Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN SINH THÁI VÀ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TÀI NGUYÊN SINH VẬT AN THỊ HẰNG NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG VÀ GIÁ TR
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN SINH THÁI VÀ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TÀI NGUYÊN SINH VẬT
AN THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG VÀ GIÁ TRỊ BẢO TỒN
CỦA CÁC LOÀI ẾCH NHÁI Ở CÁC HUYỆN HẠ LANG
VÀ TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong những nước có khu hệ ếch nhái đa dạng nhất
trên thế giới với gần 200 loài ếch nhái hiện được ghi nhận (Frost 2013) Năm
1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc ghi nhận 82 loài, số lượng loài tăng
lên gấp đôi (162) vào năm 2005 (Nguyễn Văn Sáng và cs 2005) và lên tới
177 loài vào năm 2009 theo tài liệu của Nguyen et al (2009) Chỉ tính riêng
trong 5 năm trở lại đây, có tới 15 loài ếch nhái mới được công bố với mẫu
chuẩn thu ở Việt Nam gồm: Leptolalax applebyi Rowley & Cao, 2009;
Leptolalax croceus Rowley, Hoang, Le, Dau & Cao, 2010; Odorrana
geminata Bain, Stuart, Nguyen, Che & Rao, 2009; Theloderma lateriticum
Bain, Nguyen & Doan, 2009; Rhacophorus vampyrus Rowley, Le, Tran,
Stuart & Hoang, 2010; Gracixalus quangi Rowley, Dau, Nguyen, Cao &
Nguyen 2011; Theloderma nebulosum Rowley, Le, Hoang, Dau & Cao, 2011;
Theloderma palliatum Rowley, Le, Hoang, Dau & Cao, 2011; Gracixalus
waza Nguyen, Le, Pham, Nguyen, Bonkowski & Ziegler, 2012; Ichthyophis
nguyenorum Nishikawa, Matsui & Orlov, 2012; Rhacophorus helenae
Rowley, Tran, Hoang & Le, 2012; Rhacophorus robertingeri Orlov,
Poyarkov, Vassilieva, Ananjeva, Nguyen, Nguyen & Geissler, 2012;
Theloderma bambusicolum Orlov, Poyarkov, Vassilieva, Ananjeva, Nguyen,
Nguyen & Geissler, 2012; Tylototriton ziegleri Nishikawa, Matsui & Nguyen
2013; Oreolalax sterlingae Nguyen, Phung, Le, Ziegler & Böhme, 2013; 1
giống mới là Oreolalax và 2 loài mới ghi nhận cho Việt Nam là
Leptobrachium promustache và Tylototriton notialis (Bain et al 2009,
Nishikawa et al 2013, Nguyen et al 2013) Số lượng loài tăng lên nhanh
chóng và những khám phá mới liên tục được công bố chứng tỏ khu hệ ếch
nhái của Việt Nam rất đa dạng và cần tiếp tục được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Cao Bằng nằm ở khu vực Đông Bắc Việt Nam với diện tích rừng tự nhiên chủ yếu tập trung hai huyện Trùng Khánh và Hạ Lang Tuy nhiên, các công trình công bố về đa dạng sinh học ở tỉnh Cao Bằng rất ít và rải rác, đặc biệt là các loài bò sát và ếch nhái Theo Nguyen et al (2009), có 40 loài ếch nhái đã được ghi nhận ở Cao Bằng Hồ Thu Cúc và cs (2009) đã ghi nhận 29 loài ếch nhái ở khu vực núi Pia Oắc, huyện Nguyên Bình đồng thời bổ sung thêm 5 loài ếch nhái cho tỉnh Cao Bằng Hầu hết các nghiên cứu trên tập trung ở khu vực rừng trên núi đất thấp và núi đá granit thuộc huyện Nguyên Bình Ở hai huyện Hạ Lang và Trùng Khánh, hiện mới chỉ có một số bài báo
có liên quan đến công bố loài mới và ghi nhận mới của các loài bò sát như:
Goniurosaurus araneus, Goniurosaurus luii, Protobothrops trungkhanhensis
(Grismer et al 1999, Orlov et al 2009) Gần đây đã có thêm một loài ếch nhái mới cho khoa học được mô tả với mẫu vật thu được từ khu vực Hạ Lang là
Gracixalus waza (Nguyen et al 2012)
Như vậy, cho đến nay hầu như chưa có nghiên cứu nào về thành phần loài ếch nhái được thực hiện trên sinh cảnh núi đá vôi ở hai huyện kể trên Vì vậy, để góp phần đánh giá giá trị đa dạng sinh học làm cơ sở cho công tác quy
hoạch bảo tồn của tỉnh Cao Bằng, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sự đa dạng và giá trị bảo tồn của các loài ếch nhái ở các huyện Hạ Lang và Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”
Mục tiêu nghiên cứu
+ Phát hiện loài mới và các ghi nhận mới về các loài ếch nhái ở khu vực nghiên cứu
+ Đánh giá sự đa dạng các loài ếch nhái ở khu vực rừng thuộc các huyện Trùng Khánh và Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Đánh giá giá trị bảo tồn của khu hệ ếch nhái theo tiêu chí số loài đặc hữu và bị đe dọa
Nội dung nghiên cứu
+ Xác định thành phần loài
- Lập danh sách loài, xác định các nhóm loài chiếm ưu thế trong khu vực
- Phát hiện các loài mới (nếu có)
- Ghi nhận các loài mới cho tỉnh Cao Bằng và cho Việt Nam
+ Ghi nhận sự phân bố của các loài theo các dạng sinh cảnh sống trong khu vực
+ So sánh sự tương đồng về thành phần loài giữa khu vực nghiên cứu với một số khu vực có dạng sinh cảnh tương tự ở Việt Nam
+ Xác định các nhân tố đe dọa đến các quần thể của các loài ếch nhái ở khu vực nghiên cứu thông qua quan sát trực tiếp và phỏng vấn các nhà quản
lý và người dân địa phương
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số nghiên cứu về sự đa dạng của các loài ếch nhái ở Việt Nam
Theo Nguyễn Văn Sáng và cs (2009), lịch sử nghiên cứu ếch nhái bò sát ở Việt Nam có thể chia ra bốn thời kỳ: thời kỳ thứ nhất từ năm 1954 trở về trước; thời kỳ thứ hai từ năm 1954 đến năm 1975; thời kỳ thứ ba từ năm 1976 đến năm 1987 và thời kỳ thứ tư từ năm 1988 đến nay
1.1.1 Thời kỳ thứ nhất
Danh y Tuệ Tĩnh (thế kỷ XVII) là người đầu tiên đã thống kê được 16
vị thuốc có nguồn gốc từ ếch nhái bò sát trong số 498 vị thuốc nam dùng chữa bệnh (Tuệ Tĩnh, bản in lại 1972)
Sang đến đầu thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu nổi bật nhất về khu
hệ bò sát và ếch nhái ở khu vực Đông Dương (Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia)
là của Bourret được xuất bản trong khoảng thời gian từ năm 1924 đến năm
1944
Theo Nguyen et al (2009), từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX có
84 loài mới về ếch nhái và bò sát đã được mô tả với mẫu chuẩn thu được ở Việt Nam
1.1.2 Thời kỳ thứ hai
Năm 1968 – 1970: Viện nghiên cứu Khoa học tự nhiên thuộc Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước đã tiến hành điều tra ở nhiều tỉnh như: Hà Bắc, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Tĩnh Thời kì này các nhà khoa học Việt Nam đã thống kê ở Miền Bắc Việt Nam có 69 loài ếch nhái
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.3 Thời kỳ thứ ba
Thời kỳ này những nghiên cứu thường tập trung thống kê thành phần loài của một vùng hay một khu vực Ngoài ra có một số nghiên cứu về sinh thái, sinh học của một số loài có giá trị kinh tế
Ở Miền Bắc, từ năm 1975 công tác điều tra ếch nhái được tiến hành ở các nhiều tỉnh như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh
Năm 1977, Đào Văn Tiến đã công bố khóa định loại 87 loài ếch nhái
trong bài báo “Về định loại ếch nhái Việt Nam”
1.1.4 Thời kỳ thứ tư
Đây là thời kỳ các nghiên cứu ếch nhái nước ta được thực hiện bởi nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Từ năm 1995 trở lại đây có nhiều công trình công bố của các tác giả: Đinh Thị Phương Anh, Hồ Thu Cúc, Ngô Đắc Chứng, Lê Nguyên Ngật, Hoàng Xuân Quang, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường Lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân loại học và thống kê danh sách loài ở các địa điểm khác nhau Có một số nghiên cứu về sinh thái học và nhân nuôi một số loài có giá trị kinh tế, khoa học được thực hiện bởi các nghiên cứu sinh Ngoài ra những nghiên cứu có liên quan đến sinh học phân tử và tiến hóa; sinh học, sinh thái; ký sinh trùng
và bệnh học cũng được đề cập đến trong một số sách chuyên khảo và bài báo khoa học
Hướng nghiên cứu về điều tra phân loại, đa dạng của khu hệ:
Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã xuất bản cuốn “Danh lục bò sát và ếch nhái Việt Nam” ghi nhận 82 loài ếch nhái ở Việt Nam
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Năm 1999, nghiên cứu tổng quan về ếch nhái của tác giả Hồ Thu Cúc
đã thống kê được 100 loài ếch nhái ở Việt Nam
Ngô Thái Lan và cs (2009) điều tra thành phần loài ếch nhái ở xã
Kháng Nhật, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang ghi nhận 19 loài thuộc 6
họ, 2 bộ
Năm 2005, Nguyễn Văn Sáng và cs thống kê trong “Danh lục ếch nhái
và bò sát Việt Nam” có 162 loài ếch nhái thuộc 9 họ, 3 bộ
Nguyen et al (2009) đã thống kê được 176 loài ếch nhái thuộc 10 họ, 3
bộ ở Việt Nam
Biểu đồ 1.1 Sự đa dạng của ếch nhái qua các thời kì (1977-2012)
Trong quá trình nghiên cứu, đã có nhiều loài mới cho khoa học được
mô tả và hàng loạt ghi nhận mới cho khu hệ ếch nhái bò sát Việt Nam được
công bố bởi các nhà khoa học trong và ngoài nước Một số phát hiện mới ở
các tỉnh lân cận trong khu vực Đông Bắc Việt Nam như:
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bain and Nguyen (2004) đã công bố danh sách khu hệ ếch nhái của tỉnh
Hà Giang năm 2000, ở khu hệ này các tác giả đã thống kê được 36 loài ếch
nhái và mô tả hai loài mới Rana iriodes và Rana tabaca
Böehme et al (2005) mô tả loài Cá cóc sần việt nam Tylototriton vietnamensis với mẫu chuẩn thu được ở vùng núi Yên Tử thuộc tỉnh Bắc
Giang
Nguyen et al (2008) ghi nhận hai loài mới cho khu hệ ếch nhái vùng
núi Yên Tử là Rhacophorus maximus và Rhacophorus rhodopus
Tran et al (2008) mô tả thêm một loài mới cho khu hệ núi Yên Tử, tỉnh
Bắc Giang là Odorrana yentuensis Ngoài ra, hướng nghiên cứu về sinh thái,
sinh học, đặc điểm hình thái của nòng nọc và con non một số loài ếch nhái có
ý nghĩa kinh tế, giá trị khoa học cũng được tăng cườnglàm cơ sở xây dựng quy trình nhân nuôi và bảo tồn
Hendrix et al (2007) mô tả hình thái và phân tích trình tự ADN của
nòng nọc loài Ếch cây trung bộ Rhacophorus annamensis Smith, 1924 ở
Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Ngô Đắc Chứng và cs (2009) nghiên cứu một số đặc điểm sinh học,
sinh thái học của Ếch gai sần Paa verrucospinosa Bourret, 1937 ở vùng A
Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế
Lê Vũ Khôi và cs (2009) đưa ra những dẫn liệu về sự sinh trưởng và
phát triển của chành xanh đốm Rhacophorus dennysi trong điều kiện nuôi
nhốt ở Trại thực nghiệm Sinh học Cổ Nhuế - Hà Nội
Windelhaues et al (2010) đã mô tả các giai đoạn nòng nọc và con
trưởng thành loài ếch cây lớn Rhacophorus maximus ở Khu bảo tồn thiên
nhiên Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Đậu Quang Vinh và cs (2012) nghiên cứu về đặc điểm tiếng kêu của
loài Ếch cây chân đỏ Rhacophorus rhodopus Liu & Hu, 1960 ở khu đề xuất
bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An
Trần Thị Ngân và cs (2012) đã công bố một số đặc điểm âm thanh và
ảnh hưởng của nhiệt độ lên tiếng kêu của loài Ếch cây mép trắng Polypedates leucomystax (Gravenhorst, 1829) ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.Hiện nay,
các nghiên cứu về sinh học phân tử được coi là công cụ hữu hiệu để nghiên cứu về mối quan hệ di truyền và tiến hóa, đồng thời hỗ trợ cho việc sắp xếp,
hệ thống lại các loài ếch nhái ở Việt Nam Ngoài việc so sánh về đặc điểm hình thái thì bằng chứng về sinh học phân tử cũng giúp các nhà nghiên cứu
mô tả những loài ếch nhái mới cho khoa học Dựa vào kết quả phân tích sinh
học phân tử, một số loài thuộc giống Philautus cũng được chuyển sang giống Gracixalus và Theloderma (Rowley et al 2011; Orlov et al 2012)
Orlov et al (2012) đã đánh giá hiện trạng phân loại và phân bố của ếch cây thu được trong hệ thống núi biệt lập ở Nam Trường Sơn và khu vực phụ cận Dựa trên cơ sở các bằng chứng hình thái học và phân tử, các tác giả đã thảo luận sự phân loại của họ Rhacophoridae ở miền Nam Việt Nam Đồng
thời các tác giả đã mô tả và công bố 3 loài mới trong họ là Theloderma chuyangsinensis, T bambusicolum và Rhacophorus robertingeri (trước đây được định loại là loài R.calcaneus) Nhóm tác giả này cũng chuyển loài Philautus laevis thành loài Theloderma leave (Orlov et al 2012)
1.2 Một số nghiên cứu về ếch nhái ở Cao Bằng
Nghiên cứu về khu hệ ếch nhái của tỉnh Cao Bằng còn rất hạn chế, ngoại trừ một số ghi nhận và mô tả loài mới trong tài liệu của Bourret (1942),
có một số nghiên cứu đã được thực hiện ở tỉnh Cao Bằng nhưng tập trung ở khu vực núi đất và núi đá granit ở khu vực Nguyên Bình và núi Pia Oắc
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hồ Thu Cúc và cs (2005) đã nghiên cứu thành phần loài ếch nhái ở một số khu vực thuộc vùng núi Đông Bắc Việt Nam bao gồm 82 loài thuộc 9
họ, 3 bộ trong đó ghi nhận 37 loài ở tỉnh Cao Bằng
Nguyễn Thiên Tạo (2009) điều tra ở khu vực núi Pia Oắc, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng đã ghi nhận 29 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 3 bộ ở khu vực này
Nguyen et al (2012) mô tả loài Nhái cây wa-za Gracixalus waza với
mẫu chuẩn thu ở Cao Bằng
Nishikawa et al (2013) mô tả loài Cá cóc zig-lơ Tylototriton ziegleri với mẫu chuẩn thu ở Cao Bằng và Hà Giang
1.3 Sơ lƣợc điều kiện tự nhiên tỉnh Cao Bằng
1.3 1 Vị trí địa lý và diện tích
Cao Bằng nằm ở khu vực Đông Bắc Việt Nam, cách Hà Nội khoảng
300 km về phía Bắc Phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với đường biên giới dài 311 km Phía Tây giáp với các tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang Phía Nam giáp với các tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn Diện tích của Cao Bằng có là 6724,6 km2 (Nxb Bản đồ 2011)
Huyện Trùng Khánh nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng, cách trung tâm thị xã Cao Bằng 62 km theo đường tỉnh lộ 206 với diện tích là 468,7 km2 Huyện có 18 đơn vị hành chính cấp xã và thị trấn Trùng Khánh (Nxb Bản đồ 2011)
Huyện Hạ Lang nằm ở phía Đông tỉnh Cao Bằng, cách trung tâm thị xã Cao Bằng 70 km theo đường tỉnh lộ 207 với diện tích là 463,4 km2 Huyện có
14 đơn vị hành chính cấp xã (Nxb Bản đồ 2011)
1.3.2 Địa hình
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo cổng thông tin điện tử của tỉnh Cao Bằng (www.caobang.gov.vn), địa hình của tỉnh này khá phức tạp, được thể hiện trên 3 miền địa hình chủ yếu Kiểu địa hình karstơ (núi đá vôi) chiếm diện tích ở hầu hết các huyện phía đông của tỉnh như Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Quảng Hòa, Hà Quảng, Thông Nông Khu vực này có hệ thống dãy núi đá vôi phân cách mãnh liệt với các đỉnh nhọn dạng tai mèo, gồ ghề lởm chởm cao thấp khác nhau, hang hốc tự nhiên nhiều, xen kẽ các dãy núi là thung lũng hẹp với nhiều dạng khác nhau Kiểu địa hình thứ hai là núi đất và đá granit phân bố ở các huyện phía tây của tỉnh như Nguyên Bình, Bảo Lạc, Thạch An và một phần diện tích phía nam Hòa An Thứ ba là miền địa hình núi thấp thung lũng Các thung lũng lớn như: Hòa
An, Nguyên Bình, Thạch An, thung lũng sông Bắc Vọng
Địa điểm nghiên cứu của đề tài này tập trung ở dạng sinh cảnh núi đá vôi thuộc 2 huyện Hạ Lang và Trùng Khánh ở độ cao từ 100-750 m so với mực nước biển
C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 140C (tháng I) và tháng cao nhất 27,30C (tháng VII) Ở các vùng cao của tỉnh thường xuất hiện sương muối, băng giá Sương mù kéo dài tới 4-5 tháng
Về chế độ mưa, lượng mưa trung bình năm của toàn tỉnh là 1442,7 mm (trung bình tháng cao nhất là 267,1 mm – tháng VIII, tháng thấp nhất 16,1
mm – tháng I) Độ ẩm không khí bình quân hàng năm là 81%, thấp nhất là 79
% (Nguyễn Khanh Vân và cs 2000)
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hệ thống sông Bắc Vọng có diện tích lưu vực là 1329 km2, đoạn chảy qua Cao Bằng dài 77 km, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, qua các huyện Trà Lĩnh (Tả Lệnh), Trùng Khánh, Hạ Lang, Quảng Uyên chảy về phía Nam rồi đổ vào sông Bằng Giang qua Thủy Khẩu – Trung Quốc
Hệ thống sông Quây Sơn có diện tích lưu vực là 2319 km2, đoạn chảy qua Cao Bằng dài 76 km, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam qua các xã Ngọc Côn, Ngọc Khê, Đình Minh, Đình Phong, Phong Châu, Trí Viễn, Đàm Thủy của huyện Trùng Khánh, rồi chảy xuống xã Minh Long huyện Hạ Lang, chảy sang huyện Đại Tân, tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc
Do địa hình núi đá vôi nên trong khu vực nghiên cứu có nhiều suối chảy ngầm trong hang đá và một số suối nhỏ hoặc mỏ nước lộ thiên ở các thung lũng đá vôi thuộc địa bàn hai huyện Hạ Lang và Trùng Khánh
1.3.5 Thảm thực vật
Theo quan sát trực tiếp của chúng tôi thì thảm thực vật ở khu vực Hạ Lang và Trùng Khánh chủ yếu là rừng thứ sinh trên núi đá vôi đã bị tác động Trên đỉnh và sườn núi chủ yếu là cây gỗ vừa và nhỏ xen lẫn dây leo và cây
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
bụi Rừng còn khá tốt chủ yếu tập trung ở xã Kim Loan, Đức Quang, An Lạc (huyện Hạ Lang) và Ngọc Chung (huyện Trùng Khánh) Khu vực chân núi chủ yếu là dạng cây bụi, trảng cỏ hoặc đôi khi có những vạt tre nứa Rừng ở khu vực giáp ranh với huyện Trùng Khánh đã bị tác động mạnh do khai thác
gỗ, củi và canh tác nông nghiệp Cây gỗ lớn và vừa đã bị khai thác cạn kiệt Ở các thung lũng ven các thôn bản là bãi chăn thả gia súc và đất canh tác nông nghiệp
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
CHƯƠNG II NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát từ ngày 4/4/2012 đến ngày 28/5/2012 tại hai huyện Hạ Lang và Trùng Khánh Lịch trình cụ thể như sau:
Ở huyện Hạ Lang: từ ngày 4-15/4 và 1-28/5, tiến hành khảo sát ở các
xã Kim Loan, An Lạc, Đức Quang, Khang Nhật
Ở huyện Trùng Khánh: từ ngày 16-30/4, tiến hành khảo sát ở các xã Ngọc Chung, Cao Thăng, Đức Hồng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thời gian thu mẫu: Một số loài ếch nhái (cóc) có thể thu thập mẫu vật
và quan sát vào ban ngày Nhưng nhiều loài ếch nhái thường hoạt động vào ban đêm, do đó thường tiến hành quan sát và thu mẫu từ 18:00 đến 24:00
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Phương pháp thu mẫu: Chủ yếu thu thập bằng tay, mẫu nòng nọc được thu thập bằng vợt
Xử lý mẫu vật: Mẫu vật ếch nhái thu được thường đựng trong các túi nilon Sau khi chụp ảnh mẫu vật, một số mẫu thông thường (như cóc nhà, ngóe) được thả lại tự nhiên, mẫu vật đại diện cho các loài thường được giữ lại làm tiêu bản nghiên cứu
+ Làm tiêu bản:
Gây mê: Mẫu vật được gây mê trong vòng 24 giờ bằng miếng bông thấm etyl a-xe-tat Mẫu cơ hoặc mẫu gan dùng để phân tích sinh học phân tử (ADN) được lưu giữ trong cồn 95% và được cách ly foóc môn
Ký hiệu mẫu: Sau khi gây mê, mẫu vật được đeo nhãn có đánh số ký hiệu Nhãn và chỉ buộc không thấm nước, chữ viết trên nhãn không bị tan trong cồn Đối với ếch nhái thì buộc nhãn vào đầu gối
Cố định mẫu: Việc cố định mẫu cần đảm bảo mẫu có hình dạng dễ phân tích hoặc quan sát sau này Sắp xếp mẫu vật theo hình dạng mong muốn, sau đó phủ vải màn hoặc giấy thấm lên trên, ngâm trong cồn 80–90% trong vòng 8–10 tiếng Đối với mẫu ếch nhái cỡ lớn, cần tiêm cồn 80% vào bụng và
cơ của con vật để tránh thối hỏng mẫu
Bảo quản mẫu vật: Để bảo quản lâu dài, sau khi cố định mẫu được chuyển sang ngâm trong cồn 70%
2.2.2 Mẫu vật nghiên cứu
Mẫu vật nghiên cứu: đã phân tích 109 mẫu ếch nhái
Mẫu vật được lưu trữ tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5 SL Khoảng cách từ mút mõm đến góc trước của mắt
6ED Đường kính lớn nhất của mắt theo chiều ngang
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
16 F1L Chiều dài ngón tay I
1F2L Chiều dài ngón tay II
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
35 MTTe Chiều dài củ bàn ngoài
2.2.4 Định loại và phân tích số liệu
Định loại mẫu vật: So sánh hình thái của mẫu vật thu được với các mẫu đã được định tên đang lưu giữ ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật,
Hà Nội Định loại tên loài theo các tài liệu của Bain & Nguyen (2004), Bain
et al (2006, 2009), Hendrix et al (2008), Inger et al (1999), Nguyen Van Sang et al (2009), Nguyen Quang Truong et al (2012) và một số tài liệu khác
có liên quan Tên khoa học và phổ thông của loài theo Nguyen Van Sang et
al (2009) và một số tài liệu mới công bố gần đây
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thống kê: Sử dụng phần mềm PAST Statistics (Hammer et al., 2001)
để phân tích thống kê và so sánh sự tương đồng về thành phần loài ếch nhái của khu vực nghiên cứu với các khu vực so sánh
Số liệu về phân bố được mã hóa theo dạng đối xứng (1: có mặt, 0: không có mặt) Chỉ số tương đồng (Dice index) dựa trên công thức của Sorensen được tính như sau:
Họ Nhái bầu Microhylidae Günther, 1858
1 Nhái bầu hoa Microhyla fissipes Boulenger, 1884
Mẫu vật nghiên cứu: 4 mẫu con cái trưởng thành CB 2012.14 (SVL 19,9 mm), CB 2012.4 (SVL 19 mm), CB 2012.16 (SVL 16 mm), CB 2012.107 (SVL 19 mm) và 1 mẫu con đực trưởng thành CB 2012.15 (SVL 17 mm) thu vào tháng 4/2012, ở độ cao 492-631 m so với mực nước biển
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Đặc điểm hình thái: Các mẫu kiểm tra phù hợp với mô tả của Ziegler,
2002
Mô tả mẫu đại diện: CB 2012.14
Đầu rộng hơn dài (HW 6mm, HL 5mm); mõm tù, gờ mõm không rõ; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 1,1 mm, NEL 1,9 mm); khoảng cách gian mũi nhỏ hơn khoảng cách gian mắt (IND 1,7 mm, IOD 2,4 mm); mắt có đường kính lớn hơn chiều rộng mí mắt trên (ED 2,1 mm, UEW 1 mm); màng nhĩ ẩn; lưỡi tròn ở phía sau; không có răng lá mía Con đực có một túi kêu
Ngón tay hoàn toàn tự do, mút ngón tù, tương quan chiều dài các ngón tay: I<II<IV<III; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<V<III<IV; có màng bơi ở gốc ngón; mút ngón chân không có đĩa, màng bơi; củ bàn ngoài lớn hơn củ bàn trong, củ dưới khớp ngón rõ; khi gập dọc thân, khớp chày–cổ không chạm đến mắt
Mặt lưng và bụng khá nhẵn
Màu sắc mẫu sống: Thân màu nâu nhạt, trên lưng có vệt màu nâu sẫm dạng đối xứng qua trục thân kéo dài từ gian ổ mắt đến cuối thân, thắt lại ở vùng vai và phía cuối; thường có vệt đen mảnh đứt đoạn dọc theo nếp da lưng sườn Bụng màu trắng đục
Phân bố:
Trong khu vực nghiên cứu: Mẫu được thu trên cánh đồng ngô gần bản Tao, xã Kim Loan, huyện Hạ Lang Rừng xung quanh bản Tao bị tác động mạnh, chỉ còn cây gỗ vừa vào nhỏ trên sườn núi, phía dưới là cây bụi, các thung lũng là ruộng lúa nước, nương ngô và sắn Một mẫu con cái thu tại bản Hàu (xã Cao Thăng), huyện Trùng Khánh
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Việt Nam: Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hải Phòng, Hải Dương, Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Bình Phước, Đồng Nai, Hồ Chí Minh, Tây Ninh (Nguyen
et al 2009)
Thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, chia, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po (Nguyen et al 2009)
Căm-pu-2 Nhái bầu hây-môn Microhyla heymonsi Vogt, 1911
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu con cái trưởng thành CB 2012.108 (SVL 23,6 mm) và 2 mẫu con đực trưởng thành CB 2012.113 (SVL 22 mm), CB 2012.141 (SVL 22 mm) thu vào tháng 4-5/2012, ở độ cao 493-598 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Các mẫu kiểm tra phù hợp với mô tả của Bourret (1942), Bain & Nguyen (2004)
Mẫu mô tả đại diện: CB 2012.108
Thân mảnh, dẹp, có dạng hình tam giác; đầu rộng hơn dài (HW 6,3
mm, HL 5,4 mm); mõm hơi tròn, dài hơn so với đường kính mắt (SL 3,4 mm,
ED 2 mm), miệng hẹp hơn bề ngang đầu; không có răng hàm trên; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 1,2 mm, NEL 1,8 mm); khoảng cách gian mũi nhỏ hơn gian mắt một chút và rộng hơn so với chiều rộng mí mắt trên (IND 1,6 mm, IOD 2,4 mm, UEW 1,5 mm); màng nhĩ ẩn; không có răng lá mía; lưỡi tròn và dài ở phía sau Con đực có một túi kêu
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tương quan chiều dài các ngón tay: I <II <IV <III, các ngón tay tự do, không có màng, mút ngón tay và chân hơi phình dạng hình chữ T; tương quan chiều dài giữa các ngón chân là: I<II<V<III<IV; củ khớp dưới ngón rõ, củ bàn trong và củ bàn ngoài bé, ngón chân có màng bơi ở gốc ngón; khi gập dọc thân, khớp chày-cổ đạt gần đến mút mõm
Mặt lưng và bụng khá nhẵn
Màu sắc mẫu sống: Thân màu vàng đến nâu xám với các vệt sẫm hơn ở trên lưng, các vệt sẫm ở hai bên đối diện nhau Giữa lưng có vệt trắng mảnh kéo dài từ chóp mõm đến huyệt, có một số đốm đen nhỏ, mỗi bên thân có vệt đen sẫm kéo dài từ mõm ngang qua mắt dọc 2 bên sườn tới bẹn Mặt lưng của các chi có các sọc đen mảnh, sẫm màu chạy ngang Mặt bụng có màu trắng, phần cằm tối màu hơn, lốm đốm đen
Phân bố:
Trong khu vực nghiên cứu: 2 mẫu được thu ở trong cánh đồng ngô thuộc bản Hàu (xã Cao Thăng, huyện Trùng Khánh), 1 mẫu được thu ở rìa một lạch nhỏ, xung quanh là rừng hỗn hợp tre nứa, cây bụi và gỗ lớn gần bản Coỏng (xã Đức Quang, huyện Hạ Lang)
Việt Nam: Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai,
Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Cà Mau (Nguyen et al 2009)
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thế giới: Đông Bắc Ấn Độ, miền Nam Trung Quốc (bao gồm cả đảo Hải Nam và Đài Loan), Lào, Thái Lan, Căm-pu-chia, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a (Nguyen et al 2009)
Ghi chú: Các mẫu thu được hầu hết phù hợp với các mô tả trong các tài liệu trước đây, tuy nhiên, mẫu CB 2012.141 có chiều dài đầu lớn hơn chiều rộng (HL 7 mm, HW 6 mm) Theo Manthey & Grossmann (1997) chiều dài thân của con cái trưởng thành thường lớn hơn con đực (SVL 22,0-26,0 mm ở con cái, 18,0-21,0 mm ở con đực) Mẫu 1 cá thể cái của chúng tôi có SVL 23,6 mm lớn hơn chiều dài 2 con đực có SVL 22 mm
3 Nhái bầu vân Microhyla pulchra (Hallwell, 1861)
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu con cái trưởng thành CB 2012.18 (SVL 24,8 mm) và 1 mẫu con đực trưởng thành CB 2012.7 (SVL 29 mm) thu vào tháng 4/2012, ở độ cao 492-594 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu phù hợp với mô tả của Ziegler, 2002
Mẫu mô tả đại diện: CB 2012.18
Thân mảnh dạng hình tam giác Đầu rộng hơn dài (HW 9,5 mm, HL 9,1 mm), miệng hẹp hơn bề ngang đầu; mõm hơi tròn, vùng má hơi xiên, có gờ mõm; lỗ mũi tròn, nằm gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 1,8 mm, NEL 2,6 mm), khoảng cách gian mũi nhỏ hơn gian mắt (IND 2,1 mm, IOD 3,4 mm); mắt có đường kính lớn hơn chiều rộng mí mắt trên và bằng khoảng 3/4 lần chiều dài mõm (EL 2,8 mm, UEW 2 mm, SL 4 mm); màng nhĩ ẩn; không có răng lá mía, lưỡi hình bầu dục, tròn ở phía sau Con đực có một túi kêu ngoài
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Các ngón tay tự do không có màng bơi, tương quan chiều dài các ngón tay: I<IV<II<III; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV, giữa các ngón khoảng ½ có màng bơi; củ bàn trong hình bầu dục, củ bàn ngoài tròn, màu trắng, củ dưới khớp ngón rõ; khi gập dọc thân, khớp chày-cổ chạm hay vượt mắt một chút
Mặt lưng và bụng khá nhẵn
Màu sắc mẫu sống: Mặt trên thân màu nâu xám nhạt, có các hoa văn màu nâu sẫm, nhạt xen kẽ, giữa lưng có một vệt hình chữ V ngược Mặt bên đầu có vệt đen chạy từ sau mắt đến gần gốc đùi.Phần bẹn và phía sau đùi, ống chân có màu vàng; bụng và dưới đùi màu trắng, cằm và họng màu tối hơn.Mặt lưng của chi trước và sau có các sọc ngang sẫm màu chạy qua
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai, Hồ Chí Minh (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Căm-pu-chia (Nguyen et
al 2009)
Họ Ếch nhái chính thức Dicroglossidae Anderson, 1871
4 Ngóe Fejervarya limnocharis (Gravenhorst, 1829)
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Mẫu vật nghiên cứu: 2 mẫu con cái trưởng thành CB 2012.13 (SVL 28,1 mm), CB 2012.2 (SVL 41 mm) và 1 mẫu con đực trưởng thành CB 2012.12 (SVL 33 mm) thu vào tháng 4/2012, ở độ cao 492-516 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của loài hoàn toàn phù hợp với
mô tả của Bourret (1942), Ziegler (2002)
Mẫu mô tả đại diện: CB 2012.13
Đầu dài hơn rộng (HL 12,6 mm, HW 10,3 mm); mõm hơi nhọn, nhô về phía trước so với hàm dưới; gờ mõm tù, vùng má hơi lõm và xiên; lỗ mũi tròn, gần với mút mõm hơn so với mắt (SNL 2,8 mm, NEL 3,4 mm); khoảng cách gian mũi lớn hơn gian mắt và chiều rộng mí mắt trên (IND 2,7 mm, IOD 2,4 mm, UEW 2,5 mm); màng nhĩ rõ, đường kính màng nhĩ bằng 1/2 đường kính mắt (TD 2,3 mm, EL 4,6 mm); gờ da trên màng nhĩ rõ; răng lá mía xếp thành 2 hàng hình chữ V nông không chạm nhau, gần chạm bờ trước lỗ mũi trong; lưỡi dài, xẻ thùy ở phía sau Con đực có một cặp túi kêu ở góc miệng
Ngón tay tự do, tương quan chiều dài các ngón tay: II<IV<I<III; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV; ngón chân khoảng 1/2-2/3 có màng bơi; củ bàn trong dài, củ bàn ngoài nhỏ, củ dưới khớp ngón rõ; mút các ngón tay và ngón chân nhọn, không có đĩa bám; khi gập dọc thân, khớp chày-
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
xám với những sọc sẫm màu Bụng và mặt dưới chi trắng; mặt trên của chi sau có sọc ngang, sẫm màu; túi kêu ngoài của con đực màu nâu sẫm; màng bơi màu xám nhạt
Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: Mẫu vật được thu thập ở trên ruộng lúa gần bản Tao, (xã Kim Loan), huyện Hạ Lang Ngoài ra thấy rất nhiều cá thể khác ở ruộng ngô, các bãi cỏ trong khu vực nghiên cứu thuộc cả hai huyện Hạ Lang
a, Sing-ga-po, In-đônê-xi-a, Phi-lip-pin, Nhật Bản (Nguyen et al 2009)
Ghi chú: Ngóe là loài phân bố rộng nhưng theo các nghiên cứu gần đây của Kotaki et al (2008) thì đây là loài có nhiều dạng đồng hình, một trong số
các loài gần đây được tách ra từ loài này là Fejervarya orissaensis
5 Ếch đồng Hoplobatrachus rugulosus (Wiegmann, 1834)
Mẫu vật nghiên cứu: 1 con đực trưởng thành CB 2012.117 (SVL 88,1 mm) và 1 con cái trưởng thành CB 2012.106 (SVL 95 mm) thu vào tháng 4/2012, ở độ cao 553-598 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bourret (1942)
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Mẫu mô tả đại diện: CB 2012.117
Đầu dài hơn rộng (HL 34,9 mm, HW 32,3 mm); mõm hơi tù, nhô về phía trước so với hàm dưới, gờ mõm không rõ, vùng má lõm hơi xiên; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 7,9 mm, NEL 7,3 mm); khoảng cách gian mũi lớn hơn gian mắt và chiều rộng mí mắt trên (IND 6,8 mm, IOD 4,4
mm, UEW 6,3 mm); mắt lớn và lồi, đường kính mắt bằng khoảng 2/3 chiều dài mõm (EL 9,7 mm, SL 15,2 mm), lớn gấp 2 lần so với gian mắt; màng nhĩ rất rõ, có đường kính (TD 7,2 mm) bằng khoảng ¾ đường kính mắt; gờ da trên màng nhĩ rõ; răng lá mía xếp thành hai hàng nằm xiên, lưỡi xẻ thùy ở phía sau Con đực có cặp túi kêu ở góc miệng
Tương quan chiều dài các ngón tay: II<IV<I<III; mút các ngón tay và ngón chân tù, các ngón tay tự do; tương quan chiều dài ngón chân: I<II<III<V<IV, giữa các ngón chân có màng bơi hoàn toàn; củ bàn trong dài, không có củ bàn ngoài; củ dưới khớp ngón bé; khi gập dọc thân, khớp cổ-bàn chạm mút mõm
Trên lưng có nhiều nếp da gián đoạn; lưng, hai bên thân và mặt lưng các chi có các nốt sần, nốt sần ở bên sườn lớn hơn
Màu sắc mẫu sống: Thân màu vàng nhạt hay nâu nhạt, đôi khi có các đốm xanh lá cây; mặt dưới màu trắng đục hay phớt vàng xen những vệt sẫm không đều Mặt trên chi sau có các sọc ngang, sẫm màu; môi màu kem với những vệt nhỏ, nhạt màu
Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: Mẫu của loài H rugulosus đã được tìm thấy
trong một vũng nước nhỏ nằm gần ruộng lúa, xung quanh có nhiều cây bụi nhỏ gần bản Hàu và bản Luông (xã Cao Thăng), huyện Trùng Khánh Ngoài
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ra còn ghi nhận chúng đang ngồi trên một tảng đá to trong hang lớn có suối chảy qua, hang thông ở hai đầu với nhiều cây bụi lớn
Việt Nam: Loài này phân bố ở hầu hết các tỉnh thành (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, chia, Ma-lai-xi-a (Nguyen et al 2009)
Căm-pu-Ghi chú: Trước đây, loài này đã được biết với tên loài Rana rugulosa (Wiegmann, 1834) và từng được coi là phân loài của loài Rana tigrina rugulosus (Bourret, 1942) Ohler et al (2002) coi H rugulosus là tên đồng hình có sau của loài Rana chinensis Osbeck, 1765 Tuy nhiên do tính hiệu lực của tên loài R chinensiscòn chưa rõ ràng nên Frost (2013) đề nghị vẫn sử dụng tên loài H rugulosus
6 Ếch nhẽo ban-na Limnonectes cf banaensis Ye, Fei & Jiang,
2007
Mẫu vật nghiên cứu:5 mẫu con đực trưởng thành CB 2012.64 (SVL 61,2 mm), CB 2012.65 (SVL 65,5 mm), CB 2012.62 (SVL 60 mm), CB 2012.66 (SVL 64 mm), CB 2012.67 (SVL 92 mm) và 4 mẫu con cái trưởng thành CB 2012.63 (SVL 78 mm), CB 2012.110 (SVL 42 mm), CB 2012.111 (SVL 54 mm), CB 2012.112 (SVL 41 mm) thu vào tháng 4/2012, ở độ cao 544-685m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Ye et al (2007)
Mẫu mô tả đại diện: CB 2012.64, CB 2012.65
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Cơ thể có kích thước khá lớn (SVL con đực 60- 92mm, con cái 41-78 mm; đầu lớn, phẳng, dài hơn rộng (HL 24,6 mm, HW 23,8 mm), con đực lớn hơn con cái; mõm tròn, có chiều dài lớn hơn đường kính mắt (SL 9,5 mm, EL 6,9 mm); lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 4,4 mm, NEL 5,2 mm); khoảng cách gian mũi lớn hơn gian mắt và chiều rộng mí mắt trên (IND
6 mm, IOD 5 mm, UEW 4,5 mm); màng nhĩ rõ, có đường kính nhỏ hơn đường kính mắt (TD 4,5 mm), gờ da trên màng nhĩ rõ; hai bên hàm có mấu hình răng rõ; răng lá mía xếp làm hai hàng hình chữ V gần chạm nhau ở phía sau; lưỡi xẻ thùy ở phía sau Con đực không có túi kêu
Tương quan chiều dài các ngón tay: I=II<IV<III, giữa các ngón tay không có màng bơi, mút các ngón tay tù, có diềm da ở mép ngoài ngón tay thứ II và thứ III; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV; mút các ngón chân có đĩa rất nhỏ, ngón chân có màng bơi gần hoàn toàn; có củ bàn trong, không có củ bàn ngoài, củ dưới khớp ngón rõ; khi gập dọc thân, khớp chày-cổ đạt đến màng nhĩ hay gần mắt
Da mặt lưng thô với nhiều nốt sần nhỏ, đặc biệt là phần sau lưng.Mặt bụng khá mịn; phần mi mắt trên và hai bên thân có những hạt nhỏ
Màu sắc mẫu sống: Lưng màu nâu hoặc nâu xám, đôi khi có các đốm sẫm nhỏ, phía sau ổ mắt có hoặc không có vệt sẫm màu; môi thường có 2-3 vệt sẫm; mặt trên của các chi có màu nâu Bụng màu trắng, có nhiều vân màu nâu trên ngực và cổ họng Một số mẫu vật có sọc màu vàng ở giữa lưng, kéo dài từ mút mõm đến lỗ huyệt
Phân bố:
Trong khu vực nghiên cứu: Các mẫu vật được thu thập trong một vũng nước nhỏ chảy từ khe đá vôi bên cạnh một cánh đồng ngô gần bản Coỏng (xã Đức Quang), huyện Hạ Lang Ngoài ra chúng tôi còn thu được mẫu của chúng
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tại một dòng suối gần ruộng lúa có xung quanh chủ yếu là cây bụi nhỏ và tre nứa gần bản Nà Chì, xã Cao Thăng, huyện Trùng Khánh
Thế giới: Loài này phân bố ở Vân Nam, Trung Quốc (Frost, 2013) Ghi chú: Trong số các mẫu phân tích có 3 mẫu (CB 2012.63, CB 2012.66, CB 2012.67) có chiều dài đầu lớn hơn chiều rộng Đâylà lần đầu tiên loài ếch nhẽo ban-na được ghi nhận ở Việt Nam Trước đây, hầu hết các ghi
nhận của loài ếch nhẽo ở miền Bắc Việt Nam đều được định loại là L kuhlii
do đặc điểm hình thái của chúng rất giống nhau Kết quả nghiên cứu đa dạng
di truyền của McLeod (2010) cho thấy L kuhlii là loài gồm nhiều dạng loài khác nhau.L banaensis có da lưng khá nhẵn, có nhiều nốt sần màu trắng ở mặt trên đùi còn da lưng của L kuhlii khá nhăn nheo Do vậy, việc nghiên
cứu kỹ hơn các quần thể ếch nhẽo ở Việt Nam có thể giúp ghi nhận bổ sung
về thành phần loài hoặc thậm chí mô tả các loài mới thuộc nhóm này
Họ Ếch nhái Ranidae Rafinesque, 1814
7 Chẫu chàng Hylarana guentheri (Boulenger, 1882)
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu con đực trưởng thành CB 2012.41 (SVL 76,6 mm) và 1 mẫu con cái trưởng thành CB 2012.100 (SVL 80 mm) thu vào tháng 4/2012 ở độ cao 459-551m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Mẫu nghiên cứu có các đặc điểm giống với mô tả của Boulenger (1893) và Bourret (1942)
Mẫu mô tả đại diện: CB 2012.41
Đầu lõm, dài hơn rộng (HW 25,9 mm, HL 29,9 mm); gờ mõm rõ, nhìn hơi nhọn, vùng má hơi xiên; chiều dài mõm gấp đôi khoảng cách gian mũi (SL 12,6 mm, IND 6,2 mm); lỗ mũi tròn nằm gần với mút mõm hơn so với
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mắt (SNL 5,7 mm, NEL 7,1 mm); khoảng cách gian mũi nhỏ hơn gian mắt và lớn hơn chiều rộng mí mắt trên (IND 6,2 mm, IOD 7,1 mm, UEM 5,3 mm); màng nhĩ rất rõ, đường kính màng nhĩ nhỏ hơn đường kính mắt (TD 5,9 mm,
EL 8,3 mm); gờ da trên màng nhĩ rõ; răng lá mía chạm bờ trước lỗ mũi trong, xếp thành hai hàng nằm xiên; lưỡi xẻ thùy ở phía sau Con đực có một cặp túi kêu ở hai bên cổ họng
Tương quan chiều dài các ngón tay: II<I<IV<III, giữa các ngón không
có màng bơi, phía cuối ngón tay khá nhỏ Chi sau có chiều dài ống chân gấp năm lần chiều rộng (TL 45 mm, TBW 9,1 mm); tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<IV<V, ngón chân 1/3 có màng bơi; củ bàn trong nhỏ, không có củ bàn ngoài; củ dưới khớp ngón rõ; khi gập dọc thân, khớp chày-cổ chạm bờ trước của mắt
Da ở trên lưng và mặt bụng khá nhẵn; dọc hai bên sườn từ phía sau màng nhĩ đến háng có những tuyến mụn cóc nhỏ; gờ da lưngsườn rất rõ kéo dài từ phía sau của mắt đến bẹn; mặt dưới đùi có các nốt sần
Màu sắc mẫu sống: Lưng có màu xám hoặc nâu đỏ, đồng màu, có một vài đốm màu nâu sẫm ở trên lưng Bụng màu trắng đục, cằm và mặt dưới của chi sau có màu trắng hơi vàng Màng nhĩ màu nâu sẫm hoặc đỏ nhạt, có dải màu tối kéo dài từ phía sau của mắt đến háng, song song với nếp da lưng-sườn Phía trước góc hàm gần cánh tay có một đốm khá lớn, màu đen, hai bên sườn và môi dưới có nhiều đốm màu nâu hoặc đen Mặt lưng của chi sau có nhiều sọc màu đen vắt ngang qua, màng bơi màu xám
Phân bố:
Trong khu vực nghiên cứu: Mẫu vật được thu thập ở gần cửa hang gần bản Chao (xã Kim Loan), huyện Hạ Lang và gần bản Pắc Bó (xã Ngọc Chung), huyện Trùng Khánh Trong hang có mạch nước ngầm chảy ra, phía
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trên có cửa hẹp, bên trong khá rộng Bên ngoài là rừng thứ sinh đã bị tác động gồm nhiều cây gỗ vừa và nhỏ xen lẫn các vạt tre nứa, cây bụi Ngoài ra còn ghi nhận chúng ở các ruộng lúa ven một dòng suối nhỏ và khá nhiều trong các tuyến đường mòn
Việt Nam: Khắp các vùng trong cả nước (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Mi-an-ma, Lào (Nguyen et al 2009) Ghi chú: Các mẫu thu được có SVL lớn hơn mô tả của Boulenger (1893) (SVL con đực lớn nhất là 60 mm, con cái 78 mm) Theo mô tả của Boulenger (1893) khớp chày-cổ chân đạt đến mút mõm còn ở các mẫu nghiên cứu thì chỉ đạt đến bờ trước của mắt
8 Ếch g-ra-mi-ne Odorrana graminea (Boulenger, 1900)
Mẫu vật nghiên cứu: 7 mẫu con đực trưởng thành CB 2012.6 (SVL 51,1 mm), CB 2012.17 (SVL 47,3 mm), CB 2012.5 (SVL 50 mm), CB 2012.8 (SVL 45 mm), CB 2012.9 (SVL 45 mm), CB 2012.10 (SVL 43 mm), CB 2012.11 (SVL 46 mm), CB 2012.54 (SVL 48 mm) và 10 mẫu con cái trưởng thành CB 2012.150 (SVL mm), CB 2012.3 (SVL 101 mm), CB 2012.42 (SVL 110 mm), CB 2012.55 (SVL 85 mm), CB 2012.57 (SVL 90 mm), CB 2012.149 (SVL 91 mm), CB 2012.151 (SVL 94 mm), CB 2012.184 (SVL 105 mm), CB 2012.185 (SVL 92 mm) thu vào tháng 4-5/2012, ở độ cao 428-594
m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Các mẫu kiểm tra phù hợp với mô tả của Boulenger (1920)
Mẫu mô tả đại diện: CB 2012.6, CB 2012.150, CB 2012.17
Loài có kích thước trung bình, con đực từ 43-53 mm, con cái từ
78-110 mm; đầu dài hơn rộng (HL 30 mm, HW 21,1 mm); mõm tròn, hơi nhô về
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phía trước so với hàm dưới; gờ mõm tù, vùng má lõm; lỗ mũi ở phía bên, nằm gần với mút mõm hơn mắt (SNL 3,6 mm, NEL 4,8 mm), khoảng cách gian mũi bằng 2/3 lần khoảng cách gian mắt và lớn hơn chiều rộng mí mắt trên (IND 5,1 mm, IOD 7,6 mm, UEW 4,2 mm); mắt có con ngươi nằm ngang, đường kính mắt gấp khoảng 1,5 lần chiều rộng mí mắt trên (EL 6,6 mm); màng nhĩ rõ, có đường kính (TD 4,5 mm) bằng khoảng ½-¾ đường kính mắt;
gờ da phía trên mãng nhĩ không rõ; răng lá mía xếp thành hai hàng nằm xiên, lưỡi xẻ thùy ở phía sau Con đực có túi kêu ở mỗi bên của họng
Tương quan chiều dài ngón tay: II<I<IV<III, giữa các ngón tay không
có màng bơi, phía cuối ngón tay phát triển thành đĩa bám nhỏ; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV; củ bàn trong hình bầu dục hơi dẹp bằng khoảng ½ chiều dài ngón chân V, không có củ bàn ngoài; củ dưới khớp ngón rõ; khi gập dọc thân, khớp chày-cổ vượt quá mút mõm
Da lưng và bụng nhẵn; vùng màng nhĩ, hai bên sườn, mặt dưới của đùi
có hạt nhỏ
Màu sắc mẫu sống: Trên đầu và lưng màu xanh, đôi khi có các đốm đen
ở trên lưng Mắt có viền màu trắng ở phía ngoài, con ngươi có màu xanh đậm đến màu đen Bụng, ngực, họng, mặt dưới của các chi có màu trắng Mặt lưng của các chi có sọc ngang sẫm màu Màng bơi màu nâu xám
Phân bố:
Trong khu vực nghiên cứu: Mẫu được thu ở dọc suối nhỏ chảy từ ngầm
đá ra gần bản Tao, Lũng Tủng (xã Kim Loan); ngoài ra mẫu còn thu được ở trong một dòng suối ngầm chảy trong hang bản Coỏng (xã Đức Quang),
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
huyện Hạ lang; có nhiều cây bụi và dây leo ở ngoài cửa hang, chúng ngồi trên tảng đá hay vách hang đá
Việt Nam: Bắc Kạn, Lạng Sơn, Lâm Đồng, Cao Bằng (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Trung Quốc (Nguyen et al 2009)
9 Ếch giun-li-an Odorrana junlianensis Huang, Fei & Ye, 2001
Mẫu nghiên cứu: 7 mẫu con đực trưởng thành CB 2012.90 (SVL 87,6 mm), CB 2012.92 (SVL 93,1 mm), CB 2012.77 (SVL 94 mm), CB 2012.91 (SVL 90 mm), CB 2012.93 (SVL 91 mm), CB 2012.139 (SVL 91 mm), CB 2012.140 (SVL 93 mm) và 1 mẫu con cái trưởng thành CB 2012.89 (SVL 114 mm) thu vào tháng 4-5/2012, ở độ cao 447 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Các mẫu kiểm tra phù hợp với mô tả của Bain et al (2006)
Mẫu mô tả đại diện: CB 2012.90, CB 2012.92
Ếch có kích thước khá lớn (con đực có SVL từ 87,6-94 mm), đầu dài hơn rộng (HL 33,1 mm, HW 28,7 mm); lỗ mũi tròn, nằm gần mút mõm hơn
so với mắt (SNL 6,9 mm, NEL 9,3 mm, SL 16,2 mm); khoảng cách gian mũi nhỏ hơn khoảng cách gian mắt và lớn hơn chiều rộng mí mắt trên (IND 10,2
mm, IOD 10,5 mm, UEW 7,5 mm); khóe mắt rõ, mắt to lồi, con ngươi nằm ngang, đường kính mắt (EL 9,9 mm) bằng bằng 2/3 chiều dài mõm ở con đực Màng nhĩ rõ, đường kính (TD 6,8 mm) bằng 2/3 so với mắt; gờ da phía trên màng nhĩ khá rõ; răng lá mía xếp thành hai hàng nằm xiên; lưỡi xẻ thùy ở phía sau Con đực có cặp túi kêu ở góc miệng
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Mút ngón tay và ngón chân phình rộng tạo thành đĩa, chiều rộng đĩa của ngón tay III (FD3 3,4 mm) bằng 1/2 đường kính màng nhĩ, đĩa bám có các rãnh ngang Tương quan chiều dài các ngón tay: II <I <IV <III; củ dưới khớp ngón lớn, tròn; các ngón tay không có màng bơi; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV, các ngón chân có màng bơi hoàn toàn; có củ bàn trong, không có củ bàn ngoài; củ dưới khớp ngón rõ; khi gập dọc thân, khớp chày-cổ vượt quá mút mõm
Da trên lưng và mặt bụng khá nhẵn, có nhiều mụn cóc nhỏ ở phía sau của mắt đến phía sau của chi trước; hai bên sườn, vùng hậu môn, phía sau đùi
có nhiều hạt nhỏ, có một số gai nhỏ màu trắng nổi bật trên mí mắt trên; gờ da lungsườn rõ
Màu sắc mẫu sống: Lưng có màu xanh đậm ở phía trước thân, phía sau
có màu xám; phía trước mắt, khu vực xung quanh màng nhĩ, khuỷu tay và khuỷu chân có các vệt màu xanh đậm Bụng, mặt dưới đùi màu nâu kem; vùng cổ họng, hai bên sườn và ngực màu nâu sẫm đôi khi với vệt nâu hình số
„8‟.Vùng bẹn màu trắng với những đốm lớn màu đen, phần phía trước đùi màu nâu với những đốm màu nâu sẫm Mặt trên chi trước, chi sau, các ngón tay và ngón chân có màu kem với những sọc màu đen chạy ngang Con ngươi màu xanh ngọc, viền phía trên màng nhĩ có màu đen, màng nhĩ có màu nâu xám; môi có màu kem với những đốm màu xám đen chạy ngang Màng bơi màu nâu xám
Phân bố:
Trong khu vực nghiên cứu: Mẫu được thu trong mỏ nước nhỏ gần bản Coỏng (xã Đức Quang), huyện Hạ Lang; nước khá trong, xung quanh có nhiều cây bụi nhỏ bên ngoài là nương ngô Ếch ngồi trên tảng đá lớn xung quanh mỏ nước hoặc bám trên cây ven bờ
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Việt Nam: Lào Cai, Cao Bằng (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Trung Quốc, Lào (Nguyen et al 2009)
10 Ếch đá Odorrana sp1
Mẫu vật nghiên cứu: 3 mẫu con cái trưởng thành CB 2012.39 (SVL 101,1 mm), CB 2012.40 (SVL 103 mm) và CB 2012.150 (SVL 93,2 mm) thu vào tháng 4-5/2012, ở độ cao 434-551 m so với mực nước biển
Mẫu mô tả đại diện: CB 2012.39
Đặc điểm hình thái:
Chiều dài cơ thể khá lớn, SVL con cái 93,2 -103 mm Đầu dài hơn rộng (HL 35,4 mm, HW 31,3 mm); mõm khá nhọn, gờ mõm tù; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 6,6 mm, NEL 8,3 mm); khoảng cách gian mũi gần bằng khoảng cách gian mắt (IND 10,1 mm, IOD 10,8 mm); mắt lớn, con ngươi nằm ngang, đường kính mắt lớn hơn 1,4 lần chiều rộng mí mắt trên (EL 10,5 mm, UEW 7,3 mm); màng nhĩ rõ, đường kính (TD 6,2 mm) bằng khoảng 2/3 đường kính mắt; gờ da phía trên màng nhĩ không rõ; răng lá mía xếp thành hai hàng nằm xiên
Tương quan chiều dài các ngón tay: I<II<IV<III, phía cuối của ngón tay phát triển thành đĩa bám có hình dạng gần giống hình tam giác, trên có các rãnh hình móng ngựa, giữa các ngón tay không có màng bơi; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV, giữa các các ngón chân có màng bơi hoàn toàn Có củ bàn trong, không có củ bàn ngoài, củ dưới khớp ngón rõ Khi gập dọc thân, khớp chày-cổ vượt quá mút mõm