Lịch sử vấn đề Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về tiếng Rơ-măm chủ yếu tậptrung vào quan hệ cội nguồn, xác định vị trí của ngôn ngữ này trong các ngônngữ tiểu chi Ba-na.. Do đó,
Trang 1VÕ ĐỨC TÁM
HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG RƠ-MĂM
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌCPGS.TS ĐOÀN VĂN PHÚC
Huế, 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Võ Đức Tám
Trang 3Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơnquý thầy cô trong Khoa Ngữ văn - trường Đại học Khoa họcHuế cũng như các thầy cô giáo đã trực tiếp truyền dạy chotôi nhiều kiến thức quý giá trong suốt khóa học.
Đặc biệt, Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TSĐoàn Văn Phúc, thầy giáo hướng dẫn, người thầy kính mến
đã hết lòng giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợicho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này
Qua đây, Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình Giàlàng A Blong đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời giantôi thu thập tư liệu ở đây
Dù bản thân đã rất cố gắng, song luận văn không tránhkhỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sựchia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô
và các bạn
Huế 09/2014Người thực hiện luận văn
Võ Đức Tám
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các kí hiệu, bảng biểu, hình vẽ, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Tư liệu và Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Bố cục của luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1 Cơ sở lý luận về ngữ âm – âm vị học 8
1.1.1 Ngữ âm học và âm vị học 8
1.1.2 Âm tiết 11
1.1.3 Nguyên âm và các tiêu chí khu biệt nguyên âm 12
1.1.4 Phụ âm và các tiêu chí khu biệt phụ âm 15
1.2 Vài nét về người và tiếng Rơ-măm 17
1.2.1 Về người Rơ-măm 17
1.2.2 Các đặc điểm về quan hệ cội nguồn, loại hình và xã hội ngôn ngữ học tiếng Rơ-măm 19
1.3 Tiểu kết chương 1 24
CHƯƠNG 2 TỪ NGỮ ÂM-ÂM VỊ HỌC TIẾNG RƠ-MĂM 25
2.1 Đặc điểm từ ngữ âm – âm vị học trong tiếng Rơ-măm 25
Trang 52.2.1 Cấu trúc tiền âm tiết 31
2.2.2 Cấu trúc âm tiết chính 38
2.3 Tiểu kết chương 2 42
CHƯƠNG 3 HỆ THỐNG ÂM VỊ TRONG TIẾNG RƠ-MĂM 43
3.1 Hệ thống phụ âm tiếng Rơ Măm 43
3.1.1 Hệ thống phụ âm đầu 43
3.1.2 Hệ thống phụ âm cuối 55
3.1.3 Các biến thể và những vấn đề thảo luận về các phụ âm 58
3.2 Hệ thống nguyên âm tiếng Rơ-măm 63
3.2.1 Nguyên âm đơn 66
3.2.2 Nguyên âm đôi 76
3.2.3 Các biến thể và những vấn đề thảo luận về các nguyên âm 80
3.3 Khả năng kết hợp giữa âm chính và âm cuối trong tiếng Rơ-măm 81
3.4 Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC
Trang 61 / / : Kí hiệu có giá trị âm vị học
2 [ ] : Kí hiệu có giá trị ngữ âm học
3 () : Nghĩa tiếng Việt
4 : Kí hiệu nguyên âm ngắn
5 : Kí hiệu âm vực căng
6 : Kí hiệu âm thở
Trang 7Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Trang 8Số hiệu sơ đồ Tên sơ đồ Trang1.1 Sơ đồ phân loại các ngôn ngữ Bahnaric củaSidwell (2009) 22
B Hình vẽ
Số hiệu
2.1 Đường nét và sóng âm từ [luh](lỗ) trong
2.2 Đường nét và sóng âm từ song tiết [ăt]
2.3 Đường nét và sóng âm từ tam tiết [ntak]
2.4 Đường nét và sóng âm từ [Nmoh] (sóng)
2.5 Đường nét và sóng âm từ [muh] (bác) trong
3.1 Đường nét và sóng âm từ /luk/ [ luk
]
3.2 Sóng âm và quang phổ từ /luk/ [ luk
]
3.3 Sóng âm và quang phổ từ [tmm] (nguyên) 61
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Năm 2009 UNESCO công bố bản điện tử của tập bản đồ những ngôn ngữđang bị đe dọa có nguy cơ tiêu vong ở những mức độ khác nhau trên thế giới.Theo đó trong hơn 6.000 ngôn ngữ thì có khoảng 2.500 thứ tiếng đang dần biếnmất trong một tương lai không xa Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thì mỗinăm thế giới mất đi khoảng 25 ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một thành tố quan trọng cấu thành văn hoá, là tài sảnthiêng liêng của mỗi dân tộc, là một tiêu chí quan trọng để xác định thànhphần dân tộc, là căn cước xác định cho mỗi cá nhân thuộc dân tộc nào Khimột ngôn ngữ biến mất sẽ khiến nhiều dạng di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt
là các di sản văn hóa truyền thống quý giá cùng các hình thức văn học dân giannhư: thi ca, huyền thoại, thậm chí cả tục ngữ và truyện cười… cùng biến mất
Theo số liệu kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, trong 53 dântộc thiểu số ở Việt Nam, tiếng Rơ-măm nằm trong số những ngôn ngữ có sốlượng người sử dụng ít nhất với 436 người, chỉ sau tiếng Brâu (397) và Ơ đu(376) Người Rơ-măm cư trú tập trung tại làng Le, xã Mo Rai, huyện Sa Thầy,tỉnh Kon Tum Trong bối cảnh dân số ít, thường xuyên tiếp xúc và sử dụng ngônngữ có vị thế cao, chức năng rộng hơn trong khu vực cư trú như tiếng Gia-rai,Việt chúng ta có thể thấy trước nguy cơ xói mòn và tiêu vong của tiếng Rơ-mămtrong tương lai
Cho đến nay, ngoài một vài bài viết lẻ tẻ về tiếng Rơ-măm, có thể nóitiếng Rơ-măm ở Việt Nam vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu kỹ lưỡng Việcnghiên cứu tiếng Rơ-măm, mà trước hết là về mặt ngữ âm trên bình diện đồngđại là rất cần thiết bởi một số lí do sau:
Thứ nhất, tiếng Rơ-măm là một ngôn ngữ chưa có chữ viết, đang đứngtrước nguy cơ bị biến mất, việc nghiên cứu toàn diện tiếng Rơ-măm nói chung
và nghiên cứu mặt ngữ âm nói riêng là một việc làm mang tính cấp bách và cần
Trang 11thiết để có thể xây dựng chữ viết cho dân tộc này.
Thứ hai, cho đến nay chưa hề có một bài báo, một công trình nào mô tảmột cách đầy đủ và có hệ thống ngữ âm tiếng Rơ-măm
Vì vậy, chúng tôi chọn “Hệ thống ngữ âm tiếng Rơ-măm” làm đề tàinhằm nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ nàytrên bình diện đồng đại Nói tương đối đầy đủ vì sẽ có những phương diện vềngữ âm như ngữ điệu câu mà luận văn chưa thể đề cập đến vì điều kiện tư liệucũng như thời gian và khả năng của người nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về tiếng Rơ-măm chủ yếu tậptrung vào quan hệ cội nguồn, xác định vị trí của ngôn ngữ này trong các ngônngữ tiểu chi Ba-na Về các tộc người và ngôn ngữ thuộc tiểu chi Ba-na ở ViệtNam cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu phục nguyên, so sánh giữa các thứtiếng khác nhau Tuy nhiên, việc phân chia các ngôn ngữ thuộc tiểu chi Ba-nacòn nhiều điều chưa ngã ngũ bởi việc xếp ngôn ngữ / tiếng nào vào nhóm nào.Năm 1981, Smith, K.D., với bài "A Lexico-statistical study of 45 Mon - Khmer
languages", In trong Linguistics Across Continents, Vol.2, đã xếp tiếng Lamam
cùng với tiếng Tampuan ở Campuchia vào nhóm Ba-na trung tâm Trước đây,người ta cho rằng ở Campuchia có người Lamam có lẽ được coi như người Rơ-măm ở Việt Nam Các tác giả nước ngoài Sidwell, P., Edmondson, & Gregerson,
K (2011), Thomas, D (1960, 1976, 1980), Thomas, D and Headley Robert K.(1980), Diffloth, G (1982), Thongkum, T.L (1976), Smith, K.D., Thường chỉquan tâm đến các ngôn ngữ khác mà ít người quan tâm đến tiếng Rơ-măm Năm
2001 - 2006, trong đề tài “Điều tra ngôn ngữ nhằm góp phần xác định thành
phần dân tộc ở Việt Nam” do Viện ngôn ngữ học thực hiện, sau khi tổng kết tư
liệu nghiên cứu từ Sidwell, P (2000, 2002, 2003, 2009, 2010), Sidwell, P.,Edmondson, & Gregerson, K (2011), Thomas, D (1960, 1976, 1980), Thomas,
D and Headley Robert K (1980), Diffloth, G (1982), Thongkum, T.L (1976)
Trang 12Nguyễn Hữu Hoành (2004) , thì cũng không nghiên cứu gì về Rơ-măm cũngnhư nhiều ngôn ngữ tiểu chi Ba-na mà cho rằng các ngôn ngữ tiểu chi Ba-na đãtrải qua nhiều biến động về sự phân bố địa lí, và nhiều biến đổi trong ngữ âm, từvựng do kết quả của những quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Quan hệ giữa các ngônngữ này khá phức tạp, không chỉ phản ánh các quá trình chia tách ngôn ngữ Vìvậy, khi phân loại cội nguồn các ngôn ngữ, ngoài việc sử dụng phương phápthống kê từ vựng, cần chú ý hơn đến những quá trình biến đổi (cách tân), nhất làtrong việc xác định ranh giới ngôn ngữ /phương ngữ Do đó, cần kết hợp nhữngkết quả phân loại cội nguồn các ngôn ngữ Ba-na với các tiêu chí khác để xem xétlại thành phần dân tộc của một số nhóm đang thảo luận.
Có thể nói, cho đến nay chưa hề có bất cứ một công trình hay chuyênkhảo nào nghiên cứu hoặc giới thiệu (cho dù khái lược nhất) những đặc điểm vềcấu trúc (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) tiếng Rơ-măm Gần đây mới chỉ có một sốbài lẻ tẻ trong các đề tài cấp Bộ hay trên các tạp chí có đề cập trực tiếp đến đặcđiểm xã hội-ngôn ngữ học của nó Chẳng hạn như: [9, tr.26-36], nhưng bài viếtcũng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về mặt xã hội để tìm hiểu vị thế, chức năngcủa tiếng Rơ-măm và thái độ ngôn ngữ của cư dân sử dụng nó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Như tên đề tài đã nêu rõ “Hệ thống ngữ âm tiếng Rơ-măm” cho nênđối tượng nghiên cứu của đề tài chính là đặc điểm cấu âm-âm học của hệthống các đơn vị âm vị học tiếng Rơ-măm: từ ngữ âm-âm vị học, các phụ
âm, nguyên âm trên bình diện đồng đại Vì vậy, tất cả những vấn đề về ngữ
âm tiếng Rơ-măm có liên quan tới lịch đại để lí giải các hiện tượng ngữ âmđồng đại liên quan đến sự cách tân: inovation từ một ngôn ngữ Proto xưakhông được bàn đến trong luận văn này
Trang 134 Tư liệu và Phương pháp nghiên cứu
4.1 Tư liệu nghiên cứu
Tư liệu dùng cho đề tài chủ yếu là tư liệu tiếng Rơ-măm được thu thậptrực tiếp tại địa bàn cư trú của người Rơ-măm ở Làng Le, xã Mo-rai, huyện SaThầy, tỉnh Kon Tum
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo và sử dụng tư liệu về quan hệ cộinguồn, xã hội ngôn ngữ học của một vài công trình đi trước về ngôn ngữ này
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sẽ sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu sau:
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu điền dã ngôn ngữ học
Phương pháp nghiên cứu điền dã ngôn ngữ học là một phương pháp quantrọng, tối ưu và cần thiết đối với nhà nghiên cứu trong quá trình thu thập tư liệu
về một ngôn ngữ, đặc biệt là việc miêu tả về hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữchưa quen biết Cụ thể, người nghiên cứu áp dụng các phương pháp, thủ phápkhảo sát, nghiên cứu điền dã ngôn ngữ học để thu thập tư liệu: điều tra theoankét về từ vựng-ngữ âm gồm khoảng 1.800 từ cơ bản nhất (do PGS.TS ĐoànVăn Phúc biên soạn) Người điều tra dùng bộ ankét làm chỗ dựa để làm việcvới các tư liệu viên người Rơ-măm nhằm thu thập tư liệu về ngữ âm Trongquá trình nghe, ghi chép tại hiện trường, chúng tôi nhờ tư liệu viên đọc lại nhiềulần, đồng thời quan sát những cử động của bộ máy cấu âm Sau đó, chúng tôiphát âm lại các từ đó để người bản ngữ sửa và xác nhận Bằng khả năng quansát, cảm thụ thính giác, người nghiên cứu ghi âm bằng kí hiệu phiên âm quốc
tế IPA (International Phonetical Alphabet) Đồng thời, người nghiên cứu phảighi âm (băng từ tính) bảng từ vựng Mỗi từ sẽ được cộng tác viên phát âm balần được ghi vào máy ghi âm Như vậy, tư liệu thu thập được theo phươngpháp này có hai dạng là: sổ ghi chép theo các anket từ vựng - ngữ âm; băng
Trang 14ghi âm Băng ghi âm này được đưa vào máy tính và xử lý bằng phần mềmchuyên dụng (Cool Edit 2000, Speech Analyze 2.4 và 3.1).
Các tư liệu viên cung cấp tư liệu đều là những người bản ngữ, sinh ra vàlớn lên tại địa bàn, có độ tuổi từ 18 đến 65, không có các khuyết tật về bộ máycấu âm, có khả năng nghe và nói tốt cả tiếng Rơ-măm lẫn tiếng phổ thông Các
tư liệu viên bao gồm:
- Ông A Blong, 62 tuổi
âm học, xã hội ngôn ngữ học Trong một chừng mực nhất định, các thủ phápluận giải kĩ thuật với các phần mềm phân tích tiếng nói: Speech Analyze, Praat Cũng được chúng tôi sử dụng để phân tích, miêu tả một cách khách quan hơnmột số đặc trưng âm học của tiếng Rơ-măm, nhằm kiểm chứng lại các kết quảcảm nhận thính giác
Để thực hiện đề tài này chúng tôi còn sử dụng các phương pháp nghiêncứu chuyên ngành ngữ âm – âm vị học: thủ pháp nhận diện âm tố, thủ pháp đốilập âm vị học, thủ pháp xây dựng hệ thống âm vị Vì âm thanh của lời nói là mộtchuỗi liên tục gồm nhiều đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, vì vậy phải dựa vào thủ phápnhận diện âm tố để phân chia chuỗi ngữ lưu thành các âm đoạn nhỏ nhất (âm tố)dựa vào các thao tác trong hoạt động cấu âm và sự tiếp nhận âm thanh mà taingười có thể phân biệt được Từ đó dùng các thủ pháp đối lập khu biệt âm vị học
Trang 15trong các điều kiện phân bố đồng nhất (hai đơn vị ngôn ngữ xuất hiện trong mộtchu cảnh giống nhau) hoặc điều kiện phân bố bổ sung (điều kiện xuất hiện củayếu tố này, yếu tố kia không xuất hiện) Và vấn đề cuối cùng là việc xây dựng hệthống âm vị cũng cần có phương pháp đúng đắn phải phân biệt được đâu là hiệntượng thuộc trung tâm của hệ thống đang xét cần đưa vào để phân tích, xác lập
và đâu là những hiện tượng biên/ngoại vi (các hiện tượng ngoại lai như: từ tượngthanh, từ vay mượn, tên riêng ) phải được loại bỏ Ngoài ra việc xác lập hệthống âm vị học cũng phải dựa trên những đặc điểm của ngôn ngữ đang xét
5 Đóng góp của luận văn
Về lý luận, những kết quả của đề tài lần đầu tiên cung cấp những tư liệuchỉ rõ đặc điểm ngữ âm-âm vị học của tiếng Rơ-măm trên bình diện đồng đại, từ
đó tạo cơ sở cho việc nghiên cứu cơ bản tiếp theo về từ vựng, ngữ pháp, cũngnhư những hiện tượng cách tân (inovation) của tiếng Rơ-măm từ ngôn ngữ nhómngôn ngữ Bana Bắc nói riêng và góp phần hoàn thiện hơn bức tranh ngữ âm cácngôn ngữ tiểu chi Ba-na (Bahnaric) cũng như ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ởViệt Nam nói chung
Về thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống ngữ âm tiếng Rơ-măm trênbình diện đồng đại sẽ có thể đề xuất bộ chữ viết Rơ-măm cũng như làm cơ sởcho việc biên soạn bộ sách công cụ (từ điển, ngữ pháp, sách dạy tiếng ) phục
vụ cho việc nghiên cứu, dạy và học ngôn ngữ này trong cộng đồng cư dân măm, góp phần vào việc bảo tồn nó trước nguy cơ tiêu vong đang hiện ra
Rơ-6 Bố cục của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, phần nội dung của luận văn gồm có 3 Chương:Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Trong chương này chúng tôi trình bày những cơ sở lí luận và thực tiễn của
đề tài
Chương 2: Từ ngữ âm-âm vị học tiếng Rơ-măm
Ở chương này, thông qua khảo sát thống kê tư liệu chúng tôi đưa ra mô
Trang 16hình từ ngữ âm-âm vị học tiếng Rơ-măm, cũng như cấu trúc âm tiết trongngôn ngữ này.
Chương 3: Hệ thống âm vị trong tiếng Rơ-măm
Trong chương này chúng tôi trình bày các đặc điểm cấu âm – âm học, cáctiêu chí khu biệt các phụ âm, nguyên âm trong tiếng Rơ-măm và các hiện tượngđặc biệt cũng như các biến thể của chúng
Ngoài ra luận văn còn có phụ lục về đối lập âm vị học tiếng Rơ-măm vàtài liệu tham khảo
Trang 17CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận về ngữ âm – âm vị học
Trong ngôn ngữ học, ngữ âm học và âm vị học là hai ngành khoa họcchuyên nghiên cứu về âm thanh tiếng nói của con người nói chung và giá trị, mốiliên hệ giữa chúng trong từng ngôn ngữ cụ thể Dưới đây chúng ta sẽ điểm quamột số khái niệm căn bản trong ngữ âm học và âm vị học để làm lí thuyết choviệc tìm hiểu hệ thống ngữ âm – âm vị học tiếng Rơ-măm
1.1.1 Ngữ âm học và âm vị học
Ngữ âm học và âm vị học được phân chia ra thành hai ngành khoa họckhác nhau từ những thập niên đầu thế kỉ XX Có thể nói J Winteles là người đầutiên khẳng định rằng có những sự đối lập âm thanh được dùng để khu biệt ýnghĩa của từ trong một ngôn ngữ nhất định, mặt khác có những sự đối lập lạikhông dùng cho mục đích đó Tuy nhiên, J Winteles mới chỉ dừng lại ở nhậnxét chứ không đi đến chỗ phân biệt ngữ âm học và âm vị học thành hai ngànhkhoa học riêng biệt Ferdinand de Saussure đã hiểu và đã trình bày rõ rằng tầmquan trọng của việc phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói, nhưng chính ông cũng
không tuyên bố dứt khoát là cần phân biệt ngành khoa học âm thanh của lời nói
và ngành khoa học âm thanh của ngôn ngữ Mãi đến năm 1928, tại Đại hội các
nhà ngôn ngữ học lần thứ nhất được tổ chức tại La Haye, ba nhà ngôn ngữ họcngười Nga (trong đó có Jakobson, Trubetzkoy) đã trình bày một bản cương lĩnhvắn tắt, trong đó nêu bật sự cần thiết phải phân biệt thật minh bạch giữa ngữ âmhọc và âm vị học Đây được coi là mốc đánh dấu sự ra đời của ngành âm vị họcvới tư cách là một ngành ngôn ngữ học độc lập bên cạnh ngữ âm học
Ngữ âm học (phonetics) được hiểu là khoa học nghiên cứu về âm thanhtiếng nói con người trên phương diện âm học, sinh lí cấu âm Nhiệm vụ chínhcủa bộ môn này là phân tích và miêu tả những âm thanh thực sự với những đặctrưng âm học và những nguyên lí cấu tạo nên chúng, tức là nghiên cứu các âmthanh từ góc độ vật lí hay âm học, sinh lí hay cấu âm
Trang 18Nhiệm vụ duy nhất của ngữ âm học là trả lời cho câu hỏi: “âm này hay âmkia được phát âm như thế nào?” Câu hỏi này chỉ có thể trả lời được bằng cáchvạch ra một cách chính xác âm thanh này hay âm thanh kia có một ảnh hưởngnhư thế nào và cái âm hưởng đó được thể hiện bằng cách nào, tức là các khíquan hoạt động ra sao “Ngữ âm học có thể định nghĩa là ngành khoa học vậtchất (của âm thanh) của lời nói con người.” [14, tr.18]
Âm vị học (phonology) tìm hiểu xem những âm thanh đó có giá trị nhưthế nào trong ngôn ngữ đó Âm vị học tiến tới xác định danh sách âm vị của mộtngôn ngữ và các quy luật âm vị học trong ngôn ngữ đó
Âm vị học phải nghiên cứu xem những sự khu biệt âm thanh nào trongngôn ngữ đang xét được gắn liền với những sự khu biệt ý nghĩa, nghiên cứu xemnhững mối tương quan giữa các yếu tố khu biệt ra sao và chúng được kết hợp vớinhau theo những quy tắc nào để làm thành từ (hay thành câu) Nhà âm vị học chỉchú ý đến những yếu tố nào trong âm thanh có mang một chức năng nhất địnhtrong hệ thống ngôn ngữ
Chúng ta biết rằng ngôn ngữ và lời nói tuy không đồng nhất nhưng lạinằm trong một thể thống nhất Âm thanh của lời nói và hình thức biểu đạt củangôn ngữ cũng vậy, hai cái không thể tách rời nhau và không hề loại trừ nhau.Như nhà ngôn ngữ học Đoàn Thiện Thuật đã nói: “Không một nhà ngữ âm họcnào lại không làm công việc của âm vị học” [18, tr.15] Vậy nên trong thực tếnghiên cứu không thể tách ngữ âm học ra khỏi âm vị học Bởi lẽ, mặt tự nhiêncủa âm thanh ngôn ngữ và mặt xã hội của nó luôn luôn là một thể thống nhất.Giữa âm vị học và ngữ âm học không đối lập nhau hoàn toàn mà bổ sung chonhau Khi nghiên cứu ngữ âm về mặt tự nhiên, nhà nghiên cứu không tránh khỏinhững giải thuyết âm vị học (thường là không tự giác hoặc ẩn ngôn) và ngược lại
âm vị học bao giờ cũng sử dụng kết quả của ngữ âm học Có thể tại nói như K.L.Pike: “Ngữ âm học thu thập các nguyên liệu về ngữ âm và âm vị học thì biến chếcác nguyên liệu đó” [10, tr.14]
Trang 19Hình 1 1: Bộ máy cấu âm
Để xác lập hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ, điều quan trọng và cầnthiết là phải xác định được đâu là âm vị và đâu là biến thể của âm vị Để làmđược điều đó người nghiên cứu phải dựa vào chính những đặc điểm, những cáchước định trong bản thân ngôn ngữ cần nghiên cứu Người ta thường xác định âm
vị và biến thể bằng các phương pháp sau:
* Phân xuất các âm vị bằng bối cảnh đồng nhất
Bối cảnh đồng nhất là bối cảnh trong đó hai âm đang xét đứng sau những
âm như nhau và đứng trước những âm như nhau (tức cùng một chu cảnh) Haibối cảnh đồng nhất còn gọi là một cặp tối thiểu Khi xác định âm vị bằng bốicảnh đồng nhất, chúng tôi thực hiện: Xét hai âm gần gũi không biết đó là cùngmột âm vị mà được biểu hiện khác nhau do ảnh hưởng của bối cảnh hay đó là hai
âm vị riêng biệt thì cần tìm những từ cận âm Những từ cận âm này được kiểmtra qua người bản ngữ Sau nhiều lần phát âm, nếu thấy hai âm đó vẫn khác nhaumặc dù nằm trong bối cảnh đồng nhất, thì chúng ta biết rằng sự khác nhau ấykhông phải do bối cảnh gây nên mà là sự khác nhau có dụng ý của người nóinhằm tạo ra hai từ khác nghĩa nhau Hai âm đó có chức năng khu biệt nên chúng
là hai âm vị riêng biệt
Ngoài ra nếu trong ngôn ngữ đang xét ta không thể tìm thấy bối cảnh đồngnhất của hai âm tố nào đó thì phải xét hai âm tố ấy trong bối cảnh tương tự Bối
Trang 20cảnh tương tự là những bối cảnh không gây ra một ảnh hưởng nào đến những âmđang xét Bối cảnh đồng nhất là trường hợp đặc biệt của bối cảnh tương tự Bốicảnh đồng nhất thì tương tự nhưng bối cảnh tương tự không phải là đồng nhất.
Có thể rút ra định lí: “Hai âm gần gũi nhau xuất hiện trong những bối cảnhđồng nhất hoặc tương tự phải được coi là những âm vị riêng biệt.” [6, tr 212]
* Xác định các biến thể bằng bối cảnh loại trừ nhau
Để xác định hai âm tố nào đó là hai âm vị riêng biệt hay hai biến thể củacùng một âm vị, chúng tôi dùng thủ pháp sử dụng bối cảnh loại trừ nhau Khithực hiện thủ pháp này, chúng tôi liệt kê những từ có các âm khả nghi, sau đóphân loại chúng vào những loại giống nhau Rồi phân tích bối cảnh những âm đóxuất hiện, nếu điều kiện phân bố của âm tố này mà âm tố kia không thể phân bốđược và ngược lại thì hai âm tố đó là hai biến thể của cùng một âm vị
1.1.2 Âm tiết
Cho đến nay đã có khá nhiều sách vở bàn về hiện tượng âm tiết, mà phầnlớn trong số đó là tiếp cận hiện tượng này trên quan điểm ngữ âm học, tức là dựatrên những cứ liệu về cấu âm, âm học của hiện tượng âm tiết
Dựa trên cơ sở cấu âm, có lí thuyết “ngắt hơi” của R.H.Stetson (Mỹ),cũng như lí thuyết độ căng của các nhà ngữ âm học Pháp, Nga mà tiêu biểu làL.V Scherba Theo định nghĩa của R.H.Stetson thì “âm tiết được coi là mộtđơn vị với nghĩa là nó bao giờ cũng tạo thành bởi một hơi thở mà hơi thở đótrở nên nghe thấy được là nhờ ở một nguyên âm hoặc bắt đầu và kết thúc bằngmột phụ âm” [8, tr.41]
Theo lý thuyết về “độ căng cơ thịt” của Shcherba thì: Âm tiết bao giờcũng được phát âm bởi một đợt căng thẳng của bộ máy phát âm Lời nói là mộtchuỗi những đợt căng như thế Mỗi đợt căng của cơ thịt bao gồm ba phần:
+ Tăng cường độ căng
+ Đỉnh điểm của độ căng
+ Giảm dần độ căng
Trang 21Theo tiêu chí âm học, có thuyết “độ vang” mà đại biểu nổi bật của thuyết
này là O Jespersen (Đức) là được biết đến khá rộng rãi Theo lí thuyết này thì
mỗi âm tiết là một tổ hợp giữa một yếu tố có độ vang lớn hơn với những yếu tốkhác có độ vang bé hơn Trong đó, nguyên âm không nhất thiết bao giờ cũngphải có mặt Điều quan trọng là các âm tố trong âm tiết có độ vang khác nhau
Ở mỗi cách tiếp cận khác nhau, người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau
về âm tiết, nhưng có một định nghĩa không có lý thuyết nào bác bỏ được đó là :
“Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất Dù lời nói có chậm lại đến đâu, dù có phát âmtách bạch đến đâu đi chăng nữa thì cũng chỉ tách đến âm tiết là hết” [12, tr 350]
Với tư cách là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất, âm tiết đóng một vai tròquan trọng trong nghiên cứu ngữ âm các ngôn ngữ có ranh giới của âm tiết trùngvới ranh giới hình vị như các ngôn ngữ âm tiết tính Trong khi đó, các loại hìnhngôn ngữ khác, khi ranh giới hình thái học không trùng với âm tiết thì vai trò của
âm tiết trong nghiên cứu các ngôn ngữ này cũng không được đánh giá cao
Âm tiết trong các ngôn ngữ đơn lập Đông Nam Á là đơn vị mà ở đó diễn ranhiều vấn đề phức tạp Âm tiết không chỉ là đơn vị của ngữ âm học mà còn là đơn
vị của ngữ pháp, thậm chí còn liên quan đến những vấn đề từ vựng, ngữ nghĩa học
Về phân loại âm tiết: dựa vào cách kết thúc âm tiết mà chia thành hai loạichính sau:
+ Âm tiết mở: là những âm tiết kết thúc bằng một nguyên âm
+ Âm tiết đóng: là những âm tiết được kết thúc bằng bán nguyên âm hoặcmột phụ âm
Như vậy có thể nói rằng khi nghiên cứu các ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính
Âm tiết là đơn vị cơ sở để từ đó ta bắt đầu đi vào phân tích cấu trúc của chúng
1.1.3 Nguyên âm và các tiêu chí khu biệt nguyên âm
Âm thanh do con người phát ra dùng để giao tiếp được cấu tạo bởi luồngkhông khí từ phổi đi lên qua thanh hầu hai dây thanh nằm sóng nhau trong thanh
Trang 22hầu với sự điều khiển của thần kinh, chấn động cho phép luồng không khí phát
ra thành từng đợt nối tiếp nhau, tạo nên những sóng âm
Về bản chất âm học, các nguyên âm là tiếng thanh
Về mặt cấu âm, nguyên âm được tạo ra do luồng hơi tự do, không bị cảntrở, được cấu âm với sự căng thẳng toàn thể khí quan phát âm
Về chức năng, nguyên âm có vai trò quan trọng trong cấu tạo âm tiết, đặcbiệt là khả năng làm hạt nhân của âm tiết
* Dựa trên cơ sở cấu âm có ba tiêu chí cơ bản là:
+ Vị trí của lưỡi
+ Độ nâng của lưỡi (độ mở của miệng)
+ Hình dáng của môi
- Tiêu chí 1: Vị trí của lưỡi: Dựa trên tiêu chí này người ta chia thành
các nguyên âm dòng trước, dòng giữa và dòng sau
- Tiêu chí 2: Độ nâng của lưỡi (độ mở của miệng): căn cứ vào sự nâng
lên hay hạ xuống của lưỡi sẽ tạo ra những nguyên âm có độ nâng khác nhau( Các nguyên âm có độ nâng càng thấp thì miệng càng mở rộng), dựa vào độnâng của lưỡi các nguyên âm được phân thành bốn bậc
+ Nguyên âm cao, như : [i, u, ]
+ Nguyên âm hơi cao, như: [e, , o]
+ Nguyên âm hơi thấp, như: [, , ]
+ Nguyên âm thấp, như: [a, ]
- Tiêu chí 3: Hình dáng của môi
Tròn môi hay không tròn môi cũng là một đặc điểm quan trọng để phânloại và nhận biết nguyên âm Tính chất tròn hay không tròn được xác định theokhuôn môi Khi phát âm hai môi có thể chum tròn và nhô về phía trước, cho tanhững nguyên âm có âm sắc trầm hơn bình thường, đó là những nguyên âm trònmôi như [u, o, ] Trái lại, nếu hai môi ở tư thế bình thường hoặc nhành ra khiphát âm không tròn hoặc dẹt, như [i, e, ]
Trang 23Trên đây là những tiêu chí nguyên âm về mặt sinh lí cấu âm (cơ sở cấuâm) Như vậy miêu tả nguyên âm là xác định nguyên âm được miêu tả thuộcnhóm nào trong các nhóm căn cứ theo ba tiêu chí đã nêu ở trên
Bên cạnh đó, trên cơ sở cấu âm nhiều ngôn ngữ còn khu biệt nhau về âmvực (register) của nguyên âm Dựa vào âm vực, người ta chia thành: Nguyên âm
có âm vực căng (tense) và nguyên âm có âm vực lơi (lax)
* Dựa trên cơ sở âm học:
- Tiêu chí 1: Trường độ: Nhiều ngôn ngữ có sự khu biệt nhau về trường
độ của nguyên
- Tiêu chí 2: Cao độ, dựa trên tiêu chí này các nguyên âm được phân ra
làm ba loại sau: Nguyên âm bổng, nguyên âm trầm và nguyên âm trung hòa
- Tiêu chí 3: Độ vang, tiêu chí này gắn liền với tiêu chí về độ mở của
miệng, Độ mở của miệng càng rộng thì nguyên âm càng có độ vang lớn (hay
âm lượng lớn) Ngược lại, độ mở càng hẹp nguyên âm càng có độ vang nhỏ(hay âm lượng nhỏ):
Dựa trên các tiêu chí ở trên mà các nhà ngôn ngữ học thế giới đã cụ thểhóa sự sắp xếp các nguyên âm (nguyên âm chuẩn hay nguyên âm cơ bản) thànhmột hình thang ngược Hình thang này biểu thị nội dung được quy ước mangtính quốc tế nên được gọi là hình thang nguyên âm quốc tế
Trang 24Hình 1.2 : Hình thang nguyên âm quốc tế
Dựa trên hai cơ sở về cấu âm và âm học, tùy vào đặc điểm, cấu trúc củangôn ngữ cần xét mà người ta lựa chọn và phân loại các nguyên âm đó theonhững tiêu chí khác nhau để xây dựng hệ thống âm vị nguyên âm của ngônngữ đang xét
Như vậy, về bản chất âm học, nguyên âm chủ yếu được cấu tạo bằng tiếngthanh Về mặt cấu âm, khi phát âm nguyên âm, luồng hơi đi ra tự do, không bịcản trở, độ căng của các bộ phận cấu âm đều đặn Miêu tả nguyên âm là xác địnhnguyên âm được miêu tả dựa trên những tiêu chí ở trên
1.1.4 Phụ âm và các tiêu chí khu biệt phụ âm
Khác với sự cấu tạo của nguyên âm, phụ âm khi cấu âm luồng hơi đi ra
bị cản trở ở một điểm nào đó trong bộ máy phát âm của con người “Khi phát
âm một phụ âm, bộ máy phát âm làm việc không điều hòa, khi căng khi chùng,
vì vậy luồng không khí thoát ra thường có cường độ mạnh hơn khi phát âmnguyên âm.” [2, Tr.118]
Về mặt âm học, thành phần cấu tạo nên phụ âm bao gồm cả tiếng thanh vàtiếng động Các phụ âm vang có hàm lượng tiếng thanh lớn Tiếng thanh giảm dần
ở những phụ âm hữu thanh (voiced consonant) và mất hẳn ở phụ âm vô thanh(voiceless consonant) Phụ âm thường kết hợp với nguyên âm để tạo nên âm tiết.Tuy nhiên phụ âm vang có thể một mình tạo thành âm tiết trong một số ngôn ngữ
Trang 25Nhưng về cơ bản phụ âm vẫn là tiếng động, được cấu tạo do sự cản trởkhông khí trên lối thoát của nó, có nhiều cách cản trở khác nhau được gọi là
phương thức cấu âm Cùng một cách cản trở nhưng được thực hiện ở những chỗ
khác nhau, gọi là vị trí cấu âm sẽ cho ta những phụ âm khác nhau.
Để khu biệt và phân loại phụ âm có thể dựa vào cơ sở về âm học và cấu âm
* Dựa trên cơ sở cấu âm: Ta có hai tiêu chí là phương thức cấu âm và vị
trí cấu âm.
- Tiêu chí 1: Phương thức cấu âm (manner of articulation)
Phương thức cấu âm là cách thức cản trở luồng hơi khi ta phát âm, có bốnphương thức chính sau:
+ Phương thức tắc: là phương thức tạo ra các âm tắc Những phụ âm nàykhi phát âm, luồng không khí từ phổi đi lên bị cản trở hoàn toàn ở vùng miệng
và mũi, muốn thoát ra ngoài phải có sự phá vỡ sự cản trở ấy, tạo ra một tiếng nổ
+ Phương thức xát: là phương thức tạo nên các phụ âm xát Phụ âm xátđược hình thành bởi luồng không khí từ phổi đi lên không bị cản trở hoàn toàn,lách qua một khe hở hẹp do hai bộ phận cấu âm tạo ra và cọ xát với thành khe hởhẹp đó, tại một vị trí nào đó, tạo nên phụ âm với tính chất xát đặc trưng
+ Phương thức tắc-xát: là phương thức tạo nên các phụ âm tắc-xát Cácphụ âm này được hình thành do luồng hơi đi ra bị cản trở hoàn toàn như ởphương thức tắc, rồi thoát ra qua một khe hở hẹp như ở phương thức xát Nhưphụ âm [t] (trong tiếng Anh) hay [ts] (trong tiếng Nga)
+ Phương thức rung: là phương thức hình thành nên những phụ âm rung(trill), khi phát âm không khí từ phổi đi ra và bị chặn lại ở một vị trí nào đó, nóvượt qua chướng ngại rồi lại bị cản… Cứ như vậy nó tạo nên một tiếng rung
- Tiêu chí 2: Vị trí cấu âm (place of articulation)
Là nơi luồng hơi bị cản trở Khi phát ra phụ âm, hai bộ phận cấu âm sẽkhép đường thông từ phổi ra ngoài miệng, tạo nên nơi cản trở: Nơi đó luồng hơi
sẽ phá vỡ sự cản trở hoàn toàn để thoát ra (trường hợp phương thức tắc) hoặc sẽ
Trang 26cọ xát vào khe hẹp do hai bộ phận cấu âm tạo ra (trường hợp phương thức xát.
Kể từ ngoài vào trong ta có các vị trí cấu âm cơ bản như: Môi, lưỡi, răng, ngạc,mạc, lưỡi con, thanh hầu
* Dựa trên cơ sở âm học
+ Hữu thanh – vô thanh: Âm hữu thanh là âm có tiếng thanh (tức có sựrung động của dây thanh khi phát âm): [b, d]; âm vô thanh là âm không có tiếngthanh: [p,t,k]
+ Vang - ồn: Phụ âm có tỉ lệ tiếng thanh cao hơn tiếng động là phụ âmvang (các âm mũi, bên, rung), còn phụ âm có tỉ lệ tiếng thanh thấp hơn hoặc chỉ
là tiếng động mà thôi là phụ âm ồn (các âm tắc, các âm tắc xát)
+ Cường độ: Đây cũng là tiêu chí để phân biệt các phụ âm Luồng hơiphát ra khi cấu âm mạnh hay nhẹ do sức cản ở điểm cấu âm lớn hay nhỏ
+ Trường độ: Dựa vào tiêu chí trường độ có thể phân biệt phụ âm nhấtthời và phụ âm liên tục hay phụ âm ngắn và phụ âm dài
Như vậy dựa trên cơ sở về cấu âm và âm học, chúng ta có thể phân loại vàmiêu tả các phụ âm theo những tiêu chí khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm nội tạicủa ngôn ngữ đang xét, sao cho hợp lí và khoa học nhất
1.2 Vài nét về người và tiếng Rơ-măm
1.2.1 Về người Rơ-măm
Người Rơ-măm là một trong những dân tộc có số dân ít ỏi tại Việt Nam.Theo một số tài liệu [22], [23]… thì đầu thế kỷ XX người Rơ-măm còn có 12 làng,nay chỉ còn lại làng Le bên bờ sông Sa Thầy và một hoặc hai làng ở Campuchia,loạn lạc, dịch bệnh, chiến tranh đã cướp đi 9/10 số dân của tộc người này
trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Cư trú tập trung tại Làng Le, xã Mo-rai,huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum (419 người, chiếm 96,1% tổng số người Rơ-măm tại Việt Nam) Ngoài ra còn có người Rơ-măm ở một số tỉnh khác như:
1() Niêm giám Thống kê 2011, Cục thống kê Kon Tum
Trang 27thành phố Hồ Chí Minh (9 người), Đồng Nai (3 người) Làng của người măm theo chế độ tự quản, đứng đầu là già làng, người có tư cách đạo đức tốt,hiểu rõ luật tục, được dân làng tín nhiệm và tôn trọng Quan hệ xã hội ở đâycòn lưu giữ khá đậm các tàn dư của thời kỳ mẫu hệ vào giai đoạn đangchuyển nhanh sang chế độ phụ quyền.
Rơ-Người Rơ-măm sinh sống chủ yếu bằng phát rẫy, làm nương, chọc tỉa vàsăn bắn, thức ăn chủ yếu theo mùa Lúa nếp là loại cây trồng chính và đây cũng
là lương thực chủ yếu của người Rơ-măm Ngày nay, cùng với lúa rẫy thì ngườiRơ-măm đã biết trồng lúa nước
Nếu như ngày xưa, cồng chiêng và lúa được coi là tài sản thể hiện sự giàu cócủa các gia đình thì ngày nay đồng bào Rơ-măm đã có quan niệm khác, nhà nào cónhiều trâu bò, nhiều ruộng lúa nước, nhiều rẫy cao su, bời lời… mới là giàu có Sănbắn và hái lượm vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống của người dân nơi đây.Ngoài ra đồng bào còn biết chăn nuôi gia súc, đan lát và dệt vải
Người Rơ-măm xưa kia, ở trong những ngôi nhà sàn dài, xếp quanh ngôinhà chung, mỗi nhà có nhiều bếp Ngày nay người Rơ-măm sống trong nhữngngôi nhà kiên cố, nhà sàn truyền thống ngày càng thưa thớt
Đồng bào Rơ-măm vẫn còn thói quen ăn bốc, trong lễ hội thường uốngrượu cần Xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh, người dân tộc Rơ-măm tintưởng vào sự tồn tại của linh hồn Do vậy, họ cũng xây dựng nền văn hóa ẩmthực mang tính tôn thờ thần linh, thể hiện rõ sự ngưỡng vọng, tôn kính, cầumong thần linh phù hộ cho dân làng có cuộc sống ấm no
Người Rơ-măm hiện nay vẫn còn duy trì những tục thờ cúng liên quan đếnsản xuất nương rẫy để cầu mong sự phù trợ của các vị thần như lễ cúng Yàng, lễcúng lúa mới, lễ cầu mưa Lễ, hội được coi là một trong những nét văn hóa đặcsắc nhất vẫn còn được người Rơ-măm duy trì đến ngày nay, trong đó 3 lễ hội quantrọng nhất là: trọc tỉa, cúng mừng lên đòng và cúng lúa mới Những lễ hội này gắnliền với đời sống sản xuất nông nghiệp của người Rơ-măm Lễ hội trọc tỉa (theo
Trang 28tiếng Rơ-măm là Et Choi [t cj]) được diễn ra khi các gia đình chuẩn bị cho vụsản xuất mới Đến khi lúa chuẩn bị trổ bông thì các gia đình làm một cái lễ đơngiản (còn được gọi là Et Gah) để cúng Yàng, cảm ơn về quãng thời gian qua Yàng
đã phù hộ để cây lúa, cây bắp lên tốt và cầu mong Yàng tiếp tục phù hộ để có mộtmùa rẫy bội thu Lễ cúng mừng lúa mới (hay còn gọi là Et Nhu [t ul]) là lễ tonhất được diễn ra khi việc thu hoạch của người dân đã diễn ra xong xuôi và chuẩn
bị đưa lúa xuống kho, đây cũng là tết của người Rơ-măm
Cùng với lễ hội thì tục lệ ma chay cũng được người Rơ-măm lưu giữ.Nghĩa địa của người Rơ-măm luôn nằm về phía Tây của làng bởi theo quan niệmnếu đặt về hướng Đông thì khi mặt trời mọc và đi qua làng, linh hồn người chếtcũng sẽ đi theo sẽ không tốt, các ngôi mộ được sắp xếp có trật tự, khi chôn, tránh
để người dưới mộ "nhìn" về phía làng Sự khác biệt là ngày nay, người Rơ-mămkhông còn tục lệ chôn chung người chết trong một gia đình như trước đây
Khác với nhiều dân tộc, trang phục truyền thống của người Rơ-măm thườngdùng màu trắng của vải mộc, có phong cách riêng trong cách tạo dáng và trang trí,nhất là trên trang phục của người phụ nữ Đàn ông, con trai thì đóng khố, còn đàn
bà, phụ nữ mặc váy và áo, có trang trí các đường viền màu đỏ làm nổi bật lên trangphục và nét duyên dáng của người phụ nữ Rơ-măm Cùng với váy, áo; Trước đây,phụ nữ Rơ-măm còn đeo nhiều đồ trang sức như hoa tai, vòng tay…
Người Rơ-măm còn có ca dao, tục ngữ, một số điệu dân ca và truyện cổ.Nhạc cụ của người Rơ-măm gồm có chiêng, trống và đàn, sáo
1.2.2 Các đặc điểm về quan hệ cội nguồn, loại hình và xã hội ngôn ngữ học tiếng Rơ-măm
1.2.2.1 Về quan hệ cội nguồn
Theo các nhà nghiên cứu quan hệ cội nguồn, tiếng Rơ-măm là một ngônngữ thuộc tiểu chi Ba-na (được xác định có tới 29 ngôn ngữ (?)) [3], chi Môn-Khơme, được phân bố trong một vùng rộng lớn giữa Nam-Trung bộ Việt Nam,Nam Lào và Tây Bắc Campuchia
Trang 29Các ngôn ngữ thuộc tiểu chi Ba-na được chia thành ba nhóm nhỏ hơn là:Nhóm Ba-na Nam, nhóm Ba-na Bắc và nhóm Ba-na Tây Hai nhóm Ba-na Nam
và Ba-na Bắc vừa có mặt trên lãnh thổ Việt Nam vừa có mặt trên lãnh thổ Lào vàCampuchia Riêng nhóm Ba-na Tây phân bố chủ yếu ở lãnh thổ Lào Theo cácnhà nghiên cứu quan hệ cội nguồn thì tiếng Rơ-măm thuộc nhóm Ba-na Tây(Smith, K.D., 1981; Jacq, Pascale & Sidewell, P 2000; Sidwell, P., 2000; 2002,2003 ) [35], [36], [39]
Theo các học giả Việt Nam [3], [13] … Nếu xếp theo thành phần dân tộcthì tiểu chi ngôn ngữ Ba-na là tiểu chi có nhiều thành phần ngôn ngữ nhất ở ViệtNam (12/54 ngôn ngữ) Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thuộc tiểu chinày được chia thành:
+ Nhóm Ba-na Bắc gồm: Tiếng Ba-na, Xơ-đăng, Hrê, Giẻ - Triêng, Co,Brâu, Rơ-măm
+ Nhóm Ba-na Nam gồm: tiếng Cơ-ho, Mnông, Xtiêng, Mạ, Chơ-ro.Tuy nhiên, với những cứ liệu hiện có, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đangphân chia lại các ngôn ngữ tiểu chi Ba-na thành nhiều nhóm khác nhau Hiệnnay, chính Viện Ngôn ngữ học cũng đã và đang tiếp tục cùng Ủy ban dân tộc củaChính phủ tiếp tục vấn đề xác định số lượng các ngôn ngữ thuộc tiểu chi Ba-na.Thực tế, hiện nay trên danh mục thành phần dân tộc thì có 12 dân tộc sử dụngcác ngôn ngữ tiểu chi này, tức có 12 ngôn ngữ Song thực tế lại hoàn toàn khácbởi nhiều người cho rằng các ngôn ngữ như Triêng (thuộc DT Giẻ - Triêng), haytiếng Brâu có lẽ nên coi là ngôn ngữ thuộc nhóm Ba-na Tây (Smith, K.D., 1981,hay một vài người khác nữa) hoặc tiếng Rơ-măm (Lamam) được Smith, K.D.,
1981 coi là thuộc Ba-na trung tâm, chứ không phải là thuộc Ba-na Bắc Đây làmột vấn đề hết sức phức tạp
Trang 30Hình 1.3 Bản đồ các ngôn ngữ Bahnaric của Eva Ujlakyova (2013)
Nguồn : Mon-Khmer Studies Volume 42.
Là một trong những tiểu chi ngôn ngữ điển hình thuộc chi Môn-Khơ me,
họ ngôn ngữ Nam Á, lại có địa bàn phân bố ở nhiều quốc gia, các ngôn ngữ tiểuchi này được nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu Có thể nhắc đếnmột loạt tên tuổi với những công trình nghiên cứu quan trọng về các ngôn ngữBa-na như: Smith, K.D (1972, 1981); Sidwell, P (2000, 2002, 2003, 2009,2010 ), Sidwell, P., & Jacq Pascale (2003); Robert Headley- David Thomas
Trang 31-Central South:
Tampuon,Bahnar-South Bahnaric:
Chrau, Sre, Stieng, Mnong
North
-Halang, Kayong-Jeh
-Kotau -Tadrah, Modrah-Sedang
-Hrê -Mơnơm (Bơnâm),-Rengao
-Kaco’, Ramam
(Rơ-măm)
East
Sơ đồ về vị trí của tiếng Rơ-măm trong các ngôn ngữ Bahnaric
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phân loại các ngôn ngữ Bahnaric của Sidwell (2009) 1.2.2.2 Đặc điểm về loại hình
Theo các nhà loại hình học, tất cả các ngôn ngữ ở Việt Nam đều thuộc loạihình ngôn ngữ đơn lập (hay còn được gọi là các ngôn ngữ “phi hình thái”, “vôdạng”, “không biến hình”, “đơn âm”, “phân tiết tính”, “đơn tiết tính”…, tuỳ thuộcvào quan niệm và góc nhìn khác nhau) Tuy nhiên, trong cách hiểu chung nhất,gọi một ngôn ngữ là “đơn lập” tức là nói rằng trong ngôn ngữ đó quan hệ giữa các
từ được biểu thị không phải bằng các phụ tố chứa trong bản thân từ, mà bằngnhững phương tiện nằm bên ngoài từ, tuy mức độ tính đơn lập biểu hiện ở cácngôn ngữ có khác nhau Theo cách phân loại chi tiết hơn về loại hình đơn lập của
Trang 32Yu Jakhontov thì tiếng Rơ-măm thuộc tiểu loại hình cổ Chỉ riêng thuộc tiểu loạihình cổ thôi thì tiếng Rơ-măm là một ngôn ngữ đa tiết (hay còn gọi là ngôn ngữ
âm tiết rưỡi), không có thanh điệu, mang dấu vết của hệ phụ tố phong phú cổ xưa
1.2.2.3 Đặc điểm về xã hội-ngôn ngữ học
Sa Thầy là huyện miền núi lớn nhất tỉnh Kon Tum Địa hình của Sa Thầychủ yếu là vùng núi và cao nguyên Giao thông đi lại khó khăn, đặc biệt là từ thịtrấn Sa Thầy về xã Mo Rai Sa Thầy bao gồm 11 xã và thị trấn, là địa bàn sinhsống của hơn 20 dân tộc anh em với tổng số dân là hơn 40 nghìn người, trong đógần 40 % là người Kinh và khoảng 60 % là các dân tộc thiểu số như: Gia-rai,Xơ-đăng, Ba-na, Rơ-măm, Hrê, Giẻ-Triêng, Brâu, Ê đê, Ra-glai, Xtiêng, Thái,Tày, Dao, Mường, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, Thổ, Nùng, Pu Péo Trong đó cácdân tộc có số dân đông là: Gia-rai, Xơ-đăng, Ba-na
Xã Mo Rai là một xã biên giới đặc biệt khó khăn của huyện Sa Thầy, tiếpgiáp với phía Bắc Campuchia Nơi đây là địa bàn cư trú của đồng bào 5 dân tộc:Gia-rai, Kinh, Rơ-măm, Thái, Mường Người Gia-rai và người Kinh là nhữngdân tộc chiếm ưu thế ở khu vực này Về cơ cấu hành chính Mo Rai bao gồm 7làng và 2 xóm công nhân (thuộc công ty quốc phòng 78) Trong đó, làng Leđông dân thứ 3 trong xã với 113 hộ và 407 nhân khẩu Ở làng Le, ngoài ngườiRơ-măm chiếm đa số, còn một số ít người Kinh mới ở nơi khác đến sinh sốngtrong vài năm gần đây
Địa bàn xã Mo Rai là địa bàn có nhiều dân tộc sinh sống, do đặc điểmkhông gian sinh sống cũng như quá trình phát triển của lịch sử xã hội mà tiếngRơ-măm có sự tiếp xúc lâu dài với các ngôn ngữ như: Gia-rai, Việt…
Với lợi thế về số dân đông từ lâu tiếng Gia-rai đã trở thành ngôn ngữvùng của khu vực này Tuy nhiên, hiện nay tiếng Việt cũng đóng vai trò quantrọng trong giao tiếp giữa các dân tộc trong vùng Còn tiếng Rơ-măm chỉ được
sử dụng trong phạm vi làng Le
Trang 33Trong lĩnh vực giao tiếp hành chính, ở cấp xã tiếng Việt là ngôn ngữ được sửdụng rộng rãi nhất, tiếp đến là tiếng Gia-rai Tiếng Rơ-măm chỉ được sử dụng tronggiao tiếp hành chính cấp làng, nơi mà số người Rơ-măm chiếm tuyệt đại đa số.
Trong giao tiếp giữa các thành viên trong gia đình cũng như trong giaotiếp tâm linh, người Rơ-măm vẫn duy trì khá tốt tiếng nói của dân tộc mình Họ
có ý thức tốt trong việc bảo tồn tiếng mẹ đẻ, tiếng Rơ-măm vẫn là sợi dây liênkết các thành viên trong gia đình, những người đồng tộc trong làng Le Tuynhiên, thực trạng hiện nay cũng cho thấy rằng tiếng Việt đang len lỏi vào đờisống sinh hoạt, kể cả trong lĩnh vực giao tiếp tâm linh của người Rơ-măm (nơi
mà ngôn ngữ được cho là có tính bảo thủ cao)
1.3 Tiểu kết chương 1
Trong nghiên cứu khoa học, cơ sở lí luận là kim chỉ nam cho mọi hànhđộng nghiên cứu Việc nhận thức đầy đủ về cơ sơ lí luận xoay quanh vấn đềnghiên cứu giúp người nghiên cứu tiếp cận đối tượng nghiên cứu để tiến gầnnhất với chân lý, tìm ra những đặc trưng bản chất của chúng
Vì vậy việc đưa ra các cơ sở lý thuyết trong nghiên cứu hệ thống ngữ âmtiếng Rơ-măm là một việc làm cần thiết Nó giúp chúng tôi có cái nhìn đúng đắnkhi miêu tả hệ thống âm vị của ngôn ngôn ngữ này
Như chúng ta đều biết, cùng nghiên cứu một hiện tượng nhưng có nhiềucách tiếp cận dựa trên những cơ sở lý thuyết khác nhau, mỗi hệ thống lý thuyếtđều có những ưu và nhược điểm khác nhau Có thể nói, hệ thống lý thuyết màchúng tôi lựa chọn để thực hiện đề tài này mang tính phổ biến và được đa số cácnhà khoa học sử dụng và chấp nhận
Trang 34CHƯƠNG 2 TỪ NGỮ ÂM-ÂM VỊ HỌC TIẾNG RƠ-MĂM
2.1 Đặc điểm từ ngữ âm – âm vị học trong tiếng Rơ-măm
Lời nói của con người là một chuỗi âm thanh được phát ra kế tiếp nhautrong không gian và thời gian Lấy đơn vị tối thiểu để thông báo là câu, từ câu ta
có thể phân tách thành các đơn vị có nghĩa nhỏ hơn, chẳng hạn như từ, hình vị Tuy nhiên trong lời nói tự nhiên người ta không nói ra các hình vị hay từ ở dạng
tách biệt, mà chỉ trong dạng kết cấu thành câu
Từ những câu nói hoàn chỉnh có thể căn cứ ước định vào các giai đoạntăng giảm độ vang, những chỗ ngưng hay ngắt giọng tạm thời để tách ra các yếu
Ta thu được một âm đoạn tự nhiên của lời nói là: [muj]
2.“thaj lăm!” (xa quá)
Ta có các khúc đoạn tự nhiên của lời nói là: [thaj] [lăm]
3.“kn măm me” (con bé bú mẹ)
Ta cắt ra thành các đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất là: [kn] (con) [](bé) [măm] (bú) [me] (mẹ)
4.“muh ăi biw kpău.” (Bác tôi giết trâu)
Ta thu được chuỗi âm đoạn tự nhiên của lời nói là: [muh] (bác) [ăi] (tôi)[biw] (giết) [kpău] (trâu)
Như vậy thông qua thao tác cắt ngữ lưu tiếng Rơ-măm thành các đơn vịphát âm tự nhiên nhỏ nhất, kết hợp đối chiếu với đơn vị ngữ nghĩa nhỏ nhất Ta
Trang 35thu được đơn vị từ ngữ âm – âm vị học (phonological word).
Từ được hiểu theo nghĩa thông thường, là đơn vị ngôn ngữ học nhỏ nhấtmang nghĩa, có khả năng hoạt động độc lập trong lời nói và được tái hiện tự dotrong lời nói để tạo nên câu Nói rằng từ ngữ âm – âm vị học nghĩa là từ đượcxem xét riêng về khía cạnh ngữ âm – âm vị học, để từ đó xem nó được cấu tạonhư thế nào và bằng những yếu tố nào của ngữ âm – âm vị học
Từ ngữ âm học trong tiếng Rơ-măm được xác định là từ đơn tiết(monosyllabic) hay từ đa tiết (polysyllabic) được phân định bởi chỗ ngắt khiphát âm
Từ đơn tiết là từ có một âm tiết, từ đa tiết là từ có từ hai âm tiết trở lên.Trong dữ liệu điều tra, chúng tôi chưa bắt gặp trường hợp nào có trên ba âm tiết
Từ trong tiếng Rơ-măm chủ yếu là từ đơn tiết và từ song tiết, từ ba âm tiết không
từ ba âm tiết Như vậy, Có thể chia từ đa tiết trong tiếng Rơ-măm thành hai loại
là từ song tiết và từ ba âm tiết (tam tiết)
Có nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng để chỉ các âm tiết của từ đa tiết
Âm tiết đầu từ không mang trọng âm được gọi là tiền âm tiết (presyllable), âm
tiết phụ (minor syllable), âm tiết mờ, âm tiết yếu, âm tiết tiền trọng âm… Âm
tiết mang trọng âm thường được gọi là âm tiết chính (main syllable, major syllable), âm tiết mạnh, âm tiết tỏ…
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các thuật ngữ tiền âm tiết để chỉ âm tiết không mang trọng âm và âm tiết chính để chỉ âm tiết mang trọng âm Thuật ngữ
tiền âm tiết phần nào phản ánh đặc điểm ngữ âm của tiếng Rơ-măm, nó luônđứng trước âm tiết chính và đóng vai trò là một âm tiết phụ trong cấu trúc ngữ
Trang 36Trên thực tế, mô hình từ ngữ âm-âm vị học này chúng tôi chưa thấy trong
không có tiền âm tiết
2.1.1 Từ đơn tiết
Từ đơn tiết là từ chỉ gồm một âm tiết và âm tiết đó cũng là âm tiết chính
Từ đơn tiết trong tiếng Rơ-măm có cấu trúc gồm hai phần: phần đầu và phầnvần, phần đầu do các phụ âm hoặc tổ hợp phụ âm đảm nhận và phần vần baogồm âm chính và âm cuối, âm chính do các nguyên âm đảm nhận và âm cuối docác phụ âm hoặc tổ hợp phụ âm đảm nhận
Có thể cụ thể hóa từ đơn tiết bằng mô hình sau:
TỪ ĐƠN TIẾT
Tức là dạng tối thiểu nhất của từ đơn tiết tiếng Rơ-măm bao gồm hai thành tố là
Trang 37Ví dụ như: /ka/ (cá), /ai/ (bồ hóng), /p/ (chú), /c/ (chó)
Hình 2.1 Đường nét và sóng âm từ [luh](lỗ) trong tiếng Rơ-măm
Dạng thường xuyên nhất của từ đơn tiết là dạng từ gồm ba thành tố: âm
Chẳng hạn như: /deh/ (làng), /uj/ (khói), /săk/ (lông), /man/ (cháu)
Dạng phức tạp nhất của từ đơn tiết tiếng Rơ-măm có 5 thành tố:
2/1835 mục từ ở dạng cấu trúc này, với phần đầu là tổ hợp hai phụ âm trong đó ở
Ví dụ như: /plajh/ (sải), /tlăj/ (nhão)
2.1.2 Từ đa tiết
Từ đa tiết là từ gồm có một âm tiết chính và có một hay hai tiền âm tiết ởphía trước Âm tiết chính mang trọng âm từ, có trường độ dài, cường độ mạnh;còn tiền âm tiết không mang trọng âm, trường độ ngắn, cường độ nhẹ hơn
Vì thế, khi phát âm âm tiết chính các khí quan cấu âm luôn căng thẳng vàluồng hơi đi ra mạnh hơn Ngược lại, tiền âm tiết thường được đọc nhẹ và lướt Tấtnhiên, tính chất lướt chủ yếu được thể hiện ở trường độ và một phần ở cường độcủa âm tiết Có lẽ vì đặc điểm này, nên trong sự biến đổi lịch đại, quá trình đơn tiết
Trang 38hóa thường liên quan đến việc rụng tiền âm tiết, còn quá trình xuất hiện đối lập về
âm vực (đối lập về chất thanh, về cao độ hoặc cũng có thể là mầm mống của sựxuất hiện thanh điệu) thường liên quan nhiều đến âm tiết chính Đây là nét đặctrưng trong xu hướng đơn tiết hóa của nhiều ngôn ngữ Môn-Khmer
Âm tiết chính là “hạt nhân” của từ, còn tiền âm tiết thường mang ý nghĩangữ pháp hoặc ý nghĩa từ vựng bổ sung
Trong ngữ liệu điều tra, chúng tôi đã bắt gặp một số tiền âm tiết là dấuhiệu của tiền tố cấu tạo từ như:
/kăp/ (cắn) - /nkăp/ (bị cắn)
/ju/ (dọa) - /bju/ (sợ)
/iw/(chết) - /biw/ (giết)
/haw/ (người trèo) - /nhaw/ (rắn leo)
/aj/ (ở) - /Naj/ (ngồi)
/căw/ (về, lại) - /căw/ (đứng lại)
Hình 2.2 Đường nét và sóng âm từ song tiết [ăt](gân) trong tiếng Rơ-măm
Xét về mặt vị trí trong cấu trúc từ, như tên gọi của nó, tiền âm tiết bao giờcũng đứng ở vị trí đầu, trước âm tiết chính Âm tiết chính và tiền âm tiết đượcliên kết với nhau thành một khối, phát âm liền nhau
TỪ ĐA TIẾT
Trang 39TIỀN ÂM TIẾT (P) ÂM TIẾT CHÍNH (S)
có 25/1835 ( chiếm tương đương 1,4 %)
Hình 2.3 Đường nét và sóng âm từ tam tiết [ntak] (phao câu) trong tiếng Rơ-măm.
Một số mô hình cấu trúc từ song tiết trong tiếng Rơ-măm như:
+C1V1C 4 V 3 : /hăi/ (rơm), /la/ (vừng), /kla/ (tre), / ha/ (vọc)
+C1V1C 4 V 3 C 6 : /sal/ (sương), /bduk/ (dạ dày), /kcap/ (gàu), /kmaj/.
+ C1V1C 4 C 5 V 3 C 6 : /hplă/ (nhảy), /dble/ (vấp), /ttlăj/ (trán)
+ C1V1C 4 V 3 C 6 C 7 : /ktajh/ (mông), /ăt lnaj/ (cỏ gấu),
+ C1V1C2C 4 V 3 : /(jew) pa/ (gùi hoa), /kml/ (câm).
+ C1V1C2C 4 V 3 C 6 :/pkaj/ (dưa), /tnam/(vòi voi),/kmlh măt/(nháy mắt).
Trang 40Từ tam tiết với số lượng hạn chế, chúng tồn tại ở một số dạng sau:
+ C1V1C3 V2 C 4 V 3 : /pto/ (ma), /phmu/ (so le)
+ C1V1C3 V2C 4 V 3 C 6 : /ptă/ (giàu)
2.2 Cấu trúc âm tiết tiếng Rơ-măm
2.2.1 Cấu trúc tiền âm tiết
Tiền âm tiết tiếng Rơ-măm có cấu trúc đơn giản và không có khả năng tồntại độc lập Nó là một hiện tượng âm tiết thiếu ổn định, không mang trọng âm,được phát âm lướt nhẹ trong từ đa tiết
Tiền âm tiết trong từ song tiết và tiền âm tiết trong từ tam tiết có sự khácnhau về số lượng, thành phần cấu trúc cũng như các yếu tố tham gia cấu thành
So với từ song tiết, tiền âm tiết trong từ tam tiết có cấu trúc giản lược hơn, cácthành tố cấu tạo bị hạn hữu ở một vài yếu tố
2.2.1.1 Tiền âm tiết trong từ song tiết
Tiền âm tiết trong từ song tiết có hai loại đó là: tiền âm tiết mũi và tiền âmtiết có cấu trúc CV(C) Có thể khái quát hai dạng từ song tiết như sau:
N + S
p 1 + S
Trong đó N: là tiền âm tiết mũi, S: âm tiết chính, p1 : là tiền âm tiết có cấu
trúc CV(C)
* Tiền âm tiết mũi (N)
“Hiện tượng tiền mũi” (prenasalisation) là một hiện tượng phổ biến trongcác ngôn ngữ khu vực Đông Nam Á nói chung, hiện tượng này cũng xuất hiệntrong nhiều ngôn ngữ thuộc chi Bahnaric như: KơHo, LaVen, Tampuan, Stiêng,
… [11], [28], [32] “Hiện tượng tiền mũi” có đặc điểm cấu âm phức tạp bắt đầubằng một yếu tố mũi , đóng (implosive) và có tiêu chí định vị đồng nhất với yếu
tố đi sau (phụ âm đầu của âm tiết chính)
Về giải pháp âm vị học, “hiện tượng tiền mũi” có thể có những giải phápkhác nhau tùy thuộc vào cách giải thuyết của người nghiên cứu và đặc điểm nội