Gia nhập WTO những thuận lợi và khó khăn
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Toàn cầu hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng Đó là quy luật tất yếu và khách quan Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thiết lập mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhau trên mọi lĩnh vực như: kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế…Để cùng chung tay xây dựng một thế giới tốt đẹp, giải quyết những vấn đề chung của trái đất mà từng quốc gia riêng lẻ thì không thực hiện được Đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế thì sự hợp tác này ngày càng cần thiết hơn bao giờ hết Nó giúp cho các nước có thể lưu thông hàng hóa một cách thuận lợi, có thể trao đổi kinh nghiệm, khoa học kĩ thuật, công nghệ sản xuất hiện đại để nâng cao năng suất lao động và tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn, giúp cho việc lưu thông nguồn vốn một cách dễ dàng Chính vì vậy, mà hàng loạt các tổ chức thương mại thế giới lần lượt ra đời như :WTO, NAFTA, ASEAN, EU…
Trong đó WTO là tổ chức thương mại trên thế giới thu hút nhiều quốc gia gia nhập vào tổ chức này WTO ra đời nhằm thúc đẩy tự
do thương mại trên toàn cầu Các nước tham gia WTO sẽ nhận được nhiều thuận lợi và cơ hội Đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Lợi ích của việc gia nhập WTO là các nước thành viên được mở rộng cơ hội thương mại, được
Trang 2hưởng các quyền lợi có trong các hiệp định WTO…Với Việt Nam, thì việc mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung là việc làm vô cùng cấp bách để phát triển vững chắc nền kinh tế nước nhà Đặc biệt, việc tham gia WTO sẽ tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội và trải nghiệm mới, tiếp xúc với môi trường làm việc mới để mở rộng thị trường, từng bước gây dựng nền kinh tế ổn định và phát triển Đó cũng chính là lí do mà chúng tôi chọn WTO là đề tài làm tiểu luận.
2.Mục đích chọn đề tài
Gia nhập WTO đem lại cho chúng ta rất nhiếu cơ hội và thuận lợi nhưng song song đó cũng tồn tại không ít những khó khăn và thách thức Điều quan trọng là chúng ta phải biết cách vận dụng tối đa những cơ hội đó để sử dụng triệt để vào công cụ phát triển nền kinh tế vững mạnh, phải biết cách phối hợp những
cơ hội đó với những ưu thế sẵn có của quốc gia để tối đa hóa lợi ích mà WTO đem lại Đồng thời phải biết cách hạn chế tối thiểu những khó khăn và thách thức từ việc gia nhập WTO Phải biết cách dung hòa cơ hội và thách thức làm sao để việt nam gia nhập WTO chỉ hòa nhập không hòa tan Để làm rõ việc này, chúng ta cần tìm hiểu cách thức quản lí và hoạt động của WTO Mục đích của việc tìm hiểu này là để vạch ra những kế hoạch và hướng đi
Trang 3cho chúng ta bước vào môi trường WTO một cách tự tin, không đi nhầm đường Tạo một nền kinh tế phát triển thực sự vững mạnh Cũng như hiểu rõ hơn mối liên hệ giữa nước ta với tổ chức thương mại lớn nhất thế giới này.
3 Nội dung đề tài
Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔ CHỨC WTO 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của wto
Tổ chức thương mại thế giới có tiền thân là hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (The general agreement on tariff and trade - GATT) GATT được thành lập năm 1947 với
23 nước tham gia Các hiệp định của GATT có hiệu lực từ 11/1948 và đến hết năm 1994, GATT đã trải qua 8 vòng đàm phán thương mại với các mốc lịch sử như sau:
Vòng đàm phán thứ nhất từ ngày 10/4 – 30/10/1947 tại geneva – GATT ra đời Tại vòng đàm phán này, 23 nước sáng lập đã thỏa thuận cắt giảm thuế quan 45.000 mặt hàng Hiệp định GATT đầu tiên có hiệu lực từ 1/1/1948
Vòng đàm phán thứ 2 diễn ra năm 1949 tại annecy (Pháp) gồm 33 nước tham gia đã ký hiệp định giảm thuế bình quân 35% cho 5000 mặt hàng
Trang 4Vòng đàm phán thứ 3 diễn ra năm 1950 tại Torquay (Anh), các bên nhất trí trao đổi 8700 nhượng bộ thuế quan dẫn đến việc cắt bỏ 25% so với mức năm 1948.
Vòng đàm phán thứ 4 diễn ra năm 1956 tại geneve nhất trí cắt giảm thuế quan trị giá 2,5 tỷ USD
Vòng đàm phán thứ 5 diễn ra năm 1958 (gọi là vòng Dellon) gồm có 45 nước tham gia đàm phán kéo dài đến tháng 1/1962, kết quả đạt 4400 nhượng bộ thuế quan trị giá 4,9 tỷ USD
Vòng đàm phán thứ 6 diễn ra năm 1964 ( gọi là vòng kennedy) dẫn đến việc ký vào năm 1967 một hiệp định giữa 50 nước, chiếm 75% mậu dịch thế giới
Vòng đàm phán thứ 7 diễn ra năm 1973 tại tokyo với 99 nước tham dự thỏa thuận giảm thuế quan trị giá 300 tỷ USD, đạt mức thuế quan từ 0,7% đến 0,4% đối với các hàng chế tạo của 9 thị trường công nghiệp lớn nhất thế giới
Năm 1982, hội nghị bộ trưởng GATT tại Geneve khẳng định lại các nguyên tắc GATT và đưa ra một chương trình làm
cơ sở để GATT tổ chức vòng thương mại mới
Năm 1986, Các bộ trưởng GATT bắt đầu GATT-8 tại Punta del este (Uruquay) Vòng đàm phán gồm 123 nước tham gia và kéo dài đến năm 1993 Vòng đàm phán này làm trị giá
Trang 5thương mại tăng lên đến gần 4.000 tỉ USD, thuế quan nhập khẩu bình quân chỉ còn 3.9%.
Ngày 15/4/1994 tại Marrakesh (Maroc), thành lập tổ chức thương mại thế giới Như vậy WTO đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995 là một tổ chức hoạt động độc lập với hệ thống Liên Hiệp Quốc
Vòng đàm phán Doha (11/2001 – 7/2004) là vòng đàm phán thứ 9 được phát động tại hội nghị Bộ trưởng WTO tại Doha của quarta, gồm nội dung chính là: Đàm phán về nông nghiệp và dịch vụ Vòng đàm phán này thực chất là đòi giảm trợ cấp đối với nông sản ở các nước công nghiệp phát triển như
mỹ, EU, nhật…, giúp các nước nghèo có điều kiện cạnh tranh nông sản bình đẳng với các nước giàu có Vấn đề tiếp cận thị trường hàng công nghiệp ở các nước đang phát triển (NAMA) Hiện tại, thuế nhập khẩu o 73 các nước công nghiệp phát triển
là dưới 5%, ở các nước đang phát triển là dưới 15% Các nước công nghiệp phát triển muốn các nước đang phát triển giảm thuế nhập khẩu hơn nữa Giải quyết các vấn đề tồn đọng về thuận lợi hóa thương mại và minh bạch hóa sự mua sắm của chính phủ
Ngoài ra, vòng đàm phán Doha còn giải quyết các vấn đề như: quyền của các nước nghèo được nhập khẩu với giá rẻ hoặc
Trang 6được cấp bằng sáng chế sản xuất những loại dược phẩm chữa trị được bệnh AIDS, sốt rét…
Đến tháng 7/2007 vòng đàm phán vẫn chưa kết thúc vì các vấn đề mở cửa thị trường nông sản, vấn đề tiếp cận các loại thuốc rẻ của cac 1nước nghèo chưa được giải quyết
• Bộ máy cơ cấu tổ chức của WTO
1.2.1 Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội đồng WTO, Cơ quan giải quyết tranh chấp và Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại
1.2.1.1 Hội nghị Bộ trưởng WTO
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ít nhất hai năm một lần Hội nghị có sự tham gia của tất cả các thành viên WTO Các thành viên này có thể là một nước hoặc một liên minh thuế quan (chẳng hạn như Cộng đồng châu Âu) Hội nghị Bộ trưởng có thể ra quyết định đối với bất kỳ vấn đề trong các thỏa ước thương mại đa phương của WTO
1.2.1.2 Đại hội đồng WTO
Công việc hàng ngày của WTO được đảm nhiệm bởi 3 cơ quan: Đại Hội đồng, Hội đồng Giải quyết Tranh chấp và Hội đồng
Rà soát Chính sách Thương mại Tuy tên gọi khác nhau, nhưng
Trang 7thực tế thành phần của 3 cơ quan đều giống nhau, đều bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên Điểm khác nhau giữa chúng là chúng được nhóm họp để thực hiện các chức năng khác nhau của WTO.
1.2.1.2.1 Đại Hội đồng
Là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO tại Geneva, được nhóm họp thường xuyên Đại Hội đồng bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên và có thẩm quyền quyết định nhân danh hội nghị bộ trưởng (vốn chỉ nhóm họp hai năm một lần) đối với tất cả các công việc của WTO
1.2.1.2.2 Hội đồng Giải quyết Tranh chấp
Được nhóm họp để xem xét và phê chuẩn các phán quyết về giải quyết tranh chấp do Ban Hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm đệ trình Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên (cấp đại sứ hoặc tương đương)
1.2.1.2.3 Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại
Được nhóm họp để thực hiện việc rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên theo cơ chế rà soát chính sách thương mại Đối với những thành viên có tiềm lực kinh tế lớn, việc rà soát diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần Đối với những
Trang 8thành viên khác, việc rà soát có thể được tiến hành cách quãng hơn.
1.2.1.3 Các Hội đồng Thương mại
WTO có 3 hội đồng (Council) được thành lập để giám sát việc thực thi 3 hiệp định thương mại đa phương là: Hội đồng GATT, Hội đồng GATS và Hội đồng TRIPS Tất cả các nước thành viên đều có quyền tham gia vào hoạt động của 3 hội đồng này Ba hội đồng nói trên báo cáo trực tiếp các công việc của mình
lên Đại hội đồng WTO Hội đồng Thương mại Hàng hóa: chịu
trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), tức là các hoạt động
liên quan đến thương mại quốc tế về hàng hóa Hội đồng Thương
mại Dịch vụ chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi
của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), tức là các
hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về dịch vụ Hội đồng Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại: chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm
vi của Hiệp định về Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại (TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ
Ngoài ra còn có các cơ quan được các Hội đồng của WTO thành lập với tư cách là cơ cấu trực thuộc (subsidiary bodies) để
Trang 9giúp các hội đồng này trong việc thực hiện các chức năng kỹ thuật, ví dụ như “Uỷ ban về thâm nhập thị trường”, “Uỷ ban về trợ giá nông nghiệp” và các "Nhóm công tác" (Working group) được thành lập trên cơ sở tạm thời để giải quyết những vấn đề cụ thể, ví
dụ như các “Nhóm công tác về việc gia nhập WTO” của một số nước
1.2.2 Tổng giám đốc và Ban thư ký WTO
Khác với GATT 1974, WTO có một ban thư ký rất quy mô, bao gồm khoảng 635 viên chức và nhân viên thuộc biên chế chính thức của WTO Đứng đầu ban thư ký WTO là Tổng giám đốc WTO Tổng giám đốc WTO do Hội nghị Bộ trưởng bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm Ngoài vai trò điều hành, Tổng giám đốc của WTO còn có một vai trò chính trị rất quan trọng trong hệ thống thương mại đa phương Chính vì vậy mà việc lựa chọn các ứng cử viên vào chức vụ này luôn là một cuộc chạy đua ác liệt giữa các nhân vật chính trị quan trọng, cấp Bộ trưởng, Phó Thủ tướng hoặc Tổng thống (Trong số các ứng cử viên vào chức vụ Tổng giám đốc đầu tiên của WTO có ông Salinas, cựu Tổng thống Mêhicô).Quyền hạn và trách nhiệm của Tổng giám đốc do Hội nghị Bộ trưởng quyết định Biên chế Ban thư ký WTO do Tổng giám đốc
Trang 10quyết định Tổng giám đốc và thành viên Ban thư ký WTO có quy chế tương tự như của viên chức các tổ chức quốc tế, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo các quyết định và tôn chỉ của WTO Họ được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ tương tự như viên chức của các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc Cũng như những người tiền nhiệm trước kia trong GATT, Tổng giám đốc WTO có vai trò hết sức quan trọng, dẫn dắt các vòng đàm phán thương mại
đa biên và giải quyết tranh chấp ( Ông Rugiero, Tổng giám đốc sắp mãn nhiệm của WTO đã đóng vai trò trung gian hoà giải rất tích cực và có hiệu quả trong vụ tranh chấp giữa Mỹ và EU liên quan đến việc áp dụng các đạo luật Helms-Burton và D’Amaton-Kennedy năm 1997) Vị trí đặc biệt của Tổng giám đốc WTO thể hiện một trong những nét đặc trưng trong ngoại giao đa phương ngày nay khi trên thực tế các quan chức lãnh đạo cao cấp của các
tổ chức quốc tế ngày càng đóng vai trò "điều hành" (managing) nhiều hơn là "chấp hành" (executive)
1.3 Nguyên tắc hoạt động của WTO
1.3.1 Nguyên tắc không phân biệt đối xử
Được thể qua 2 quy chế:
1.3.1.1 Quy chế đãi ngộ tối huệ quốc: Most Favoured Nation(MFN)
Trang 11Là quy chế mỗi nước thuộc WTO phải dành cho sản phẩm
dịch vụ nhập khẩu từ một quốc gia khác đối xử không kém ưu đãi hơn so với sản phẩm dịch vụ nhập khẩu từ một quốc gia thứ ba Mỗi thành viên phải đối xử với các thành viên khác bình đẳng Nguyên tắc này rất quan trọng vì vậy nó được ghi nhận tại điều đầu tiên của GATT
1.3.1.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia: National Treatment(NT)
Hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu phải được đối xử như hàng
sản xuất trong nước Theo nguyên tắc này, bất kì một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới, trả xong thuế hải quan và
các phí khác tại cửa khẩu, bắt đầu đi vào thị trường nội địa sẽ được
hưởng sự đối xử ngang bằng và phải được cung cấp các điều kiện tương tự như với sản phẩm trong nước Vì thế các nước thành viên không được áp dụng thuế nội địa để bảo vệ sản xuất trong nước và không được phân biệt đối xử với hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia thành viên khác
Đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước được điều tiết bởi quy luật giống nhau, môi tường đầu tư như nhau, điều kiện cạnh tranh như nhau
Cá nhân và các nhà đầu tư nước ngoài phải được bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ tương tự như cá nhân và nhà đầu tư trong nước
Trang 121.3.2 Nguyên tắc điều kiện hoạt động thương mại ngày càng thuận lợi, tự do hơn thông qua đàm phán
Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi nước phải xây dựng lộ trình cắt giảm thuế và các biện pháp phi thuế quan theo thỏa thuận đã thông qua ở các vòng đàm phán đa phương và song phương để tạo thuận lợi cho quá trình tự do hóa thương mại Tuy nhiên trong quá trình đàm phán mở cửa thị trường, do trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước khác nhau, sức chịu đựng của mỗi nền kinh tế trước sức ép của nước ngoài tràn vào khi mở cửa thị trường không chỉ có thuận lợi mà cũng đưa ra những khó khăn, đòi hỏi phải điều chỉnh từng bước nền sản xuất trong nước Vì vậy, các hiệp định của WTO đã được thông qua với quy định cho phép các nước từng bước thay đổi chính sách thông qua lộ trình tự do hóa từng bước
1.3.3 Nguyên tắc xây dựng môi trường kinh doanh dễ dự đoán
Đây là nguyên tắc quan trọng của WTO Các nước thành
viên có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định và có thể dự đoán trước được về các cơ chế chính sách,quy định thương mại của mình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư kinh doanh nước
ngoài có thể hiểu, nắm bắt được lộ trình thay đổi chính sách nội
dung các cam kết về thuế, phi thuế của nước chủ nhà dể từ đó
Trang 13doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạch định kế hoạch kinh doanh, đầu
tư của mình Nội dung của nguyên tắc này bao gồm:
Về các thỏa thuận cắt giảm thuế quan: Bản chất của thương mại trong WTO là các thành viên ưu đãi, nhân nhượng thuế quan cho nhau Song để các mức thuế quan đã đàm phán phải được cam kết và không thay đổi theo hướng không tăng thuế suất, sau khi đàm phán, mức thuế suất đã thỏa thuận sẽ được ghi vào một bản danh mục thuế Được gọi là các mức thuế suất ràng buộc Một nước chỉ có thể mức thuế đã cam kết ràng buộc chỉ khi đã đàm phán với đối tác của mình và phải đền bù thiệt hại do sự tăngbópthuế đó gây ra
Về các biện pháp phi thuế quan: Biện pháp phi thuế quan là biện sử dụng hạn ngạch hoặc hạn chế dịnh lượng khác như quản lí hạn ngạch Các biện pháp này dễ làm nảy sinh tệ nhũng nhiễu, lạm dụng quyền hạn, bóp méo thương mại, làm thương mại thiếu lành mạnh, minh bạch Do đó, WTO chủ trương các biện pháp này phải được loại bỏ hoặc chấm dứt Bên cạnh đó, WTO có cơ chế giám sát chính sách thương mại của các nước thành viên thông qua Cơ chế rà soát chính sách thương mại
1.3.4 Nguyên tắc tạo ra môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh bình đẳng
Trang 14Nguyên tắc này được đưa ra để hạn chế tác động tiêu cực của
cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp, tài trợ xuất khẩu… hoặc các biện pháp bảo hộ khác WTO cũng cho phép các nước áp dụng các biện pháp trả đũa, tự vệ như áp dụng thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá… khi các nước thông qua hoạt động xuất khẩu có hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây thiệt hại đến nền kinh tế của mình
1.3.5 Nguyên tắc dành một số ưu đãi về thương mại cho các nước đang phát triển thông qua các biện pháp
Giành ưu đãi về thuế nhập khẩu khi thâm nhập vào thị trường các nước công nghiệp phát triển Không phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của WTO như các nước công nghiệp phát triển Thời gian điều chỉnh chính sách kinh tế và thương mại phù hợp với quy dịnh của WTO dài hơn
Chương 2: NỘI DUNG CHÍNH CÁC HIỆP ĐỊNH CỦA WTO
2.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT)
Các nguyên tắc và nội dung cơ bản của GATT: GATT gồm 4 phần và 38 điều, nội dung có thể tóm gọn trong các nguyên tắc sau đây:
Trang 15Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại, hay là đối xử tối huệ quốc (Most Favored Nation): Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, quy định các nước thành viên dành cho nhau ưu đãi tối huệ quốc về thuế xuất nhập khẩu và đối xử bình đẳng trong thương mại Nguyên tắc này có hai ngoại lệ là: Các nước tham gia các khối mậu dịch tự do hay liên minh thuế quan khu vực như EU, NAFTA, AFTA… có quyền áp dụng với nhau một biểu thuế, một hàng rào phi quan thuế riêng Và các nước đang phát triển được ưu đãi riêng, được các nước phát triển dành cho Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) với thuế suất thấp hơn thuế suất tối huệ quốc
Nguyên tắc có đi có lại: Một nước quyết định mở cửa thị trường của mình (hạ thuế nhập khẩu, bỏ bớt các quy định đối với hàng nhập) có quyền đòi hỏi các thành viên khác có những nhượng
bộ tương tự
Nguyên tắc công khai và cạnh tranh lành mạnh: Yêu cầu các nước thành viên không được tăng và từng bước giảm hàng rào phi thuế quan, thừa nhận quyền đánh thuế chống phá giá và chống trợ cấp xuất khẩu
Nguyên tắc khước từ một số nghĩa vụ của GATT: Cho phép mỗi thành viên có quyền áp dụng biện pháp cấp thiết (như hạn chế
nhập khẩu hoặc đình chỉ những nhượng bộ về quan thuế) để bảo vệ ngành công nghiệp trong nước đang bị thương tổn, hoặc do khó
Trang 16khăn về cán cân thanh toán
Nguyên tắc ưu tiên cho hàng hoá của các nước đang phát triển: Ngoài hệ thống GSP, còn có các ưu đãi về tiếp cận thị
trường, hoặc ít bị ràng buộc bởi nguyên tắc có đi có lại
2.2 Hiệp định chungvề thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services _GATS)
2.2.1 Giới thiệu
Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS) là tập hợp đầu tiên và duy nhất những quy định đa biên điều chỉnh thương mại dịch vụ thế giới Hiệp định được kí kết sau khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1.1.1995 GATS bao gồm 3 phần: văn bản chính của hiệp định nêu
ra những nghĩa vụ và quy định chung, phần phụ lục bao gồm các quy định được áp dụng cho các lĩnh vực khác nhau và các cam kết
cụ thể của các nước nhằm bảo đảm mở cửa thị trường nội địa, kể
cả những chỉ dẫn đối với trường hợp các nước tạm thời từ bỏ nguyên tắc không phân biệt đối xử
Mục đích của việc thiết lập hiệp định là nhằm mở rộng phạm
vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không chỉ điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước
Trang 172.2.2 Các nghĩa vụ và quy định chung
Hiệp định GATS được áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ được trao đổi trên thế giới như các dịch vụ ngân hàng, viễn thông,
du lịch, các dịch vụ chuyên nghiệp Hiệp định đưa ra bốn phương thức trao đổi dịch vụ là cung cấp qua biên giới (việc cung cấp dịch
vụ được tiến hành từ lãnh thổ quốc gia này sang lãnh thổ quốc gia khác); tiêu dùng ngoài lãnh thổ (người tiêu dùng hay doanh nghiệp
sử dụng dịch vụ tại một nước khác); hiện diện thương mại (doanh nghiệp nước ngoài lập chi nhánh hay công ty con ở một nước) và hiện diện thể nhân (các cá nhân rời khỏi một nước để sang cung ứng dịch vụ ở một nước khác)
Đối xử tối huệ quốc (MFN) trong khuôn khổ GATS: nếu một nước mở cửa một lĩnh vực cho cạnh tranh nước ngoài thì nước
đó sẽ phải dành cơ hội đồng đều cho các nhà cung ứng dịch vụ của các nước thành viên WTO GATS cho phép các nước tự dành quyền tiếp tục đối xử ưu đãi hơn đối với một số nước nào đó trong một lĩnh vực dịch vụ nhất định bằng cách liệt kê các “ngoại lệ đối với nghĩa vụ MFN” đồng thời với các cam kết ban đầu của mình
Để bảo vệ MFN, các nước đã quyết định ngoại lệ chỉ được chấp nhận một lần duy nhất và không có bổ sung thêm
Các cam kết mở cửa thị trường và đãi ngộ quốc gia: Cam kết của các nước về mở cửa thị trường nội địa và mức độ mở cửa trong
Trang 18các lĩnh vực cụ thể thông qua các cuộc đàm phán Các cam kết này được liệt kê lại trong các “danh mục” các ngành sẽ được mở cửa, mức độ mở cửa đối với mỗi ngành (những hạn chế đối với sự tham gia của đối tác nước ngoài được nêu rõ nếu cần) và các hạn chế có thể có đối với nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (tức khi một số ưu đãi được dành cho các công ty trong nước nhưng không dành cho các công ty nước ngoài) GATS cũng không cấm độc quyền của nhà nước và độc quyền của tư nhân Theo cách tiếp cận của GATS đối với các cam kết, các nước thành viên không bị buộc phải đưa ra cam kết về tất cả các ngành dịch vụ Một chính phủ có thể không muốn cam kết về mức độ cạnh tranh nước ngoài trong một ngành nhất định, bởi họ cho rằng đó là một chức năng cơ bản của chính phủ hoặc vì bất cứ lý do gì khác Trong trường hợp này, các chính phủ chỉ tuân thủ những nghĩa vụ tối thiểu như đảm bảo sự minh bạch trong cách thức điều tiết ngành dịch vụ này và không được phân biệt đối xử giữa các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài với nhau.
Tính minh bạch: Theo GATS, các chính phủ phải công bố tất cả các luật, quy định xác đáng và thiết lập các điểm thông tin trong các cơ quan hành chính của mình Từ các điểm thông tin này, các công ty và chính phủ nước ngoài có thể lấy thông tin liên quan đến các qui định điều chỉnh ngành dịch vụ này hay ngành dịch vụ khác Các nước thành viên cũng phải thông báo cho WTO tất cả
Trang 19những thay đổi về qui định điều chỉnh các ngành dịch vụ là đối tượng của các cam kết cụ thể.
Khách quan và hợp lý: Hiệp định quy định chính phủ các nước phải điều tiết các ngành dịch vụ một cách hợp lý, khách quan
và công bằng Khi đưa ra một quyết định hành chính tác động đến dịch vụ thì chính phủ cũng phải lập cơ chế công minh cho phép xem xét lại quyết định này GATS không buộc các nước phải dỡ
bỏ mọi quy định trong bất cứ ngành dịch vụ nào Các cam kết tự
do hoá không làm phương hại đến quyền của các nước được ấn định những chuẩn mực về chất lượng, độ an toàn hay giá cả cũng như quyền được đưa ra các qui định nhằm theo đuổi bất cứ mục tiêu chung nào mà họ cho là phù hợp
Thanh toán và chuyển tiền quốc tế: Một khi đã cam kết mở cửa một ngành dịch vụ cho cạnh tranh nước ngoài thì về nguyên tắc chính phủ không được hạn chế việc chuyển tiền ra nước ngoài dưới danh nghĩa chi trả cho các dịch vụ đã tiêu dùng (“giao dịch vãng lai”) trong ngành này Chỉ có một trường hợp ngoại lệ duy nhất được quy định trong GATS đó là một nước có thể áp dụng các hạn chế khi gặp khó khăn về cán cân thanh toán, nhưng ngay cả trong trường hợp này thì các hạn chế chỉ có thể được áp dụng tạm thời và phải tuân thủ những hạn chế và điều kiện khác
Trang 202.3 Hiệp định liên quan đến thương mại về sở hữu trí tuệ ( Trade Related Intellectual Property Rights-TRIPs)
2.3.1 Giới thiệu
Hiệp định TRIPS đòi hỏi mọi quốc gia thành viên của WTO phải xây dựng hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ theo các tiêu chuẩn tối thiểu thống nhất Một cách tổng quát, các tiêu chuẩn tối thiểu
ấn định trong Hiệp định TRIPS nhằm bảo đảm cho mỗi quốc gia thành viên có một hệ thống sở hữu trí tuệ đầy đủ và có hiệu quả Các lĩnh vực của sở hữu trí tuệ được điều chỉnh là: quyền tác giả và quyền liên quan; nhãn hiệu hàng hoá, bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ; chỉ dẫn địa lý, bao gồm cả tên gọi xuất xứ; kiểu dáng công nghiệp; patent, bao gồm cả bảo hộ giống cây trồng mới; thiết kế bố trí mạch tích hợp; và thông tin không được tiết lộ, bao gồm cả bí mật thương mại và dữ liệu thử nghiệm
Trang 21chỉnh của Hiệp định Các nghĩa vụ này không chỉ áp dụng đối với các tiêu chuẩn về nội dung của việc bảo hộ mà còn áp dụng cả đối với những vấn đề liên quan đến khả năng đạt được, xác lập, phạm
vi, việc duy trì và thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng như những vấn đề ảnh hưởng đến việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ được điều chỉnh cụ thể trong Hiệp định
Nguyên tắc MFN: một nước thành viên của WTO giành những ưu đãi, ưu tiên hoặc miễn trừ áp dụng quyền sở hữu trí tuệ
có liên quan đến thương mại cho công dân của một quốc gia thì cũng phải giành những điều kiện tương tự cho công dân của tất cả các nước thành viên khác thuộc WTO
Nguyên tắc NT: Mỗi nước thành viên cho các công dân của nước khác những đối xử không kém thuận lợi hơn về bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại so với công dân nước mình
Các trường hợp ngoại lệ không phải áp dụng các nguyên tắc trên là đươc quy định cụ thể trong: Công ước Pari về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Công ước Berne vê bảo hộ các tác phẩm văn học
và nghệ thuật, công ước Roma về bảo hộ người biểu diễn, người sản xuất bản ghi âm va các tổ chức phát thanh truyền hình, hiệp ước Washington về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp Thời hạn cần thiết để chuyển đổi luật quốc gia phù hợp với TRIPs là:
Trang 22Một năm sau khi TRIPs có hiệu lực đối với nước công nghiệp phát triển
Các nước đang phát triển là 5 năm (sau 1995)
Các nước kém phát triển là 11 năm (sau 1995)
2.3.3 Việt Nam và TRIPs
Sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 1995, bao gồm 61 điều luật
về sở hữu trí tuệ (thuộc Phần thứ sáu - Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ) với nội dung thừa nhận quyền dân sự (quyền tài sản và quyền nhân thân) đối với các thành quả sáng tạo trí tuệ được coi là bước khởi đầu có ý nghĩa quan trọng, đặt nền móng cho việc xây dựng một hệ thống pháp luật toàn diện về sở hữu trí tuệ của Việt Nam Những năm sau đó, hàng loạt Nghị định của Chính phủ đã lần lượt được ban hành trực tiếp điều chỉnh hoặc liên quan tới bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ nhằm thi hành các quy định về sở hữu trí tuệ trong Bộ luật Dân sự, và những văn bản đó lại được cụ thể hoá hoặc hướng dẫn thi hành bởi các Thông
tư của các Bộ, ngành và các văn bản của cơ quan cấp dưới Bộ Hệ thống các văn bản hướng dẫn, giải thích như trên không chỉ cụ thể hoá, mà còn bổ sung những quy định còn thiếu hoặc sửa chữa những quy định không phù hợp của các văn bản cấp trên Các nguồn luật khác (Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, ) đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung cho các văn bản pháp luật riêng về sở
Trang 23hữu trí tuệ Nhờ cấu trúc kiểu “bọc lót” như vậy, hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam (xem phần Phụ lục)
đã bao gồm các quy phạm pháp luật căn bản đạt được tiêu chuẩn
về “tính đầy đủ" như quy định của các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành về sở hữu trí tuệ của Việt Nam còn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về “tính hiệu quả” Các quy định về trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp chế tài dân sự, hành chính, hình sự còn chưa đầy đủ và chưa thực sự rõ ràng, minh bạch Quy định về thẩm quyền và trách nhiệm cũng như cơ chế hoạt động của hệ thống các cơ quan thực thi hành chính chưa hợp lý Do đó quan hệ về sở hữu trí tuệ mang bản chất dân sự chưa được chú trọng xử lý bằng trình tự dân sự mà, ngược lại, bị hành chính hoá và hình sự hoá một cách bất hợp lý Một số quy định trong hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam còn chưa đáp ứng được những đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là chưa thật
sự rõ ràng, chi tiết nên khó áp dụng trong thực tiễn
Trang 242.4 Hiệp định các biện pháp thương mại có liên quan đến đầu tư (Agreement on trades Related Invesment Measures- TRIMs)
2.4.1 Giới thiệu
TRIMS có hiệu lực từ ngày 1.1.1995.Đây là một hiệp định
mà các nước thành phải kí kết thực hiện với mục đích tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư quốc tế và chỉ áp dụng các biện pháp có liên quan đến thương mại hàng hóa Mục tiêu chính của hiệp định là nhằm thúc đẩy việc mở rộng, phát triển tự do hoá đầu tư và thương mại quốc tế để tăng trưởng và phát triển kinh tế của tất cả các nước tham gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, trên cơ sở đảm bảo
tự do cạnh tranh Ngoài ra, hiệp định cũng có tính đến các nhu cầu
cụ thể về thương mại, phát triển và khả năng tài chính của các nước thành viên đang phát triển, nhất là các nước thành viên kém phát triển
2.4.2 Nội dung cơ bản của TRIMS
TRIMS cấm áp dụng một số biện pháp bị coi là vi phạm nguyên tắc “đãi ngộ quốc gia” và các biện pháp có tác dụng hạn chế thương mại bao gồm các biện pháp:
Yêu cầu tỷ lệ nội địa hoá (vi phạm điều III.4, GATT 1994): Doanh nghiệp nước ngoài mua hoặc sử dụng các sản phẩm có xuất
xứ trong nước hoặc từ một nguồn cung cấp trong nước, dù yêu cầu
Trang 25đó được xác định theo sản phẩm nhất định, theo số lượng hoặc giá trị sản phẩm hay theo một tỷ lệ trên khối lượng hoặc giá trị sản lượng sản xuất của doanh nghiệp.
Yêu cầu cân bằng thương mại (vi phạm điều III.4 và XI.1, GATT 1994): Doanh nghiệp nước ngoài chỉ được mua hoặc sử dụng các sản phẩm nhập khẩu được giới hạn trong một tổng số tính theo khối lượng hoặc giá trị sản phẩm nội địa mà doanh nghiệp này xuất khẩu
Hạn chế về giao dịch ngoại hối (vi phạm điều XI.1, GATT 1994): Hạn chế doanh nghiệp nước ngoài nhập khẩu sản phẩm để
sử dụng trong hoặc có liên quan đến sản xuất của mình bằng việc hạn chế khả năng tiếp cận và sử dụng ngoại hối đến một mức nhất định so với các nguồn thu ngoại hối của doanh nghiệp này
Hạn chế về xuất khẩu (vi phạm điều XI.1, GATT 1994): Hạn chế doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu hoặc bán để xuất khẩu các sản phẩm dưới hình thức sản phẩm cụ thề, hay số lượng hoặc giá trị sản phẩm hay theo một tỷ lệ về số lượng họăc giá trị sản lượng sản xuất trong nước của doanh nghiệp
Nhằm bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp đã thành lập đang chịu tác động của một số biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, Hiệp định TRIMs có một điều khoản quy định cho phép nước thành viên trong giai đoạn chuyển đổi được áp dụng những biện
Trang 26pháp đó đối với các doanh nghiệp mới thành lập nếu sản phẩm của những doanh nghiệp này là tương tự với những sản phẩm của các doanh nghiệp đã thành lập, và việc áp dụng những biện pháp đó là cần thiết để tránh làm méo mó điều kiện cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đã thành lập và các doanh nghiệp mới thành lập Những biện pháp áp dụng đối với cả 2 loại doanh nghiệp này sẽ được loại
bỏ đồng thời
Các nước thành viên phải thông báo cho WTO tất cả các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại không phù hợp với Hiệp định TRIMs, cũng như các tài liệu, thông tin liên quan, kể cả các biện pháp được áp dụng ở cấp chính quyền địa phương
Nước thành viên có trách nhiệm cung cấp thông tin và tạo điều kiện để tiến hành tham vấn nếu có nước thành viên khác yêu cầu Một Ủy ban về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
đã được thành lập nhằm giám sát việc thực hiện Hiệp định TRIMs
Thời hạn thực hiện TRIMs là 2 năm sau khi TRIMs có hiệu lực đối với nước công nghiệp phát triển, các nước đang phát triển
là 5 năm (kể từ 1995) và 7 năm đối với nước chậm phát triển (kể từ 1995)
2.4.3 Tình hình thực hiện TRIMS tại Việt Nam
Trang 27Việt Nam đã có một quá trình áp dụng TRIMs với các mục tiêu cơ bản là vừa thu hút được đầu tư trực tiếp nước ngoài, vừa đẩy mạnh phát triển sản xuất trong nước Các biện pháp Việt Nam
đã sử dụng trong thời gian qua là yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá, yêu cầu cân đối ngoại tệ, yêu cầu phải gắn với phát triển nguồn nguyên liệu trong nước và yêu cầu tỷ lệ xuất khẩu bắt buộc Trong đó, biện pháp được tập trung áp dụng nhiều nhất là yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá trong các ngành sản xuất, lắp ráp ôtô và phụ tùng ôtô; sản xuất, lắp ráp xe máy và phụ tùng xe máy; sản xuất, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh và phụ tùng thuộc ngành điện tử, cơ khí-điện
Đối với ngành sản xuất, lắp ráp ôtô và phụ tùng ôtô
Thời gian qua, chiến lược và chính sách phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đã kêu gọi đầu tư và dành nhiều ưu đãi cho ngành này Tuy nhiên, đến nay Việt Nam vẫn chưa thể thực sự nội địa hoá ôtô Nguyên nhân cơ bản là do các ngành công nghiệp phụ trợ cho các ngành công nghiệp nói chung và cho ôtô nói riêng ở Việt Nam còn manh mún, thô sơ, thiếu tính kỹ thuật chuyên sâu, thực tế những năm qua cho thấy tỷ lệ nội địa hoá chỉ đạt được từ 2-10% và chỉ tậph trung chủ yếu vào các công đoạn sản xuất đơn giản như hàn lắp khung, thân xe, sơn, tẩy rửa, lắp ráp thiết bị kiểm tra kèm theo
Trang 28Đối với ngành sản xuất, lắp ráp xe máy và phụ tùng xe máy Chương trình nội địa hoá ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp
xe máy tại Việt Nam thời gian qua là một ví dụ điển hình về sự thành công và phát triển ban đầu Tỷ lệ nội địa hoá được quy định ngày trong Giấy phép đầu tư của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
đã đáp ứng được tiến độ và tỷ lệ nội địa hoá như quy định Một số Công ty đạt tỷ lệ nội địa hoá cao như Honda Việt Nam (64-66%), VMEP (43-77%)… và một số Công ty có tỷ lệ được coi là thấp như Công ty Vina – Siam 40,8%, Lifan 41,2% Song, phần lớn sản phẩm nội địa được sử dụng là những chi tiết, linh kiện sản xuất với kỹ thuật công nghệ đơn giản, rất ít bộ phận chính, quan trọng, đòi hỏi kỹ thuật cao thuộc cụm động cơ
TRIMs tại Việt Nam đã đạt được một số kết quả như tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài; bảo hộ được các ngành công nghiệp trong nước, tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế; khuyến khích đầu tư nước ngoài vào những ngành công nghiệp then chốt; phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý; tiếp cận và nhận chuyển giao công nghệ, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý của các đối tác nước ngoài…
Trang 292.5 Hiệp định về nông nghiệp ( Agreement on Agriculture-AoA)
2.5.1 Giới thiệu
AoA được ký kết tại vòng đàm phán Uuguay và có hiệu lực kể từ ngày 1.1.1995 cũng là ngày mà WTO chính thức đi vào hoạt động Mục tiêu của Hiệp định về Nông nghiệp là tiến hành cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng các chính sách nông nghiệp có định hướng thị trường hơn nữa Hiệp định cũng nhằm nâng cao khả năng dự đoán trước các thay đổi và đảm bảo an ninh lương thực cho các nước xuất khẩu cũng như nhập khẩu
2.5.2 Nội dung
Sản phẩm nông sản được xác định trong Hiệp định Nông nghiệp bao gồm các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như: Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, bột
mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi,vv… Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, dầu ăn, thịt… Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, rượu, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô
Để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu trên, Hiệp định có đề cập đến 2 công cụ chủ yếu nhằm cho phép các quốc gia hạn chế
Trang 30thỏa thuận mở cửa thị trường và cắt giảm các hình thức trợ cấp cho hàng Nông sản mà các nước là thành viên WTO đã ký Ngoài ra, khi nhắc đến mở cửa thị trường nông sản tức là việc giảm bớt các
“rào cản” về vật chất và thủ tục để hàng hóa nước ngoài có thể tiếp cận thị trường nước nhập khẩu một cách thuận lợi Theo Hiệp định Nông nghiệp, việc mở cửa thị trường nông sản đồng nghĩa với việc: Giảm thuế nhập khẩu (và không được tăng trở lại), giảm và loại bỏ các rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu (như hạn ngạch, quy định giá nhập khẩu tối thiểu, các loại thuế-phí liên quan đến việc nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, các biện pháp mang tính hạn chế khác,…)
Các quy định và cam kết trong Hiệp định Nông nghiệp được xây dựng xoay quanh ba nhóm vấn đề chính được gọi là ba trụ cột
Đó là: (1) Tiếp cận thị trường: giảm bớt các rào cản thương mại đối với hàng nông sản nhập khẩu (2) Trợ cấp nội địa: đưa ra các quy định và cam kết quản lý trợ cấp cho sản xuất trong nước cũng như các chương trình tương tự khác, bao gồm cả các chương trình kích thích tăng giá nông sản do các trang trại bán ra hoặc các chương trình đảm bảo thu nhập cho người nông dân (3) Trợ cấp xuất khẩu: đưa ra các quy định và cam kết quản lý trợ cấp đối với hàng nông sản xuất khẩu hay những biện pháp tương tự khác khiến cho hàng nông sản xuất khẩu có tính cạnh tranh giả tạo trên thị trường quốc tế
Trang 31Hiệp định cho phép các chính phủ khuyến khích khu vực kinh tế nông thôn, nhưng nên thông qua các chính sách ít làm biến dạng thương mại Hiệp định còn cho phép có sự linh động trong việc thực thi các cam kết của Hiệp định Các nước đang phát triển không cần phải giảm bớt trợ cấp hay cắt giảm thuế quan nhiều như các nước phát triển Họ cũng có thời gian chuyển tiếp dài hơn để thực hiện các cam kết của mình Các nước kém phát triển hoàn toàn không phải thực hiện những cam kết giống như của các nước phát triển và đang phát triển Hiệp định cũng có những điều khoản đặc biệt giải quyết mối quan tâm của các nước phải nhập khẩu lương thực và các nước kém phát triển.
Trang 32định, nó đã hết hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2005, và thương mại hàng dệt may đã quay về áp dụng theo các quy định chung của GATT 1994 Điều đó có nghĩa là chấm dứt chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may và các nước nhập khẩu không còn có thể có các biện pháp phân biệt đối xử đối với hàng dệt may của các nước xuất khẩu khác nhau.
Về nguyên tắc, Hiệp định về Hàng Dệt may cho phép các nước thành viên áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt may Tuy nhiên, trong khoảng thời gian 10 năm (từ 1995 đến 2004), các thành viên phải dần dần dỡ bỏ rào cản này Việc dỡ bỏ được thực hiện theo 4 bước, cho phép cả nước xuất khẩu lẫn nước nhập khẩu điều chỉnh theo tình hình mới Hạn ngạch ban đầu của một nước thành viên được áp dụng theo hạn ngạch mà nước đó đặt ra tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 1994
Hiệp định quy định tỷ lệ hàng dệt may phải đưa vào áp dụng quy định chung của GATT 1994 tại mỗi bước nêu trên Nếu trong
số đó có các mặt hàng dệt may đang áp dụng hạn ngạch thì hạn ngạch phải bị dỡ bỏ Những tỷ lệ này được quy định dựa theo mức trao đổi thương mại hàng dệt may của nước nhập khẩu vào năm
1990 Hiệp định cũng quy định rằng khối lượng nhập khẩu cho phép theo hạn ngạch phải được tăng lên mỗi năm theo một tỷ lệ nhất định, và qua mỗi bước, tỷ lệ này cũng phải tăng lên Tỷ lệ
Trang 33tăng lên đó được xác định dựa trên một công thức tính với giá trị là tốc độ tăng nhập khẩu qua các năm áp dụng Thỏa thuận Đa sợi.
2.6.2 Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng
Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng ra đời dựa trên Hiệp định về Giải thích và Áp dụng Điều khoản VI, XVI và XXIII đã được thảo luận trước đó tại Vòng đàm phán Tokyo
Hiệp định này quy định định nghĩa về trợ cấp và đưa ra khái niệm về trợ cấp “riêng biệt” - trong hầu hết các trường hợp, là trợ cấp áp dụng riêng đối với một doanh nghiệp, một ngành, một nhóm doanh nghiệp hoặc nhóm ngành trong phạm vi quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền cấp trợ cấp Hiệp định đưa ra các nguyên tắc xác định trợ cấp riêng biệt
Hiệp định này quy định 3 loại trợ cấp Thứ nhất là trợ cấp bị cấm gồm những khoản trợ cấp sau: khối lượng trợ cấp, theo luật hoặc trong thực tế, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, căn cứ vào kết quả xuất khẩu; khối lượng trợ cấp, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàng ngoại Trợ cấp bị cấm là đối tượng của những vụ kiện giải quyết tranh chấp Điểm nổi bật là lịch trình giải quyết của Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) nhanh gọn, và nếu cơ quan này nhận thấy rằng khoản trợ cấp này là trợ cấp bị cấm, ngay lập tức phải thu hồi lệnh trợ cấp
Trang 34Nếu phán quyết không được thực hiện trong thời gian quy định, thành viên khiếu nại được quyền áp dụng các biện pháp trả đũa Thứ hai là Trợ cấp có thể đối kháng Hiệp định quy định rằng không một Thành viên nào thông qua việc sử dụng trợ cấp gây ra tác động có hại đến quyền lợi của Thành viên khác, như gây tổn hại cho một ngành sản xuất nội địa của một Thành viên khác, làm vô hiệu hay gây phương hại đến những quyền lợi mà Thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếp được hưởng từ Hiệp định GATT
1994 (đặc biệt là những quyền lợi có được từ những ưu đãi thuế quan có ràng buộc), và gây tổn hại nghiêm trọng đối với lợi ích của Thành viên khác “Thiệt hại nghiêm trọng” sẽ được xem là tồn tại trong trường hợp tổng trị giá trợ cấp theo trị giá cho một sản phẩm vượt quá 5% Trong trường hợp này, bên trợ cấp có nghĩa vụ chứng minh rằng những khoản trợ cấp đó không gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với bên khiếu nại Những thành viên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi trợ cấp có thể đối kháng có thể đưa tranh chấp này lên cơ quan giải quyết tranh chấp Trong trường hợp cơ quan giải quyết tranh chấp đưa ra phán quyết có tồn tại tác động tiêu cực, bên trợ cấp phải thu hồi lại khoản trợ cấp hoặc xóa bỏ những tác động tiêu cực này
Loại thứ 3 là trợ cấp không thể đối kháng, có thể là trợ cấp không mang tính chất riêng biệt hoặc mang tính chất riêng biệt bao gồm hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu công nghiệp và hoạt
Trang 35động phát triển tiền cạnh tranh, hỗ trợ cho các vùng miền khó khăn, hỗ trợ nhằm xúc tiến nâng cấp những phương tiện hạ tầng hiện có cho phù hợp với yêu cầu mới về môi trường do luật pháp, hay các quy định đặt ra Nếu một thành viên cho rằng trợ cấp không thể đối kháng khác sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến ngành công nghiệp nội địa, thành viên đó có thể yêu cầu đưa ra phán quyết và khuyến cáo về vấn đề này.
Một phần của hiệp định này liên quan đến việc áp dụng những biện pháp đối kháng đối với hàng nhập khẩu được trợ cấp Hiệp định đưa ra những quy chế về việc khởi tố các vụ đối kháng,
về việc điều tra bởi các cơ quan có thẩm quyền cấp quốc gia và những quy định về chứng cứ để đảm bảo rằng tất cả những bên có quyền lợi có thể đưa ra thông tin và quan điểm của mình Những quy định cụ thể về việc tính toán tổng số trợ cấp là cơ sở để xác định thiệt hại đối với ngành công nghiệp nội địa Hiệp định quy định rằng tất cả các yếu tố kinh tế có liên quan sẽ phải được xem xét trong quá trình đánh giá tình trạng của ngành công nghiệp và mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp và những thiệt hại suy đoán Việc điều tra đối kháng phải dừng ngay khi mức trợ cấp nằm dưới mức tối thiểu (nhỏ hơn 1% theo trị giá) hoặc khi khối lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp trên thực tế hoặc ước tính hoặc thiệt hại là không đáng kể Trừ trường hợp đặc biệt, thủ tục điều tra phải được kết thúc trong thời hạn một năm, và trong
Trang 36mọi trường hợp không quá 18 tháng, kể từ ngày khởi xướng Thuế đối kháng phải chấm dứt trong vòng 5 năm áp dụng trừ khi các cơ quan có thẩm quyền thông qua rà soát xét thấy việc ngừng áp thuế
sẽ dẫn đến sự tiếp tục hay tái diễn trợ cấp và thiệt hại
Hiệp định này cũng công nhận rằng trợ cấp có thể đóng vai trò quan trọng trong các chương trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, và trong sự chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Những nước kém phát triển và những nước đang phát triển có Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người ít hơn 1000 USD sẽ được miễn khỏi những quy tắc về trợ cấp xuất khẩu bị cấm và hưởng miễn trừ đối với trợ cấp bị cấp trong một khoảng thời gian nhất định Đối vớ các nước đang phát triển khác, việc cấm trợ cấp xuất khẩu sẽ có hiều lực trong 8 năm kể từ ngày hiệp định WTO có hiệu lực và những nước này được hưởng sự miễn trừ đối với trợ cấp bị cấm trong một khoảng thời gian nhất định ( khoảng thời gian này sẽ ngắn hơn thời gian của các nước kém phát triển hơn) Việc điều tra đối kháng đối với một sản phẩm xuất xứ từ một nước thành viên đang phát triển sẽ chấm dứt nếu tổng lượng trợ cấp không vượt quá 2% (và xuất xứ từ một số nước đang phát triển là 3%) tính trên trị giá sản phẩm, hoặc nếu khối lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp chiếm ít hơn 4% tổng lượng sản phẩm tương tự nhập khẩu của quốc gia nhập khẩu Đối với những nước đang trong quá trình
Trang 37chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, trợ cấp bị cấm sẽ không bị tính trong vòng 7 năm kể từ ngày hiệp định này có hiệu lực.
Theo hiệp định về trợ cấp này, trong quá trình đàm phán các quy tắc đặc biệt đối với ngành hàng không dân dụng, các sản phẩm hàng không dân dụng không tuân theo giả định rằng việc trợ cấp theo giá trị vượt quá 5% gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của các nước thành viên Ngoài ra, hiệp định cũng quy định rằng việc hoàn trả tài chính trong lĩnh vực hàng không dân sự phụ thuộc vào mức độ doanh số sản phẩm bán ra và doanh thu dưới mức mong đợi, bản thân điều này không suy đoán gây thiệt hại nghiêm trọng
2.6.3 Hiệp định về chống bán phá giá
Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại cho phép các bên tham gia kí kết hiệp định áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, ví dụ các biện pháp áp dụng lên hàng nhập khẩu được bán với giá xuất khẩu thấp hơn “giá trị thông thường” (thường là mức giá bán tại thị trường nội địa nước xuất khẩu) nếu hàng nhập khẩu bán phá giá đó gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu tham gia kí kết hiệp định Chi tiết các qui tắc về giám sát áp dụng biện pháp này được nêu trong Hiệp định chống bán phá giá kí kết tại vòng đàm phán Tokyo cuối cùng Vòng đàm phán Uruguay đã rà soát lại Hiệp định này để giải quyết
Trang 38nhiều lĩnh vực mà Hiệp định hiện hành còn chưa chính xác và chi tiết.
Đặc biệt, Hiệp định sau rà soát cung cấp các qui tắc chi tiết hơn và rõ ràng hơn liên quan đến phương pháp xác định một mặt hàng bị bán phá giá, các tiêu chí cần xem xét khi quyết định hàng nhập khẩu bán phá giá gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa, các qui trình cần phải tuân thủ trong việc khởi xướng và tiến hành điều tra chống bán phá giá cũng như việc thực thi và gia hạn các biện pháp chống bán phá giá Thêm vào đó, hiệp định mới này cũng làm
rõ vai trò của cơ quan giải quyết tranh chấp trong các vụ kiện liên quan đến hoạt động chống bán phá giá tiến hành bởi chính quyền nội địa
Dựa trên phương pháp xác định một sản phẩm xuất khẩu bị bán phá giá, Hiệp định mới bổ sung các điều khoản tương đối cụ thể về những vấn đề như là tiêu chí phân bổ chi phí khi giá xuất khẩu được so sánh với giá trị thông thường “được xây dựng” và các qui tắc để đảm bảo rằng giá xuất khẩu và giá trị thông thường của sản phẩm được so sánh công bằng, do vậy không tùy tiện tạo
ra hay làm tăng biên độ bán phá giá
Hiệp định tăng cường các yêu cầu trong việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu Việc kiểm tra hàng hóa nhập khẩu bán phá giá tác động đến ngành sản xuất nội địa
Trang 39phải bao gồm sự đánh giá tất cả các nhân tố kinh tế liên quan trong điều kiện sản xuất của ngành đó Hiệp định nhấn mạnh thêm định nghĩa thuật ngữ “ngành sản xuất nội địa” Ngoài một số ngoại lệ,
“ngành sản xuất nội địa” đề cập đến các nhà sản xuất nội địa của toàn bộ sản phẩm tương tự hoặc đến các nhà sản xuất có tổng sản lượng chiếm phần lớn trong toàn bộ sản lượng nội địa của các sản phẩm đó
Các thủ tục rõ ràng về phương thức khởi xướng các vụ kiện chống bán phá giá và tiến hành điều tra đã được xây dựng Cùng với đó là các điều kiện đảm bảo rằng các bên liên quan đều có cơ hội đưa ra bằng chứng Các điều khoản về việc áp dụng biện pháp tạm thời, về việc sử dụng cam kết giá trong vụ kiện chống bán phá giá, và trong thời hạn của các biện pháp chống bán phá giá đã được củng cố Chính vì vậy, cải tiến đáng kể so với Hiệp định hiện hành bao gồm điều khoản bổ sung trong đó quy định các biện pháp chống bán phá giá sẽ hết hạn sau 5 năm kể từ khi có quyết định áp thuế, trừ khi có quyết định cho rằng, việc chấm dứt áp dụng biện pháp sẽ tái diễn hiện tượng bán phá giá và tiếp tục gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa
Điều khoản mới yêu cầu điều tra chống bán phá giá phải chấm dứt ngay lập tức nếu các cơ quan có thẩm quyền xác định biên độ bán phá giá là tối thiểu (thấp hơn 2% giá xuất khẩu của mặt hàng) hoặc lượng hàng hóa nhập khẩu là không đáng kể (khi
Trang 40lượng hàng hóa nhập khẩu từ một nước chiếm ít hơn 3% tổng lượng nhập khẩu của mặt hàng đó vào nước nhập khẩu).
Hiệp định yêu cầu phải có thông báo chi tiết và kịp thời tất
cả các quyết định chống bán phá giá tạm thời hay chính thức tới
Ủy ban Thực thi Chống bán phá giá Hiệp định sẽ tạo cơ hội cho các bên tham vấn về bất cứ vấn đề nào liên quan đến việc thực thi hiệp định hay bổ sung mục tiêu cho hiệp định, và yêu cầu thành lập Ban hội thẩm xem xét tranh chấp
2.6.4 Hiệp định về các rào cản ki thuật đối với thương mại(TBT)
Hiệp định này sẽ mở rộng và làm rõ Hiệp định về Hàng rào
Kĩ thuật trong Thương mại được kí kết tại vòng đàm phán Tokyo Hiệp định tìm cách để đảm bảo rằng các kết quả đàm phàn và tiêu chuẩn kĩ thuật, cũng như là qui trình kiểm tra và cấp giấy phép không tạo ra những rào cản không cần thiết đối với thương mại Tuy nhiên, Hiệp định công nhận rằng các nước có quyền thiết lập các mức bảo vệ hợp lý cho cuộc sống, sức khỏe của con người, động thực vật và môi trường, và không bị ngăn cản đưa ra các biện pháp cần thiết để áp dụng được các mức bảo vệ đó Chính vì vậy Hiệp định khuyến khích các nước sử dụng tiêu chuẩn quốc tế phù hợp với điều kiện nước mình, nhưng nó không đòi hỏi các nước thay đổi mức độ bảo vệ do sự tiêu chuẩn hóa này