Gia nhập WTO , Cơ hội và thách thức đối với hệ thống NHTMCP
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
– Gia nhập WTO – Cơ hội và thách thức đối với hệ thống NHTMCP
WTO – Quá trình hình thành và phát triển Trang 01 Những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO Trang 02
Cơ hội Trang 02
Thách thức Trang 03
– Sức ép cạnh tranh Trang 03
– Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trang 04
– Việc hoàn thiện thể chế và cải cách nền hành chính quốc gia Trang 04
Quá trình gia nhập WTO của Việt Nam Trang 04 Những tác động đối với các NHTMCP khi Việt Nam gia nhập WTO Trang 06
1.1.4.1 Yêu cầu của WTO đối với Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng Trang 06 1.1.4.2 Thời cơ đối với các NHTMCP khi Việt Nam là thành viên của WTO Trang 07 1.1.4.3 Những nguy cơ thách thức cần đẩy lùi Trang 08
– Thương hiệu
1.2.1 Một số khái niệm Trang 08
1.2.1.1 Thương hiệu là gì? Trang 08 1.2.1.2 Các thành tố của thương hiệu Trang 09 1.2.1.2.1 Nhãn hiệu Trang 09 1.2.1.2.2 Logo Trang 10 1.2.1.2.3 Slogan Trang 11 1.2.1.3 Vai trò của thương hiệu Trang 11 1.2.2 Quy trình xây dựng một chương trình bản sắc thương hiệu tổng thể Trang 15 1.2.3 Thương hiệu mạnh quyết định kinh doanh thành công Trang 16 1.2.4 Sự khác nhau giữa thương hiệu nói chung và thương hiệu ngân hàng Trang 16
1.2.5 Dấu hiệu nhận biết một thương hiệu ngân hàng Trang 17
Trang 2CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HỌAT ĐỘNG CỦA CÁC NHTMCP TẠI Tp.HCM
2.1 Thực trạng quy mô và phát triển về vốn của các NHTMCP tại Tp.HCM:
2.1.1 Hiện trạng quy mô và phát triển về vốn Trang 20 2.1.1.1 Về vốn điều lệ Trang 20 2.1.1.2 Về huy động vốn và cho vay Trang 23 2.1.1.3 Về thanh toán Trang 24 2.1.2 Kết quả, hạn chế của quá trình phát triển vốn của NHTMCP tại Tp.HCM Trang 25 2.1.2.1 Đối với vốn điều lệ Trang 25 2.1.2.2 Đối với vốn huy động Trang 26
2.2 Thực trạng về năng lực tài chính:
2.2.1 Về khả năng đáp ứng vốn cho nền kinh tế Trang 27 2.2.1.1 Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Trang 27 2.2.1.2 Khả năng thanh toán Trang 28 2.2.2 Về hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP tại Tp.HCM Trang 29 2.2.2.1 Đánh giá chi phí hoạt động Trang 30 2.2.2.2 Đánh giá hiệu quả kinh doanh Trang 30
2.3 Sản phẩm, dịch vụ ngân hàng:
2.3.1 Kết quả phát triển sản phẩm, dịch vụ của NHTMCP tại Tp.HCM Trang 33
2.3.1.1 Đối với huy động tiền gửi Trang 33 2.3.1.2 Đối với đầu tư, tín dụng Trang 34 2.3.1.3 Đối với họat động ngọai hối Trang 34 2.3.1.4 Đối với dịch vụ thanh toán Trang 37 2.3.1.5 Đối với sự phát triển sản phẩm dịch vụ mới Trang 38 2.3.1.6 Đối với những sản phẩm dịch vụ mang tính hổ trợ, tạo tiện ích cao Trang 39
2.3.2 Khó khăn trong phát triển các dịch vụ của NHTMCP tại Tp.HCM Trang 39
2.3.2.1 Vốn Trang 39 2.3.2.2 Công nghệ Trang 40 2.3.2.3 Bảo mật Trang 40 2.3.2.4 Chất lượng dịch vụ Trang 40 2.3.2.5 Khó khăn từ phía nền kinh tế Trang 41
Trang 32.4 Trình độ kỹ thuật công nghệ:
2.4.1 Việc triển khai và ứng dụng công nghệ của các NHTMCP tại Tp.HCM Trang 42 2.4.1.1 Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật Trang 42 2.4.1.2 Về phát triển các phần mềm ứng dụng Trang 42 2.4.2 Đánh giá chung về tình hình phát triển và ứng dụng công nghệ Trang 43
2.5 Nhân lực và trình độ quản trị của các NHTMCP tại Tp.HCM:
2.5.1 Thực trạng nguồn nhân lực và trình độ quản trị Trang 43 2.5.2 Một số tồn tại về nguồn nhân lực Trang 44 2.5.2.1 Chất lượng nguồn nhân lượng còn hạn chế Trang 44 2.5.2.2 Hiệu quả hoạt động tổ chức, quản trị và điều hành chưa cao Trang 45
2.6 Mạng lưới chi nhánh Trang 45 2.7 Quá trình xây dựng thương hiệu của các NHTMCP tại Tp.HCM
2.7.1 Vì sao các ngân hàng phải quan tâm đến thương hiệu Trang 47 2.7.2 Thực trạng xây dựng thương hiệu của các NHTMCP tại Tp.HCM Trang 48 2.7.2.1 Khái quát về quá trình xây dựng thương hiệu Trang 48 2.7.2.2 Nỗ lực xây dựng thương hiệu Trang 49 2.7.2.3 Tăng uy tín, tăng hiệu quả kinh doanh Trang 49 2.7.2.4 Gắn lợi ích khách hàng với thương hiệu Trang 51 2.7.2.5 Sự ra đời của Phòng Marketing Trang 52
Trang 43.1.2.7 Thách thức từ thị trường chứng khoán Trang 59
3.2 Giải pháp xây dựng, phát triển thương hiệu các NHTMCP tại Tp.HCM:
3.2.1 Xây dựng tầm nhìn thương hiệu Trang 60
3.2.1.1 Phải có ý muốn và hướng đi xây dựng thương hiệu Trang 60 3.2.1.2 Xây dựng mục tiêu, lộ trình phát triển ngân hàng Trang 61 3.2.1.2.1 Mục tiêu tổng quát Trang 61 3.2.1.2.2 Định hướng phát triển đến năm 2010 Trang 62 3.2.1.2.3 Một số chỉ tiêu định hướng đạt được trong giai đoạn 2006-2010 Trang 63
3.2.2 Định vị thương hiệu Trang 63
3.2.2.1 Tầm quan trọng của việc định giá thương hiệu ngân hàng Trang 64 3.2.2.2 Mô hình định giá có thể áp dụng Trang 65
3.2.3 Xây dựng đội ngũ phụ trách riêng về thương hiệu Trang 68 3.2.4 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh Trang 69
3.2.4.1 Đổi mới một số tư duy lãnh đạo ngân hàng Trang 70 3.2.4.1.1 Đổi mới tư duy lãnh đạo ngân hàng Trang 70 3.2.4.1.2 Phải từ bỏ lối tư duy bảo thủ trong quản lý điều hành Trang 70 3.2.4.2 Các giải pháp tăng vốn Trang 71 3.2.4.2.1 Tăng vốn thông qua thị trường chứng khoán Trang 71 3.2.4.2.2 Bán cổ phần ưu đãi và không ưu đãi Trang 72 3.2.4.2.3 Đối với vốn huy động Trang 72 3.2.4.3 Các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng Trang 76 3.2.4.3.1 Xây dựng chính sách tín dụng rõ ràng Trang 76 3.2.4.3.2 Tăng cường các biện pháp hạn chế rủi ro trong kinh doanh tín dụng Trang 77 3.2.4.3.3 Tăng cường kiểm tra, kiểm toán nội bộ Trang 78 3.2.4.3.4 Đánh giá rủi ro tín dụng Trang 78 3.2.4.3.5 Chấp hành đầy đủ các quy định về đảm bảo tiền vay Trang 78 3.2.4.3.6 Xử lý có hiệu quả nợ tồn đọng Trang 79 3.2.4.3.7 Nhanh chóng thành lập thị trường mua bán nợ Trang 80 3.2.4.4 Các giải pháp về nguồn nhân lực ngân hàng Trang 80 3.2.4.4.1 Đào tạo và huấn luyện nguồn nhân lực Trang 80 3.2.4.4.2 Chính sách đãi ngộ Trang 82 3.2.4.5 Các giải pháp phát triển công nghệ thông tin Trang 82
Trang 53.2.4.6 Giải pháp cho dịch vụ thanh toán Trang 82 3.2.4.7 Giải pháp cho dịch vụ ngân hàng Trang 84 3.2.4.8 Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ Trang 84 3.2.4.8.1 Mở rộng mạng lưới dịch vụ Trang 84 3.2.4.8.2 Xây dựng chiến lược khách hàng Trang 85 3.2.4.9 Giải pháp về hoạt động marketing ngân hàng Trang 86
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
ĐIỂM NỔI BẬT CỦA LUẬN VĂN
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Kể từ ngày 01/04/2007, theo thoả thuận hội nhập kinh tế quốc tế, các ngân hàng Hoa Kỳ
và các nước khác sẽ được phép thành lập các chi nhánh 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Các chi nhánh và văn phòng đại diện này sẽ được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, dự kiến trong tháng 12/2006 Như vậy, các NHTM của Việt Nam sẽ chịu nhiều sức ép cạnh tranh hơn từ những ngân hàng nước ngoài đã hoạt động hàng trăm năm, có thế mạnh về vốn, công nghệ, kinh nghiệm… Dự báo đây sẽ là giai đoạn cạnh tranh khốc liệt nhưng cũng là cơ hội để các NHTM trong nước tận dụng cơ hội phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Và chưa bao giờ hai từ Thương hiệu cũng được nhắc đến nhiều như trong giai đoạn hội nhập này Theo Larry Light – chuyên gia quảng cáo: “Thương hiệu là tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp Cách duy nhất để làm chủ thị trường là làm chủ thương hiệu” Xây dựng và phát triển thương hiệu là tạo sự vững chắc cho tương lai
Do đó, tôi đã chọn đề tài “XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU CHO HỆ THỐNG NHTMCP TẠI Tp.HCM KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO” để có được cái nhìn đúng hơn về tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO, về vai trò thương hiệu và phương thức xây dựng thương hiệu trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng một cách hiệu quả
Trang 62 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
− Những tác động khi Việt Nam gia nhập WTO
− Vai trò của thương hiệu ngân hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh khi Việt Nam gia nhập WTO
− Thực trạng hoạt động và quá trình xây dựng thương hiệu của hệ thống NHTMCP tại Tp.HCM
− Đề xuất các giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu cho hệ thống NHTMCP tại Tp.HCM khi Việt Nam gia nhập WTO
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
− Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thương hiệu, WTO
− Nghiên cứu thực trạng hoạt động của hệ thống NHTMCP tại Tp.HCM và đề xuất giải pháp xây dựng, phát triển thương hiệu một cách hiệu quả cho hệ thống NHTMCP tại Tp.HCM khi Việt Nam gia nhập WTO
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
− Sử dụng phương pháp khảo sát, so sánh, thống kê, phân tích kết hợp phương pháp quy nạp, suy diễn để đánh giá thực trạng hoạt động của các NHTMCP tại Tp.HCM
− Kết hợp lý luận và thực tiễn để đưa ra giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu cho hệ thống NHTMCP tại Tp.HCM khi Việt Nam gia nhập WTO
5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, kết cấu của Luận văn được chia thành 03 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận về WTO, quá trình Việt Nam xin gia nhập WTO và thương hiệu
Chương 2: Thực trạng hoạt động của các NHTMCP tại Tp.HCM
Chương 3: Giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu cho hệ thống NHTMCP tại Tp.HCM khi Việt Nam gia nhập WTO
Trang 7CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Gia nhập WTO – Cơ hội và thách thức đối với hệ thống NHTMCP:
1.1.1 WTO – Quá trình hình thành và phát triển:
WTO (World Trade Organization) là Tổ chức thương mại thế giới được thành lập độc lập với Liên hiệp quốc, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế tiền thân GATT – Hiệp định chung về thuế quan thương mại WTO chính thức họat động từ 01/01/1995, là tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới, trọng tâm của WTO là các hiệp định đã và đang được các nước đàm phán, ký kết, triển khai thực hiện
Hiện nay WTO có 149 nước, lãnh thổ thành viên chiếm hơn 70% thương mại toàn cầu và khoảng 30 quốc gia khác đang trong quá trình đàm phán gia nhập Hầu hết các quyết định của WTO đều thông qua trên cơ sở đồng thuận Trong một số trường hợp nhất định, khi không đạt được sự nhất trí chung, các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu Khác với các
tổ chức khác, mỗi thành viên WTO chỉ có quyền bỏ một phiếu và phiếu bầu của các thành viên có giá trị ngang nhau
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng, họp ít nhất 2 năm một lần Dưới Hội nghị Bộ trưởng là Đại hội đồng – thường họp nhiều lần trong một năm tại trụ
sở chính của WTO ở Geneva, Thuỵ Sỹ Nhiệm vụ chính của Đại hội đồng là giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên và rà soát các chính sách của WTO Dưới Đại hội đồng là Hội đồng Thương mại hàng hóa, Hội đồng thương mại dịch vụ và Hội đồng giám sát về các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tụê
Các chức năng chính của WTO:
− Quản lý các hiệp định về thương mại quốc tế
− Diễn đàn cho các vòng đàm phán thương mại
− Giải quyết các tranh chấp thương mại
− Giám sát các chính sách thương mại
− Trợ giúp về kỹ thuật và đào tạo cho các quốc gia đang phát triển
− Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác
Một số đặc điểm của WTO:
− Duy trì, thúc đẩy nền hoà bình
Trang 8− Tranh luận, giải quyết những mâu thuẫn thương mại mang tính xây dựng
− Luật lệ tạo thuận lợi cho phát triển
− Tự do thương mại làm giảm bớt chi phí cuộc sống (thức ăn, quần áo, dịch vụ,…)
− Đem đến cho người tiêu dùng nhiều sự lựa chọn về sản phẩm, chất lượng
− Làm tăng thu nhập cho quốc gia và cho người dân
− Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm
− Những nguyên tắc cơ bản khiến hệ thống kinh tế hoạt động hiệu quả hơn, bao gồm sự minh bạch, điều kiện thương mại bình đẳng, đơn giản hoá và chuẩn hoá thủ tục hải quan, xoá bỏ tình trạng quan liêu,…
− Giúp các quốc gia tránh khỏi những quyền lợi hạn hẹp của 1 nhóm người vận động hành lang, tập trung vào những cân đối vì lợi ích của mọi người dân
− Giúp các chính phủ hoạt động hiệu quả hơn
1.1.2 Những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO:
1.1.2.1 Cơ hội:
Là một quốc gia phát triển ở trình độ thấp, việc Việt Nam trở thành thành viên WTO sẽ tạo sức ép, đẩy nhanh tiến trình cải cách kinh tế, cải cách luật pháp, tăng khả năng cạnh tranh, đổi mới công tác đào tạo nhân lực, tăng cường quan hệ quốc tế phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước Cụ thể:
Mở rộng thị trường và tăng xuất khẩu: Khi gia nhập WTO, theo nguyên tắc tối huệ quốc,
Việt Nam sẽ tiếp cận mức độ tự do hóa thương mại, môi trường kinh doanh lành mạnh, tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa hàng hóa trong nước với hàng hóa nước ngoài, giữa các thành phần kinh tế trong nước, giữa đầu tư trong nước và nứơc ngoài Nền kinh tế Việt Nam sẽ ít bị tổn thương bởi những hành vi bảo hộ mậu dịch hoặc trừng phạt kinh tế của các quốc gia khác khi có tranh chấp kinh tế, thương mại hay lý do chính trị nào đó
Hiện nay, thương mại giữa 149 nước thành viên WTO chiếm trên 70% khối lượng thương mại thế giới Sau khi gia nhập WTO, rào cản về thuế quan và hạn ngạch sẽ được khắc phục, hàng hóa Việt Nam sẽ được cạnh tranh bình đẳng với các đối thủ khác (khi chưa là thành viên, mức thuế cho 1 mặt hàng Việt Nam xuất khẩu có thể đạt mức 30-40% thì khi
là thành viên, mức thuế này có thể hạ xuống còn 5%)
Tăng cường thu hút thuế đầu tư ở nước ngoài: Gia nhập WTO sẽ giúp Việt Nam có môi
trường pháp lý hoàn chỉnh và minh bạch hơn, có sức hấp dẫn hơn đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài Gia nhập WTO cũng là thông điệp về quyết tâm cải cách của Việt Nam, tạo
Trang 9niềm tin cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn vào Việt Nam Ngoài ra, cơ hội tiếp cận thị trường của các thành viên WTO khác một cách bình đẳng và minh bạch theo hướng đúng chuẩn mực của WTO, cũng là một yếu tố quan trọng để thu hút vốn đầu tư của nước ngoài
Nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh cho nền kinh tế: Giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi
thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ sẽ khiến môi trường kinh doanh ở Việt Nam ngày càng trở nên cạnh tranh hơn Trước sức ép cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải vươn lên để tự hoàn thiện mình, nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh cho toàn
bộ nền kinh tế Ngoài ra, giảm thuế và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan cũng sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp cận các yếu tố đầu vào với chi phí hợp lý hơn, từ đó thêm cơ hội đẻ nâng cao sức cạnh tranh không chỉ ở trong nước mà còn trên thị trường quốc tế
Sử dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO: khi tiến ra thị trường quốc tế, các
doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với nhiều rào cản thương mại trong đó có cả các rào cản núp bóng các công cụ được WTO cho phép như chống trợ cấp, chống bán phá giá… tranh thủ thương mại là điều khó khăn mà phần thua thiệt thường rơi về phía nước nhỏ Gia nhập WTO sẽ giúp ta sử dụng được cơ chế giải quyết tranh chấp của tổ chức này, qua
đó có thêm công cụ để đấu tranh với các nước lớn, đảm bảo sự bình đẳng trong thương mại quốc tế Thực tiễn cho thấy cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO hoạt động có hiệu quả và nhiều nước đang phát triển đã thu được lợi ích từ việc sử dụng cơ chế này
1.1.2.2 Thách thức của việc gia nhập WTO:
Bên cạnh cơ hội, việc gia nhập WTO cũng tạo ra một số thách thức lớn đối với nền kinh
tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng Đó là:
1.1.2.2.1 Sức ép cạnh tranh:
Giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, loại bỏ trợ cấp, mở cửa thị trường dịch vụ sẽ khiến môi trường kinh doanh ở nước ta ngày càng trở nên cạnh tranh hơn Đây sẽ là thách thức không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp nhất là những doanh nghiệp đã quen với “bầu sữa bao cấp” của Nhà nước Tuy nhiên các doanh nghiệp sẽ không còn cách nào khác là chủ động và sẵn sàng đối diện với thách thức này bởi đó là hệ quả tất yếu của sự phát triển, là chặng đường mà mọi quốc gia đều phải đi qua trên con đường tiến tới hiệu quả
và phồn vinh Dù không gia nhập WTO thì thách thức này sớm muộn cũng sẽ đến
1.1.2.2.2 Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Một trong những hệ quả tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế là chuyển dịch cơ cấu và bố trí lại nguồn lực Dưới sức ép của cạnh tranh, một ngành sản xuất không hiệu quả có thể
Trang 10sẽ phải mất đi để nhường chỗ cho một ngành khác có hiệu quả hơn Quá trình này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về mặt xã hội Chúng ta chỉ có thể vượt qua những thách thức này nếu có chính sách đúng đắn nhằm tăng cường hơn nữa tính năng động và khả năng thích ứng nhanh của toàn bộ nền kinh tế Bên cạnh đó, cũng cần củng
cố và tăng cường các giải pháp an sinh xã hội để khôi phục những khó khăn ngắn hạn
1.1.2.2.3 Việc hoàn thiện thể chế và cải cách nền hành chính quốc gia:
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan đến kinh tế - thương mại, Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm khi gia nhập WTO Trước hết phải liên tục hoàn thiện các quy định về cạnh tranh để đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hội nhập Sau đó phải liên tục hoàn thiện môi trường kinh doanh để thúc đẩy tính năng động và khả năng thích ứng nhanh, yếu tố quyết định sự thành bại của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và bố trí lại nguồn lực Cuối cùng, những cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam là cam kết theo lộ trình nên tiến trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý sẽ còn tiếp tục diễn ra trong thời gian dài
Một trong những nguyên tắc chủ đạo của WTO là minh bạch hóa Đây là thách thức lớn đối với mọi nền hành chính quốc gia Khi gia nhập WTO, nền hành chính quốc gia chắc chắn sẽ phải có sự thay đổi theo hướng công khai hơn và hiệu quả hơn Đó phải là một nền hành chính vì quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp và doanh nhân, coi trọng doanh nghiệp và doanh nhân hơn nữa, khắc phục “sức ỳ” của tư duy và khắc phục mọi biểu hiện trì trệ, vô trách nhiệm
1.1.3 Quá trình gia nhập WTO của Việt Nam:
Gia nhập WTO là nhiệm vụ quan trọng của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO từ ngày 04/01/1995
Ngày 31/01/1995, thành lập Nhóm làm việc về gia nhập của Việt Nam gồm 63 thành viên WTO Chủ tịch của Nhóm làm việc là ông Amb Seung Ho của Hàn Quốc
Bị vong lục về chế độ thương mại được Việt Nam đệ trình ngày 24/09/1996 và các cuộc hỏi đáp được bắt đầu từ ngày 04/03/1998 là cuộc đầu tiên, tiếp đến 12/03/1998 là lần thứ hai và lần thứ ba vào ngày 20/08/1998
Đồng thời với quá trình hỏi/đáp được bắt đầu từ ngày 30-31/07/1998, các phiên họp của nhóm cũng được tiến hành, cụ thể ngày các phiên họp diễn ra là 03/12/1998, 22-23/07/1999, 30/11/2000, 10/04/2002, 12/05/2003, 10/12/2003, 15/06/2004, 15/12/2004, phiên không chính thức diễn ra vào tháng 5/2005, tháng 9/2005 Trong thời gian kể trên,
Trang 11thì đàm phán về tiếp cận thị trường được tiến hành với các bản chào hàng hóa và dịch vụ được đưa ra vào ngày 07/01/2002 và 27/04/2004
Như vậy, trước năm 2000, chiến lược đàm phán của Việt Nam diễn ra tương đối chậm, do các doanh nghiệp đã tác động đến các bộ quản lý ngành, các bộ này lại tác động đến Chính phủ để kéo dài thời gian bảo hộ Từ cuối năm 2000 trở đi, Chính phủ đã có những nhìn nhận lại về tiến trình đàm phán, song cũng mãi đến năm 2003, với phiên đàm phán thứ 7 (12/2003) thì nội dung đàm phán mới bắt đầu đi vào thực chất khi Việt Nam đã cơ bản hoàn thành giai đoạn minh bạch hóa chính sách Nhưng đến năm 2004, tiến trình đàm phán mới có bước chuyển cơ bản khi Việt Nam đưa ra được “khung sườn” cho tiến trình hội nhập vào phiên thứ 8 (15/06/2004) Tại phiên họp này, Ban thư ký WTO đã xây dựng tài liệu “Những nội dung cơ bản của Dự thảo Báo cáo gia nhập”
Bước ngoặc khẳng định khả năng gia nhập WTO của Việt Nam là phiên họp thứ 9 (15/12/2004) khi lần đầu tiên Dự thảo Báo cáo của Ban công tác về Việt Nam gia nhập WTO đã được đưa ra thảo luận với hàng loạt vấn đề Việt Nam phải thực hiện như: hệ thống pháp luật điều tiết hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư, bảo hộ sở hữu trí tuệ… Tính đến 07/10/2005, Việt Nam đã trải qua 10 phiên họp của Nhóm làm việc và trả lời hơn 3000 câu hỏi của các thành viên WTO
Ngày 31/05/2006, Việt Nam và Hoa Kỳ đã kết thúc thành công đàm phán song phương WTO về mặt kỹ thuật và phải chờ Quốc hội Mỹ bỏ phiếu về Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam Mỹ là đối tác cuối cùng trong tổng số 28 thành viên WTO yêu cầu đàm phán song phương với Việt Nam
Theo bản tin VnExpress ngày 08/10/2006: Trả lời báo chí ngày 06/10/2006, Thượng nghị
sĩ Chuck Hagel, Chủ tịch tiểu ban xúc tiến thương mại Thượng viện Mỹ cho rằng đa số thành viên Quốc hội Mỹ ủng hộ việc Việt Nam gia nhập WTO Tuy nhiên, theo lịch hiện nay, Quốc hội Mỹ khó có thể bỏ phiếu về PNTR cho Việt Nam trước thời điểm bầu cử Quốc hội 07/11 Ngày 13/11/2006, khi Quốc hội nhóm họp sẽ có một cuộc bỏ phiếu về PNTR cho Việt Nam và ông tin rằng sẽ có một kết quả tích cực với đa số phiếu ủng hộ Theo bản tin Vietnamnet và VnExpress ngày 10/10/2006: Phiên đàm phán đa phương thứ
14 về việc Việt Nam gia nhập WTO đã kết thúc tốt đẹp, mang lại cho Việt Nam hy vọng trở thành thành viên thứ 150 của WTO trong tháng 12 năm 2006 Để hòan tất bộ tài liệu trọn gói về vấn đề kết nạp, Việt Nam còn phải chuyển tòan bộ các thỏa thuận song phương thành cam kết cụ thể và áp dụng với tất cả 149 nước thành viên WTO Đồng thời
Trang 12Ban công tác cũng phải chốt lại dự thảo báo cáo đa phương và làm rõ cam kết của Việt Nam liên quan đến sửa đổi luật lệ cho phù hợp với các hiệp định WTO và thỏa mãn tất cả các thành viên WTO Theo Ông Eirik Glenne, Chủ tịch Ban công tác về vấn đề gia nhập WTO của Việt Nam: “Lần đầu tiên, trước mắt chúng ta là bộ tài liệu trọn gói về vấn đề kết nạp Việt Nam Rõ ràng là nhóm công tác đang gần đi đến kết luận cuối cùng” 26/10/2006 được coi như mục tiêu đạt được các thỏa thuận về việc gia nhập của Việt Nam, tuy nhiên còn phụ thuộc vào kết quả đàm phán mấy tuần tới Theo Ông Glenne, nếu mọi việc suôn sẻ, có thể sẽ triệu tập một cuộc họp của Đại hội đồng WTO vào đầu tháng 11/2006 nhằm xem xét thông qua các gói cam kết đa phương, mở đường cho việc trao quy chế thành viên cho Việt Nam ngay cuối năm 2006 Một khi quy chế thành viên được thông qua, Quốc hội Việt Nam cũng sẽ phải cho ý kiến và phê duyệt 30 ngày sau khi bản báo cáo gia nhập được Quốc hội thông qua và gửi tới Ban thư ký WTO, Việt Nam sẽ trở thành thành viên chính thức của tổ chức này
1.1.4 Những tác động đối với các NHTMCP khi Việt Nam gia nhập WTO:
1.1.4.1 Yêu cầu của WTO đối với Việt Nam trong lĩnh vực Ngân hàng:
Trong cam kết mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng, Việt Nam không được áp dụng các biện pháp sau đây:
− Hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng
− Hạn chế về tổng giá trị các giao dịch về dịch vụ ngân hàng
− Hạn chế về tổng số người được tuyển dụng của một nhà cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng
− Phải dành sự đãi ngộ không kém hơn sự đãi ngộ các thành viên khác
− Không hạn chế thanh toán và chuyển tiền quốc tế cho các dịch vụ vãng lai (trừ tình huống đặc biệt)
− Cho phép các thành viên khác đưa ra dịch vụ ngân hàng mới trên lãnh thổ
− Cho phép tiếp cận hệ thống bù trừ, thể thức cấp vốn, tái cấp vốn trong kinh doanh
− Trả lời không chậm trễ khi có yêu cầu của bất kỳ thành viên nào về thông tin cụ thể,
vì bất kỳ biện pháp nào được áp dụng chung hay về hiệp định quốc tế
− Các thành viên có quyền được thành lập, mở rộng hoạt động kể cả mua lại một doanh nghiệp hay một tổ chức thương mại
− Các thành viên cần đàm phán để định ra những quy tắc nhằm tránh tác động tiêu cực trong một số trường hợp nhất định
Trang 131.1.4.2 Thời cơ đối với các NHTMCP khi Việt Nam là thành viên của WTO:
Gia nhập và là thành viên của WTO mở ra con đường phát triển mạnh mẽ cho các NHTM Việt Nam nếu như biết chớp lấy cơ hội mà quá trình mang lại Những cơ hội đó là:
− Mở cửa và hội nhập sẽ tạo nhiều cơ hội cho các NHTM Việt Nam tiếp cận thị trường toàn cầu rộng lớn, tăng khả năng thu hút vốn, tiếp cận chuyển giao công nghệ thông tin hiện đại và nguồn lực tri thức, tăng cường khả năng quản lý, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam
− Tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách Ngân hàng Việt Nam tiến tới một hệ thống NHTM năng động, an toàn, hiệu quả Để tồn tại và đứng vững trong điều kiện kinh doanh mới đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải thay đổi cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực tài chính để không bị “đào thải” theo quy luật của thị trường, tạo áp lực buộc các Ngân hàng Việt Nam phải cải cách
− Tạo điều kiện để các chuyên gia chuyên sâu hơn các nghiệp vụ của mình, góp phần khơi dậy và sử dụng hiệu quả nguồn vốn trong nước, tiếp cận được các dịch vụ Ngân hàng hiện đại với chi phí sử dụng dịch vụ rẻ, thủ tục nhanh gọn
− Có thêm điều kiện cũng như áp lực trong việc đào tạo đội ngũ có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu phát triển
− Mở ra cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế giữa các ngân hàng trung ương về các diễn biến kinh tế, các chiến lược vĩ mô, cũng như sự hợp tác liên kết giữa các NHTM trong giám sát và phòng ngừa rủi ro trên phạm vi toàn cầu, qua đó các NHTM Việt Nam có điều kiện tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý trình độ cao từ các nước tiên tiến nhằm nâng cao vị thế và uy tín của NHTM Việt Nam trên trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để Ngân hàng Việt Nam đầu tư ra nước ngoài
1.1.4.3 Những nguy cơ thách thức cần đẩy lùi:
Ngày nay, hội nhập kinh tế là một hướng đi đúng đắn, mang lại nhiều cơ hội để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế đất nước nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Tuy nhiên, nếu gia nhập WTO mà không có các chính sách thích hợp sẽ làm thay đổi theo chiều hướng xấu các cơ hội, đặt NHTM Việt Nam đứng trước những thách thức lớn Ngành ngân hàng Việt Nam vẫn còn tương đối non trẻ do được hình thành từ đầu những năm 90 khi mà hệ thống ngân hàng 1 cấp tách thành 2 cấp Vì vậy, kinh nghiệm hoạt động và quản trị của các ngân hàng còn yếu so với chuẩn mực quốc tế Khu vực tài chính
Trang 14phi ngân hàng thậm chí còn phát triển chậm hơn đang là một thách thức đối với việc tài trợ cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh của Việt Nam
Việc gia nhập WTO sẽ đặt các ngân hàng trước cuộc cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài, khi đó để tồn tại các ngân hàng buộc phải đẩy nhanh quá trình cải cách Khi các dòng vốn đầu tư gián tiếp đang tăng lên cũng sẽ đòi hỏi Việt Nam phải cải thiện tính minh bạch và các quy tắc của thị trường vốn
NHTM phải tự cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam Trong hoàn cảnh hiện nay, thách thức lớn nhất cho hệ thống ngân hàng Việt Nam không chỉ trong việc hướng các hoạt động của mình ra thị trường bên ngoài mà còn phải
tự cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam
Hiệp định thương mại Việt Mỹ được xem là thử thách đầu tiên có tầm quan trọng đặc biệt đối với quá trình hội nhập Các ngân hàng Hoa Kỳ đang từng bước tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động ngân hàng tại Việt Nam Cạnh tranh về cho vay cũng trở nên gay gắt hơn khi các Ngân hàng Hoa Kỳ đã hiểu rõ Việt Nam và môi trường pháp lý đảm bảo cho họ
xử lý rủi ro để thu hồi nợ Việc cho phép các ngân hàng nước ngoài tham gia vào hoạt động tái cấp vốn, tái chiết khấu, SWAP, FORWARD từ Ngân hàng Nhà nước (sau 3 năm
từ khi Hiệp định có hiệu lực) sẽ giúp họ bù đắp một phần vốn huy động còn bị hạn chế bởi lộ trình Ngoài ra, trong quá trình đàm phán, các ngân hàng nước ngoài thường quan tâm và gây sức ép mở rộng mạng lưới hoạt động tại Việt Nam dưới mọi hình thức nhất là ngân hàng bán lẻ và ngân hàng 100% vốn nước ngoài
1.2 Thương hiệu:
1.2.1 Một số khái niệm:
1.2.1.1 Thương hiệu là gì:
Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: Thương hiệu là “Một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu
tượng hoặc hình vẽ thiết kế, hoặc tập hợp của các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người hoặc một nhóm người bán hàng với hàng hóa và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh”
Trong khi đó Tác giả Richard Moore lại cho rằng: “ Thương hiệu là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm, hoặc một dòng sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi, logo, hình ảnh hoặc mọi sự thể hiện hình ảnh, dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí khách hàng nhằm thiết lập một chỗ đứng tại đó”
Trang 15Theo khái niệm nhiều người đồng ý nhất: “Thương hiệu là tất cả những gì tổng hợp các tinh túy, đặc điểm vô hình và toàn bộ hệ thống hữu hình để khách hàng hưởng thụ, cảm nhận, hiểu và nhớ của một công ty, một tổ chức, giúp các khách hàng liên tưởng, cảm nhận rằng đó là sản phẩm hoặc công ty hay tổ chức này chứ không phải một công ty hay
tổ chức nào khác Nó vừa mang lý tính lẫn cảm tính trong đó cảm tính đóng một vai trò rất quan trọng nếu chưa nói là then chốt trong cảm nhận của khách hàng về cái gọi là thương hiệu Thương hiệu là đại diện của doanh nghiệp đối với khách hàng Đó chính là một sự cam kết của chủ nhân thương hiệu với tất cả khách hàng”
1.2.1.2 Các thành tố của thương hiệu:
Để xây dựng và phát triển thương hiệu, công việc đầu tiên các nhà quản trị cần phải làm
là sáng tạo và chuẩn hóa các thành tố của một thương hiệu như nhãn hiệu, logo, slogan… Không có chúng thì không thể ra đời thương hiệu
Dưới góc độ pháp luật bảo hộ (Điều 75 Bộ luật dân sự) tên nhãn hiệu được tạo thành từ
sự kết hợp của từ ngữ hoặc của các chữ cái “có khả năng phân biệt” sản phẩm hay dịch
vụ của doanh nghiệp này với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp khác đã được bảo hộ
và không thuộc các dấu hiệu loại trừ Đáp ứng các yêu cầu trên thì tên nhãn hiệu sẽ được bảo hộ với tư cách là Nhãn hiệu hàng hóa
Interbrand cho rằng doanh nghiệp không nhất thiết lúc nào cũng tập trung vào tên nhãn hiệu Tổ chức này đã thực hiện một cuộc khảo sát thực tế kinh nghiệm của những thương hiệu nổi tiếng toàn cầu và kết quả là có 4 tình huống mà doanh nghiệp nên quan tâm và thực sự cần chú trọng thay vì lúc nào cũng quan tâm đến tên nhãn hiệu: (1) Sản xuất sản phẩm mới, (2) Mở rộng dòng sản phẩm, (3) Cung cấp loại hình dịch vụ mới, (4) Thành lập doanh nghiệp liên doanh Ngoài ra trong những thời điểm “đẹp” cần đưa ra một hoặc một số thành tố vào tên nhãn hiệu để cho khách hàng những cảm nhận mới về sản phẩm dịch vụ, ví dụ như sảnphẩm FutureII là dòng xe mới thay cho Future
Trang 16Interbrand cho rằng : Phát triển thương hiệu không phải bắt đầu từ sự ra đời của sản phẩm hay dịch vụ mà bắt đầu ngay từ khái niệm hướng đến sự hình thành tên nhãn hiệu bởi tên
nhãn hiệu là ấn tượng đầu tiên tạo ra nhận thức nhãn hiệu trong tiềm thức khách hàng 1.2.1.2.2 Logo:
Trước tiên phải khẳng định rằng logo không phải là thương hiệu, logo chỉ tượng trưng cho thương hiệu Logo chính là ấn tượng bên ngoài, đại diện cho thương hiệu của một công ty, nó làm cho khách hàng tìm đến công ty, nhớ đến công ty và nhận rõ ra công ty trong hàng triệu công ty kinh doanh khác
Việc sử dụng mẫu mã và hình dáng của logo sẽ ảnh hưởng đến thương hiệu của một công
ty Một logo tốt có thể mang lại cho công ty sức mạnh không tưởng và đóng góp trực tiếp vào doanh thu Ngược lại, một logo tệ hại có thể sẽ là bức màn cho “nụ hôn bất ngờ của thần chết”
Lợi ích của Logo:
Tính đồ họa cao: Logo dễ dàng nhận biết và gợi nhớ, vì thế Logo cũng mang chức năng
phân biệt sản phẩm này hay công ty này với sản phẩm công ty khác
Tính linh động: Logo có thể dễ dàng cải tiến đường nét, màu sắc theo thời gian và dễ
được chấp nhận ở các nền văn hóa khác nhau Tuy nhiên, không nên cải tiến hình ảnh logo quá xa rời những đặc thù truyền thống của công ty
Thích ứng nhiều chủng loại sản phẩm: Logo ít hàm chứa ý nghĩa của một sản phẩm cụ
thể, các doanh nghiệp thường xây dựng logo như một phương diện để thể hiện nguồn gốc sản phẩm hoặc cam kết về chất lượng sản phẩm
Hình ảnh cô đọng: Logo thường là hình tượng về công ty, do vậy nó có khả năng nhắc
nhớ tên công ty trong đầu óc người tiêu dùng
Tính trừu tượng: Logo rất quan trọng đối với các doanh nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ,
bởi logo có thể tác động tích cực, bổ trợ cho bản chất vô hình, trừu tượng của dịch vụ
1.2.1.2.3 Slogan:
Khẩu hiệu là đoạn văn ngắn truyền đạt thông tin, mô tả hoặc thuyết phục về nhãn hiệu Khẩu hiệu thường xuất hiện trên quảng cáo và là thành phần mạnh mẽ của nhãn hiệu vì
nó giải thích nhãn hiệu một cách cô đọng
Quan trọng nhất là khẩu hiệu giúp củng cố, định vị nhãn hiệu và điểm khác biệt Đối với các thương hiệu hàng đầu, khẩu hiệu còn là những tuyên bố về tính dẫn đầu, độc đáo của
Trang 17mình Ví dụ như: Biti’s - Nâng niu bàn chân Việt, Trung Nguyên – Khơi nguồn sáng tạo, Nippon – Sơn đau cũng đẹp,…
Lợi ích của Slogan: Khẩu hiệu có thể làm tăng nhận thức nhãn hiệu vì nhắc lại nhãn hiệu theo một cách nào đó Nó giúp củng cố, định vị nhãn hiệu, làm nổi bật điểm khác biệt hay tính dẫn đầu hay sự độc đáo, chẳng hạn: slogan của Call Center 8247247 của ACB là “ Dịch vụ mọi lúc mọi nơi”
Còn một vài các thành tố khác của thương hiệu như: Tính cách nhãn hiệu, bao bì,… tuy nhiên 3 yếu tố trên là 3 yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của một thương hiệu Chúng ta biết rằng ngày nay hầu hết các doanh nghiệp đều đang cố gắng tạo cho công ty mình một hình ảnh đặc trưng riêng không thể nhầm lẫn và các hoạt động gây dựng thương hiệu ngày càng trở nên nóng bỏng bởi bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng thật sự của thương hiệu
1.2.1.3.Vai trò của thương hiệu:
Việc tạo ra một dấu hiệu bên ngoài cho một sản phẩm và dịch vụ chỉ là bề nổi cho việc tạo ra thương hiệu Thương hiệu bản thân nó có ý nghĩa nhiều hơn cái tên và được tạo dựng trên sự tập hợp tất cả các nguồn lực của công ty Dù có theo đuổi chiến lược thương hiệu như thế nào thì thương hiệu vẫn đảm bảo được các vai trò cơ bản sau:
Thương hiệu giúp cho các doanh nghiệp phát triển và vượt qua nhiều khó khăn trong cạnh tranh:
Những đầu tư cho thương hiệu có thể mang lại cho sản phẩm những đặc điểm và thuộc tính riêng có nhằm phân biệt nó với những sản phẩm khác Thương hiệu có thể cam kết một tiêu chuẩn hay đẳng cấp chất lượng của một sản phẩm và đáp ứng mong muốn của khách hàng cho phép doanh nghiệp dự báo và kiểm soát thị trường Hơn thế, nó còn tạo
ra một rào cản, gây khó khăn cho các doanh nghiệp khác muốn xâm nhập thị trường, bởi
lẽ dù cho các quy trình sản xuất và các thiết kế sản phẩm có thể dễ dàng sao chép, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, nhưng ấn tượng sâu sắc trong đầu khách hàng qua nhiều năm về sản phẩm hay dịch vụ đó không thể dễ dàng sao chép được Về mặt này, thương hiệu có thể xem là cách hết sức hữu hiệu để đảm bảo lợi thế cạnh tranh
Phân đoạn thị trường:
Thương hiệu đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phân đoạn thị trường Các doanh nghiệp đưa ra 1 tổ hợp những thuộc tính lý tưởng về các thế mạnh, lợi ích và đặc trưng của sản phẩm dịch vụ sao cho chúng phù hợp với nhu cầu của từng nhóm khách hàng cụ
Trang 18thể Vì thế phải có sự ấn tượng và khác biệt để thu hút khách hàng tiềm năng Đây thực chất là công việc đầu tiên của quá trình xây dựng thương hiệu, nó gởi gắm thông điệp để trả lời các câu hỏi như:
− Sản phẩm hay dịch vụ có những thuộc tính gì ?
− Sản phẩm hay dịch vụ có những thế mạnh gì?
− Sản phẩm hay dịch vụ đem lại những lợi ích gì?
− Sản phẩm hay dịch vụ tượng trưng cho cái gì ?
Việc trả lời chính xác các câu hỏi trên sẽ làm cho thương hiệu trở nên có ý nghĩa, phù hợp với thị hiếu và kỳ vọng của đối tượng khách hàng mục tiêu
Tạo nên sự khác biệt khi phát triển sản phẩm dịch vụ:
Thương hiệu được biết đến khi sản phẩm được sản xuất và đưa ra thị trường Một thương hiệu tốt sẽ chiếm được tình cảm từ phía khách hàng, tuy nhiên tình cảm ấy không phải là một thứ vững vàng, vào giai đoạn đầu nó thường khá mỏng manh Khi một thương hiệu mới ra đời và đạt được những thành công nhất định sẽ dẫn đến một xu hướng bắt chước
do những tiến bộ khoa học kỹ thuật Các thương hiệu khác sẽ bị cuốn theo cạnh tranh nếu
họ không muốn đánh mất mình trên thị trường Lúc này thương hiệu sẽ như một tấm lá chắn bảo hộ cho sự đổi mới – dưới dạng bảo hộ sở hữu trí tuệ
Nhìn từ ngoài vào thì bức tranh về những gì đang có trên thị trường sẽ chỉ cho thấy hàng loạt các sản phẩm giống nhau Tuy nhiên, xem xét kỹ thì có thể nhận ra thương hiệu nào đại diện cho sự đổi mới và luôn thành công trong cạnh tranh Nếu so sánh ACB 5 năm trước đây với bây giờ ta thấy một sự thay đổi rất rõ nét, hiện nay ACB là một trong những NHTMCP có tiếng tăm nhất, sản phẩm đa dạng, thái độ phục vụ tốt hơn rất nhiều
Đưa sản phẩm - dịch vụ khắc sâu vào tâm trí khách hàng:
Phần hồn của thương hiệu có thể cảm nhận qua sản phẩm và các chương trình quảng cáo Nội dung của một sản phẩm sẽ được khách hàng biết và cảm nhận thông qua các hoạt động này với điều kiện nó phải được truyền tải một cách nhất quán cùng với một thông điệp Hồi ức đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành nhận thức về một thương hiệu
và nó giải thích tại sao hình ảnh về một thương hiệu có thể tồn tại từ thế hệ này sang thế
hệ khác Do đó việc nhận biết một thương hiệu sẽ vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới nhận thức về các sản phẩm dịch vụ trong tương lai Hồi ức đóng vai trò rất lớn cho mong muốn khách hàng Một số người thuộc thế hệ nào đó hai mươi năm sau vẫn có thể tiếp tục yêu chuộng thương hiệu mà họ đã từng yêu mến khi còn trẻ, như Phở Hà Nội, Chả cá Lã Vọng,…
Trang 19Tạo nên định hướng và ý nghĩa cho sản phẩm:
Thương hiệu phải chứa đựng trong nó những thông tin về sản phẩm, chẳng hạn nói đến ACB là hầu hết mọi người liên tưởng ngay đến hình ảnh của một tổ chức tài chính với một loạt sản phẩm mà ngân hàng này thực hiện giao dịch với khách hàng, trong đó các sản phẩm như tín dụng, giao dịch, thanh toán quốc tế, ngân hàng điện tử, quyền chọn, bao thanh toán… là những sản phẩm mạnh và đặc trưng của ngân hàng này Ngoài ra, một thương hiệu lớn ngoài việc thiết lập một thông điệp của sản phẩm tới khách hàng còn phải có khả năng thích ứng với thời đại và thay đổi linh hoạt theo những nhu cầu không ngừng thay đổi Do vậy chương trình phát triển thương hiệu phải được xây dựng và điều chỉnh hàng ngày nhưng vẫn đảm bảo tính nhất quán đối với ý nghĩa sản phẩm
Dù quan tâm đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm hay phát huy tính hữu dụng của sản phẩm thì mỗi thương hiệu bản thân nó phải tạo nét độc đáo với ý nghĩa sản phẩm dịch vụ
Thương hiệu là một cam kết giữa chủ thương hiệu với khách hàng:
Cùng với thời gian và những nỗ lực không ngừng, thương hiệu ngày càng trở nên có uy tín trên thị trường Những chương trình quảng bá thương hiệu thực sự được xem như một cam kết trước khách hàng Nếu ngân hàng thực hiện đúng như những gì cam kết, và đem đến cho khách hàng sự thỏa mãn thì thương hiệu ấy sẽ nhận được những cảm nhận tốt đẹp từ khách hàng Lúc ấy bất cứ sản phẩm nào mới của tổ chức ấy cũng có thể nhận được sự quan tâm và chú ý của khách hàng
Cam kết mà một thương hiệu đưa ra mang tính định tính, nó làm thỏa mãn những ước muốn và kỳ vọng của khách hàng và chỉ có khách hàng là người cảm nhận và đánh giá Những cảm nhận có thể là tạo sự thuận lợi mọi lúc mọi nơi cho những người bận rộn (Call center 247-ACB) hay mang lại cho khách hàng sự tiện nghi sang trọng và hiệu quả trong kinh doanh…
Tuy nhiên những cam kết này không mang tính ràng buộc trước công chúng về mặt pháp
lý Không cần một tổ chức khi nêu ra là thực hiện, tuy nhiên đã đưa ra mà không thực hiện thì điều tất yếu sẽ xảy ra có lẽ ai cũng có thể đoán được
Trong xu thế hòa mình vào nền kinh tế thế giới thì sự cạnh tranh để tồn tại đã giúp các doanh nghiệp nói chung hay các ngân hàng nói riêng đều nhận thấy được vai trò thật “quý báu” của thương hiệu và hầu hết đang có nhiều cố gắng để làm sao tạo ấn tượng sâu sắc khó phai trong lòng khách hàng của họ Tuy nhiên để làm được điều đó chẳng đơn giản
Trang 20chút nào Điều đầu tiên để thực thi thành công sứ mạng của thương hiệu thì trước hết các
tổ chức phải quán triệt sự đóng góp của thương hiệu và khi đã nhận ra thì hãy bắt tay thực hiện với việc đầu tiên là thiết lập một kế hoạch thật tốt để xây dựng thương hiệu
Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các khách hàng ngày nay rất quan tâm đến thương hiệu, vì với sự tinh tế của mình các khách hàng biết rằng những thương hiệu uy tín sẽ mang đến những lợi ích nhất định
Ngoài ra, đối với các khách hàng, thương hiệu cũng có những vai trò nhất định:
Giúp khách hàng dễ dàng quyết định:
Quyết định mua của khách hàng luôn bắt đầu từ nhận thức đến tìm kiếm thông tin, sau đó đánh giá và cuối cùng là quyết định Thương hiệu giúp khách hàng xác định nguồn gốc của các sản phẩm dịch vụ và giúp khách hàng xác định cụ thể ai sẽ chịu trách nhiệm Nhờ những kinh nghiệm đối với một sản phẩm và chương trình tiếp thị của sản phẩm đó qua nhiều năm mà khách hàng biết đến các thương hiệu Kết quả: thương hiệu là một công cụ nhanh chóng và đơn giản hóa đối với quyết định của khách hàng Đây chính là điều quan trọng nhất mà một thương hiệu cũng như doanh nghiệp được gắn với thương hiệu đó cần vươn tới
Giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và chi phí:
Khi khách hàng nhận ra một thương hiệu và có một vài kiến thức về thương hiệu đó, họ không phải suy nghĩ nhiều hoặc tìm kiếm Do vậy, nó giúp khách hàng giảm bớt chi phí tìm kiếm sản phẩm cả bên trong (phải suy nghĩ) và cả bên ngoài (họ phải tìm kiếm mất bao nhiêu) Những gì họ biết về thương hiệu - chất lượng, đặc tính sản phẩm… khách hàng hình thành những giả định và kỳ vọng có cơ sở về những gì mà họ chưa biết về thương hiệu
Quan hệ giữa thương hiệu và khách hàng được xem như một kiểu cam kết giao kèo:
Khách hàng đặt niềm tin và sự trung thành của mình vào thương hiệu và ngầm hiểu rằng thương hiệu đó sẽ đáp lại những mong mỏi từ họ Khách hàng cảm nhận rất đa dạng và phong phú về các lợi ích mà một thương hiệu họ yêu mến đem lại Các thương hiệu có thể xem như một công cụ biểu tượng để khách hàng tự khẳng định giá trị bản thân
Tóm lại, đối với doanh nghiệp, thương hiệu được coi như là tài sản có giá trị rất lớn bởi
nó có khả năng tác động đến thái độ và hành vi của khách hàng Nó được mua bán bởi có thể đảm bảo thu nhập bền vững trong tương lai cho chủ sở hữu thương hiệu Vì lẽ đó, người ta đã phải chi ra những khoản tiền chẳng nhỏ chút nào, thường trên 10% doanh thu
Trang 21một năm để tạo ra giá trị thương hiệu Và thương hiệu phải được quan tâm vì chính lợi nhuận ròng mà chúng mang lại cho chủ sở hữu
Đối với khách hàng, ý nghĩa đặc biệt của thương hiệu có thể làm thay đổi nhận thức và quan điểm của họ về các sản phẩm dịch vụ Sản phẩm hay dịch vụ giống hệt nhau nhưng vẫn có thể được khách hàng cảm nhận, đánh giá khác nhau tùy thuộc vào sự khác biệt và
uy tín của thương hiệu hoặc các thuộc tính sản phẩm Với khách hàng thì thương hiệu làm cho cuộc sống của họ trở nên thuận tiện và phong phú hơn
1.2.2 Quy trình xây dựng một chương trình bản sắc thương hiệu tổng thể:
Theo Richard Moore, quy trình xây dựng một chương trình bản sắc thương hiệu gồm: Bước 1: Đánh giá khách quan thương hiệu
Bước 2: Xác định mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp và nhu cầu khách hàng
Bước 3: Tạo dựng cơ cấu quan hệ thương hiệu “mẹ’ và thương hiệu chi nhánh
Bước 4: Triển khai các yếu tố cốt lõi cho bản sắc thương hiệu
Bước 5: Gắn kết thương hiệu với phương tiện truyền thông marketing
Bước 6: Lưu giữ “tài sản” thương hiệu cho tương lai
Bước 7: Tích cực duy trì thương hiệu đã xây dựng được
1.2.3 Thương hiệu mạnh quyết định kinh doanh thành công:
Gia nhập AFTA, WTO mang lại một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn Thực
tế này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng phải nhanh nhạy hơn trước những nhu cầu của khách hàng để tạo ra những sản phẩm phù hợp nhất với giá thành cạnh tranh Trên con đường này, theo các chuyên gia, hướng phát triển một hình ảnh thương hiệu mạnh chính là điều kiện cần để các doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường
Thương hiệu quyết định thị phần: “Muốn chiếm thị phần phải chiếm được tâm trí khách
hàng, muốn chiếm được tâm trí khách hàng phải có thương hiệu mạnh” Đây là câu nói cửa miệng của các doanh nghiệp về kinh nghiệm xây dựng hình ảnh thương hiệu
Việc đánh mất thương hiệu cũng có nghĩa doanh nghiệp tự đánh mất thị phần, đánh mất chính mình bởi thương hiệu chính là “linh hồn” của doanh nghiệp Ngoài ra, mất thương hiệu cũng có nghĩa nguy cơ làm hàng nhái, hàng giả sẽ tăng cao, làm tổn hại đến cả doanh nghiệp và người tiêu dùng
Các doanh nghiệp Việt Nam phải nghiêm túc nghĩ đến việc đăng ký thương hiệu ở nước ngoài, vì hội nhập là cơ hội chiếm dụng tài sản của nhau, kể cả những đối tác làm ăn lâu
Trang 22năm cũng có thể trở thành đối thủ của doanh nghiệp bất cứ lúc nào Đây là điều kiện tiên quyết để có thể xâm nhập thị trường, giành thị phần
Việt Nam mới gia nhập nền kinh tế thị trường tự do chưa lâu, do đó các doanh nghiệp Viêt Nam chưa đạt đến trình độ chuyên nghiệp trong việc điều hành và quản lý bản sắc thương hiệu như các đối thủ cạnh tranh tại các nước khác trong khu vực và trên thế giới Giờ đây khi nhiều hiệp ước thương mại giúp Việt Nam mở cửa rộng hơn với thị trường thế giới sẽ còn thúc đẩy quá trình mở cửa mạnh hơn nữa thì việc tạo dựng một hình ảnh thương hiệu mạnh sẽ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
1.2.4 Sự khác nhau giữa thương hiệu nói chung và thương hiệu ngân hàng:
Về tổng thể thì thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu ngân hàng không khác nhau nhiều lắm Tuy nhiên do sự khác nhau cơ bản về tính chất của doanh nghiệp và ngân hàng nên từ đó chúng có những khác biệt
Ngân hàng là một thiết chế tài chính và là một doanh nghiệp đặc biệt vì sau lưng ngân hàng là một lực lượng hùng hậu nhằm giúp ngân hàng không bị phá sản hoặc nếu ngân hàng bị phá sản thì hậu quả cũng được giảm thiểu ở mức tối thiểu Chính điều đó tạo nên khác biệt cơ bản nhất giữa thương hiệu ngân hàng và thương hiệu doanh nghiệp Đó là: Thương hiệu ngân hàng có thể là vật bảo chứng cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (doanh nghiệp muốn làm ăn với một đối tác nào đó, thì việc doanh nghiệp đó được một ngân hàng có uy tín cho vay hay bảo lãnh tài sản là một lợi thế trong đàm phán) Ngược lại, một thương hiệu doanh nghiệp không thể là vật bảo chứng cho ngân hàng nhưng ở một chừng mực nào đó thì một ngân hàng có nhiều khách hàng là các doanh nghiệp nổi tiếng thì ngân hàng đó chứng tỏ được uy tín của mình
Khác biệt thứ hai giữa thương hiệu ngân hàng và thương hiệu doanh nghiệp, đó chính là
độ phổ biến của thương hiệu Đối với doanh nghiệp thì sản phẩm của họ có thể “len lỏi” đến từng ngóc ngách của thị trường, vì vậy làm cho thương hiệu của họ được biết đến nhiều hơn Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp các thương hiệu sản phẩm của các doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi Nhưng đối với thương hiệu ngân hàng thì mức độ quảng bá rộng khắp là thấp và hầu như khi ngân hàng đó mở chi nhánh tại vùng nào thì chỉ vùng đó mới biết đến ngân hàng đó Vì vậy thương hiệu ngân hàng lại ít được biết đến trong công chúng so với các thương hiệu thương mại khác
Một khác biệt nữa giữa thương hiệu ngân hàng và thương hiệu doanh nghiệp, đó là sự khác biệt về tính đa dạng thương hiệu Một doanh nghiệp có thể có rất nhều thương hiệu
Trang 23khác nhau cho những sản phẩm trong cùng một ngành hàng hay cho những sản phẩm ở các ngành hàng khác nhau và cĩ thể khơng cĩ sản phẩm nào mang tên cơng ty mình Ví
dụ, cơng ty P&G cĩ hàng loạt các thương hiệu khác nhau cho các sản phẩm của mình như: Tide, Camay, Rejoice…
Đối với ngân hàng thì hầu như chỉ sử dụng một thương hiệu cho các hoạt động của mình
dù cĩ mở rộng lĩnh vực kinh doanh sang các ngành khác như ACB cĩ ACBS (Cơng ty chứng khốn ACB), ACBR (Cơng ty địa ốc ACB), ACBA (Cơng ty quản lý nợ và khai thác tài sản ACB), ACBD (Cơng ty dịch vụ bảo vệ ACB),…
1.2.5 Dấu hiệu nhận biết một thương hiệu ngân hàng:
Có 2 yếu tố chính giúp nhận biết một thương hiệu ngân hàng Những yếu tố này có thể được xem như là những yếu tố tạo ra thương hiệu, cũng có thể xem như những chứng cứ của việc tồn tại của thương hiệu
Đầu tiên, cũng như thương hiệu nói chung, thương hiệu ngân hàng là sự tồn tại của những tài sản tại một nơi nào đó và trong trạng thái sẵn sàng được sử dụng Thành phần này góp phần mang lại giá trị cho ngân hàng khi nĩ có uy tín cao trên thị trường Thực ra có những yếu tố vật chất và những yếu tố phi vật chất của các ngân hàng tập trung lại và góp phần tạo ra giá trị ngân hàng Những yếu này xuất hiện trong vốn của ngân hàng (cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị ), nhân công, ban quản lý
Đối với hệ thống ngân hàng thì giá trị thương hiệu của ngân hàng đặc biệt tập trung vào uy tín, niềm tin của khách hàng, ngòai ra còn có yếu tố phụ khác như: khách hàng tiềm năng, lợi thế cạnh tranh, vị trí địa lý Ngược lại chính những giá trị vừa mới được tạo ra từ các yếu tố trên tác dụng trở lại làm tăng giá trị của những yếu tố này Bên cạnh đó, một vài giá trị có chức năng nối kết những tài sản vô hình riêng lẻ với nhau Cuối cùng, một vài giá trị có khả năng làm lợi cho thương hiệu
Thành phần thứ hai trong biểu hiện thương hiệu ngân hàng chính là sự tồn tại của “giá trị thương hiệu tăng thêm” Gía trị này tạo nên thu nhập vượt mức so với mức thu nhập tạo bởi tòan bộ tài sản hữu hình và vô hình khác của ngân hàng Thành phần thu nhập sinh lợi vượt mức này liên quan trực tiếp đến những khái niệm về thương hiệu,
vì giá trị của ngân hàng không thể được xác định cho lọai tài sản hữu hình hay những
Trang 24tài sản vô hình khác đã được xác định của ngân hàng Nghĩa là chúng ta cần lượng hóa giá trị thu nhập mà thương hiệu có thể mang lại cho ngân hàng
Thành phần cuối cùng của biểu hiện thương hiệu ngân hàng chính là những dự đóan khả quan trong tương lai về tình hình họat động của ngân hàng, dựa trên những thông số hiện tại mà ngân hàng có được Ví dụ, giá trị thương hiệu có được tạo ra từ những mong đợi của nhà đầu tư về khả năng tạo lợi nhuận trong tương lai, liên kết kinh tế trong tương lai, những lợi ích có thể đạt được, sản phẩm dịch vụ trong tương lai, khách hàng tiềm năng trong tương lai
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HỌAT ĐỘNG CỦA CÁC NHTMCP TẠI Tp.HCM
2.1 Thực trạng quy mơ và phát triển về vốn của các NHTMCP tại Tp.HCM:
2.1.1 Hiện trạng quy mơ và phát triển về vốn:
BẢNG 01: TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐIỀU LỆ, HUY ĐỘNG, CHO VAY CỦA MỘT SỐ NHTMCP TẠI Tp.HCM:
Vốn điều lệ (Tỷ đồng)
Tiền gửi của TCKT,
cá nhân (Tỷ đồng)
Cho vay các TCKT,
cá nhân (Tỷ đồng) Ngân hàng
Trang 25Theo Dự thảo Nghị định về tổ chức, quản trị NHTM đang được Ngân hàng Nhà nước lấy
ý kiến các bên liên quan và dự kiến trình Chính phủ ban hành vào cuối năm 2006 thì tại Điều 5, chương II, ngòai các quy định hiện hành trong Luật các tổ chức tín dụng, một NHTM thành lập mới phải có vốn pháp định tối thiểu 5.000 tỷ đồng (# 300 triệu USD) Đây là rào cản khó vượt qua với các nhà đầu tư nội và dự báo cũng sẽ là gáo nước lạnh làm giảm nhiệt huyết tham gia thị trường của các tổ chức tài chính quốc tế
Tính đến cuối năm 2004, vốn điều lệ của các NHCPTM đạt 3.795 tỷ đồng và đây là năm tài chính có tốc độ tăng trưởng vốn nhanh nhất, điều đó khẳng định hiệu quả về mặt kinh
tế cũng như xã hội của hệ thống NHTMCP trong việc thu hút vốn đầu tư của tòan xã hội Trong tổng thể chung đó, việc một số NHTMCP có sự bức phá và phát triển với một quy
mô đảm bảo về chất và lượng là những tín hiệu đáng mừng Bên cạnh đó, các ngân hàng
có quy mô nhỏ hơn cũng dần ổn định và đạt các kết quả nhất định trong hoạt động Trên
cơ sở đó đề tài phân chia các NHCPTM trên địa bàn làm ba nhóm căn cứ vào vốn điều lệ của các ngân hàng tính đến 31/12/2004
BẢNG 02: VỐN ĐIỀU LỆ CỦA CÁC NHTMCP THEO NHÓM
(tính đến 31/12/2004)
Nhóm Các NHTMCP
Vốn Điều Lệ (tỷ đồng)
Tỷ lệ trên tổng nguồn vốn (%)
Vốn Điều
Lệ (tỷ đồng)
Tỷ lệ trên tổng nguồn vốn (%)
Vốn Điều
Lệ (tỷ đồng)
Tỷ lệ trên tổng nguồn vốn (%)
Vốn Điều
Lệ (tỷ đồng)
Tỷ lệ trên tổng nguồn vốn (%)
Vốn Điều
Lệ (tỷ đồng)
Tỷ lệ trên tổng nguồn vốn (%)
- Nhóm 1 gồm các ngân hàng có mức vốn từ 500 tỷ đồng trở lên: Nhóm này hiện có 3
ngân hàng, chiếm 18,75% trong tổng số các NHTMCP Mức vốn điều lệ của các NHTMCP này chỉ bằng 10 đến 15% vốn điều lệ của các NHTM nhà nước, nhưng cao hơn mức vốn của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Theo kế họach thì đến cuối năm 2005 nhóm ngân hàng này sẽ tăng vốn điều lệ lên trên 1000 tỷ đồng, với mạng lưới hoạt động khoảng 100 chi nhánh được phân bố đều trên phạm vi cả nước, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm
Trang 26- Nhóm 2 gồm các ngân hàng có mức vốn từ 300 tỷ đến dưới 500 tỷ đồng: Nhóm này
hiện có 4 ngân hàng, cũng là những ngân hàng có tiềm lực mạnh, phát triển đồng đều, tuy
có vốn điều lệ thấp hơn nhóm 1 nhưng về hoạt động không thua kém nhiều so với nhóm
1 Vốn điều lệ của nhóm ngân hàng này xấp xỉ với mức vốn điều lệ của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Dự kiến trong các năm tới, các ngân hàng thuộc nhóm 2 sẽ có sự tăng trưởng mạnh về vốn điều lệ
- Nhóm 3 gồm các ngân hàng có mức vốn dưới 300 tỷ đồng: Nhóm này có 10 ngân
hàng, trong đó có 9 NHTMCP đô thị và 1 NHTMCP nông thôn Mức vốn của nhóm ngân hàng này thấp hơn rất nhiều so với các NHTM nhà nước, thấp hơn vốn tự có của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Nhóm ngân hàng sẽ chịu tác động rất lớn trong quá trình cạnh tranh Trong bối cảnh hiện nay nếu muốn tồn tại và phát triển nhất thiết các ngân hàng nhóm 3 phải có kế hoạch tăng vốn điều lệ ít nhất ngang bằng với nhóm 2
BẢNG 03: SO SÁNH VỐN ĐIỀU LỆ CÁC KHỐI NGÂN HÀNG
Vốn điều lệ NHTMCP NHTM
Nhà nươc
Ngân hàng Liên doanh
Chi nhánh NH nước ngòai
Cao nhất 1.899 tỷ đồng 5.405 tỷ đồng 10 triệu USD 15 triệu USD Thấp nhất 45 tỷ đồng 701 tỷ đồng 10 triệu USD 15 triệu USD
Nguồn: Báo cáo tổng hợp của Ngân hàng nhà nước Chi nhánh Tp.HCM năm 2004 và Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 09/10/2006
Theo thống kê, tỷ trọng vốn điều lệ trên tổng nguồn vốn hoạt động của các NHTMCP năm 2000 là 8,7%; năm 2001 là 9,3%; năm 2002 là 8,22%; năm 2003 là 6,05% và năm
2004 là 6,24% Trong đó nhóm có tỷ lệ thấp nhất lại là nhóm ngân hàng có vốn điều lệ từ
300 – 500 tỷ đồng Năm 2004 tỷ lệ này tính cho nhóm 2 là 4,72% Nhóm có tỷ lệ cao nhất đạt 9,97% là nhóm ngân hàng 3
Vốn thấp dẫn đến hạn chế rất lớn khả năng mở rộng kinh doanh bởi giới hạn huy động vốn cho vay, giới hạn cho vay tối đa đối với một khách hàng, giới hạn tổng số vốn đầu tư… từ đó dẫn tới hạn chế trong việc mở rộng mạng lưới, địa bàn họat động và đổi mới thiết bị công nghệ, đặc biệt là hệ thống thanh toán, chi phí hoạt động tăng và kết quả tất yếu là mức độ cạnh tranh yếu, kết quả hoạt động thấp Một khi có những thay đổi chính sách hoặc có biến động bất lợi về kinh tế dễ dẫn đến khả năng bị suy yếu, nếu nghiêm
Trang 27trọng thì có thể dẫn tới nguy cơ mất khả năng chi trả, khả năng thanh toán, gây thiệt hại cho khách hàng, cho hệ thống ngân hàng và nền kinh tế
Trong thời gian qua, các NHTMCP thường xuyên phát hành thêm cổ phiếu mới để tăng vốn điều lệ Đến nay hầu hết các NHTMCP đều có vốn điều lệ gấp 2-3 lần số vốn cuối năm 2004 Tính đến 09/2006, NHTMCP Sài gòn thương tín (Sacombank) là ngân hàng đầu tiên niêm yết, có vốn điều lệ đạt 1.899,47 tỷ đồng, là NHTMCP có vốn điều lệ cao nhất nước Ngày 03/10/2006, Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận đăng ký phát hành thêm 10% cổ phiếu ra công chúng cho Sacombank (# phát hành thêm 189,947 tỷ đồng theo mệnh giá) để tăng vốn điều lệ
Ngày 23/02/2006, NHTMCP Á Châu (ACB) cũng đã tăng vốn điều lệ thành 1.100 tỷ đồng, là NHTMCP có vốn điều lệ lớn thứ 2 sau Sacombank Ngày 11/09/2006, Ngân hành Nhà nước đã có công văn số 7754/NHNN-CNH chấp thuận cho phép ACB được niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng khóan và dự kiến sẽ chính thức niêm yết
số vốn điều lệ trên 1.000 tỷ đồng
Việc phát hành trái phiếu chuyển đổi để tăng thêm vốn điều lệ cũng đã được các NHTM thực hiện như: Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam (BIDV), NHTMCP Sài gòn (SCB), NHTMCP Á Châu (ACB)
SCB là NHTMCP đầu tiên được phát hành trái phiếu chuyển đổi tăng vốn điều lệ với tổng số vốn huy động 1.000 tỷ đồng và dự kiến phát hành vào 01/11/2006
Tương tự, dự kiến ngày 16/10/2006, ACB phát hành 1.650 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu trong tổng số 3.000 tỷ đồng trái phiếu tăng vốn điều lệ đã được NHNN chấp thuận Cũng trong tháng 10/2006, SCB sẽ hòan thành việc phát hành 1.000 tỷ đồng trái phiếu tăng vốn
Trang 282.1.1.2 Về huy động vốn và cho vay:
So sánh thị phần với các tổ chức tín dụng khác cho thấy tình hình huy động vốn và cho vay của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM tăng dần qua các năm, thể hiện sự dần ổn định của các NHTMCP
BẢNG 04: THỊ PHẦN HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHO VAY CỦA CÁC NHTMCP
TRÊN ĐỊA BÀN Tp.HCM (Đơn vị tính: %)
Thị phần vốn huy động Thị phần cho vay KHỐI
29,7 50,5 3,8 16,0
28,7 50,2 3,8 17,3
28,1 49,4 4,1 18,5
32,0 47,5 3,2 17,3
25,2 49,3 2,4 23,1
27,6 46,2 3,2 23,0
26,7 51,2 3,7 18,4
28,9 48,0 3,9 19,2
30,1 45,9 3,8 20,2
2.1.1.3 Về thanh toán:
Các NHTMCP đã có nhiều cố gắng trong hiện đại hóa công nghệ thanh tóan như NHTMCP Á Châu Công cụ thanh toán ngày càng đa dạng, cùng với sự ứng dụng ngày càng cao công nghệ thông tin, nhu cầu thanh toán của xã hội ngày càng tăng… đã góp phần nâng cao hiệu quả thanh toán cho nền kinh tế Cứ 1% tăng trưởng của thanh tóan không dùng tiền mặt năm sau so với năm trước đã mang lại ý nghĩa rất lớn Khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt thanh toán qua NHTM dần chiếm ưu thế (xem Bảng 05)
Trang 29BẢNG 05: KHỐI LƯỢNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 KHỐI
Thị phần về kinh doanh ngọai tệ: Đây là một hoạt động sinh lời cao, những cơ chế, chính sách về quản lý ngọai hối được Chính phủ, ngành ngân hàng sửa đổi kịp thời, cùng với sự năng động, nhạy bén của các NHTM đã góp phần đưa doanh số kinh doanh ngọai tệ tăng khá cao So với năm 2000 thì doanh số mua bán ngọai tệ của tòan hệ thống NHTM trên địa bàn năm 2004 tăng từ 37 – 45%; trong đó thị phần của các NHTMCP chiếm từ 33 – 35% tổng doanh số mua bán, cho thấy các NHTMCP cũng đã có những cố gắng nhất định trong lĩnh vực này
2.1.2 Kết quả và hạn chế của quá trình phát triển vốn các NHTMCP tại Tp.HCM:
2.1.2.1 Đối với vốn điều lệ:
- Như trên đã đề cập, nhìn chung đến nay các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM đã đảm bảo mức vốn điều lệ theo quy định Tính đến thời điểm 31/12/2004 tổng vốn của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM là 4.265,3 tỷ đồng; trong đó vốn điều lệ là 3.795 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 89% trong tổng vốn của các ngân hàng
- Trên cơ sở họat động hiệu quả, có những ngân hàng đã gọi được vốn đóng góp cổ phần của cổ đông nước ngòai như ACB, EIB, PNB, SACOMBANK, VP BANK,… Việc tham gia vốn này không những góp phần nâng cao năng lực tài chính mà còn có điều kiện tiếp cận được những công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường hoạt động và thanh toán quốc tế đối với các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM
Trang 30Những mặt còn tồn tại:
- Vốn điều lệ của mỗi NHTMCP chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn họat động của ngân hàng và so với quy mô vốn của các ngân hàng khác thì vốn điều lệ của NHTMCP vẩn còn thấp Trong những năm gần đây, quy mô hoạt động của NHTMCP ngày càng được mở rộng, nhưng mức độ tăng vốn điều lệ của các ngân hàng chưa tương xứng, thậm chí còn có xu hướng giảm dần so với tốc độ tăng vốn huy động
- Thực hiện quá trình chấn chỉnh củng cố họat động, nhiều ngân hàng đã nâng cao mức vốn điều lệ nhưng thực tế so với quy mô vốn của các hệ thống ngân hàng khác thì vẫn còn ở mức thấp so với yêu cầu hoạt động Điều đó dẫn tới những hạn chế sau:
+ Hạn chế phát triển dịch vụ tài chính ngân hàng, phát triển công nghệ thông tin
+ Hạn chế khả năng huy động vốn, từ đó hạn chế trong việc mở rộng đầu tư, cho vay Theo quy định hiện thời, mức vay tối đa đối với một khách hàng không quá 15% vốn
tự có, do đó một ngân hàng có mức vốn tự có thấp nhất theo quy định (70 tỷ đồng) chỉ cho vay tối đa 10,5 tỷ đồng, dẫn đến khó khăn đối với nhà tài trợ vốn cho những khách hàng có khả năng phát triển tốt
- Khả năng tham gia vốn cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước vào ngân hàng bị hạn chế, do doanh nghiệp nhà nước cũng trong tình trạng thiếu vốn
2.1.2.2 Đối với vốn huy động:
- Hình thức huy động vốn của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM khá phong phú và đa dạng, ngoài các hình thức huy động vốn truyền thống như huy động tiền gửi tiết kiệm có
kỳ hạn và không kỳ hạn, các ngân hàng mở rộng nhiều hình thức huy động vốn mới như tiết kiệm tích lũy, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm an sinh, tiết kiệm dự thưởng …
- Việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM chưa cao, chưa thu hút được khối lượng lớn các khách hàng thực hiện thanh toán qua các ngân hàng nên việc huy động vốn từ các tổ chức kinh tế còn hạn chế
- Nguồn vốn hoạt động của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM chủ yếu là vốn huy động nhưng cơ cấu không hợp lý Ở thời điểm 31/12/2004, nguồn vốn tiền gửi thanh toán của các đơn vị tổ chức kinh tế với lãi suất thấp của cả hệ thống NHTMCP chiếm tỷ trọng 24,8%, trong khi đó vốn tiền gửi của dân cư, tiền gửi của chứng từ có giá với lãi suất cao chiếm tỷ trọng 75,2%, như vậy lãi suất bình quân đầu vào của NHTMCP cao hơn NHTM Nhà nước, nên khó cạnh tranh trong cho vay với các ngân hàng khác, hạn chế khả năng sinh lời của NHTMCP Nếu tính riêng từng nhóm ngân hàng thì tỷ trọng tiền gửi của tổ
Trang 31chức kinh tế và tiền gửi dân cư nhóm 1, nhóm ngân hàng có vốn điều lệ cao nhất là 22,9% - 71,1%; tỷ trọng tương ứng như vậy ở nhóm 2, nhóm ngân hàng có vốn điều lệ trung bình là 33% - 67%; ở nhóm 3, nhóm ngân hàng có vốn điều lệ thấp 24,7% - 75,3% Trong đó tỷ trọng tương ứng này ở NHTM nhà nước là 53% - 47%
- Hầu hết các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM chưa họach định được chiến lược kinh doanh ở tầm trung dài hạn, nên nguồn vốn chưa ổn định Có ngân hàng nâng lãi suất khá cao để huy động ngọai tệ, trong khi không có đầu ra cho vay ngọai tệ nên phải gửi ở nước ngoài với lãi suất thấp hơn, gây thiệt hại trong kinh doanh
- Tỷ trọng nguồn vốn trung dài hạn trong tổng vốn huy động của các NHTMCP tại Tp.HCM vẫn còn khá thấp, nên đầu tư cho vay trung dài hạn, nhiều ngân hàng đã phải sử dụng đến nguồn vốn huy động ngắn hạn cho vay đạt đến mức tỷ lệ tối đa cho phép (25% vốn ngắn hạn) hoặc thậm chí vượt cả tỷ lệ cho phép, nên tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro
- Nguồn vốn ủy thác đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM hầu như không đáng kể, đến cuối năm 2004 là 539 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 1,2% trong tổng nguồn vốn hoạt động, khỏang 1,8% trong tổng dư nợ cho vay Do việc thực hiện thanh toán chưa tốt cũng như việc quản lý chất lượng tín dụng chưa cao
nên có rất ít tổ chức, cá nhân ủy thác đầu tư qua ngân hàng
2.2 Thực trạng về năng lực tài chính:
Đến nay hầu hết các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM có tình hình tài chính tương đối tốt, đảm bảo được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% theo chuẩn mực quy định của quốc tế Tuy nhiên, hầu hết các ngân hàng này chưa có công khai minh bạch về tình hình tài chính trong công chúng, vì vậy khi có những biến động họăc những tin đồn phá hoại thì người dân ào ạt kéo đến rút tiền (như trường hợp của NHTMCP Á Châu), chính điều đó làm giảm lòng tin của công chúng đối với các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM
Từ những phân tích trên cho thấy năng lực tài chính của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM ngày càng tăng cao gắn với quá trình phát triển, quá trình củng cố chấn chỉnh hoạt động của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM Điều này phản ánh trên ba phương diện chính sau:
2.2.1 Về khả năng đáp ứng vốn cho nền kinh tế:
Đánh giá những khả năng này của NHTMCP trên phương điện khả năng khai thác và sử dụng vốn, khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế và khả năng thanh toán, cụ thể:
Trang 322.2.1.1 Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế:
Cùng với quy mô về vốn liên tục tăng, tốc độ tín dụng của các NHTMCP cũng tăng trưởng không ngừng trong những năm sau, tạo điều kiện về vốn cho khách hàng, doanh nghiệp Đặc biệt là đối với khu vực kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thú đẩy nền kinh tế đất nước phát triển theo đúng định hướng, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
Mặc dù bị hạn chế về nguồn vốn, về quy định tỷ lệ cho vay không quá 15% vốn tự có, nhưng các NHTMCP trên địa bàn TPHCM đã hợp vốn với các NHTM nhà nước và giữa các NHTMCP với nhau để cho vay đồng tài trợ đối với các dự án lớn, hạn chế được rủi
ro, nâng cao hiệu quả hoạt động
Các NHTMCP trên địa bàn TPHCM từng bước chuyển dần cơ cấu cho vay chủ yếu từ ngắn hạn sang trung, dài hạn để đáp ứng các nhu cầu đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ của khách hàng
Tuy nhiên trong hoạt động tín dụng của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM vẫn còn một
số tồn tại hạn chế sau:
- Vẫn còn một số vốn của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM tập trung vào một lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh nên mức độ phân tán rủi ro thấp Thậm chí có trường hợp có NHTMCP có vi phạm tỷ lệ giới hạn cho vay đối với khách hàng Việc chấp hành các quy định, hồ sơ thủ tục cho vay chưa đảm bảo, chưa tuân thủ các quy trình cho vay
- Nhìn chung trình độ thẩm định dự án cùa các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM còn hạn chế, chưa đáp ứng các yêu cầu của khách hàng, thâm chí có ngân hàng còn mang nặng tư tưởng cho vay có tài sản đảm bảo là đủ, mà không chú trọng đến tính hiệu quả nguồn trả
nợ của dự án
- Chất lượng tín dụng của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM sử dụng bằng chính nguồn vốn sở hữu của mình chiếm khoảng 8,4%, còn lại là nguồn vốn huy động của khách hàng 91.6% phải trả lãi suất cao Trong đó, vốn của đơn vị tổ chức kinh tế 24,2%, vốn huy động tiền gửi dân cư 67,4%, điều đó cho thấy hiệu quả tuy có nhưng chưa cao
2.2.1.2 Khả năng thanh toán:
Cùng với sự phát triển của thanh tóan trong tòan hệ thống NHTM, họat động thanh toán của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng liên quan trong quá trình hoạt động Trong đó một số NHTMCP (ACB, EIB, Đông
Trang 33Á, Phương Nam, Sacombank…) đã có ứng dụng rộng, nhanh công nghệ thông tin vào hoạt động ngân hàng, từ đó góp phần vào phát triển nhanh hoạt động thanh toán và chất lượng tăng lên so với những năm trước Gắn liền với quá trình ứng dụng và phát triển công nghệ, các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM đã tự hoàn thiện đổi mới về cơ chế tổ chức bộ máy hoạt động, mang phong cách hiện đại, đã tạo ra quy trình tác nghiệp khoa học, với các thủ tục giao dịch khách hàng thuận tiện, giao dịch một cửa… là các hoạt động đã và đang được khách hàng quan tâm
- Song song với hệ thống thanh toán liên hàng điện tử của Ngân hàng nhà nước, một số các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM triển khai các tiểu tự án trong lĩnh vực thanh toán, chuyển tiền qua ngân hàng, tham gia vào mạng thanh toán SWIFT, mạng chuyển tiền nhanh toàn cầu Những hoạt động đó đã đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tạo độ chính xác,
an toàn, hiệu quả và bảo mật cho khách hàng
- Trong công tác thanh toán, các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM đã có những cố gắng đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế, tiết kiệm chi phí liên quan, vì vậy mang lại hiệu quả cho khách hàng, cho nền kinh tế và cho chính các Tổ chức tín dụng trên địa bàn Tổng khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng và các đơn
vị, tổ chức kinh tế, cá nhân ngày càng có xu hướng năm sau tăng hơn năm trước Trong
đó phương thức ủy nhiệm chi vẫn là phương thức được sử dụng nhiều nhất, chiếm khỏang 75% - 80% trong tổng khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt
- Trong thời gian qua, hoạt động của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM đã thu hút được khối lượng lớn các khách hàng đến giao dịch và sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng Trong hoạt động này nhiều tiện ích của ngân hàng điện tử được phát triển và sử dụng Đặc biệt là dịch vụ thanh toán thẻ: Thẻ ATM, thanh toán tiền hàng tại các siêu thị; rút, gửi tiền; chi trả lương, thanh toán điện nước, điện thoại, thẻ tín dụng và các loại thẻ quốc tế khác, đã tạo ra rất nhiều tiện ích, sự thuận lợi trong thanh toán cho ngân hàng Điều đó thể hiện qua sự tăng trưởng và phát triển của tài khỏan cá nhân cả về số lượng và
số dư tiền gửi trên tài khỏan, tính đến cuối năm 2004 đã có 447.845 tài khoản cá nhân, tăng gần gấp 3 lần so với năm 2001 Tuy vậy, bên cạnh đó các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM vẫn còn những tồn tại làm hạn chế các dịch vụ thanh toán, cụ thể:
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng tuy được phát triển nhưng chưa đa dạng, chưa đồng đều ở các NHTMCP tại Tp.HCM mà chỉ tập trung ở một số ngân hàng như ACB, EAB, Sacombank, các ngân hàng còn lại hầu như chưa phát triển được các dịch vụ hiện đại
Trang 34Với cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện nay trong
đó có các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM chưa đủ sức để thuyết phục người dân thay đổi tâm lý, thói quen từ việc sử dụng tiền mặt sang việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng – thanh toán không dùng tiền mặt
2.2.2 Hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP tại Tp.HCM:
BẢNG 06: TỔNG QUAN VỀ TỔNG TÀI SẢN, LỢI NHUẬN TRƯỚC THUẾ VÀ CỔ
TỨC CỦA MỘT SỐ NHTMCP TẠI Tp.HCM:
Tổng tài sản (Tỷ đồng)
Lợi nhuận trước thuế (Tỷ đồng)
Cổ tức được chia (%) Ngân hàng
Nguồn: Tạp chí ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 18 tháng 09/2006
2.2.2.1 Đánh giá chi phí hoạt động:
Trình độ quản lý, khả năng kinh doanh cùng với mức độ ứng dụng công nghệ có quyết định rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM, tác động trực tiếp đến chi phí hoạt động kinh doanh Vốn của các NHTMCP là vốn mang tính chất “tư nhân”, do đó trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh, hoạt động quản lý của các NHTMCP nhằm bảo toàn
và sinh lợi gắn liền với lợi ích kinh tế và sự sống còn của các chủ thể kinh tế Chính điều này tạo ra khả năng quản lý hoạt động, quản lý chi phí của các NHTMCP tương đối hiệu quả, chặt chẽ Đặc biệt đối với các loại chi phí quản lý Điều đó có thể nhận biết qua sự
Trang 35Nguồn: Báo các tổng hợp của ngân hàng nhà nước Chi nhánh Tp.HCM các năm 2000 đến năm 2004
Qua bảng 07 cho thấy, tình hình chi phí của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM đặt trong mối quan hệ với các TCTD khác thông qua so sánh tỷ lệ lợi nhuận/chi phí cho thấy mức độ tạo lợi nhuận từ một đơn vị chi phí bỏ ra của các NHTMCP có xu hướng tích cực qua các năm, cao hơn so với các NHTM nhà nước, nhưng vẫn thấp hơn so với các ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Từ đó cho thấy các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM còn phải tiếp tục phấn đấu hạ thấp chi phí hơn nữa để nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó tạo thuận lợi cho việc khẳng định thương hiệu của ngân hàng
2.2.2.2 Đánh giá hiệu quả kinh doanh:
- Nhìn chung những năm qua, hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM tăng khá nhanh thoát khỏi thời kỳ khó khăn như trước 1998 Nguyên nhân chủ yếu là các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM đã có sự ổn định hơn trước về tổ chức, nâng cao hiệu quả công tác quản trị, điều hành, mở rộng quy mô hoạt động và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, chất lượng sản phẩm dịch vụ đa dạng …
- Để có cơ sở đánh giá một cách cụ thể hiệu quả hoạt động của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM đòi hỏi phải hội đủ các chi tiêu cụ thể, rõ ràng Tuy nhiên các chỉ tiêu này vẫn chưa có chuẩn chung; bên cạnh đó, cách tính, cách xác định chỉ tiêu, các chuẩn mực… còn nhiều bất cập, chưa có quy định cụ thể, chưa mang tính chiến lược lâu dài mà chỉ là những quy định mang biện pháp tình chế, chưa tuân thủ các quy định chung theo thông lệ quốc tế Tuy nhiên dựa trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các NHTM khác, các chi tiêu đánh giá sau cho thấy có thể bước đầu khẳng định phần nào hiệu quả hoạt động, thị phần đạt được của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM
BẢNG 08: TỶ LỆ THU NHẬP HOẠT ĐỘNG CẬN BIÊN CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN Tp.HCM (Đơn vị tính: %):
(=[Tổng thu từ hoạt động – tổng chi từ hoạt động]/Tổng tài sản)
Trang 36Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo của Ngân hàng nhà nước Chi nhánh Tp.HCM qua các năm
2000 đến 2004
Từ Bảng 08 cho thấy, đây là chỉ tiêu đánh giá hoạt động ngân hàng, với ý nghĩa: 1 đồng tài sản hoạt động sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận (lãi gộp) Theo đó, hệ thống NHTMCP có tỷ lệ thu nhập cận biên tăng đều qua các năm, chỉ sau các ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Hiệu suất sử dụng tài sản của NHTM phản ánh suất sinh lợi của từng đồng vốn Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản sẽ phản ánh 1 đồng tài sản sẽ mang lại bao nhiêu đồng thu nhập Theo đó, chỉ tiêu này càng lớn, hiệu suất sử dụng tài sản càng cao Bảng 09 so sánh chỉ tiêu này giữa các NHTMCP với các NHTM khác trên địa bàn Tp.HCM, cho thấy các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM đang có khả năng vươn lên trong hoạt động để khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế
BẢNG 09: HIỆU SUẤT SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN Tp.HCM (Đơn vị tính: %):
(= Tổng thu từ hoạt động/ Tổng tài sản)
BẢNG 10: TỶ LỆ SẢN SINH LỜI CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN Tp.HCM
(Đơn vị tính: %):(Tổng tài sản sinh lời/ Tổng tài sản)
1/ NHTMCP 77,01 65,16 76,16 80,30 81,1 2/ NHTM NN 65,35 63,47 68,62 69,81 77,9
Trang 373/ NHLD 59,87 60,70 67,53 79,98 79,6
4/ NH nước ngoài 63,82 43,84 60,07 67,72 68,7
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo của ngân hàng nhà nước Chi nhánh Tp.HCM qua các năm
2000 đến 2004
Nếu so sánh kết quả kinh doanh giữa các NHTM trên địa bàn Tp.HCM có thể thấy khả
năng khẳng định của các NHTMCP Tp.HCM ngày càng tăng trên thương trường
BẢNG 11: KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTM TẠI Tp.HCM
Từ các chỉ tiêu trên, lợi nhuận đạt được của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM là rất
tích cực Đó chính là cơ sở của những tiềm lực để nâng cao năng lực cạnh tranh của các
NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM
2.3 Các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng:
2.3.1 Kết quả phát triển các sản phẩm, dịch vụ của các NHTMCP tại Tp.HCM:
2.3.1.1 Đối với huy động tiền gửi:
Đây là dịch vụ truyền thống của các NHTM, trong thời gian qua dịch vụ này tiếp tục tăng
trưởng và phát triển Đến cuối năm 2004 vốn huy động của hệ thống NHTM trên địa bàn
đạt mức 150.470 tỷ đồng; trong đó vốn huy động của NHTMCP chiếm tỷ trọng 32%
trong tổng huy động vốn của toàn hệ thống, tăng trưởng 96,6% so với năm 2000; tốc độ
tăng trưởng bình quân hàng năm 32,2%; các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM đã áp dụng
nhiều hình thức huy động đa dạng như: tiết kiệm bậc thang, tiết kiện tích góp, tiết kiệm
dự thưởng… với các mức lãi suất linh hoạt phù hợp, với các hình thức và thời gian gởi
tiền đa dạng để khách hàng có nhiều sự lựa chọn Đặc biệt áp dụng công nghệ Online để
tạo tạo thuận lợi cho khách hàng rút và gửi tiền, chuyển tiền, thanh toán…
Trang 38Tuy nhiên, trong phát triển dịch vụ huy động vốn các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM vẫn còn có những tồn tại cần được khắc phục, cụ thể:
- Chi phí huy động vốn còn cao: So với hệ thống NHTM khác thì chi phí huy động tiền gửi của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM cao hơn, do đó sẽ khó cạnh tranh về giá vốn; tuy nhiên từ hạn chế này đòi hỏi các NHTMCP phải có chính sách khách hàng hợp lý, linh hoạt trong kinh doanh, sử dụng vốn hịêu quả …
- Thị trường tiền tệ phát triển chưa cao: Việc mua bán giấy tờ có giá là nghiệp vụ thông thường và phổ biến đối với các NHTM trên thế giới, đây là nghiệp vụ cho phép các NHTM nâng cao tỷ suất của vốn sinh lời và hỗ trợ nhau trên thị trường vốn Trong đó khi
đó sự phát triển hoạt động nghiệp vụ này của các NHTMCP trên địa bàn thành phố nói riêng còn hạn chế, chính vì lẽ đó làm hạn chế khả năng khai thác và sử dụng vốn của các
NHTMCP, hạn chế hiệu quả sử dụng vốn
2.3.1.2 Đối với đầu tư, tín dụng:
Đến cuối năm 2004 tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế trên địa bàn Tp.HCM là 136.624
tỷ đồng, tăng 93% so với cuối năm 2000; trong đó dư nợ cho vay của khối NHTMCP chiếm tỷ trọng 30,1% trong tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống, tăng 130% so với cuối năm 2000, với tốc độ tăng bình quân 76,7%/ năm, hệ thống NHTMCP chỉ chiếm 10% Ngoài các dịch vụ truyền thống như: cho vay thông thường, cho vay sinh hoạt tiêu dùng, cho vay đầu tư trung dài hạn để đổi mới máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, cơ sở
hạ tầng, kỹ thuật, xã hội, y tế, giáo dục, cho vay kinh doanh chứng khóan, cho vay thanh toán mua bán địa ốc… thì một tỷ lệ vốn nhất định đã được các NHTMCP lớn sử dụng để đầu tư vào các công ty cổ phần (chiếm khoảng 35 – 40% trên tổng dư nợ tín dụng)
Bên cạnh đó, các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM vẫn còn những mặt hạn chế, tồn tại trong hoạt động đầu tư, tín dụng
Cũng như NHTM nhà nước, chất lượng tín dụng của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM vẫn chưa cao, khỏan nợ xấu bao gồm nợ quá hạn, nợ chờ xử lý, nợ liên quan đến vụ án,
nợ khoanh còn khá lớn Trong khi đó tỷ lệ Nợ quá hạn/Tổng dư nợ, theo thông lệ quốc tế
có thể chấp nhận được ở mức từ 3 – 5%, thì tỷ lệ này của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM chiếm tỷ lệ 6,4% trên tổng dư nợ cho vay của NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM Những năm gần đây, hoạt động của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM đã có những cải thiện rõ rệt, kể từ sau khi khủng hỏang tài chính tiền tệ Đông Nam Á, tỷ lệ này của các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM dao động từ 3- 8% Tuy nhiên theo đánh giá chung của
Trang 39Ngân hàng thế giới (WB) thì tỷ lệ này ở các NHTM Việt Nam là 23,23% (2002) và 32,42% (2003) lý do có sự chênh lệch như vậy do chế độ hạch toán, phân loại tài sản và cách định nghĩa nợ quá hạn của Việt Nam khác với tiêu chuẩn quốc tế
Vấn đề cho thuê tài chính: nhìn chung các NHTM nhà nước đã thực hiện tốt việc cho thuê hoạt động Riêng khối NHTMCP mới chỉ có Sacombank là mới thành lập công ty cho thuê tài chính trực thuộc Trong thời gian tới, các ngân hàng phát triển nghiệp vụ cho thuê vận hành để có hình thức phong phú, đa dạng hơn đáp ứng nhu cầu của khách hàng
2.3.1.3 Đối với các họat động về ngọai hối:
Phát triển các dịch vụ ngoại tệ hiện hữu:
Trong lĩnh vực này tập trung ở nhóm 1 và nhóm 2 các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM
có khả năng cạnh tranh khá mạnh và chiếm thị phần tương đối cao so với hệ thống các NHTM khác trên địa bàn Thậm chí có những dịch vụ mà các NHTMCP tỏ ra vượt trội so với các NHTM khác như dịch vụ chi trả kiều hối, chiếm 65 – 70% thị phần; phát triển mạng lưới thu đổi ngọai tệ… đây là nguồn vốn ngọai tệ bổ sung quan trọng để các NHTMCP tăng cung trong việc cho vay, thanh toán xuất nhập khẩu, mà trước đó nguồn vốn này luôn ở trong tình trạng bội chi So sánh một số dịch vụ kinh doanh ngoại tệ hiện hữu các NHTMCP trên địa bàn Tp.HCM đạt được qua kết quả sau (xem Bảng 12, Bảng
13 và Bảng 14)
BẢNG 12: THỊ PHẦN DOANH SỐ MUA BÁN NGOẠI TỆ CỦA CÁC NHTM
TRÊN ĐỊA BÀN Tp.HCM (Đơn vị tính:%)
2000 2001 2002 2003 2004
Hệ thống
ngân hàng MUA BÁN MUA BÁN MUA BÁN MUA BÁN MUA BÁN
1/ TMCP 34,64 34,60 39,97 38,87 35,47 33,55 35,02 33,46 34,94 33,87 2/ TMCQ 36,91 37,39 34,60 34,60 38,13 36,08 37,42 35,60 37,53 37,63 3/ NHLD 3,33 3,49 5,40 5,54 4,78 6,34 4,69 6,41 5,31 5,25 4/ CD HNNN 25,13 24,51 20,03 19,25 21,62 24,03 22,87 24,53 22,21 23,22
Tổng số 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo của ngân hàng nhà nước Chi nhánh Tp.HCM qua các năm
2000 đến 2004
Trang 40BẢNG 13: THỊ PHẦN THANH TOÁN XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN Tp.HCM (Đơn vị tính:%)
Hệ thống
1/ TMCP 10,72 25,92 11,79 25,93 13,08 26,45 16,94 23,22 16,94 23,85 2/ TMCQ 65,68 49,73 63,16 50,18 60,04 44,76 53,34 40,50 51,16 39,26 3/ NHLD 2,87 2,17 2,92 3,10 2,54 3,90 3,09 4,28 3,57 4,57 4/ CD HNNN 20,72 22,18 22,13 20,79 24,35 24,90 26,64 31,99 28,43 32,32
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo của ngân hàng nhà nước Chi nhánh Tp.HCM qua các năm
2000 đến 2004
Việc quản lý, kinh doanh ngoại tệ là vấn đề nhạy cảm, chịu sự tác động của kinh tế thế giới, kinh tế trong nước, giá trị sức mua của đồng nội tệ, lãi suất, vấn đề cạnh tranh… Vì vậy để hoạt động này của các NHTMCP ổn định đã là vấn đề khó khăn nhưng tăng trưởng thì lại càng khó khăn hơn Do đó cứ một phần trăm tăng trưởng của các dịch vụ ngoại hối này của các NHTMCP có ý nghĩa lớn trong hoạt động ngân hàng Từ những số liệu so sánh trên cho thấy việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc
tế đối với các NHTMCP đang đặt ra nhiều thách thức cần có những biện pháp tháo gỡ
Dịch vụ quyền lựa chọn tiền tệ:
Dịch vụ lựa chọn tiền tệ là một dịch vụ mới ở Việt Nam và NHTMCP Xuất Nhập Khẩu (EIB) là ngân hàng đầu tiên triển khai thực hiện Đến nay, có 07 ngân hàng trên địa bàn Tp.HCM thực hiện dịch vụ này, trong đó có 1 NHTMCP: VCBHCM; EIB;Ngân hàng Đầu tư và Phát triển; SGD II Ngân hàng Công thương; HSBC; Deutsche Bank; Citybank Đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ này là các doanh nghiệp Theo đó các doanh