Trong số các nhóm ngôn ngữ có mặt ở Việt Nam thì nhóm ngôn ngữ thuộc họ Hán Tạng như tiếng Sán Dìu còn chưa được nghiên cứu nhiều và ít được quan tâm.. Nghiên cứu tiếng Sán Dìu là góp ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ KIM THOA
BƯỚC ĐẦU MÔ TẢ HỆ THỐNG NGỮ ÂM
TIẾNG SÁN DÌU Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ các dân tộc Việt Nam
Mã số : 5.04.31
Hà Nội - 2005
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ KIM THOA
BƯỚC ĐẦU MÔ TẢ HỆ THỐNG NGỮ ÂM
TIẾNG SÁN DÌU Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ các dân tộc Việt Nam
Mã số : 5.04.31
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.TRẦN TRÍ DÕI
Hà Nội - 2005
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
QUI ƯỚC TRONG VIỆC TRÌNH BÀY 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
I Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 6
II Vài nét khái quát về địa bàn khảo sát 7
II.1 Xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 7
II.2 Xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 8
III Bố cục của luận văn 9
CHƯƠNG I : VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NGỮ ÂM TIẾNG SÁN DÌU 10
I Lịch sử nghiên cứu tiếng Sán Dìu 10
II Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
II.1 Đối tượng nghiên cứu 11
II.2 Phạm vi nghiên cứu 12
III Phương pháp nghiên cứu 13
III.1 Giải thích về phương pháp 13
III.2 Những người cung cấp tư liệu 16
IV Một vài khái niệm liên quan khi nghiên cứu ngữ âm tiếng Sán Dìu 17
IV.1 Âm tiết 17
IV.2 Âm tố và âm vị 18
CHƯƠNG II : ĐÔI NÉT VỀ DÂN TỘC SÁN DÌU Ở VIỆT NAM 23
I Nguồn gốc 23
II Nhà cửa - làng xóm 24
III Gia đình – Xã hội 26
IV Kinh tế 27
V Trang phục 29
VI Ăn uống 30
CHƯƠNG III: VỀ HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG SÁN DÌU 33
Trang 4I Âm tiết tiếng Sán Dìu 33
I.1 Nhận diện và phân xuất 33
I.2 Các kiểu âm tiết 34
II Hệ thống âm đầu tiếng Sán Dìu 36
II.1 Số lượng 36
II.2 Mô tả 38
II.3 Các tiêu chí khu biệt âm đầu 50
III Âm đệm 52
IV Hệ thống nguyên âm 54
IV.1 Số lượng 54
IV.2 Mô tả 56
V Hệ thống phụ âm cuối 63
V.1 Số lượng 63
V.2 Các tiêu chí khu biệt 65
VI Thanh điệu 69
VI.1 Thanh 1 69
VI.2 Thanh 2 70
VI.3 Thanh 4 71
VI.4 Thanh 5 72
VI.5 Thanh 6 73
VI.6 Thanh 7 74
VI.7 Thanh 8 75
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
BẢNG TỪ 85
Trang 5
PHẦN MỞ ĐẦU
I Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Nói đến văn hóa Việt Nam, người ta thường nói đến một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa đa dạng và phong phú Có được điều đó là nhờ có sự góp phần của văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta Chính vì vậy, nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định một trong những nhiệm vụ về văn hóa các dân
tộc thiểu số là: “Thứ nhất là coi trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Trước hết là bảo tồn, phát triển ngôn ngữ, tiếng nói và chữ viết của các dân tộc Ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) là một nội dung đầu tiên, cơ bản của văn hóa mỗi dân tộc” [2] Như vậy, nghiên cứu ngôn ngữ của một
dân tộc thiểu số là góp phần bảo tồn, lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc đó
Trong số các nhóm ngôn ngữ có mặt ở Việt Nam thì nhóm ngôn ngữ thuộc họ Hán Tạng như tiếng Sán Dìu còn chưa được nghiên cứu nhiều và ít được quan tâm Từ trước tới nay, ở Việt Nam chưa có một công trình nào nghiên cứu về tiếng Sán Dìu một cách có hệ thống Vì thế, trong phạm vi đề tài này chúng tôi sẽ bước đầu nghiên cứu, mô tả hệ thống ngữ âm tiếng Sán Dìu Đây sẽ là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu tiếng Sán Dìu trên nhiều bình diện khác
Nghiên cứu tiếng Sán Dìu là góp phần bảo lưu, gìn giữ ngôn ngữ cũng như văn hóa vốn đang bị mai một dần của dân tộc này Hơn thế nữa, tìm hiểu tiếng Sán Dìu giúp chúng ta hiểu rõ về một ngôn ngữ thuộc họ Hán Tạng có mặt ở Việt Nam Từ đó, tiếng Sán Dìu có thể sẽ là cầu nối để chúng ta tìm
Trang 6hiểu các ngôn ngữ khác thuộc họ Hán Tạng ở Việt Nam cũng như trong khu vực
II Vài nét khái quát về địa bàn khảo sát
II.1 Xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Là một xã thuộc khu vực I miền núi, phía Đông xã Đạo Trù giáp dãy núi Tam Đảo, phía Nam giáp xã Đại Đình, phía Tây giáp xã Yên Dương, phía Bắc giáp xã Ninh Lai của tỉnh Tuyên Quang Tổng diện tích đất tự nhiên có 7.450,84 ha, trong đó đất ruộng và đất màu chỉ có 712,66 ha (chiếm 9,56%), còn lại là đất lâm nghiệp 636 ha (8,53%), đất ở và đất vườn 135,31 ha (1,81%), và các loại đất khác 5.966,87 ha (80,1%) chưa sử dụng đến Như vậy, diện tích đất có thể đem lại hoa màu, lợi nhuận cho người dân chiếm một
tỷ lệ rất nhỏ, cộng với điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi nên đời sống của bà con còn rất khó khăn, đặc biệt là đa phần họ đều sống bằng nghề nông
Tính đến 31/12/2003, xã Đạo Trù có tổng số dân là 12.224 người trong
đó có 87,5% là người Sán Dìu (10.696 người), còn lại là người Kinh Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,44% hàng năm
Về tình hình kinh tế, tổng thu nhập bình quân lương thực đầu người là
280 kg/năm Cả xã có 2.084 hộ gia đình thì số hộ nghèo là 536 hộ (25,72%),
số hộ có điều kiện kinh tế trung bình là 1.328 hộ (63,72%) và số hộ khá là 220
Trang 7dục của xã còn rất nhiều hạn chế Công tác y tế, dân số, văn hóa cũng đang từng bước được quan tâm và cải thiện
Tuy là một xã miền núi nhưng xã lại có đường giao thông đi lại khá thuận tiện Cơ sở hạ tầng cũng đang được Nhà nước đầu tư như xây dựng cụm chợ miền núi, trường cấp I hai tầng, trường mầm non mẫu giáo, 02 trạm biến
áp điện, trụ sở làm việc của Uỷ ban Nhân dân xã, Đặc biệt là xã đã được xây dựng hệ thống thủy lợi kênh mương khu vòng Chốc Cóc bằng bê tông dài 1.338 m Sắp tới, xã sẽ được xây dựng một trung tâm y tế đa khoa
Như vậy, có thể nói, xã Đạo Trù vẫn là một xã nghèo, trình độ dân trí thấp Chính vì thế, để có thể rút ngắn được khoảng cách giữa miền núi và miền xuôi thì xã còn cần được sự quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa
II.2 Xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Nằm trên trục đường lên thị trấn Tam Đảo, xã Hợp Châu là một xã nhỏ
có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.012,28 ha (chỉ bằng khoảng 1/7 diện tích đất của xã Đạo Trù) với diện tích đất nông nghiệp chiếm 52,16% Xã có 1.543
hộ cư trú tại 14 thôn với 6.797 nhân khẩu, trong đó người Sán Dìu chiếm 48% dân số của xã (3.262 người) Người dân ở đây 89,2% là làm nghề nông, chỉ có 10,8% là làm nghề buôn bán và các dịch vụ khác
Trong quá trình phát triển, xã Hợp Châu có được một số thuận lợi như mạng lưới giao thông, thủy lợi phát triển khá tốt và có tính ổn định cao Cơ sở
hạ tầng ngày càng được Nhà nước đầu tư, xây dựng mới Công tác an ninh trật tự luôn được bảo đảm tạo sự ổn định trong cuộc sống của người dân Cư dân Sán Dìu cũng như người Kinh ở khá tập trung và trình độ nắm bắt cũng như khả năng vận dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất ngày càng cao
Trang 8Bên cạnh đó, xã cũng gặp một số khó khăn như sự bất đồng ngôn ngữ bởi trên địa bàn của xã có hai dân tộc, người Sán Dìu và người Kinh Tuy nhiên, đây chỉ là một khó khăn nhỏ bởi hầu hết người Sán Dìu đều biết tiếng Kinh, trình độ song ngữ khá tốt Một khó khăn chung đối với các xã miền núi cũng như đối với xã Hợp Châu là trình độ dân trí của người dân chưa cao cho nên công tác quản lý, giáo dục của Nhà nước và các đoàn thể chưa có hiệu quả như mong muốn.Ví dụ như các phong tục về cưới xin, ma chay, lễ hội tuy đã được giản tiện đi nhiều nhưng vẫn còn rườm rà và rất tốn kém
Huyện Tam Đảo thuộc tỉnh Vĩnh Phúc là một huyện có tiềm năng về du lịch bởi trên địa bàn của huyện có hai khu du lịch sinh thái là Tây Thiên và Tam Đảo nhưng có lẽ huyện vẫn chưa khai thác được hết tiềm năng này nên đời sống của bà con ở các xã thuộc huyện vẫn chưa có nhiều thay đổi
III Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương như sau:
Chương I: Vấn đề nghiên cứu ngữ âm tiếng Sán Dìu
Chương II: Đôi nét về dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam
Chương III: Về hệ thống ngữ âm tiếng Sán Dìu
Trang 9CHƯƠNG I VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU NGỮ ÂM TIẾNG SÁN DÌU
I Lịch sử nghiên cứu tiếng Sán Dìu
Từ trước đến nay đã có một số tài liệu viết về dân tộc Sán Dìu nhưng đều dưới góc độ Dân tộc học Có thể kể đến một số tài liệu điển hình như sau:
- Ma Khánh Bằng Người Sán Dìu ở Việt Nam NXBKHXH.HN.1993
- Nguyễn Khắc Tụng Mấy ghi chép về người Sán Dìu TC Dân tộc học
số 37 năm 1959
- Ma Khánh Bằng Nương, đồi, soi , bãi của người Sán Dìu TC Dân
tộc học số 03 năm 1972
- Ma Khánh Bằng Vài nét về dân tộc Sán Dìu Thông báo Dân tộc học
số đặc biệt xác định thành phần các dân tộc miền Bắc, tháng 3 năm 1973
Còn về vấn đề nghiên cứu tiếng Sán Dìu, có thể nói đến một bài báo
duy nhất của Nguyễn Văn Ái “Vài nét về hệ thống ngữ âm tiếng Sán Dìu”
đăng trên cuốn “Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc” (1971) Trong bài viết này, tác giả đưa ra danh sách các phụ âm đầu, nguyên âm, âm cuối, thanh điệu của tiếng Sán Dìu dựa trên 1000 từ được điều tra tại xã Vĩnh Thực, huyện Móng
Trang 10Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuy nhiên, tác giả mới chỉ nêu ra chứ chưa có những lý giải một cách chi tiết về kết quả nghiên cứu ấy nên tính khoa học chưa cao
Ngoài ra, trong cuốn “Người Sán Dìu ở Việt Nam” Ma Khánh Bằng đã
giới thiệu một bảng từ vựng bao gồm 23 từ tiếng Sán Dìu so sánh với tiếng Dao, tiếng Hoa, tiếng Sán Chỉ và tiếng Tày Sau khi so sánh, ông kết luận, có 18/23 từ tiếng Sán Dìu tương ứng với tiếng Hoa, 05/23 từ tương ứng với tiếng
Dao và ông cho rằng “tiếng Sán Dìu đã xa dần với cái gốc xưa và các nhóm đồng tộc của mình Họ đã tiếp thu tiếng Hán trước khi di cư vào Việt Nam” [
8;16]
Như vậy, có thể nói, ở Việt Nam, tiếng Sán Dìu chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Vì thế, trong luận văn này, lần đầu tiên chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu ngữ âm tiếng Sán Dìu một cách có hệ thống, để từ đó làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo Đây là một bước đi tất yếu cho việc nghiên cứu một ngôn ngữ dân tộc thiểu số ít được biết đến ở nước ta
II Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
II.1 Đối tượng nghiên cứu
Nếu như chấp nhận quan điểm cho rằng ở Đông Nam Á có năm họ ngôn ngữ là họ ngôn ngữ Nam Á, Hán Tạng, Nam Đảo, Thái - Kadai và họ Mèo Dao thì nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy cả năm họ ngôn ngữ này đều có mặt ở Việt Nam Họ Nam Á có số lượng ngôn ngữ nhiều nhất - 25 ngôn ngữ, tiếp đến là họ Thái - Kadai có 11 ngôn ngữ, họ Hán Tạng có 9 ngôn ngữ, họ Nam Đảo có 5 ngôn ngữ và cuối cùng là họ Mèo Dao có 3 ngôn ngữ Tiếng Sán Dìu là một trong 9 ngôn ngữ thuộc họ Hán Tạng có mặt tại Việt Nam [12]
Trang 11Họ Hán Tạng là một họ ngôn ngữ lớn trên thế giới, phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, vùng Tây Tạng, Miến Điện và một phần ở Thái Lan, Việt Nam
Có khoảng 300 ngôn ngữ thuộc họ này Họ Hán Tạng được chia thành hai nhánh lớn, nhánh Hán và nhánh Tạng - Karen Trong hai nhánh này, nhánh Hán là nhánh có số lượng người nói đông nhất và lại được chia thành hai nhóm: nhóm Hán phía Nam và nhóm Hán phía Bắc Nhóm Hán phía Nam gồm ba ngôn ngữ thành viên, đó là tiếng Hoa, tiếng Sán Dìu và tiếng Ngái Cả
ba ngôn ngữ này hiện nay đều chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Như vậy, để góp phần vào tìm hiểu một trong các ngôn ngữ thuộc họ Hán Tạng có mặt ở Việt Nam, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếng Sán Dìu, một ngôn ngữ thuộc nhóm Hán phía Nam, nhánh Hán, họ Hán Tạng
II.2 Phạm vi nghiên cứu
Ở Việt Nam, cư dân nói tiếng Sán Dìu có khoảng 94.630 người (theo thống kê năm 1989) [12;75], dân số đông đứng thứ 15 trong số 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam Hiện nay, theo con số mới nhất do Uỷ ban Dân tộc miền núi thông kê năm 1999, dân tộc Sán Dìu có 87.279 người tập trung chủ yếu ở các tỉnh Thái Nguyên (37.388 người), Vĩnh Phúc (28.907 người), Quảng Ninh (17.203 người), Tuyên Quang (2.062 người), Hải Dương (1.503 người), còn lại rải rác ở một số tỉnh như Phú Thọ, Hà Tây, Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Giang, Lạng Sơn,
Căn cứ vào thời gian thực hiện luận án và điều kiện thực tế, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát tại một trong ba tỉnh có người Sán Dìu tập trung đông nhất, đó là tỉnh Vĩnh Phúc Trong địa bàn tỉnh này, chúng tôi cũng chỉ chọn hai xã có số dân Sán Dìu sống tập trung đó là xã Đạo Trù và xã Hợp Châu thuộc huyện Tam Đảo (huyện Tam Đảo mới được thành lập từ tháng 01 năm
Trang 122004, trước đây hai xã này thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) Tại hai địa bàn này, chúng tôi tiến hành khảo sát, thu thập tư liệu theo bảng từ đã được chuẩn bị sẵn Với nguồn tư liệu đó, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích, tổng hợp để có thể mô tả được hệ thống ngữ âm tiếng Sán Dìu như mục đích
đã đề ra ban đầu
III Phương pháp nghiên cứu
III.1 Giải thích về phương pháp
Để nghiên cứu ngữ âm của một ngôn ngữ bất kỳ, người ta thường phải thực hiện qua hai bước, đó là quan sát các hiện tượng âm học rồi so sánh, đối chiếu để tìm ra các mối quan hệ, hệ thống âm vị của ngôn ngữ đó Ngữ âm học nghiên cứu cả mặt tự nhiên lẫn mặt xã hội của ngữ âm nên nó có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Có thể kể đến hai loại phương pháp chính như sau:
- Phương pháp quan sát, miêu tả - thường phù hợp với các ngành khoa học tự nhiên Phương pháp này dựa vào một số máy móc được sử dụng trong các ngành khoa học như vật lý, y học và một số dụng cụ riêng biệt để quan sát
âm thanh lời nói Ở ngành khoa học xã hội, chúng được sử dụng nhiều trong Ngữ âm học thực nghiệm Chính vì thế, phương pháp này có thể đem lại những mô tả cứ liệu rất chính xác và đáng tin cậy
- Phương pháp thứ hai là quan sát trực tiếp bằng thính giác Phương
pháp này đôi khi chịu ảnh hưởng chủ quan của người nghiên cứu Tuy nhiên, trong ngôn ngữ, do bản chất xã hội của nó, người ta chỉ quan tâm đến những giá trị có được do sự so sánh giữa các âm thanh nên nếu trong sự quan sát mà
Trang 13có ấn tượng chủ quan của người nghiên cứu thì lại đem đến cho ta kết quả khá tin cậy Thường thường, phương pháp quan sát trực tiếp bằng thính giác so với phương pháp quan sát bằng khí cụ mang lại ích lợi trực tiếp hơn cho ngôn ngữ học và thực tế đã có rất nhiều hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ đã được nhận diện trước khi có ngữ âm thực nghiệm Trong luận văn này, chúng tôi sử
dụng phương pháp quan sát trực tiếp bằng thính giác để tiến hành mô tả hệ
thống ngữ âm tiếng Sán Dìu
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp và thao tác nghiên cứu khác như:
- Phương pháp điều tra điền dã: người nghiên cứu đến địa bàn có người Sán Dìu sinh sống để thu thập tư liệu Địa bàn nghiên cứu ở đây chính là xã Đạo Trù và xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Dựa vào bảng từ dùng để nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số (khoảng 2000 từ) bao gồm các từ về hiện tượng tự nhiên, động vật, thực vật,
bộ phận cơ thể người, chúng tôi tiến hành thu thập các từ tương đương trong tiếng Sán Dìu Bằng phương pháp phỏng vấn, quan sát trực tiếp, chúng tôi ghi lại các từ đó dưới dạng phiên âm dựa trên bảng phiên âm quốc tế (IPA) Bên cạnh việc ghi chép trực tiếp, chúng tôi cũng tiến hành ghi âm lại tất cả những
từ đó để có thể nghe lại nhiều lần nhằm cho kết quả nghiên cứu được chính xác hơn
- Thao tác phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp: sau khi thu thập được tư liệu dưới dạng các ngữ đoạn chúng tôi tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp để tìm ra hệ thống âm vị của ngôn ngữ đó Ngoài ra phương pháp này cũng giúp chúng tôi thấy được các cặp đối lập âm vị học cũng như quy luật phân bố của các âm vị
Trang 14- Thao tác kiểm tra: sau khi đã ghi lại các từ dưới dạng phiên âm, chúng tôi tiến hành kiểm tra bằng cách nhìn vào bảng phiên âm, đọc lại các từ bằng tiếng dân tộc cho chính người bản ngữ nghe, sửa lại những từ ghi âm sai Việc làm này đem đến cho chúng tôi độ tin cậy cao về những tư liệu đã thu thập được
- Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sử dụng cách điều tra để tìm hiểu về một
số yếu tố ngoài ngôn ngữ như dân số, kinh tế, chính trị, phong tục, tập quán, văn hóa, nhằm thấy rõ hơn cảnh huống ngôn ngữ tại địa bàn khảo sát Đối tượng mà chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát ở đây chính là người bản ngữ, người Sán Dìu Để có được kết quả một cách chính xác và khách quan chúng tôi đã tiến hành khảo sát đối tượng ở mọi lứa tuổi, giới tính, trình độ học vấn
và nghề nghiệp
Nghiên cứu một ngôn ngữ mới, lạ, chưa có chữ viết như phần lớn các ngôn ngữ dân tộc ở nước ta nói chung và tiếng Sán Dìu nói riêng thì trước hết cần phải tìm hiểu, xác định được hệ thống âm vị của ngôn ngữ đó Để làm được công việc này, chúng tôi sử dụng phương pháp phân xuất âm vị bằng bối cảnh ngữ âm đồng nhất Ở đây, bối cảnh đồng nhất được hiểu là những bối cảnh trong đó hai âm đang xét đứng sau những âm như nhau và đứng trước những âm như nhau, nghĩa là chúng xuất hiện trong cùng một chu cảnh
Khi gặp hai âm gần gũi nhau mà không biết chắc rằng đó là các biến thể của một âm vị hay là hai âm vị khác nhau thì cần tìm những từ cận âm trong đó có cả hai âm tố khả nghi xuất hiện, đặt chúng vào bối cảnh để xét Nếu hai từ cận âm được kiểm tra lại nhiều lần nhưng hai âm đó vẫn khác nhau
dù nằm trong một bối cảnh đồng nhất thì hai âm đó là hai âm vị riêng biệt bởi chúng có chức năng khu biệt Ngoài bối cảnh đồng nhất ra, người ta còn có thể đặt hai âm đang xét vào bối cảnh tương tự Đó là những bối cảnh không
Trang 15gây ra một ảnh hưởng nào đến những âm đang xét Bối cảnh đồng nhất được coi là trường hợp đặc biệt của bối cảnh tương tự
Ta có thể dựa vào định lý sau để làm việc: “Hai âm gần gũi nhau xuất
hiện trong những bối cảnh đồng nhất hoặc tương tự phải được coi là những âm vị riêng biệt” [14;212]
III.2 Những người cung cấp tư liệu
Tư liệu của chúng tôi có được là do các cộng tác viên sau cung cấp:
10 Chị Tống Thị Hương 18 tuổi xã Đạo Trù
Những người cung cấp tư liệu trên đây đều là người Sán Dìu gốc, từ nhỏ tới lớn chưa đi đâu nên vẫn giữ nguyên được giọng nói của mình Họ đều
có cơ quan phát âm hoàn chỉnh và trí tuệ bình thường Như vậy, ngữ âm tiếng Sán Dìu mà chúng tôi phân tích ở đây là ngữ âm tiếng Sán Dìu ở hai xã Hợp Châu và Đạo Trù của huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, một trong số những tỉnh có người Sán Dìu sống đông nhất ở Việt Nam
Trang 16IV Một vài khái niệm liên quan khi nghiên cứu ngữ âm tiếng
IV.1 Âm tiết
Đối với một ngôn ngữ chưa có chữ viết và chưa được mô tả như tiếng Sán Dìu thì để nhận diện được hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ này ta chỉ có thể dựa vào đơn vị phát âm nhỏ nhất của nó, đó là âm tiết
Âm tiết là đơn vị cấu âm nhỏ nhất, hay nói cách khác, âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất
Theo truyền thống, nếu xét về mặt chức năng, người ta có thể định nghĩa như sau: “âm tiết là một khúc đoạn âm thanh được cấu tạo bởi một hạt nhân, đó là nguyên âm cùng với những âm khác bao quanh, đó là phụ âm” [14;180]
Về cơ chế cấu tạo, âm tiết được xác định như một đợt căng của cơ thịt của bộ máy phát âm Cứ mỗi lần cơ phát âm căng dần lên tới đỉnh cao nhất rồi trùng dần xuống để rồi sắp tới lại bắt đầu căng lên là ta có một âm tiết Các đợt căng của cơ nối tiếp nhau, làm thành một chuỗi âm tiết và ta có thể hình dung bằng một chuỗi đường cong hình sin
Khi phân loại âm tiết, người ta thường căn cứ vào cách kết thúc âm tiết Nếu một âm tiết kết thúc bằng một nguyên âm ta gọi là âm tiết mở, kết thúc bằng một phụ âm ta gọi là âm tiết khép Ngoài ra, ở một số ngôn ngữ người ta
có thể chia ra những loại trung gian như âm tiết nửa mở, âm tiết nửa khép
Trang 17IV.2 Âm tố và âm vị
IV.2.1 Âm tố
Một khúc đoạn của lời nói thường được chia thành những đơn vị nhỏ hơn Đơn vị phát âm nhỏ nhất được gọi là âm tiết Khi phát âm một âm tiết hay khi nghe một âm tiết ngữ âm học hiện đại cũng cho rằng mỗi âm tiết lại
có thể bao gồm nhiều đơn vị nhỏ hơn nữa, đó là âm tố Âm tố được coi là đơn
vị ngữ âm nhỏ nhất không thể chia tách được nữa
Âm thanh được tạo ra từ bộ máy phát âm của con người và được tri nhận như một hiện tượng âm học cho nên chúng được nhận diện nhờ sự cấu
âm và âm học của nó Việc nhận diện âm tố cũng vậy Số lượng âm tố là vô hạn nhưng giữa chúng vẫn có một số đặc trưng âm học và đặc trưng cấu âm nên căn cứ vào đặc trưng chung đó người ta có thể chia âm tố ra thành hai loại: nguyên âm và phụ âm
a Nguyên âm
Nguyên âm là những âm được tạo ra khi luồng khí từ phổi thoát ra ngoài một cách tự do, không bị cản trở Về mặt âm học, nguyên âm bao giờ cũng là tiếng thanh bởi khi phát âm các nguyên âm, sự chấn động của các phần tử không khí thoát ra có một chu kỳ khá đều đặn Khi cấu âm để hình thành một nguyên âm, bộ máy phát âm làm việc điều hòa, đều đặn làm cho luồng hơi thoát ra với cường độ yếu nhưng không bị cản lại, không bị tắc nghẽn mà liên tục, không ngắt quãng
Các nguyên âm được phân biệt với nhau bởi âm sắc của chúng Muốn xác định âm sắc của nguyên âm, người ta thường miêu tả chúng với ba tiêu chuẩn và với mỗi tiêu chuẩn thì chúng lại được phân thành các nhóm nhỏ như sau :
Trang 18- Lưỡi cao hay thấp hoặc miệng mở hay khép
+ Nguyên âm thấp (nguyên âm mở) + Nguyên âm thấp vừa (nguyên âm mở vừa) + Nguyên âm cao vừa (nguyên âm khép vừa) + Nguyên âm cao (nguyên âm khép)
- Lưỡi trước hay sau
+ Nguyên âm trước + Nguyên âm giữa
+ Nguyên âm sau
+ Nguyên âm tròn + Nguyên âm dẹt Ngoài các loại nguyên âm được chia theo các tiêu chuẩn trên, người ta còn chia ra một số loại khác như:
- Bán nguyên âm: đó là các nguyên âm không làm đỉnh âm tiết, còn gọi
là “phi âm tiết tính”, do đó được phát âm lướt đi và thành một loại âm nửa xát
- Nguyên âm đôi: là một tổ hợp nguyên âm, được coi như một đơn vị, các yếu tố của tổ hợp ấy không bao giờ tách rời nhau, cả hai yếu tố đều có chức năng cấu tạo âm tiết như nhau
b Phụ âm
Phụ âm là những âm được tạo ra khi luồng khí từ phổi đi ra thường bị cản trở ở một điểm nào đó Các phụ âm thường được tạo nên nhờ những tiếng
nổ hoặc tiếng xát có âm hưởng “khó nghe” Chính vì thế, các phụ âm thường
có tần số chấn động không ổn định, do đó phụ âm cơ bản là tiếng động chứ không phải là tiếng thanh như nguyên âm
Trang 19Có nhiều cách cản trở luồng khí đi ra khác nhau khi phát âm được gọi
là phương thức cấu âm Cùng một phương thức cấu âm nhưng được thực hiện
ở những chỗ khác nhau, gọi là vị trí cấu âm, sẽ cho ta những phụ âm khác nhau Vì vậy, người ta thường dùng hai tiêu chuẩn nói trên để mô tả một phụ
âm, đó là: phương thức cấu âm và vị trí cấu âm
b.1 Phương thức cấu âm
Người ta thường nói đến ba phương thức cấu âm: phương thức tắc, phương thức xát và phương thức rung
- Phương thức tắc: phương thức này cho ta các phụ âm tắc và phụ âm mũi
- Phương thức xát: phương thức xát cho ta các âm xát và âm bên
- Phương thức rung: tạo ra các âm rung và âm vỗ
b.2 Vị trí cấu âm
Các âm tố được cấu tạo do sự nhích lại gần nhau của các bộ phận cấu
âm Cần phải có hai bộ phận cấu âm để tạo nên chướng ngại vất nhưng khi
mô tả người ta thường chỉ ra một trong hai bộ phận đó Dựa vào vị trí cấu âm, người ta phân phụ âm thành những nhóm như sau: âm môi (trong đó có hai tiểu nhóm môi – môi và môi – răng), âm răng/ âm lợi/ âm sau lợi, âm quặt lưỡi, âm ngạc, âm mạc, âm lưỡi con, âm yết hầu và âm thanh hầu
Ở cùng một vị trí cấu âm, với những phương thức cấu âm khác nhau ta
có những âm khác nhau Ngược lại, cùng một phương thức cấu âm nhưng ở những vị trí cấu âm khác nhau ta cũng có những âm khác nhau
IV.2.2 Âm vị
Cũng như âm tố, âm vị là một đơn vị cơ bản của ngữ âm học Âm vị là đơn vị tối thiểu của hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ có chức năng cấu tạo
Trang 20và phân biệt vỏ âm thanh của các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ ấy Các âm vị phân biệt được với nhau là nhờ các nét khu biệt của chúng
Âm tố và âm vị đều là những đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ Tuy nhiên, giữa chúng lại có những nét khác biệt cơ bản
Âm tố là một đơn vị ngữ âm nhỏ nhất không thể chia tách được còn âm vị lại
là một đơn vị ngữ âm nhỏ nhất có chức năng cấu tạo và phân biệt vỏ âm thanh của các đơn vị có nghĩa lớn hơn Âm tố là một đơn vị cụ thể, là các âm có thực, còn âm vị là một đơn vị trừu tượng Âm vị được thể hiện ra bằng các âm
tố và âm tố là sự thể hiện của âm vị Nói đến âm vị là nói đến một ngôn ngữ
cụ thể còn nói đến âm tố là nói đến cái chung cho mọi ngôn ngữ Vì vậy, khi tìm hiểu một ngôn ngữ mới, điều đầu tiên là phải tìm ra được hệ thống âm vị của ngôn ngữ đó
Người ta chia âm vị ra thành hai loại: âm vị đoạn tính và âm vị siêu đoạn tính
Thường, các âm vị được thể hiện kế tiếp nhau trong lời nói hàng ngày bằng những khoảng thời gian nhất định Những âm vị được thể hiện trong khoảng thời gian nhất định này có một khúc đoạn thời gian nhất định của mình nên chúng được gọi là âm vị đoạn tính
Ngược lại, những âm vị không định vị trên tuyến thời gian như các âm
vị thông thường mà thể hiện đồng thời với các âm vị đó như thanh điệu, trọng
âm, ngữ điệu thì được gọi là các âm vị siêu đoạn tính
Tiểu kết
Hiện nay, để mô tả ngữ âm của một ngôn ngữ có nhiều cách tiếp cận khác nhau, chẳng hạn như cách mô tả ngữ âm tiếng Việt của Đoàn Thiện Thuật, cách mô tả ngữ âm tiếng Việt của Hoàng Cao Cương Mỗi một cách
mô tả có những thế mạnh và tính lịch sử riêng của nó Đối với một ngôn ngữ
Trang 21xa lạ, chưa biết nhiều về nó thì chúng tôi cho rằng cách mô tả của Đoàn Thiện Thuật là phù hợp với điều kiện cũng như khả năng làm việc của chúng tôi hơn Vì vậy, chúng tôi chọn cho mình cách mô tả của Đoàn Thiện Thuật để tiện làm việc Và khi chúng ta có được những hiểu biết nhiều hơn về ngôn ngữ này thì ta có thể mô tả nó theo những cách khác Chúng tôi cũng hy vọng rằng những kết quả thu được qua luận văn này sẽ được bản thân chúng tôi hoặc những người nghiên cứu khác kiểm tra lại bằng các phương pháp khác nhằm mang tính khách quan cao hơn
Trang 22CHƯƠNG II ĐÔI NÉT VỀ DÂN TỘC SÁN DÌU Ở VIỆT NAM
I Nguồn gốc
Từ lâu, người Sán Dìu đã có tên tự nhận là San Déo Nhín (Sơn Dao Nhân) nghĩa là người Dao ở trên núi Tuy nhiên, các dân tộc xung quanh lại gọi dân tộc này bằng nhiều tên khác như: Trại Đất, Trại ruộng, Trại cộc, Mán quần cộc, Mán váy xẻ (căn cứ vào cách làm ăn hoặc trang phục) Tên Sán Dìu được Tổng cục Thống kê trung ương khẳng định vào tháng 3 năm 1960
Từ đó tên Sán Dìu đi vào văn bản nhà nước như một tên gọi chính thức của dân tộc này
Nguồn gốc, lai lịch của người Sán Dìu vẫn chưa được làm sáng rõ Chúng ta chưa có được những tài liệu lịch sử chứng minh được nguồn gốc của dân tộc này mà mới chỉ đưa ra một số giả thuyết thông qua một vài dấu hiệu như tên gọi, văn hóa,
Dựa vào “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn, Ma Khánh Bằng cho rằng, một dân tộc có tên gọi là Sơn Man có nghĩa là Sơn Dao (vì tất cả các nhóm Dao ở nước ta đều có tên là Man hay Mán nên ta có thể nghĩ Man là Dao), hay cũng chính là Sán Dìu Nếu đúng như vậy thì người Sán Dìu đã có mặt ở Việt Nam vào khoảng trên dưới 300 năm nay “Đến Việt Nam, người Sán Dìu đã qua Quảng Ninh vào Hà Bắc rồi ngược lên Tuyên Quang và dừng tại đó” [8; 9]
Bùi Đình trong cuốn “Tìm hiểu đồng bào miền núi Việt Nam” viết:
“Quần Cộc từ Quảng Đông di cư sang đất nước ta mới được độ ba bốn trăm năm nay, còn có tên là Sơn Dao; họ ở rải rác khắp chu vi đồng bằng trong các
Trang 23vùng Đầm Hà, Hà Cối, Quảng Yên, Phủ Lạng Thương, Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Tuyên Quang” [8;9] Theo Ma Khánh Bằng, nếu tên gọi Sán Dìu có nghĩa là Sơn Dao thì người Sán Dìu rất có thể có nguồn gốc từ người Dao Cũng có thể, từ xưa do bọn phong kiến phương Bắc thống trị nên khối người Dao đã bị chia tách thành nhiều nhóm nhỏ và phân tán ở nhiều nơi khác nhau
“Người Sán Dìu có thể là một trong những nhóm đó, nhưng đã sống lâu ngày bên cạnh người Hán (phương Nam) nên dần dần mất đi tiếng mẹ đẻ (tiếng Dao) tiếp thu một thổ ngữ Quảng Đông [8;15]
Còn qua lời kể của một số cụ già và gia phả của một số dòng họ mà Ma Khánh Bằng thu thập được thì người Sán Dìu vốn là một dân tộc nhỏ bé ở miền nam Trung Quốc Vào thế kỷ XVII cuối nhà Minh, đầu nhà Thanh, do bị bọn phong kiến thống trị ở Trung Quốc đàn áp nên cộng đồng người Sán Dìu
bị phân tán, một bộ phận nhỏ vượt biên giới vào Việt Nam [8;19]
Như vậy, tất cả những điều nêu ở trên chỉ tồn tại dưới dạng giả thuyết
và suy đoán Rất có thể, bằng những cứ liệu về ngữ âm học chúng ta có thể đưa ra những cơ sở cho các bước nghiên cứu tiếp theo để làm rõ hơn nguồn gốc của dân tộc này Vì thế, việc mô tả hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ này có thể sẽ góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc của một dân tộc đã có mặt ở Việt Nam hơn 300 năm nay
II Nhà cửa - làng xóm
Nếu như trước đây, người Sán Dìu sống thành từng chòm xóm nhỏ, chỉ
từ dăm ba cho đến mười lăm nhà thì ngày nay làng xóm đã được mở rộng hơn Mỗi làng có thể đến vài trăm hộ Làng của người Sán Dìu thường được thiết lập dưới những chân núi thấp hoặc những đồi bằng Trước đây, tuy sống cạnh những dân tộc khác như người Tày, Nùng, Sán Chay, Dao, Hoa, Cao
Trang 24Lan, nhưng họ vẫn sống thành những xóm riêng Hiện nay, người Sán Dìu cũng đã sống cùng với các dân tộc khác Đặc biệt, khu vực cư trú của người Sán Dìu có rất nhiều người Kinh sinh sống nên phần lớn họ đều có khả năng nói tiếng phổ thông rất tốt
Nhà ở của người Sán Dìu nhìn chung không khác mấy so với nhà ở của người Việt ở các vùng nông thôn Có người cho rằng trước đây tổ tiên của dân tộc Sán Dìu ở nhà sàn nhưng khi họ bắt đầu sống trên đất Việt thì họ đã ở nhà đất như hiện nay Tuy điều kiện kinh tế thay đổi nhiều nhưng nhà của người Sán Dìu vẫn giữ nguyên được kiểu cách ban đầu, chỉ thay đổi ở nguyên vật liệu làm nhà Mỗi vùng thường có kiểu nhà khác nhau đôi chút nhưng nhìn chung kiểu nhà của người Sán Dìu ở Việt Nam là giống nhau Nhà thường được xây ba gian, tường có thể bằng vách đất hoặc gạch Vì kèo làm bằng tre hoặc gỗ Mái nhà có thể được lợp tranh, rơm, rạ hay lợp ngói như ngày nay Gian chính giữa của nhà được xây rất rộng, có hai cửa ra vào phía trước, bàn thờ đặt ở chính giữa, bộ bàn ghế tiếp khách được kê kế tiếp, ở hai đầu của gian chính thường kê hai cái giường Hai gian phụ ở hai đầu của gian chính nhỏ hơn, có thể nhô ra phía trước tạo thành một cái hiên nhỏ, mỗi gian có một cửa ra vào Một gian được làm buồng ngủ, gian còn lại có thể dùng làm nơi
dự trữ lương thực Liền ngay nhà phía bên phải người ta xây một gian dài nhưng không rộng lắm để làm bếp Trước nhà có sân rộng, giếng nước và một mảnh vườn Có một đặc điểm chung là nhà của người Sán Dìu thường được khắc nhiều hoa văn, chữ hoặc ngày tháng làm nhà bằng chữ Hán trên những cột, vì kèo nhà Ngày nay, nếu đến các vùng có dân tộc Sán Dìu sinh sống ta
sẽ thấy có không ít những ngôi nhà mái bằng xây theo kiểu nhà của người Kinh Điều này cho thấy sự thay đổi trong lối sống của cộng đồng người Sán Dìu và sự ảnh hưởng về văn hóa của người Kinh đối với dân tộc này là không nhỏ
Trang 25III Gia đình – Xã hội
Không giống như nhiều dân tộc khác, dân tộc Sán Dìu tuy có mặt ở nhiều nơi nhưng họ lại sống khá tập trung thành từng thôn và xóm Ở mỗi thôn người ta cử ra một già làng, không nhất thiết phải là người cao tuổi nhất nhưng phải là người được mọi người kính trọng, tín nhiệm Già làng có vai trò quan trọng trong các dịp lễ Tết, cưới xin, ma chay Ngoài ra, trong mỗi thôn còn có một trưởng thôn để lo các công việc hành chính của thôn, của xã
Hôn nhân của người Sán Dìu dựa trên chế độ hôn nhân một vợ một chồng Tuy nhiên, người Sán Dìu vẫn còn mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ nên gia đình nào không có con trai thì người chồng sẽ lấy vợ lẽ để
có được một đứa con trai Nam nữ Sán Dìu có thể tự do yêu đương nhưng muốn lấy nhau thì phải được sự chấp thuận của hai bên gia đình, đặc biệt là phải “hợp tuổi” Có một điều phổ biến là vợ thường hơn tuổi chồng, đó là do xuất phát từ quan niệm lấy con dâu về để có thêm người làm nên họ lấy vợ cho con trai mình từ rất sớm, có khi từ 14 -15 tuổi Có những gia đình vợ hơn chồng 10 - 12 tuổi
Người Sán Dìu cũng có tư tưởng khá tiến bộ Sau khi con trai lập gia đình, bố mẹ sẽ cho ở riêng Nhà nào có điều kiện thì dựng nhà còn không thì dựng tạm một ngôi nhà gần đấy cho chúng ở Bố mẹ chỉ ở cùng con trai út
Trong gia đình, người cha và người chồng là những người có vai trò quan trọng hơn cả Chỉ con trai mới có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ Con gái đi lấy chồng thì coi như con nhà người khác, không được chia tài sản Người phụ nữ sống trong gia đình thường có địa vị thấp kém hơn đàn ông rất nhiều mặc dù họ phải làm tất cả các công việc nội trợ, đồng áng Những người phụ nữ trong gia đình thường không được ăn cơm cùng mâm với bố
Trang 26chồng, chồng, anh trai Hiện nay, trong những gia đình trẻ thì quan niệm này
có phần nhẹ nhàng hơn
Nhìn chung, quan niệm của người Sán Dìu về hôn nhân, gia đình vẫn còn mang nặng tư tưởng phong kiến, lạc hậu nhưng cộng đồng người Sán Dìu lại là một xã hội có tôn ti,trật tự Thêm vào đó, tình hình an ninh, chính trị luôn ổn định tạo điều kiện tốt cho bà con làm ăn, sinh sống Trong xã hội của mình, bà con Sán Dìu sống hòa thuận, thương yêu, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau
và luôn lấy tình cảm gia đình, làng xóm làm trọng
Trang 27để để canh tác Bên cạnh cây lúa, người Sán Dìu cũng áp dụng phương pháp trồng xen canh gối vụ với nhiều loại cây lương thực như ngô, đậu, lạc khoai, sắn, Đến khi đất bạc màu họ lại trồng các cây công nghiệp như dứa, chè, trẩu, xoan, thông, bạch đàn
Ngoài nghề trồng trọt, chăn nuôi cũng đem lại nguồn thu cho người dân Sán Dìu Vật nuôi ở đây chủ yếu vẫn là các loại gia cầm như lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng Người Sán Dìu cũng biết đào ao hoặc tận dụng mặt nước ao hồ của hệ thống thủy lợi để nuôi cá Trâu bò cũng được nuôi nhưng chủ yếu là dùng làm sức kéo Ngày nay, người Sán Dìu đã biết tận dụng rừng hoặc các đồi cây để nuôi ong lấy mật Nhìn chung, công việc chăn nuôi chủ yếu là dựa trên kinh nghiệm chứ chưa được áp dụng khoa học kỹ thuật nên hiệu quả thấp, chỉ mang tính cải thiện thêm cho đời sống gia đình
Tuy coi nghề nông là chính nhưng người Sán Dìu cũng biết làm một số nghề phụ như đan lát, kéo sợi, dệt vải, mộc, nề, rèn, để phục vụ cho đời sống sinh hoạt, sản xuất của gia đình hoặc để trao đổi với người khác trong phạm vi nhỏ hẹp Chính vì quy mô sản xuất nhỏ, hơn nữa đó lại không phải là những nghề truyền thống nên cho đến nay những nghề này đã bị mai một dần
và hầu như không còn ai làm nữa
Trước đây, bà con dân tộc Sán Dìu còn có thêm một nguồn thu đáng kể
từ lâm thổ sản Nguồn lâm thổ sản này khá phong phú, có nhiều loại gỗ, tre, nứa, lá, các loại củ, vỏ ăn trầu, vỏ nhuộm vải, các loại củ rừng như mộc nhĩ, song, mây, nhhiều loại dược liệu như sa nhân, hà thủ ô, Ngoài ra, họ còn săn bắt thú rừng và nhiều loại chim vào những tháng khô ráo Tuy nhiên, ngày nay, nguồn thu này không còn nữa bởi để bảo vệ rừng nhà nước đã quản lý một cách nghiêm ngặt nên người dân không thể tự do khai thác nguồn lợi này nữa
Trang 28Nhìn chung, nền kinh tế của người Sán Dìu vẫn là một nền kinh tế thuần nông và chưa phát triển
V Trang phục
Cũng như các dân tộc thiểu số khác, người Sán Dìn cũng có trang phục riêng của mình Trang phục của nam giới có phần đơn giản và có nét gần giống với trang phục truyền thống của người Kinh Trước đây, đàn ông Sán Dìu thường mặc một cặp áo dài may như nhau nhưng khác về màu sắc, cổ cao, có khuy cài bên phải, ống tay hẹp, thân áo chỉ dài đến gối hoặc quá gối một chút Đi kèm với áo dài là quần ống rộng, ngắn, còn gọi là kiểu chân què
Có lẽ vì thế mà người Sán Dìu còn có tên gọi khác như Mán quần cộc, Trại cộc Bên ngoài áo được thắt một dải vải màu xanh hoặc màu chàm Đàn ông cũng búi tóc, cài châm hoặc vấn khăn đầu rìu Thường khi làm việc, họ đi đất hoặc guốc mộc Chỉ trong những dịp sang trọng thì họ mới đi giày, dép mua của người Kinh Ngày nay, bộ trang phục của nam giới không còn được sử dụng nữa Đàn ông Sán Dìu cắt tóc, ăn mặc như người Kinh nên nhìn bề ngoài khó có thể phân biệt được họ
Trang phục của nữ giới có phần cầu kỳ hơn và vẫn giữ được cho đến ngày nay Phụ nữ Sán Dìu thường vấn tóc và đội một cái khăn trên đầu Họ cũng đeo đồ trang sức như hoa tai bằng vàng, vòng cổ và vòng tay bằng bạc Phụ nữ Sán Dìu mặc một cái yếm ngắn, màu trắng ở bên trong, bên ngoài là một cái áo màu chàm hoặc đen có hai dua ở cổ, được cắt theo kiểu áo tứ thân
cổ cao, không đính khuy Áo được buộc bằng một cái bao xanh, một dải vải màu xanh Ở thắt lưng bên phải có đeo bốn sợi dây bạc được đánh theo kiểu
Trang 29mắt xích, dài đến đầu gối gọi là xà tích Xà tích cũng được coi như đồ trang sức Phía cuối xà tích có một con dao nhỏ dùng để gọt cau, ăn trầu hay làm một số việc khác Phía bên kia thắt lưng có ba dải tua tết bằng chỉ nhiều màu, dài đến chân váy Cạnh xà tích có một cái túi đựng trầu Túi này được may một cách rất công phu, có nhiều hoa văn trang trí, thể hiện rõ nét nhất sự khéo léo của chị em phụ nữ
Phụ nữ Sán Dìu cũng mặc váy như phụ nữ của các dân tộc khác nhưng váy của họ hết sức độc đáo Đó là kiểu váy không khâu, gồm hai hoặc bốn mảnh vải cùng đính trên một cạp, mảnh này chờm lên mảnh kia khoảng 10 đến 15 cm Loại váy này khi mặc vào sẽ tạo thành hai khe hở dọc theo hai bên chân Váy thường ngắn đến đầu gối, màu chàm Khi mặc váy, vạt áo trước được cho vào trong, còn vạt sau để ra ngoài Đi liền với váy là xà cạp màu trắng cuốn ở hai bên bắp chân
Ngày nay, người Sáu Dìu rất ít mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình, chỉ có những phụ nữ trên 60 tuổi là còn mặc nó hàng ngày Còn lại, chỉ những dịp rất đặc biệt như hội hè, lễ tết thì một số người mới đem nó ra mặc Điều này lại một lần nữa cho thấy, những nét văn hóa truyền thống của dân tộc này đang dần bị phai nhạt, một kết quả tất yếu của sự phát triển kinh
tế – xã hội và sự ảnh hưởng của quá trình giao lưu, tiếp xúc với các dân tộc khác
VI Ăn uống
Trong bữa ăn hàng ngày của người Sán Dìu, thức ăn thường rất đạm bạc Món ăn chủ yếu vẫn là rau, củ, măng trồng và hái được Thịt, cá cũng có nhưng rất hiếm Những món ăn cải thiện này thường chỉ có trong những dịp lễ tết hoặc khi nhà có khách Điều đặc biệt hơn cả là người Sán Dìu có tục húp
Trang 30cháo loãng trong bữa ăn Thói quen này đã có từ rất lâu Ngoài nồi cơm ra, bao giờ họ cũng nấu thêm một nồi cháo loãng để ăn cùng với cơm Có khi người ta chan cháo vào cơm thay canh, có khi người ta húp một bát cháo sau khi đã ăn cơm xong, cũng có khi người ta uống nước cháo thay cho nước khi khát Ngày nay, tuy không phổ biến ở mọi gia đình nữa nhưng chúng ta vẫn thấy thói quen này ở những gia đình có người già
Vào những dịp lễ tết, người Sán Dìu cũng có một số món ăn đặc trưng khác như Tết Tháng giêng có thịt lợn, gà, bánh tày, bún và các loại bánh khác; Tết Thanh minh có vịt rán, bánh lá ngải, xôi màu; Tết Đoan ngọ có bánh tro, bánh trôi, rượu nếp; Tết Xóa tội vong nhân (14/7 âm lịch) có bánh dợm, bánh mật, bánh tro; Tết 10/10 âm lịch có bánh dày, thịt ướp chua, cá thính, Người Sán Dìu có cách muối thịt, cá rất đặc biệt, có thể để dành thức ăn trong một thời gian dài mà vẫn không bị hỏng
Người Sán Dìu rất ít khi ăn thịt trâu, thịt chó Đặc biệt những nhà có người làm thầy cúng hoặc thờ Quan âm thì tuyệt đối không ăn, thậm chí còn không được đem những thức ăn đó vào nhà
Tiểu kết:
Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số không chỉ là nghiên cứu về ngôn ngữ mà muốn hiểu rõ bản chất của ngôn ngữ thì phải hiểu về văn hóa của dân tộc đó Vì thế, những điều được trình bày trong chương này có thể là chưa đầy đủ, chi tiết nhưng nó giúp cho người đọc có được cái nhìn tổng quan
về văn hóa của dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam
Từ những điều đã trình bày ở trên, chúng ta có thể nhận thấy, dân tộc Sán Dìu tuy không phải là một dân tộc lớn nhưng cũng có những đặc trưng văn hóa riêng mang đậm bản sắc dân tộc Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, những giá trị văn hóa này đang bị biến đổi theo xu hướng
Trang 31xa dần cái gốc ban đầu Vì thế, nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc Sán Dìu là một việc làm thiết thực nhằm góp phần lưu giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vốn đang bị phai mờ dần của dân tộc này
Trang 32CHƯƠNG III
VỀ HỆ THỐNG NGỮ ÂM TIẾNG SÁN DÌU
I Âm tiết tiếng Sán Dìu
I.1 Nhận diện và phân xuất
Để mô tả được hệ thống ngữ âm tiếng Sán Dìu, trước hết phải xuất phát
từ đơn vị phát âm nhỏ nhất, đó là âm tiết Như trên đã trình bày, âm tiết là đơn
vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong lời nói con người và nó cũng có thể được phân cắt một cách tự nhiên trong dòng ngữ lưu
Ví dụ 1: Xét câu sau đây :
/ ŋɔi 1 hi 6 su 4 ʒui 5/ (Tôi đi lấy nước)
Bằng thính giác, chúng tôi nhận thấy có sự thay đổi cao độ khi phát âm câu trên Cụ thể người bản ngữ muốn phát âm được câu này phải thay đổi bốn lần cao độ giọng nói
(lỳa )
/vo 5 / (lửa) /t „oŋ 1
/ (đồng)
/t „oŋ 6
/ (đau) /hun 5 /
(bột )
/hun 6 / (ngủ ) /niɛn 1
/
Trang 33(năm) (vắt ) Các ví dụ ở cột A và cột B có nghĩa khác nhau và quan sát kỹ ta sẽ thấy các âm tiết tương ứng ở hai cột đều có các thành phần như âm đầu, âm chính,
âm cuối giống nhau nhưng chúng có nghĩa khác nhau Vậy âm vị có chức năng khu biệt nghĩa của âm tiết ở đây chính là thanh điệu (được đánh theo các
số thứ tự 1,2,4,5,6,7 và 8, đặt ở phía trên, bên phải của âm tiết và sẽ được trình bày kỹ trong phần Thanh điệu)
Như vậy, từ hai ví dụ trên, ta có thể nói tiếng Sán Dìu là một ngôn ngữ
có thanh điệu bởi nó vừa có sự thay đổi cao độ của giọng nói khi phát âm, vừa
có tác dụng khu biệt các từ có nghĩa khác nhau
Theo học thuyết về độ căng của L.V.Sherba, ranh giới âm tiết là điểm
mà độ căng đạt tới mức thấp nhất và sau đó bắt đầu tăng lên để cấu tạo âm tiết tiếp theo Cùng với việc theo dõi sự thay đổi cao độ giọng nói của người Sán Dìu khi phát âm, ta có thể dễ dàng nhận diện và tách biệt hay phân xuất được
âm tiết của tiếng Sán Dìu
Ví dụ :
/tiɛn 1
/on 5 ʒan 1 sɔi 6 ʒwi 1
/ (nấm mọc trờn cõy) 4 õm tiết
I.2 Các kiểu âm tiết
Sau khi ghi âm và phân tích 1.887 đơn vị ngữ âm tự nhiên theo bảng hỏi, chúng tôi thu được khoảng gần 3.000 âm tiết Trong số tư liệu thu được,
Trang 34Kiểu 1: Phụ âm + nguyên âm
Trang 35Kiểu 4: Phụ âm + bán nguyên âm + nguyên âm + phụ âm
Phụ âm + bán nguyên âm + nguyên âm + phụ âm/ bán nguyên âm
II Hệ thống âm đầu tiếng Sán Dìu
GHI CHÚ
(quăng chài)
k oŋ 5
va 1 (lời lói) soi 5 mɔt 6
(của cải )
kɔt 6
vo 1(gạc nai)
ɲan 6
Trang 36(cựa)
f o k 6 fi 1(cạo da, cạo vỏ) t ‘ o k 6
/ l / - / h /
laṷ 1 cok 5 (nứa)
haṷ 1 t „iɛn 1 (trời trong)
lɔi 1
(trầu)
hɔi 1 kiɛŋ 5 (cổ họng)
6
daŋ 5
(chắt)
baŋ 5 kut 7(xương bả vai)
doi 1
(phõn chia ra)
boi 1 cɔn 6 (dỏn lại)
coŋ 1
(xanh ve chai)
joŋ 1 kaṷ 1 (bờn trờn) kwak7 caŋ 1
(gút chõn)
jaŋ 1
(chồi)
Trang 378
(tiếng ồn) (sung sướng, vui vẻ)
/ ʔ / - / h /
ʔu 2 t„oŋ 1 (đồng đen) hu
2 ɲoŋ 1
koŋ 1 cvi 5(cậu)
ʔaṷ 5 t „ɔn 6
(bẻ góy)
haṷ 5 ʒec 6 (vị ngon) fiɛn 6 ʔɛn 1
(cõy thuốc phiện)
hɛn 1 sɔi 4 (rau giền gai)
9
v oŋ 1 ʒɛṷ 6 (con lươn)
ʒ oŋ 1
ta 5(đánh nhau)
/ v / - / ʒ /
lam 5 van 1
(làm cơm)
ʒan 1 lɔi 1 (trầu rừng)
vɔn 1 xiɛ 1 (leo, trốo)
cu 6 ʒɔn 1
(ghộp bố)
10
zoŋ 1 ʒaŋ 5 (sinh đôi)
ok 7(thỳ nhà) ɔi 6 cɔn 6
(rậm rạp)
sam 1 ʒip 6 (bấm vào) am 1 bɔi 6
(gù lưng)
Bảng 1: Phân xuất phụ âm đầu tiếng Sán Dìu
Như vậy, có thể thấy, trong tư liệu của chúng tôi tiếng Sán Dìu có 21 phụ âm có thể mở đầu âm tiết (phụ âm đầu) Đó là các phụ âm:
/ b, d, t, t ‘, c, k, m, n, ŋ, ɲ, ʔ, f, v, s, z, l, x, ɣ, h, j, ʒ /
II.2 Mô tả
Các phụ âm đầu trong tiếng Sán Dìu có thể được mô tả như sau:
1 / b/: Khi cấu âm, hai môi tiếp xúc với nhau tạo thành chỗ cản rồi đột
ngột mở ra để cho luồng không khí thoát ra ngoài tạo nên tiếng
Trang 38nổ khá mạnh Khi phát âm có sự tham gia của dây thanh Đây là phụ âm tắc, ồn, hữu thanh, môi môi
2 / d/: Khi cấu âm đầu lưỡi đặt vào lợi tạo thành chỗ cản, luồng
không khí đi từ phổi ra vượt qua chỗ cản thoát ra ngoài tạo nên một tiếng nổ nhẹ Trong quá trình phát âm cũng có sự tham gia của dây thanh Đây là phụ âm tắc, ồn, hữu thanh, đầu lưỡi - lợi
doi 1 / phõn chia ra
3 / t/: Khi phát âm, đầu lưỡi tiếp xúc với răng trên để chặn luồng
không khí đi ra từ phổi rồi đột ngột mở ra Luồng không khí thoát ra ngoài tạo thành tiếng nổ, các dây thanh không tham gia vào quá trình cấu âm Đây là phụ âm tắc, ồn, vô thanh, đầu lưỡi
- răng
Ví dụ:
Trang 39Tiếng Sán Dìu Nghĩa
/an 5 tan 1 / săn rinh
/taṷ 1 cvi 5/ dao con
/tu 5 ŋo 1
4 /t ‘/: Khi phát âm, đầu lưỡi tiếp xúc với chân răng trên tạo thành chỗ
cản Luồng không khí từ phổi đi ra phá vỡ sự cản trở đó tạo nên một tiếng nổ nhẹ, đồng thời, vì luồng không khí thoát ra ngoài với áp lực lớn nên nó gây ra ra một tiếng cọ xát ở khe hở giữa hai mép dây thanh, tao nên tiếng bật hơi Trong quá trình phát âm không có sự tham gia của dây thanh Đây là phụ âm tắc, ồn, vô thanh, đầu lưỡi - chân răng
5 / c/: Khi cấu âm, mặt lưỡi tiếp xúc với lợi cản trở luồng không
khí thoát ra từ phổi Luồng không khí vượt qua chỗ cản ra ngoài tạo nên một tiếng nổ Các dây thanh không tham gia vào quá trình cấu âm Phụ âm tắc, ồn, vô thanh, mặt lưỡi -
Trang 40/cwak 5 kɛṷ 6 / chim hot
6 / k/: Khi cấu âm, gốc lưỡi nâng cao lên áp sát ngạc mềm chặn luồng
không khí đi ra từ phổi tạo nên chỗ tắc rồi đột ngột mở ra cho luồng không khí thoát ra ngoài gây nên một tiếng nổ Trong quá trình cấu âm không có sự tham gia của các dây thanh Đây
là phụ âm tắc, ồn, vô thanh, gốc lưỡi - ngạc mềm