệ, Hội nhà văn Ông cũng từng là đại biểu quốc hội, từng tham gia các đoàn thể quốc tế và tham gia cả các hoạt động của khu phố, tổ dân phố ở cương vị nào ông cũng làm tròn trách nhiệm Cuộc đời hoạt động cách mạng và quá trình tham gia công tác xã hội là cơ hội thuận lợi giúp nhà văn thâm nhập vào cuộc sống muôn màu, muôn vẻ, hiểu được đời sống của mọi tầng lớp người trong xã hội mang lại cho những trang văn ông mảng hiện thực chân xác của lịch sử

Trong cuộc đời 70 năm cầm bút, Tô Hoài viết đủ mọi thể loại: Truyện ngắn, truyện đồng thoại, bút kí, hồi kí, phóng sự, kịch bản phim Ông thật sự là một tấm gương sáng về lòng say mê học tập, ham hiểu biết tự trau dồi kiến thức cho mình Tài năng thiên bẩm cùng với sự say mê học hỏi đã giúp nhà văn có được văn nghiệp đồ

sộ như ngày hôm nay Trên hành trình ấy, có lẽ ở thể hồi kí ông mới có dịp "tung hoành" ngòi bút bộc lộ phong cách nghệ thuật của mình một cách rõ nhất Khác với quan niệm chung về hồi kí là "tự truyện" - là nói về mình, tổng kết lại đời mình, Tô

Hoài đã dựng nên cả một bức tranh cuộc sống đa chiều về hiện thực qua Cát bụi chân ai và Chiều chiều ở đấy Tô Hoài đã làm được việc mà nói như Vương Trí Nhàn trong cuốn Tô Hoài - Hồi kí: "Trước mọi sự việc, mỗi người đều có cách phản

ứng riêng của mình, người nọ làm nền cho người kia để trong sự so sánh, mỗi người lại hiện ra sắc nét hơn…và điều nhắn gửi cuối cùng của nhà văn là cái chân lí song

đôi, chúng ta mỗi người mỗi tính, không ai giống ai mà đồng thời chúng ta lại lồng ghép lên nhau, quyến quyện với nhau hoặc nói như danh từ vật lí ánh xạ vào nhau Tôi có viết hồi kí cho riêng tôi đâu, tôi viết cho cả những người thân sơ đã cùng tôi chia sẻ cái cuộc đời lạ lùng này" Và với cách viết hồi kí như thế Tô Hoài đã gián

Trang 26

tiếp bộc lộ ý tưởng của mình : Dù đời sống có thế nào đi chăng nữa thì tôi cũng vẫn

cứ là tôi, cái quá khứ chưa biết của tôi là sự đảm bảo vững chắc cho điều đó

1.3.2.3 Quan niệm về văn chương và con người

Là nhà văn có trách nhiệm với nghề, nghiêm túc trong lao động sáng tạo nghệ thuật, Tô Hoài luôn ý thức sâu sắc về nghề nghiệp của mình Ông xác định mục đích sáng tác: "Làm cho người đọc say mê, ngẫm nghĩ, cười hoặc khóc" Người cầm bút phải là người "hiểu cuộc đời, biết trước những sự kiện mới, con người và hành động, những đức tính cao cả và bóng tối ẩn nấp của tội lỗi, biết sự việc từ lúc mới nhú mầm, mới phảng phất để hình dung ra được quá trình phát triển và viễn tưởng của nó" Nói như vậy rõ ràng sáng tác văn chương không chỉ đơn thuần là một công việc

mà quan trọng hơn nó phải mang ý nghĩa nhân sinh gây được xúc cảm thẩm mĩ cho con người thông qua việc phản ánh đúng bản chất xã hội "Sáng tác là tái hiện sự sống, nhưng không chỉ làm sống lại sự sống một cách tự nhiên mà trong nhiệm vụ sáng tác còn mang phần trang điểm cho sự sống"[34] Nói như Gorki nó phải là hiện thực cuộc sống

ý thức sâu sắc về bản lĩnh, cá tính sáng tạo của người cầm bút Tô Hoài khẳng

định: "Trong sáng tác bất cứ một sáng tác nhỏ nào, bắt chước thô kệch hoặc bắt chước khéo đều ngượng nghịu, trống rỗng và bao giờ cũng thất bại, làm nghề văn mỗi người viết phải mang đến cho đời một sự nghiệp, một công phu phục vụ của mình"[34] Điều này giống như quan niệm nghệ thuật của Nam Cao: "Văn chương không cần đến người thợ khéo tay làm việc theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn không

ai khơi và sáng tạo những gì chưa có" Mặc dù quan niệm về văn chương của Tô Hoài chưa được thể hiện một cách có hệ thống như Nam Cao nhưng trong nhiều tác phẩm của mình nhà văn đã bộc lộ khá rạch ròi Ngay từ những ngày đầu cầm bút Tô Hoài đã thể hiện quan niệm văn chương rất riêng: "Chưa bao giờ tôi bắt chước viết theo truyện của Khái Hưng, Nhất Linh mặc dù tôi cũng thích đọc những chuyện ấy Bởi giản dị : viết truyện viển vông, giang hồ, kì hiệp ai cũng có thể tưởng tượng

Trang 27

nhưng viết giống như thật thì đời và người trong truyện của mấy ông nhà giàu, con quan và có đồn điền như thế, tôi không biết những kiểu ấy, không bắt chước

được"[25] Chính ông đã nhận ra con đường sáng tạo riêng của mình Ông tâm sự :

"Đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả trong những sáng tác của tôi ý nghĩa tự nhiên của tôi lúc bấy giờ là viết những sự việc xảy

ra trong nhà, trong làng, quanh mình."[25] Viết về cuộc sống bình dị của mình, quanh mình là điều nhà văn tâm niệm ngay từ những ngày đầu đến với văn chương nghệ thuật Mảnh đất ven đô và con người làng quê nơi đây đã đi vào văn chương Tô Hoài một cách tự nhiên như nó vốn thế Nhà văn luôn gắn bó với con người và cuộc sống đời thường, luôn ý thức học tập lời ăn, tiếng nói của quần chúng nhân dân lao

động Ông tâm sự: "ảnh hưởng đầu tiên đối với tôi không nói về tư tưởng, lập trường chính trị, chính là người làng Nghĩa Đô của tôi Người ta nói thế nào, tôi cứ thế mà xáo thành văn" Điều đó đã trở thành định hướng nghệ thuật và cũng là kênh thẩm mĩ

- yếu tố cốt lõi làm nên quan niệm nghệ thuật của ông trong suốt quá trình sáng tác

Viết và thể nghiệm nhiều thể loại, ông không quá chú trọng vào một thể loại nào nhất định Theo ông: "Bất cứ lối viết nào cốt nói được sự thật khiến người đọc cảm xúc hoặc gây suy nghĩ cho người đọc"[34] Tuy nhiên, đến thể hồi kí ông mới khẳng định rõ bản lĩnh sáng tạo của mình Viết hồi kí với Tô Hoài không phải là sự sao chép thông thường những gì mình trải nghiệm mà đó thực sự là một sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo Ông khẳng định: "Tôi viết hồi kí là khó khăn hơn cả sáng tác bởi

đó là cuộc đấu tranh tư tưởng để viết Nó chân thành hay dối trá, thanh minh hay báo công khoe khoang, làm thế nào cho khách quan mà lại tình cảm nhất với một dụng ý chủ đề thật rõ ràng Đây là một cuộc mổ xẻ toàn diện không phải nhẹ nhàng và chỉ

có hứng thú với tôi"[75]

Với Tô Hoài viết hồi kí giống như một nhu cầu giãi bày tâm sự, nhu cầu được

đối thoại để khẳng định cách cảm nhận của mình về một thời dĩ vãng đã qua Hiện lên trong hồi kí Tô Hoài là những vui buồn của cuộc sống thường nhật, những bon chen vật lộn của nhà văn thủa thiếu thời, những ấn tượng, những kỉ niệm sâu sắc về

Trang 28

một thế hệ nhà văn, những khám phá mới về con người, thời thế Đó là một hiện thực nhiều chiều khiến người đọc vô cùng xúc động Dựng lên những bức chân dung chân thực của các nhà văn sau đó khái quát nên diện mạo lịch sử của một thời kì văn học

đầy biến động, dường như Tô Hoài muốn đi tới một quan niệm mới về nhà văn, nghề văn : Nhà văn cũng như nghề văn là cao quý song đó không phải là việc gì xuất chúng, phi thường Nhà văn cũng chỉ là một con người bình thường do cuộc sống nhào nặn mà thành Tô Hoài không ngần ngại đặt họ giữa cuộc sống đời thường mà soi chiếu, xem xét Ông tâm sự: "Viết văn là một việc khó, việc khó chứ không phải

là việc phi thường, sao không làm được như bình thường làm Sao lại tự huyễn hoặc, lại nuông chiều cái dễ dãi, mệt mỏi, phải làm việc bình thường"[34]

Chính từ quan niệm về nhà văn và về nghề văn như thế nên suốt cả cuộc đời cầm bút của mình Tô Hoài gắn bó mật thiết với cuộc sống bình thường của quần chúng nhân dân mà cảm nhận cuộc sống và tìm chất liệu cho ngòi bút thể hiện một cách toàn diện quan niệm nghệ thuật ấy

Để xây dựng nhân vật, mỗi nhà văn đều xuất phát từ quan niệm nghệ thuật về con người của riêng mình Nếu con người trong văn Nguyễn Tuân được thể hiện ở phẩm chất nghệ sĩ tài hoa, lãng tử mà ít thấy những dung tục đời thường thì ở văn Nam Cao con người lại được biết đến trong cái vặt vãnh của cuộc sống đời thường nhưng lại luôn tự ý thức rõ rệt về mình đến độ họ phải dằn vặt, đau đớn trước những

bi kịch của kiếp người và phải gánh chịu những kết cục hết sức bi thảm Đến Tô Hoài, ông nhìn nhận con người với đầy đủ cái mạnh, cái yếu, cái bình thường và cả các thói tật Với ông, con người không phải là thánh nhân, siêu phàm cho dù người

đó là bất cứ ai Quan niệm nghệ thuật về con người của Tô Hoài được giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh nhận định: "Tôi cho rằng, Tô Hoài quan niệm con người chỉ là con người thế thôi, chả có ông thần, ông thánh nào trên đời này"[54]

Con người bình thường của Tô Hoài là con người của tất cả niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và khổ đau Nhà văn trân trọng, nâng niu từng niềm vui, sẻ chia từng nỗi buồn dù nhỏ nhất trong tâm hồn nhân vật Nhân vật của ông được đặt trong

Trang 29

cuộc sống đời thường nên cùng một lúc xuất hiện cả niềm vui, nỗi buồn, cả hạnh phúc lẫn khổ đau Xây dựng chân dung nhân vật dù là các văn nghệ sĩ hay bất cứ ai Tô Hoài luôn luôn xuất phát từ quan niệm: "Người ta ra người ta thì phải là người ta

đã chứ" Với cách quan niệm về con người như thế Tô Hoài ít tìm đến chiều sâu nhân bản trong những triết lí nhân sinh sâu sắc Ông muốn gửi đến mỗi chúng ta một thông điệp : Hãy hiểu, hãy trân trọng mỗi phẩm chất, cá tính của con người Bởi nó mới đúng là cuộc sống Nhà văn đã xây dựng cho mình một thế giới nhân vật riêng, một cách nhìn cuộc sống riêng trong một giai đoạn lịch sử nhất định Quan niệm nghệ thuật ấy đã trở thành cái lõi cơ bản tạo nên phong cách nghệ thuật của ông trong suốt 70 năm cầm bút Với ý nghĩa như vậy chúng tôi dành trọn chương 2 để nghiên cứu về cuộc sống, con người, lịch sử trong hồi kí Tô Hoài

Chương 2

Cuộc sống - con người - lịch sử trong hai cuốn hồi kí2.1 Cuộc sống trong các mối quan hệ phức tạp

2.1.1 Cuộc sống sinh hoạt

Hoàn toàn khách quan trong việc miêu tả hiện thực, Tô Hoài hướng ngòi bút vào cuộc sống thế sự, đời tư phản ánh bức tranh đời sống xã hội trong những dạng thức chân thực nhất Ông rất nhạy cảm với những cảnh sinh hoạt, những phong tục tập quán quen thuộc của từng vùng quê, từng gia đình mà ít chú ý đến những sự kiện lớn lao có tầm vóc sử thi hoành tráng Là người đi nhiều, trải nghiệm nhiều, đi đến

đâu con mắt “tinh quái” của Tô Hoài cũng “thu nhặt” toàn bộ cuộc sống sinh hoạt của từng miền quê, từng gia đình từ những góc nhìn rất riêng, rất đời thường Đọc hồi

kí Tô Hoài ta bắt gặp một cuộc sống thực đang diễn ra với tất cả các cung bậc thật nhất, đời thường nhất tạo nên tính chất đa thanh, đa diện của cuộc sống Các tác phẩm của ông dù viết về đề tài gì, nhân vật là ai chúng ta cũng có thể nhận thấy rất

rõ điều này Phản ánh hiện thực cuộc sống, hồi kí Tô Hoài ít tập trung vào những

Trang 30

mâu thuẫn xã hội mang tính chất đối kháng quyết liệt Nếu như làng Đông Xá trong

tiểu thuyết Tắt Đèn của Ngô Tất Tố náo động bởi tiếng trống, tiếng tù và, tiếng thúc

sưu, tiếng chửi mắng của kẻ có chức quyền khiến mâu thuẫn giữa địa chủ, nông dân

ngày càng sâu sắc, làng Vũ Đại trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao ầm ĩ tiếng

gào làng rạch mặt ăn vạ của kẻ cùng đường thể hiện bi kịch thảm thương của người

nông dân nghèo trong tuyệt vọng thì ở Làng Nha trong Quê người, làng Nghĩa Đô trong hồi ký Tự truyện, Cỏ dại lại khá bình yên ở đó những người cùng làng, cùng

nghề, cùng sinh sống theo quy luật tự nhiên của nó

Cảm quan hiện thực của Tô Hoài xuất phát từ cuộc sống xung quanh ông

Điều đó được xác định ngay từ những ngày đầu ông cầm bút Hình ảnh làng Nghĩa

Đô đi vào hồi kí Tô Hoài khá đậm nét từ thói quen ăn mặc cho đến nếp sống sinh hoạt hàng ngày với hàng loạt các phong tục, hủ tục Cuộc sống, con người làng quê

cứ từ từ theo ngòi bút nhà văn đi vào hồi kí Từ Cỏ Dại, Tự truyện đến cát bụi chân

ai và chiều chiều là cả một hành trình dài ẩn chứa trong đó bao cuộc đời, bao số

phận Bức tranh cuộc sống được thu nhỏ trong hai cuốn hồi kí với bao thông tin đòi hỏi nhà văn phải có sự hiểu biết, khả năng quan sát tinh tế, tỉ mỉ, hoà mình vào cuộc sống của nhân dân mới có thể thấy được

Hồi kí Cát bụi chân ai, Chiều chiều là dịp tác giả bộc lộ cuộc sống của mình

và các bạn văn trong nhiều giai đoạn Chân thực nhất là những năm tháng đi thực tế, những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt thời kỳ tác giả được bầu làm trưởng ban dân phố Cuộc sống hiện ra với bao điều thú vị Cuộc sống vùng quê yên bình trong những ngày đi thực tế ở xóm Đồng, Thái Bình dưới con mắt quan sát của nhà văn có nhiều điều đáng nói Ngoài công việc đồng áng của nhà nông bao giờ cũng bắt đầu từ rất sớm nên phải ăn cơm từ lúc tờ mờ, ông còn để ý đến cả "cái chợ họp hôm, họp mai chốc lát đầu bến cũng gọi là chợ Phố, có lẽ vì cũng có lò rèn, lò may, quán nước…chốc chốc lại đi qua một bọn các cô, ống quần gấu váy túm lên tận bẹn, cặp

đùi đen nhánh tròn như cái chĩnh Đoàn người vác những dặm xuống chuôm sâu"[28,tr.33] ở nơi ấy, nhà văn đã sống hoà mình cùng những người nông dân, tập

Trang 31

ủ phân xanh, tập cấy lúa, giúp bà con sản xuất, xây dựng mô hình hợp tác xã Cuộc sống ngắn ngủi trong những ngày thực tế ở xóm Đồng cũng đủ để tác giả phát hiện

ra những thói tục riêng : Con gái chỉ khoảng 15 tuổi đã sắp về nhà chồng và ở đất này tuy chưa thành con rể chính thức nhưng chàng rể đã rất năng đến gia đình vợ làm việc Cuộc sống sinh hoạt qua những nét phác họa tưởng chừng rất nhỏ dưới ngòi bút Tô Hoài đã hiện ra khá rõ nét về một vùng quê lúa Thái Bình vốn bình yên, thơ mộng Tiếp đó là quãng thời gian nửa cuối thập kỉ 60, nơi làng Nghĩa Đô cứ được cộng lại rồi chia ra theo địa giới hành chính và tổ chức chính quyền ở xã hội thu nhỏ ấy, trưởng ban đại diện khối phố cũng như trưởng thôn, xóm công việc chẳng khác nào chủ tịch xã Bức tranh cuộc sống lúc bấy giờ được gói gọn trong muôn cảnh sinh hoạt đời thường Từ những cảnh rất đỗi bình yên "người ngồi giặt, người giã cua, người trẻ củi, trẻ con nhảy nhót, cụ già móm mém nhìn ra đường"[28,tr.219] Đến cảnh xô xát ngày thường "ông lão quét vôi đi làm thuê về say rượu dọa giết vợ"[28,tr.218] Hay chỉ là những tiếng suốt ngày đụng chạm, lủng củng, to tiếng như

có bệnh cãi nhau của đôi vợ chồng hàng xóm nhưng khi có bảo vệ đến thì ngồi một chỗ lời qua tiếng lại chứ không vi phạm trật tự trị an, khiến những người làm công tác khu phố cũng không biết can ngăn thế nào vì chẳng ai chịu im mồm Rồi cảnh dân phố hăm hở tham gia học tập ở lớp xoá mù chữ cũng thật nực cười Lớp học khi mới mở thì là đầu voi, một thời gian sau chỉ còn là đuôi chuột Đi học xoá mù chữ thì bẻm mép tán gẫu, để ý đến những chuyện vặt vãnh tức cười: “Lúc ông ấy nói, ông

ấy có cái gân nói nối với gân chân, cứ đương nói lại nhấc một bên gót” Cuộc sống sinh hoạt vun đắp ước mơ của những con người nơi đây khi chứng kiến đoàn người hăm hở, hăng say lao động với dự định ấp ủ: "Biến sông Tô Lịch thành một thắng cảnh đẹp của Hà Nội sắp ra đời "[28,tr.267]

Từ cảnh đám cưới theo nếp sống mới của thanh niên Hà Nội lúc bấy giờ, được minh hoạ bằng đám cưới nếp sống mới của hoạ sỹ Nguyễn Sáng với cô Thuỷ ngồi mẫu trường Mỹ Thuật đến cảnh chống mê tín dị đoan nhà bà Na, cảnh diệt chuột của khu phố diễn ra theo định kỳ hàng năm Bức tranh xã hội trong cảm quan hiện thực

Trang 32

của Tô Hoài thường bắt đầu từ bao cảnh sinh hoạt đời thường như thế Mỗi bước

thăng trầm trong cuộc sống sinh hoạt của người dân là minh chứng đầy thuyết phục

cho ngòi bút sắc sảo của Tô Hoài Không có những sự kiện trọng đại, hào hùng mà

toàn là những những điều vụn vặt thông thường của cuộc sống Ngòi bút Tô Hoài

khéo léo góp vào bức tranh sinh hoạt của con người đời thường trong cuộc kháng

chiến chống Mỹ ác liệt: "Buổi chiều, máy bay Mỹ bắn rải rác lung tung nhiều nơi

trong thành phố… ở một vòi nước công cộng ngay trên phố một loạt đạn đã xả

xuống mấy người đang nhặt rau, vo gạo làm cơm chiều Mấy hôm không ai dám ra

lấy nước, vòi nước vẫn mở, nước xả lênh láng suốt đêm"[28,tr.321] Rồi đến cảnh tập

cáng thương, băng bó trong thời chiến Người giả bị thương nằm thẳng cẳng dưới

đường Người bị thương vừa nằm rên, vừa cười hà hà chờ y tế khu về quan sát cho

điểm, rồi các chuyện luyện chữa cháy, cơm nồi nước sôi tập thể…Hầu như cả cuộc

sống sinh hoạt được thu nhỏ, gói ghém trong hồi kí Tô Hoài với mọi ngõ ngách tầng

bậc đời thường nhất thật như cuộc sống đang diễn ra hàng ngày

Đến Cát bụi chân ai cuộc sống sinh hoạt không thể hiện rõ ràng như Chiều

chiều, cuộc sống ấy lại gắn liền trong không gian và thời gian Thời gian được tính

bằng những điểm mốc của đời sống cá nhân, không gian cũng gắn với từng sinh hoạt

của con người Nếu thời gian của đời sống cộng đồng là những tháng năm, những

giai đoạn, thời kỳ thì thời gian của đời sống cá nhân tập trung vào một ngày bình

thường, với những cảnh sinh hoạt bình thường như cảnh họp chợ: “Ngay ngã tư, cái

chợ cóc vẫn la liệt những chậu rau muống chẻ ngâm nước, những thúng cua đồng

chát đất cho nặng cân Trên thùng những chiếc xe tải vừa đỡ ông tài ông ét rỡ củi

xuống chất làm bếp thổi cơm chiều ngay trước hè ngôi nhà sập ”[27,tr.46] Hay là các buổi chiều chạng vạng hoặc đêm khuya Nó dường như trở thành thời

gian nghệ thuật trong cả chương 1 Thời gian hồi tưởng: những tối thứ bảy, những sự

kiện trọng đại chiến dịch sông Thao mùa hạ năm 1949 Tô Hoài chỉ tập trung kể vào

thời gian chiều tối Bởi đó không phải là thời gian chiến đấu mà là thời gian để gặp

gỡ trò chuyện: “Chập tối, tập kết ở Mậu A Đi suốt đêm đến sáng Năm giờ chiều

Trang 33

máy bay không lên nữa Nửa đêm ban chỉ huy lên một cái nhà sàn" Không gian trong tác phẩm là không gian sinh hoạt gần gũi, là nơi các nhân vật gặp gỡ nhau: Quán cà phê ngã sáu đầu đường, căn gác nhỏ của Nguyễn Tuân, ngôi nhà của Sùng Dúng Lù hay Lạc Viên Quán…Nó chỉ đủ để con người sinh hoạt và hàn huyên Trong khoảng không gian và thời gian đời tư đó con người sống với tư cách cá nhân hơn là một công dân xã hội với những chức vụ và nghĩa vụ được quy định

Cùng phản ánh một bức tranh sinh hoạt nhưng ở mỗi cuốn hồi ký là một điểm

nhấn khác nhau về cuộc sống Chiều chiều là bức tranh cuộc sống sinh hoạt đời thường qua từng thời kỳ lịch sử nhưng đến Cát bụi chân ai thì bức tranh đời sống

sinh hoạt lại bó gọn cùng với cuộc đời của mỗi con người, mỗi nhân vật Tất cả điều

đó được Tô Hoài đưa lên trang sách thật như những gì cuộc sống đang diễn ra ở

điểm này, cách nhìn cuộc sống của nhà văn không có gì khác so với tiểu thuyết và truyện ngắn

2.1.2 Bức tranh xã hội

Song hành cùng với cảnh sinh hoạt đời thường của con người, Tô Hoài dựng lại cả một bức tranh xã hội rộng lớn suốt những năm từ 1940 - 1990 Cuộc sống xã hội được nhìn từ cự ly gần nên hiện ra muôn màu, muôn vẻ những cung bậc khác nhau Có cái cao cả lẫn cái tầm thường, có cái xù xì, góc cạnh mà ít thấy những biến

cố lớn lao, những bức tranh sử thi hoành tráng Cuộc sống hiện ra trong cái đời thường gần gũi không thiếu vẻ lam lũ, nhếch nhác, cơ cực Một bức tranh xã hội thu nhỏ phức tạp, trọn vẹn, hoàn tất hiện ra như chính cuộc sống

Nếu như ở hồi ký Cỏ Dại, cuộc sống xã hội được bó hẹp trong khuôn khổ làng Nghĩa Đô thời kỳ lụi bại của nghề dệt lụa Thì ở Tự truyện bức tranh cuộc sống hiện

lên thảm khốc hơn với nạn đói khủng khiếp năm 1945 Cảnh người chết đói chồng chất đến nỗi: “Đêm nào cũng có người chết, người chết khắp nơi như gà chết dây”[25,tr.318] Cuộc sống khổ cực đẩy con người đến những mưu toan tính toán nhỏ nhen, Tô Hoài đã không bỏ qua những chi tiết đời thường đó Ông viết về những thói xấu của mình, bạn mình chân thật hơn bao giờ hết

Trang 34

Cuộc sống bon chen, nhốn nháo ở làng văn dưới ngòi bút của Tô Hoài đọc lên

khiến nhiều người không khỏi “giật mình” Và có lẽ chỉ có Tô Hoài mới dám viết

như vậy Hình ảnh làng văn trong Tự Truyện một thời đựợc miêu tả như một cái “chợ

đen” đúng nghĩa của nó bởi cũng có buôn đi bán lại, có các tay anh chị, có người

thầu, có lừa lọc ăn miếng, trả miếng, xâu xé, cướp giật lẫn nhau trong đó có bản thân

cái tôi Tô Hoài Đến Cát bụi chân ai cuộc sống xã hội mở ra trước mắt người đọc

không phải là chuyện cơm nồi, nước sôi thường ngày như những hồi ký khác mà là

cả một câu chuyện thế sự dài đựơc thể hiện qua số phận con người cụ thể để khái

quát về xã hội Không chỉ là chuyện ăn, ở, sinh hoạt của các nhà văn mà là câu

chuyện về tư tưởng của các nhân sĩ trí thức thời kỳ chỉnh huấn Nhân văn Giai phẩm

Đó là thời kỳ mà đời sống văn học hết sức ngột ngạt, nặng nề kìm hãm cá tính sáng

tạo của các nhà văn, khiến cho không ít văn nghệ sĩ có tài phải lao đao trong cuộc

mưu sinh kiếm miếng cơm manh áo Khiến một nhà văn có tài như Nguyễn Tuân

phải thốt lên chua chát: “Nếu ông còn trẻ thì ông bỏ đất này ông đi”[27,tr.67]

Có thể nói Cát bụi chân ai là thời kì mà các nhà văn phải sống “cuộc sống

trong ao mà những con chẫu chàng thỉnh thoảng ngoi lên mặt nước đờ đẫn nhìn theo

mấy cái bọt mình vừa thở”[27] Bế tắc, chờ đợi thời cơ, tìm cơ hội tiếp tục vươn lên

là thời kỳ mà văn nghệ sỹ giai đoạn này nếm trải Bức tranh xã hội về một nền văn

học thời kỳ chỉnh huấn Nhân văn Giai phẩm thực sự ngột ngạt, kìm hãm cá tính sáng

tạo của người nghệ sĩ Đây chính là diện mạo của nền văn học một thời

Đến Chiều chiều cuộc sống lại vận động theo chiều hướng khác Không còn

những gay gắt của việc kiểm duyệt Nhân văn Giai phẩm mà là cuộc sống ở vùng quê

nơi các nhà văn đi thực tế, cuộc sống xã hội trong những ngày cải cách ruộng đất,

trong những ngày nhà văn làm trưởng ban khu phố, hay trong những năm đổi mới

của cơ chế thị trường Không còn là những thảm cảnh nheo nhóc đói khát của những

năm 45, cũng không “đao to búa lớn” như trong “chợ văn” Tô Hoài cảm nhận hồi

mới vào nghề Mà là những cuộc đua chen để chạy theo thành tích giữa các hợp tác

xã, các tổ sản xuất để cuối cùng chỉ còn là “trò trẻ ranh” như lời ông Ngải

Trang 35

Không chỉ chạy theo thành tích, bức tranh xã hội còn thể hiện đầy đủ ở nạn “trốn thành tích” Các số liệu, thành tích được báo cáo khống, báo chí càng thổi kèn đu đủ bốc thơm thì các nơi lập đoàn, lập đội kéo đến học tập càng nhiều Huyện bạn, tỉnh bạn, ba trăm pháo đài huyện cả nước đổ đến Các xã láng giềng phải nghĩ ra mẹo trốn thành tích ở các hội nghị tổng kết trên huyện các hợp tác xã thi nhau báo cáo không đạt mức thi đua trong khi mấy vụ trước thì vun vút vượt chỉ tiêu Chẳng biết

đâu là vờ, đâu là thật Thật nực cười

Bức tranh xã hội còn thể hiện rõ nét qua những mánh khoé làm tiền của bảo vệ Dương Mang tiếng là bảo vệ trật tự trị an cho khu phố nhưng thực chất lại lợi dụng vào đó dùng mọi thủ đoạn để dò dẫm tiền của từng nhà dân Nhỏ nhất từ chuyện tống tiền hộ nuôi chó, doạ dẫm người mới đến, đi chống hủ hoá kiểm tra nhà nghỉ, khách sạn cũng lợi dụng vào đó để ăn tiền Cán bộ lợi dụng chức quyền để hành dân Nực cười hơn là câu chuyện của anh Mẫn sửa xe đạp: “Tôi ra vỉa hè sửa xe đạp Công an

đuổi, bực quá Tôi thấy không ai dám đuổi công an tôi vào bốt xin làm công an”[28,tr.250] Lý do để bắt đầu công việc chỉ đơn giản có thế

Tất cả mọi cung bậc cuộc sống hiện lên trong hồi kí Tô Hoài với bao điều vụn vặt thường ngày nhưng phải mạnh tay, phải đấu tranh để đưa được những điều đó lên trang giấy là sự giằng xé trong tâm can Tô Hoài Viết hay không viết Viết như thế nào khi sự thật mà ông thấy luôn phơi bày trước mắt khác với những điều người ta

thường nói tới Ông vẫn quyết tâm viết mặc dù Chiều chiều được xuất bản và phát

hành năm 1999 nhưng ngay sau đó lặng lẽ bị thu hồi và cấm xuất bản Tuy vậy, nó vẫn gây được làn sóng ngầm trong dư luận, được giới nghiên cứu, phê bình văn học nhắc tới và đánh giá cao Bức tranh cuộc sống trong hồi ký Tô Hoài hiện ra giống như cuộc đời thực, thấm đẫm, chứa chan tình cảm của người nghệ sĩ: “Không lên giọng, không nhấn mạnh Thậm chí không muốn bất cứ sự can thiệp của một ý chí chủ quan nào nhằm xác định một chủ đề tư tưởng”[44,tr.24] Truyện của Tô Hoài cứ

tự nhiên mà thủ thỉ cái tiếng nói hồn nhiên của bản thân sự sống ở điểm này nhiều người cho rằng hồi kí Tô Hoài mang đậm chất tiểu thuyết là vì vậy

Trang 36

2.2 Các kiểu chân dung nổi bật

2.2.1 Chân dung nhà văn Tô Hoài

Là thể văn mang đậm dấu ấn chủ quan của người viết, hồi ký chủ yếu viết về những hồi ức, những kỷ niệm của chính tác giả Nhân vật chính của tác phẩm không phải ai khác mà chính là nhà văn Viết về mình là điều rất khó Dựng thành công chân dung của chính mình lại càng khó hơn Bởi lẽ khi viết về mình người viết hoặc

là dễ sa vào việc đánh bóng bản thân để tạo ra sự chú ý của dư luận, hoặc viết về những điều chưa tốt thì vẫn còn ngại ngần, né tránh Nhưng với Tô Hoài, điều đó không xảy ra Cuộc đời ông hay, dở, tốt, xấu đều được ông phản ánh trung thực trên trang sách Ông là mình trong cuộc sống và cũng chính là mình trong chân dung

nhân vật Tôi của hai cuốn hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều Nói như Êrenbua trong tác phẩm Những người cùng thời thì: "Bất kì một quyển sách nào cũng là lời tự

thú và quyển sách hồi ức chính là nơi tự thú mà tác giả không có ý giấu mình dưới

bóng dáng của nhân vật hư cấu" Hồi kí Cát bụi chân ai và Chiều chiều chính là

những lời tự thú chân thực nhất về bản thân tác giả

Đọc hồi ký Tô Hoài, nhất là các trang viết về bản thân mình người đọc thực sự

ấn tượng bởi cách viết chân thực Ông có cái tâm trong sáng với nghề văn, có tấm lòng yêu thương mọi người nhưng cũng có những toan tính đời thường giống như bất

cứ ai Điều đáng quý là ông đã dám nhìn thẳng vào con người mình, biết tự kiểm

điểm bản thân để tìm ra cái đúng, cái sai rồi tự mình khắc phục Ông không ngần ngại kể lại những điều sâu kín nhất của mình mà rõ ràng nhiều khi chính những điều

ấy có thể khiến mọi người nghĩ sai về ông Thế nhưng ông vẫn cứ viết, viết một cách

tự nhiên như thể đó là một nhu cầu không thể thiếu Ông không ngần ngại ghi nguyên văn lời mắng của Nguyên Hồng: “Tiên sư mày, thằng Câu Tiễn” Cũng như lời nhận xét không mấy hay ho của Như Phong: “Thằng ngoại ô láu cá, văn chương thì đẽo gọt” Tất cả những nhận xét ấy không hề sai Tô Hoài không hề lên tiếng phủ

định hoặc giải thích bất cứ điều gì Ông lí giải: "Tôi sinh ra ở nơi thành phố với làng mạc lẫn lộn…ở quê tôi túi bạc đâm toạc tờ giấy, có tiền là có tất cả, bấy lâu tôi lăn

Trang 37

lóc nơi khoé đời ấy…"[27,tr.105] Chân thành, tự nhiên khi viết về những điều đó

ông không hề đẽo gọt văn chương của mình mà cứ để tự nó phơi bày trên trang giấy Vẫn là nụ cười hiền lành, mủm mỉm không hề che giấu : Mọi người nghĩ về tôi như vậy đấy Trung thực đến thế là cùng

Trong ngổn ngang ký ức hành trình cuộc đời mình, điều mà Tô Hoài băn khoăn nhất là những ngày tháng chỉnh huấn Nhân văn Giai phẩm Với những cuộc họp mà: “Cái đúng chỉ lớt phớt, mơ màng rồi người ta đội lên đầu những chữ

“nhưng” chữ “tuy nhiên”, chữ “mặc dầu đã ” Những cuộc họp ấy “có người quen thân, có người chỉ sơ sơ, bây giờ soi mói, moi móc những việc, những lời đã nói bất

kể nghiêm trang hay bông đùa được dẫn chứng bằng cớ, phân tích cho rõ ranh giới

địch ta” Trong những ngày ấy ông tự nhận dao kéo của mình cũng đã hăng hái mổ

xẻ nhiều người khác Để rồi suốt hai năm (1955-1956) đi làm “anh đội” ba đợt cải tạo bao sự kiện khiến đầu óc ông nặng trĩu những mưa gió chỉnh huấn mà không làm cách nào giải toả được Thời gian trôi qua ông thấy mình cũng có nhiều sai sót, nhiều năm sau nhìn lại, Tô Hoài vẫn mạnh dạn thừa nhận những sai sót ấy Bằng chứng là

ông cho in lại nguyên văn bài báo: “Nhìn lại một số sai lầm trong bài báo và trong công tác" in trên báo Nhân Dân ngày 12 tháng 3 năm 1958 Bài báo đã kiểm điểm

khá quyết liệt một số người trong đó có tờ báo máu thịt của Nguyên Hồng Một Nguyên Hồng tâm huyết, sống chết vì tờ báo máu thịt của mình bị đập tơi bời bởi một Tô Hoài “tự giác, trung thực” “kiểm điểm về những điều chưa đúng”, về “quan

điểm”, về “lý luận sai lầm” trong chủ trương công tác của Hội nhà văn Việt Nam và trong một số công việc, một số bài viết ” lúc ấy quả thật ông có bị nhận xét là “láu cá”, “đẽo gọt” thì cũng không phải là không có cơ sở Những bài báo kiểu như thế cộng với thái độ “hăng hái” như trên khiến Tô Hoài được yên ổn trong khi không ít nhà văn phải lao đao vì những vụ việc lúc bấy giờ Bốn mươi năm sau thập kỷ 90 khi những sóng gió cuộc đời đã tạm lắng xuống, nhìn lại những năm tháng ấy âu cũng là một sự tự kiểm điểm của nhà văn trong sự trung thực đáng quý của người nghệ sĩ chân chính

Trang 38

Chứng kiến, giải quyết không biết bao nhiêu công việc trong cuộc sống, Tô Hoài không khỏi có những lúc băn khoăn, trăn trở về những việc đã xảy ra Việc kiểm điểm hoạ sĩ Phan Kế An khiến Tô Hoài Tô Hoài không bao giờ quên Trong cuộc họp ấy Tôi - Tô Hoài đã "tóm tắt những cái đã đọc ở hồ sơ rồi gợi ý những sai phạm như thế thì không thể kỷ luật nào khác là khai trừ ra khỏi hàng ngũ Đảng" Mọi người yên lặng Tô Hoài ấn tượng mãi ấn tượng mãi bởi cuộc họp quần nhau trong tưởng tượng và ông chẳng thể quên dược câu nói cuối cùng của họa sĩ Phan Kế

An cuối buổi họp: "Tôi không có khuyết điểm Ngày mai, ngày mai thời gian sẽ ủng

hộ tôi"[28,tr.189] Sau này khi ngồi lại với nhau, Phan Kế An không bao giờ nhắc lại chuyện ấy nhưng Tô Hoài thì chẳng bao giờ có thể quên được những gì đã xảy ra

Tự nhận mình là đơn giản, ngây thơ thậm chí có thể coi là một người ấu trĩ trong cách nghĩ, Tô Hoài đánh giá mình là người hay quên: “Tôi có yếu bẩm sinh thường không nhớ ngày tháng sự việc, không hay nhớ các con số, không những thế, nhớ về người cũng chẳng tốt lắm" Trường hợp này đúng trong cuộc gặp gỡ với ông chủ bánh cuốn Hồng Lâm ở ngã tư cùng phố cà phê Ca Ông tàu ấy nhận ra Tô Hoài trong khi đó nhà văn lại tưởng: “Ông ấy nhìn ông cháo gà đồng hương” Thế nhưng

có những sự việc mà cả đời ông không thể nào quên khi viết trong hồi kí ông cũng không hề né tránh Đó là mối quan hệ “đặc biệt” của ông với Xuân Diệu ở chốn “U tì quốc” trong những đêm mưa gió năm nào là một minh chứng cụ thể Trước cách cầm tay âu yếm, trước đôi mắt đắm đuối, những cử chỉ ân cần, chu đáo của Xuân Diệu dành cho, Tô Hoài thấy “hơi lạ” nhưng mà “cảm động” Tô Hoài nhận ra “Xuân Diệu yêu tôi" Trong cuộc tình mặn mà, vụng trộm của "mối tình trai” ấy chính Tô Hoài là một “kẻ trong cuộc” một kẻ đồng loã nhiệt thành Thế mà khi Xuân Diệu bị đưa ra kiểm điểm thì không chỉ không ai nói mà ngay đến Tô Hoài cũng câm như hến Ông

đã nhận thấy tính hèn nhát an phận trong con người mình dù trong lòng cũng xót xa, day dứt lắm khi thấy “Xuân Diệu chỉ ngồi khóc” Có cảm thông với Xuân Diệu nhưng ông cũng không thể làm khác hơn là lặng im và xót xa cho bạn mình Trong trái tim mình Tô Hoài luôn dành cho Xuân Diệu những tình cảm tốt đẹp nhất Chỉ

ông mới nhớ tất cả những lời cằn nhằn đáng yêu của Xuân Diệu dành cho mình, nhớ

Trang 39

sự quan tâm chu đáo từ chiếc khăn mùi xoa, đến đôi bít tất Vậy mà ông không thể

đứng lên bênh vực cho Xuân Diệu Đọc hồi kí của ông, ta mới hiểu Tô Hoài là một nhà văn nhưng trước hết ông cũng là một con người bình thường như tất cả những người khác mà thôi

Đến Chiều chiều ta bắt gặp chân dung một Tô Hoài đời thường không đứng

cao hơn thời cuộc và cũng bị chi phối bởi thời cuộc Một Tô Hoài trong đa diện đời thường vừa hóm hỉnh, tinh quái, vừa bình thản, vừa mặc nhiên tham gia các sự kiện của đời sống Đó là một Tô Hoài trong những năm 50 của thế kỷ XX, thời kỳ các nhà văn đi thực tế Khi ấy nhà văn còn rất trẻ, rất hăng hái với ý nghĩ “đất nước đã sang giai đoạn mới phải lao vào để bắt kịp tầm nhìn” Và nhà văn tự kiểm điểm, tự nhìn nhận mình: “ Sự tự tin nặng nề bấy giờ đã làm tiêu tan cả suy nghĩ và nghị lực, lắm

điều đã biết, đã nghiên cứu hẳn hoi thế mà nghe nói lại, đọc lại cứ thấy như mới, như chưa tỏ tường bao giờ"[28,tr.31] Vậy mà đi về xóm Đồng với biết bao bỡ ngỡ nhưng nhà văn đã xác định tư tưởng rõ ràng: “ Bắt rễ được là xong ngay” Sống như một thành viên trong một gia đình ông Ngải suốt mấy tháng ròng, sáng sáng uống nước chè với ông ở bụi tre lép Thỉnh thoảng được ăn những bữa cơm thịt vịt bị rắn cắn, Tô Hoài lao động như một người nông dân thực thụ Từ đào hố ủ phân xanh đến tập cấy lúa, gặt, bó mạ, ông tự nhận mình là kẻ “mồm miệng đỡ chân tay” Nhìn Phùng Quán làm việc “nhanh nhẹn, điệu nghệ”, Tô Hoài lại tự giễu mình “tủn mủn hay chế giễu cả những việc giản dị” Khi nhìn cái liềm mà đầu đã nghĩ đến lý luận, khi thấy mình đã tiện tay tuốt trụi cả cành lá chè ở ngoài vườn mà không hề đúng ý ông Ngải, nhà văn thầm nhủ với chính mình: “Chẳng làm nổi cái thớ đút bếp Trong đời có mấy lúc đào hố ủ phân xanh để chơi mà lo cũng không làm nổi, thế thì tôi còn biết làm gì

? Tôi là ai, tôi là thằng thế nào? Bút mực, bút bi làm nên trò trống gì” [28,tr.79]

Đáng lẽ tự trách mình như thế tưởng lúc đó con người ấy sẽ phải hăm hở đi tìm bèo ong cho hố ủ phân Nhưng thực chất lúc đó lại tự nói với chính mình: “Ông đã chén cơm từ tám hoánh với cả nhà, bây giờ tức bụng chỉ muốn nằm khểnh: “Tôi là ai, tôi biết quá chứ” Tôi, Tô Hoài cũng chỉ là một con người bình thường cũng có lúc đâu

Trang 40

có vượt qua được chính mình Cái ngại, cái lười đã kéo cái hăng hái nhiệt tình buổi ban đầu đi đâu mất rồi

Rời xóm Đồng vào học trường Nguyễn ái Quốc, Tô Hoài xác định “vinh dự

và nhiệm vụ” nhưng ông cũng không giấu giếm ý nghĩ giản dị rằng việc đi học ở trường Đảng lần này một dịp để ông sắp xếp lại những cái đã biết lõm bõm chẳng ra

đâu và cũng là dịp ông được nghe giảng về những vấn đề cụ thể để rồi về nhà máy liên hệ, kiểm tra sẽ vỡ ra Suốt hai năm trời ấy, nhà văn đã góp nhặt tri thức của biết bao môn học cao siêu nhưng rồi thật với lòng mình ông nhận thấy: “Những cái được của tôi vẫn chỉ lại là chắp vá, khâu dúm, khâu đụp Vừa học vừ nhớ lăng nhăng làm thế nào để có tri thức Có lẽ chẳng bao giờ Tôi vẫn chỉ là tôi vậy thôi "[28,tr.217] Bao nhiêu kiến thức cao siêu chỉ làm cho ông thấy ù ù cạc cạc như vịt nghe sấm Dù chịu khó cóp nhặt nhưng đến bao giờ mới được cỗ máy, vừa học vừa nhớ lăng nhăng làm sao có tri thức Rút cục thì tôi vẫn là tôi Lúc kiểm tra thì cũng “bấn cả lên” lúc bận viết kịch bản cũng “bịa lý do” để xin nghỉ thêm, khi bị nhắc nhở thì cũng có thù oán như ai…những câu chuyện về việc đi học ở một ngôi trường "sang, tiếng tăm" nhất nước ấy nếu không phải một người thật thà như Tô Hoài kể ra làm sao chúng ta

được biết Dù là một người nổi tiếng nhưng khi đã là học trò thì nhà văn cũng vẫn là một anh "nhất quỷ, nhì ma…" mà thôi

Bên cạnh những điều thú vị về bức chân dung tự hoạ của Tô Hoài về một nhà

văn đi thực tế, một nhà văn làm học trò ở Chiều chiều ta còn có dịp “chiêm ngưỡng”

nhà văn đi làm công tác ở khu phố với chức vụ trưởng ban đại diện khu phố với một

đống việc phải mó tay vay vào khiến ông không ít lần cảm thấy rối tung lên trong mớ

“bòng bong" ấy Thượng vàng hạ cám việc gì cũng phải giải quyết Từ việc đi bắt người đến trọ nhưng thực chất là bị chủ nhà “lỡm” để nặn thêm tiền trọ, hay đi theo dõi một cơ quan nước ngoài thuê nhà đem gái điếm vào, đến chuyện bọn trẻ con bấm chuông cửa của mấy nhà đặc biệt trong phố, thậm chí cả việc trời mưa to nước ở cái

hố xí hai ngăn ngấm vào nhà anh Vân đội viên đội dân phòng… Trăm thứ việc, nhưng đâu phải việc nào cũng giải quyết được Ngay như việc nhà anh Vân, dù đã

Ngày đăng: 23/07/2015, 11:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w