Thế kỷ XX sắp qua đi với những dấu ấn kinh tế đầy ấn tượng của quá trình toàn cầu hoá lực lượng sản xuất, sự mở rộng và hội nhập của nền kinh tế thế giới. Dưới sức ép của xu hướng toàn cầu hoá, một loạt các tổ chức, nhóm liên kết ra đời ở các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế với một số tổ chức quốc tế và khu vực, tiêu biểu là: AFTA, APEC, ASEAN... và WTO. WTO (World Trade Organization) - Tổ chức thương mại thế giới là một tổ chức thương mại đa biên có vai trò quan trọng trong tự do hoá thương mại. WTO là một tổ chức mang tính chất toàn cầu mà thông qua đó, các quốc gia mới thực sự hoà nhập vào cộng đồng thương mại quốc tế, tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế và hợp tác hoá, chuyên môn hoá và phân công lao động quốc tế. Do đó, việc gia nhập WTO là yêu cầu khách quan của các quốc gia và các chủ thể khác. Việt Nam những năm thực hiện có hiệu quả chính sách mở cửa kinh tế và hội nhập với thế giới cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó. Mặt khác, gia nhập WTO cũng là đáp ứng nhu cầu nội tại của Việt Nam là kiên trì mục tiêu hội nhập với nền kinh tế thế giới, nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Từ đó thông qua hội nhập giải quyết các vấn đề của nền kinh tế Việt Nam, đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển, thực hiện mục tiêu: dần dần rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển của Việt Nam với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Thế kỷ XX sắp qua đi với những dấu ấn kinh tế đầy ấn tượng củaquá trình toàn cầu hoá lực lượng sản xuất, sự mở rộng và hội nhập của nềnkinh tế thế giới Dưới sức ép của xu hướng toàn cầu hoá, một loạt các tổchức, nhóm liên kết ra đời ở các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế với một số tổchức quốc tế và khu vực, tiêu biểu là: AFTA, APEC, ASEAN và WTO.WTO (World Trade Organization) - Tổ chức thương mại thế giới là một tổchức thương mại đa biên có vai trò quan trọng trong tự do hoá thương mại.WTO là một tổ chức mang tính chất toàn cầu mà thông qua đó, các quốcgia mới thực sự hoà nhập vào cộng đồng thương mại quốc tế, tham gia vàoquá trình hội nhập kinh tế và hợp tác hoá, chuyên môn hoá và phân cônglao động quốc tế Do đó, việc gia nhập WTO là yêu cầu khách quan của cácquốc gia và các chủ thể khác
Việt Nam những năm thực hiện có hiệu quả chính sách mở cửa kinh
tế và hội nhập với thế giới cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó Mặtkhác, gia nhập WTO cũng là đáp ứng nhu cầu nội tại của Việt Nam là kiêntrì mục tiêu hội nhập với nền kinh tế thế giới, nâng cao vị thế và vai trò củaViệt Nam trên trường quốc tế Từ đó thông qua hội nhập giải quyết cácvấn đề của nền kinh tế Việt Nam, đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển, thựchiện mục tiêu: dần dần rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển của ViệtNam với các nước khác trong khu vực và trên thế giới
Trong phạm vi bài viết này, tôi trình bày tổng quan về Tổ chứcthương mại thế giới (WTO) và một số thuận lợi, khó khăn của Việt Namtrên tiến trình gia nhập WTO Để hoàn thành bài viết này, tôi sử dụng cácphương pháp sau:
Trang 2Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, phươngpháp tổng hợp.
Trang 3Cơ cấu bài viết này như sau:
CHƯƠNG I - Tổ chức thương mại thế giới.
1.1- Sự hình thành và phát triển của tổ chức thương mại thế giới 1.2- Mục đích, nguyên tắc và tổ chức của WTO
CHƯƠNG II - Thuận lợi và khó khăn trên con đường gia nhập
WTO của Việt Nam.
2.1- Những thuận lợi của Việt Nam với tư cách là thành viên WTO 2.2- Những khó khăn của Việt Nam với tư cách là thành viên WTO
Trang 4CHƯƠNG I
TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
1.1-/ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO):
Tiếp sau Đại chiến thế giới lần thứ I, trong khi các nước còn đangkhôi phục nền kinh tế sau chiến tranh thì đã bùng nổ cuộc khủng hoảngkinh tế 1929-1933 Cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề này đã ảnh hưởngrất lớn tới quan hệ quốc tế Trước khủng hoảng (tính đến trước 1930), cácquốc gia vẫn còn dễ dàng tìm được tiếng nói chung mỗi khi gặp một vấn đềphát sinh trong quan hệ quốc tế nhưng khi khủng hoảng xảy ra cùng vớinạn thất nghiệp trầm trọng, kéo dài, suy thoái kinh tế phổ biến và nghiêmtrọng, sự hợp tác kinh tế nói riêng, sự hợp tác quốc tế nói chung rơi vàomột hoàn cảnh hết sức khó khăn Để bảo vệ nền kinh tế trong nước cũngnhư ổn định xã hội trước cuộc khủng hoảng, các quốc gia đã thực hiện cácbiện pháp sai lầm là nâng cao hàng rào bảo hộ bằng cách tăng thuế quan,kiểm soát chặt chẽ ngoại hối, hạn ngạch nhập khẩu Những biện pháp này
đã đẩy sự mâu thuẫn, đối chọi về kinh tế giữa các quốc gia và đây cũng làmột trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới Đại chiến thế giới lần thứhai
Sau Thế chiến II, các quốc gia tăng cường nỗ lực tìm kiếm các cơ sởbền vững cho sự hợp tác tài chính, tiền tệ và thương mại Một loạt các hiệpđịnh song biên, đa biên được ký kết mà đáng kể nhất là sự ra đời của Ngânhàng thế giới (WB) và quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) vào năm 1944 do 44 quốcgia tham gia hội nghị Bretton Wood sáng lập; Tổ chức Châu Âu về hợp tác
và phát triển vào năm 1947 (sau này mở rộng thành Tổ chức hợp tác vàphát triển kinh tế: OCDE) Tháng 12 - 1945 theo đề nghị của Hoa Kỳ, 15nước họp bàn về giảm hàng rào thuế quan và các trở ngoại khác trongthương mại Tháng 6 - 1946, Hội đồng kinh tế xã hội Liên hợp quốc (VN)triệu tập Hội nghị về thương mại và việc làm và thảo ra hiến chương LaHavan, văn kiện này lẽ ra phải dẫn tới sự thành lập một tổ chức thương mạiquốc tế Tuy nhiên, Quốc hội Hoa Kỳ đã không phê chuẩn và điều kiện tiên
Trang 5quyết của tổ chức này là bao trùm tối thiểu, 80% thương mại thế giới đãkhông đạt được Mặc dù vậy, một số nước phát triển vẫn quyết tâm giảmbớt thuế quan và nhóm họp tại Geneva (Thuỵ Sĩ) vào tháng 10 năm 1947.Tại Hội nghị này, ngày 23 - 10 - 1947, 23 nước đã ký Hiệp định chung vềthuế quan và mậu dịch (GATT) và hiệp định này có hiệu lực từ 1-1-1948.Ngoài ra, 23 nước đã thoả thuận với nhau về hàng loạt vấn đề liên quan đếnquan thuế, đạt được 45000 sự nhượng bộ nhau về thuế gắn với 10 tỷ USDhàng hoá Vòng đàm phán thương mại Geneva này cũng thoả thuận rằng sựnhượng bộ về thuế đó sẽ được bảo vệ bằng việc chấp nhận và phổ biếnrộng rãi các nguyên tắc vèe thương mại được ghi trong bản dự thảo Hiếnchương của tổ chức thương mại quốc tế (ITO) Những nhượng bộ về thuế
và các nguyên tắc thương mại quốc tế đó đã tạo ra một khung pháp luậtthương mại quốc tế đa biên được AD áp dụng rộng rãi từ tháng 1/1948.Bản Hiến cương của ITO đã được chấp nhận vào tháng 3/1948 tạ hội nghịHavanan một số nước không phê chuẩn nên ITO đã được thàn lập trên thực
tế Mặc dù vậy, GATT vẫn là một công cụ pháp lý đa biên duy nhất điềuchỉnhn nền thương mại quốc tế từ năm 1948cho tới khi WTO được thànhlập
Trong suốt thời gian tồn tại cả mình gồm, GATT vẫn có hiệu lực nhưnăm 1948 và cũng được củng cố, bổ xung dưới hình thức đa phương bằng
sự gia tăng số lượng thành viên, các hiệp định đa biên và các thoả thuậnnhằm giảm thuế thông qua hàng loạt vòng đàm phán thương mại Trong sốcác vòng đàm phán đó phải kể đến vóng đàm phán Anence(1949)Torgoay(1951) Geneva(1956), Dillon(1960 - 1961), Kenedy(1964-1967),Tokyo(1973 - 1979) và Urugoay(1986 - 1994) Phần lớn các vòng đàmphán từ 1947 đến 1964 tập trung vào được việc gảm thuế quan, Từ vòngđàm phán Kenedy trở đi các vấn đề đưa ra đàm phán rộng hơn, phong phúhơn Ở vòng Kenedy 62 nước tham gia đàm phán đã thốn nhất được hiệpđịnh đa biên về chống phá giá và thoả thuận gảm 50% sau 5 năm 37% thuếvới 75% khối lượng hàng trao đổi, giữ nguyên chính sách bảo hộ đối vớihàng nhạy cảm (nông sản, thuỷ sản, hàng dệt, da, ) ở vòng Tokyo, ngoàivấn đề quan thuế, 102 nước tham gia đàm phán đã thống nhất được mộtloạt các hiệp định và thoả thuận về các biện pháp phi quan thuế và các hiệp
Trang 6định khung Đó là giảm trung bình 34% thuế với mức không đều, các nước cóbiểu thuế cao giảm nhiều hơn, hàng nhạy cảm có được giảm thuế những ở mứcthấp Các bên thừa nhận sự phát triển của hàng rào phi thuế quan, công nhận sựcần thiết và cho phép đãi ngộ ưu đãi dành cho các nước đang và chậm pháttriển.
Những tư tưởng lớn về vóng đàm phán Urugoay đã được định hìnhngay sau vòng Tokyo và được đưa ra tại Hội nghị Bộ trưởng các nướcthành viên GATT tháng 11/1982 tại Geneva Tuy vậy, phải đến trước hộinghị các Bộ trưởng tháng 9/986 tại Puntadel Este (Urugoay) chương trìnhhội nghị của vòng đàm phán này mới được chấp nhận Chương trình nàybao gồm một tổng thể lớn các vấn đề thương mại như dịch vụ, đầu tư vàquyền sử hữu trí tuệ Tại sao lại đặt ra những vấn đề mang tính cấp thiết và
mở rộng như vậy tại vòng đàm phán này Đó là do GATT đã được bộc lộnhững hạn chế của mình sau một thời gian dài hoạt động Trong năm
1989, văn phòng đại diện thương mại Hoa Kỳ ước tính rằng trong số 3730
tỷ USD hoạt động thương mại trên thế giới, chỉ có 2/3 số này áp dụng cácđiều lệ của GATT tức là 1/3 các hoạt động thương mại với các sản phẩm
mà các nước sử dụng ngoại lệ để không chịu giảm tàn diện trong hạn chế.Cáchoạt động về thương mại dịch vụ, tài chính vẫn nằm trong sự bảo hộcủa nhà nước
Lĩnh vực dịch vụ phức tạp đến mỗi người ta rất ít khi thoả thuậndược ngay cả vệc lám sao để bắ đaàu cuộc đàm phán Hơn nữa, quy chếlỏng lẻo của GATT đã làm cho hệ thống mậu dịch hướng tới tự do hoá bịsuy yếu:
+ Qua các hiệp định song biên các bên dành cho nhau các quy chế ưuđãi riêng
+ Các biện pháp hạn chế về số lượng và hàng rào thuế quan tăng lên.+ Các trở ngại phi thuế quan mọc lên nhanh chóng
Vòng đàm phán Urugoay kéo dài đến 15/12/1993 để khắc phụcnhững hạn chế của GATT, đi đến thống nhất những vấn đề mới mang tínhthương mại toàn cầu Ngày 15/4/1994, văn kiện cuối cùng của vòng đàm
Trang 7phán Urugoay đã được 123 nước tham gia kí tại cuộc họp ở Marraesh(Morocco) Tuyên bố Marrakesh ngày 15/4/1994 đã khẳng định kết quả.Vòng đàm phán Urugoay là nhằm tăng cường nền kinh tế thế giới và thúc đẩythương mại, đầu tư, tăng việc làm và thu nhập trên toàn thế giới và thành lập
tổ chức thươg mại thế gới (Wold trade organision, Viết tắt của WTO )
WTO là một thiết chế pháp lý của hệ thống thương mại đa biên
Thuật ngữ “đa biên” theo giải thích cả WTO là thuật ngữ được sử dụng để thay cho nhữ toàn cầu hoặc chữ “thế giới” mà trước đây quen dùng
WTO đưa ra các nghĩa vụ có tính nguyên tắc để chính phủ các nước thôngqua các cuộc thảo luận, thương lượng và phán xét có tính tập thể
1.2-/ MỤC ĐÍCH, NGUYÊN TẮC VÀ TỔ CHỨC CỦA WTO
1.2.1- Mục đích
WTO có ba mục đích cơ bản sau.
Thứ nhất giúp cho dòng thương mại càng tự do được bao nhiêu càngtốt bấy nhiêu Để làm được như vậy, người ta cố gắng để mọi cái có thể rõràng mà không trìu tượng, có thể có nhận biết và dự báo trước đươc Điều
đó còn có nghĩa WTO phải phấn đấu để đảm bảo cho các cá nhân doanhnghiệp và Chính Phủ các nước hiểu rằng các quy tắc thương mại mà khôngmột nước nào được đột nhiên thay đổi chính sách thương mại mà khôngmột cá nhân tổ chức của nước nào khác được biết trước Nói một cách khác
là các quy tắc thương mại phải “trong sáng, rõ ràng” và có thể lường trước
được mọi thay đổi
Thứ hai: Thực hiện chức năng của trung tâm giàn xếp, thương lượng
và thoả thuận các chính sách qui tắc thương mại đa biên
Thứ ba: Trung tâm để giải quyết các bất đồng, các tranh chấp phátsinh trong quá trình hoạt động thương mại quốc tế
1.2.2 Nguyên tắc
Hệ thống các hiệp định của WTO khá lớn đồng bộ, bao quát cả mộtphạm vi rộng lớn các hoạt động thương mại Các hiệp định đó liên quanđến nông nghiệp, hàng dệt và may mặc, ngân hàng, vô tuyến viễn thông,
Trang 8mua sắm của Chính phủ các tiêu chuẩn công nghiệp, các qui định về vệsinh thực phẩm, đến sở hữu trí tuệ và các lĩnh vực khác Tuy vậy, cácnguyên tắc cơ bản, các nguyên tắc nền tảng của WTO xuyên suốt toàn bộcác hiệp định, các nguyên tắc đó là cơ sở của hệ thống thương mại đa biêncác nguyên tắc đó là:
a- Nguyên tắc thương mại không phân biệt đối sử.
Thương mại thế giới phải được thực hiện một cách công bằng, khôngphân biệt đối xử Các nước thành viên WTO cam kết giành cho nhau chế
độ đãi ngộ tối huệ quốc (MNF) tức là chế độ đãi ngộ ở lĩnh vực mình dànhcho hàng hóa của một nước bạn hàng này không kém phần thuận lợi hơn sovới chế độ đãi ngộ ở lĩnh vực đó giành cho bất kỳ nước thứ ba nào
Các nước thành viên WTO cam kết giành cho nhau chế độ đãi ngộquốc gia (NT), tức là chế độ không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu
và hàng sản xuất trong nước, khi hàng nhập khẩu được đưa vào thị trườngtrong nước Các quốc gia có chính sách đối xử như thế nào với hàng hoásản xuất trong nước thì cũng phải đối xử như vậy đối với hàng hoá nhậpkhẩu từ các nước thành viên WTO
Hiện nay, chế độ tối huệ quốc và chế độ đãi ngộ quốc gia chủ yếugiành cho hàng hoá Tuy nhiên, các nước thành viên mong muốn và đangxúc tiến, vận động mở rộng chế độ tối huệ quốc áp dụng đối với cả thươngnhân không riêng trong lĩnh vực hàng hoá mà còn trong lĩnh vực bảo hộquyền sở hữu trí tuệ
b Nguyên tắc tự do hoá mậu dịch.
Các nước thành viên WTO phải xây dựng chính sách và khung phápluật nhằm thực hiện, đáp ứng yêu cầu cắt giảm dần dần từng bước hàngrào thuế quan và phi thuế quan, để đến một lúc nào đó trong tương lai sẽxoá bỏ hoàn toàn, mở đường cho thương mại phát triển Tự do hoá mậudịch gắn với pháp luật, thể lệ và khả năng cụ thể của từng nước
c Nguyên tắc bảo hộ mậu dịch trong nước bằng hàng rào quan thuế.
Trang 9Nguyên tắc này trái ngược với nguyên tắc tự do hoá mậu dịch nhưngWTO chủ trương vẫn giành cho một số nước thành viên trong một thờigian nhất định vẫn được áp dụng các biện pháp bảo hộ mậu dịch đối vớihàng hoá trong nước bằng hàng rào thuế quan Có chủ trương đó là do hiệnnay và trong một thời gian nữa chưa khắc phục ngay được sự phát triểnkhông đồng đều giữa các quốc gia thành viên Nguyên tắc này có nội dungbảo hộ bằng hàng rào thuế quan, không ủng hộ bảo hộ mậu dịch bằng hàngrào phi thuế quan hoặc các biện pháp hành chính Mặc dù vậy, các nước ápdụng nguyên tắc này có nghĩa vụ phải công bố mức thuế trần cam kết, đểrồi từ đó cùng với các nước WTO khác thương lượng theo chiều hướnggiảm dần mà không có tăng Nếu các nước tăng quá mức thuế trần cam kếtthì phải bồi thường nhanh chóng, kịp thời và thoả đáng cho các nước bịthiệt hại Ngoài ra, mỗi nước phải cam kết mốc thời gian thực hiện lộ trìnhcắt giảm dần để tiến tới mục tiêu xoá bỏ hàng rào quan thuế.
d Nguyên tắc ổn định thương mại
WTO chủ trương thương mại quốc tế phải được tiến hành cơ sở ổnđịnh, rõ ràng minh bạch, không ẩn ý Theo nguyên tắc này, các quốc giathành viên phải thông qua đàm phán, đưa ra các cam kết với những lộ trìnhthực hiện cụ thể Tuy thừa nhận quyền của mỗi nước thành viên được đàmphán lại cam kết của mình WTO qui định nghĩa vụ phải đền bù các thiệt hại
có thể xảy ra cho các thành viên khác Khi xây dựng chính sách và khungpháp luật này phải được công bố công khai để mọi đối tượng quan tâm nàyphải lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp xã hội và sau đó mới tiến hành sửađổi cũng như dành thời gian thích hợp để tuyên bố hiệu lực của các sửa đổi
bổ xung đó:
e Nguyên tắc tăng cường cạnh tranh lành mạnh.
Nội dung của nguyên tắc này là sự cạnh tranh hàng hoá dịch vụ phảitrên cơ sở lành mạnh, không được dùng quyền lực nhà nước để áp đặt, bópméo tính lành mạnh, công bằng của cạnh tranh trên thị trường quốc tế.Nguyên tắc này được nhấn mạnh trong các lĩnh vực như quyền lợi và nghĩa
vụ của doanh nghiệp nhà nước, quyền cấp giấy phép kinh doanh xuất nhậpkhẩu; cấp hạn ngạch
Trang 10g Nguyên tắc không hạn chế số lượng hàng hoá nhập khẩu
Qui định này nhằm chống lại những hạn chế nhập khẩu đặc biệt làvới một số mặt hàng Tuy vậy, vẫn có ngoại lệ được áp dụng cho các quốcgia thành viên trong những trường hợp đặc biệt nghĩa là WTO vẫn cho phépcác quốc gia này được phép hạn chế hàng hoá nhập khẩu khi gặp những khókhăn về cán cân thanh toán do trình độ phát triển thấp của nền kt trong nướchoặc vì những lý do về môi trường, an ninh quốc gia Việc áp dụng ngoại lệnày chỉ có tính chất tạm thời và được áp dụng không phân biệt giữa các nướcbạn hàng khác nhau, khi có điều kiện phải xoá bỏ việc áp dụng qui định này
h Nguyên tắc giải quyết tranh chấp, bất đồng thương mại qua thương lượng hoà giải.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo an toàn và công bằng cho các quan
hệ thương mại Các tranh chấp giữa các bên trước tiên phải được giải quyếtthông qua thương lượng và hoà giải trên cơ sở thiện chí Trong trường hợp,
đã áp dụng các biện pháp như vậy mà các bên thấy vẫn không thoả đáng thì
có thể đệ trình lên ban hội thẩm của WTO Khi đó một hội đồng trọng tàigồm 3 chuyên gia từ các nước không có liên quan tới các bên tranh chấpđược lập ra để xem xét các vấn đề bất đồng và đưa ra ý kiến cho ban hộithẩm xem xét Sau khi xem xét, ban hội thẩm ra quyết định và quyết định
và quyết định của ban hội thẩm mang tính chất ràng buộc đối với các bên
i Nguyên tắc về quyền được từ chối và tự vệ trong trường hợp khẩn cấp
Nguyên tắc này được ghi nhận trong GATT 1994 Theo đó, trongmột số trường hợp đặc biệt, quốc gia thành viên có thể từ chối việc thựchiện một hoặc một số nghĩa vụ đã cam kết (điều 25 GATT 1994), nhưngchỉ được thực hiện quyền này nếu được WTO tán thành Về quyền tự vệcăn cứ vào nội dung điều 1919 của GATT 1994 thì quốc gia thành viên cóthể áp dụng các biện pháp tự vệ trong trường hợp khẩn cấp, nhằm bảo hộsản xuất hàng hóa trong nước như tăng thuế xuất nhập khẩu vượt mức trần
đã cam kết, áp dụng hình thức hạn chế số lượng hàng nhập khẩu vượt khẩu;trợ giá đối với hàng hoá sản xuất trong nước Tuy vậy, biện pháp này chỉ cótính tạm thời và phải tổ chức quốc tế và khu vực
Trang 11k Nguyên tắc tôn trọng các tổ chức quốc tế và khu vực
WTO là đại diện cho thương mại toàn cầu, nhưng vẫn thừa nhậnnhững tổ chức kinh tế khu vực hoạt động trong lĩnh vực hoạt động tronglĩnh vực thương mại quốc tế, miễn là những tổ chức này tuân thủ nguyêntắc tự do hoá thương mại, thực hiện chính sách kinh tế mở, hướng ngoại,không co cụm thực hiện việc loại bỏ dần hoặc giảm dần các hàng rào quanthuế, phi quan thuế gây cản trở cho dòng thương mại toàn cầu Do vậy,nguyên tắc MFN được miễn trừ trong quan hệ giữa các nước thành viêncủa tổ chức kinh tế, thương mại khu vực dưới hình thức liên minh quanthuế hoặc khâu mậu dịch tự do
l Nguyên tắc giành điều kiện thuận lợi hơn cho các nước đang phát triển và chậm phát triển
Theo nguyên tắc này, WTO thừa nhận phải giành cho các nước đangphát triển và chậm phát triển những điều kiện thuận lợi hơn trong thươngmại quốc tế hàng hoá và dịch vụ Đối với những nước này, các nước côngnghiệp phát triển sẽ không yêu cầu có đi có lại trong các cam kết, giảmhoặc bỏ hàng rào quan thuế hoặc phi quan thuế để các nước đó có thể thamgia đầy đủ thương mại quốc tế
1.2.3 Tổ chức của WTO
WTO được tổ chức và hoạt động bởi Chính phủ của các nước thànhviên Tất cả các quyết định quan trọng đều được xây dựng và thông qua bởicác Bộ trưởng hoặc các quan chức các nước chủ yếu trên cơ sở nguyên tắcnhất trí (Consensus) Đến tháng 12/1998, WTO có 132 thành viên chính thức,hai thành viên dự bị (Kirgizistan và Latva) 34 nước quan sát viên Để đảm bảonguyên tắc nhất trí, sự công bằng bình đẳng giữa các nước thành viên trongtiến trình tự do hoá thương mại, sự hoạt động có hiệu quả vì lợi ích của cácnước thành viên WTO đã có một cơ cấu tổ chức chặt chẽ bao gồm nhiều hộiđồng, uỷ ban bao trùm nhiều lĩnh vực trong thương mại quốc tế
- Cơ quan cao nhất WTO là hội nghị cấp bộ trưởng, bao gồm tất cảcác đại diện của các nước thành viên, đựoc tổ chức ít nhất 2 năm một lần