tiểu luận chi phí đại diện
Trang 1MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH SÁCH NHÓM 02+ ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH LÀM NHÓM+ ĐIỂM
CỘNG………
Trang 21 TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ ĐẠI DIỆN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Khái niệm về công ty cổ phần
Theo Điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005, công ty cổ phần là doanh nghiệp có nhữngđặc điểm sau:
• Đặc điểm về vốn góp và cách góp vốn:
Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần Giá trị cổ phần được gọi là mệnh giá cổ phần Cổ phần là đơn vị vốn nhỏnhất trong vốn công ty Cổ phần có thể được tự do chuyển nhượng, vì vậy có thể thamgia công ty cổ phần bằng cách mua cổ phần dưới hình thức cổ phiếu được chào bántrên thị trường chứng khoán
• Đặc điểm về thành viên:
Thành viên của công ty cổ phần chính là các chủ sở hữu cổ phần, được gọi là cổđông, là đồng sở hữu của công ty Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức, số lượnghạn chế là 3 và không hạn chế tối đa Cổ đông càng có nhiều cổ phần thì càng cónhiều quyền và nghĩa vụ Luật Doanh nghiệp chưa có quy định hạn chế cổ phần đốivới mỗi cổ đông nhưng pháp luật hoặc Điều lệ công ty có thể có quy định để khôngxảy ra tình trạng một cá nhân hay một nhóm người khống chế công ty do có lương cổphần lớn
Công ty cổ phần có quyền phát hành các loại chứng khoán theo quy định củapháp luật về chứng khoán để huy động vốn từ công chúng Khả năng này tạo thành ưuthế đặc biệt của công ty cổ phần so với các loại công ty khác
1.2 Chi phí đại diện
1.2.1 Khái niệm chi phí đại diện:
Chi phí đại diện (Agency cost) là loại chi phí phát sinh mà một doanh nghiệp, tổchức gặp phải khi có sự bất đồng về mục tiêu và sự bất cân xứng về thông tin giữangười chủ và người đại diện
Vấn đề thông tin bất cân xứng tồn tại giữa người sở hữu và CEO là một dạngđiển hình của dạng chi phí này Người đại diện (nhà quản trị doanh nghiệp) chính làngười làm việc thay mặt cho người sở hữu, nói cách khác là các cổ đông của doanhnghiệp Thông thường cổ đông của doanh nghiệp không hoặc rất ít có điều kiện giámsát thường xuyên từng hành động của người quản trị Đây là một điểm dễ làm phátsinh tình trạng thông tin bất cân xứng và tiếp tục gây ra các vấn đề rủi ro đạo đức vàlựa chọn đối nghịch
1.2.2 Thành phần của chi phí đại diện:
Trang 3Theo cách định nghĩa của Jensen & Meckling, chi phí đại diện bao gồm:
(M) + (B) + (R)
• M: là những chi phí để giám sát người quản lý, để đảm bảo rằng quyết định của người
quản lý gắn với lợi ích của CSH Ngoài ra, đối với giám đốc, họ được các cổ đôngkhuyến khích làm việc hiệu quả, thì bản thân họ-những nhà quản lý cấp cao-lại phảitiếp tục suy nghĩ những biện pháp để khuyến khích các nhân viên dưới quyền củamình cùng nỗ lực làm việc, và cũng tương tự như vậy tất cả những nhân viên lại làngười đại diện cho quản lý cấp cao hơn
• B: là khoản chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho người quản lý của họ để đảm bảo
rằng người quản lý này sẽ làm việc một cách hiệu quả nhất vì mục tiêu lợi nhuận củaCSH cũng như của công ty
• R: là khoản lợi ích mất đi khi người quản lý không cố gắng hết sức để
đạt mục tiêu tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp Sự mất mát này trênthực tế là
• không tính toán được, nó tùy thuộc vào yếu tố chủ quan
1.2.3 Phân loại chi phí đại diện :
1.2.3.1 Chi phí đại diện của vốn cổ phần:
Đây là một dạng chi phí đại diện có nguồn gốc từ mâu thuẫn giữa lợi ích cổđông và các nhà quản lý do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý của cácloại hình doanh nghiệp hiện đại
Khi cổ đông bị giới hạn hoặc mất quyền kiểm soát đối với người quản lý thìphía quản lý sẽ có động cơ tiến hành những hoạt động có lợi cho bản thân, có thể làmnguy hại đến quyền lợi cổ đông Ví dụ người quản lý có thể dùng tài sản của công tycho việc riêng bằng nhiều hình thức như lương bổng hậu hĩnh, phát hành cổ phiếu hayđịnh giá chuyển giao cho chính mình
Chi phí đại diện của vốn cổ phần cũng xuất hiện trong các tình huống các nhàquản lý thường xuyên thực hiện những chiến lược đầu tư khiến công ty phát triểnvượt mức tối ưu hoặc tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh mà công ty không có lợithế cạnh tranh Với hành động như vậy nhà quản lý mới có thể làm tăng quyền hạncủa mình bằng cách thâu tóm nhiều nguồn lực hơn, tăng thu nhập, giảm rủi ro mấtviệc
1.2.3.2 Chi phí đại diện của nợ:
Chi phí này phát sinh từ mâu thuẫn lợi ích của cổ đông và chủ nợ Trong tìnhhuống vốn cổ phần của một công ty có vay nợ là một quyền chọn mua đối với tài sảncủa công ty Khi đó, cổ đông có thể chiếm hữu tài sản của chủ nợ bằng cách gia tăngrủi ro đầu tư ( sự hiện diện của nợ có thể làm những dự án co NPV dương bị từ chối
Do nếu chấp nhận dự án thì rủi ro tài chính sẽ tăng và giá trị sẽ chuyển từ cổ đông
Trang 4sang trái chủ, vì vậy trái chủ sẽ đòi mức lãi suất cao hơn và áp dụng những ràng buộchạn chế vay vốn.
1.2.3.3 Bất cân xứng thông tin giữa nhà đầu tư và nhà quản lý:
Chi phí này do thông tin mà nhà đầu tư biết được thì rất khác biệt so với thôngtin mà nhà quản lý nắm giữ như kết quả hoạt động kinh doanh, các nguồn tài trợ, các
dự án đầu tư… khi đó nhà đầu tư sẽ có quyết định không đúng Dễ thấy qua việc thaotúng cổ phiếu của một số cổ đông Bằng cách này, họ sẽ làm cho cổ phiếu của công tytăng cao Các nhà đầu tư không có đầy dủ thông tin để nhận biết việc này Thôngthường việc tăng giá là do công ty hoạt động có hiệu quả hoặc là có khả năng tăngtrưởng trong tương lai Các nhà đầu tư sẽ thông qua giá cổ phiếu trên thị trường đểnhận biết được hiệu quả hoạt động của công ty Nhưng sự tăng giá do một số cổ đôngliên kết tạo ra, đến khi nhận biết được thì giá cổ phiếu đã giảm mạnh
1.3 Nguyên nhân phát sinh chi phí đại diện
1.3.1. Mâu thuẫn về mục tiêu và lợi ích
1.3.1.1 Mâu thuẫn giữa người chủ và người đại diện:
Như đã nói ở phần trên, trong một công ty luôn có sự mâu thuẩn về quyền lợigiữa chủ và người quản lí Người sở hữu công ty yêu cầu nhà quản lý phải đặt lợi íchcủa công ty (gắn liền lợi ich cổ đông) lên trên quyền lợi của họ nhưng đôi khi quyềnlợi của hai bên không gặp nhau mà thậm chí còn mâu thuẫn lẫn nhau Cổ đông lànhững người trực tiếp đầu tư vào doanh nghiệp và tất nhiên họ luôn mong muốn kiếmđược nhiều lợi nhuân, tức tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.Còn những nhà quản lýchuyên nghiệp được thuê về để điều hành hoạt động của doanh nghiệp theo hướnghiệu quả nhất nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu của doanh nghiệp đã đề ra Người tathường nói: khi thuận lợi thì cùng nhau hưởng, khi bất lợi thì bất đồng quan điểm,mâu thuẫn lẫn nhau Trong thời điểm bình thường, doanh nghiệp hoạt động bìnhthường thì lợi ích của hai bên có thể gặp nhau Khi công ty hoạt động hiệu quả, lợinhuận được chia cho cổ đông lớn, tạo sự hài lòng cho họ Chính điều này làm địa vịnhà quản lí được nâng cao, quyền lợi họ đạt được cũng nhiều hơn Nhưng khi công ty
có những vấn đề khó khăn, sự thống nhất về mục tiêu chung có thể bị đỗ vỡ Nhàquản lí sẽ rụt rè trước những dự án có tỷ suất sinh lợi rất cao nhưng mức độ rủi rocũng rất cao
Trong lĩnh vực tài chính, tại những thời điểm bình thường, ngân hàng và trái
chủ, những người cho doanh nghiệp vay tiền, sẽ có cùng quan điểm với các cổ đôngtrong việc mong muốn doanh nghiệp thành công và phát đạt Nhưng khi một doanhnghiệp gặp khó khăn, sự thống nhất về mục tiêu chung có thẻ đỗ vỡ Vào những lúcnhư vậy sự thay đổi ban quản lý là điều cần thiết để cứu doanh nghiệp, nhưng nhữngnhà cho vay lại không còn muốn tiếp tục đầu tư vào doanh nghiêp và họ quan tâm đếnviệc thu hồi lại khoản tiền cho doanh nghiệp vay
Trang 5Có thể minh chứng cho điều này là vụ bê bối làm cho một số tập đòan kinh tế ở
Mỹ bị phá sản như Enron, Typo…tuy diễn ra với hình thức, quy mô, cách thức, địa điểm khác nhau nhưng đều cùng một nguyên nhân bản chất Đó là việc người điều hành lợi dụng nhiệm vụ được các cổ đông giao phó để hành động vì mục đích tư lợi
cá nhân, gây hiệu quả nghiêm trọng đến lợi ích của doanh nghiệp Chẳng hạn như vụ việc chủ tịch Jeffrey Skilling và Andrew Fastow- phụ trách đối ngoại của Enron đã cấu kết với hơn chục thành viên hội đồng quản trị và hãng kiểm toán Athur Andersen
để bưng bít và tung hỏa mù đối với chính quyền trước những vụ làm ăn phi pháp ở Enron Điều này khiến số người mua cổ phiếu cảu công ty cao kỷ lục nhưng thực chất
là giá trị cổ phiếu đã được nâng lên “ảo” để qua mặt các cổ đông, và sau đó là việc công ty tuyên bố phá sản làm nhiều nhà đầu tư điêu đứng Còn Fastow sau việc làm giả số liệu đã bỏ túi hàng triệu đôla cho bản thân và gia đình
1.3.1.2. Mâu thuẫn giữa người quản lý với nhân viên:
Ở đây bao gồm cả mối quan hệ giữa quản lý cấp cao và quản lý dưới quyền,giữa các nhà quản lý cùng cấp Bao gồm các hành động chứng tỏ quyền lực, tranhgiành lợi ích giữa các nhà quản lý, các nhóm nhà quản lý mà chúng ta có thể thấy ởbất cứ một doanh nghiệp nào, đặt biệt là khối doanh nghiệp nhà nước với cấu trúc củacông ty quá cồng kềnh, phức tạp và thường xảy ra tình trạng chia bè phái tạo mâuthuẫn trong nội bộ công ty và đương nhiên sự tranh giành như thế tất yếu sẽ gây thiệthại không mong muốn cho chủ doanh nghiệp
Ví dụ, khi tổng giám đốc giao việc thực hiện dự án mở rộng thị phần của doanh nghiệp ra miền Trung xuống cho các phòng ban cấp dưới nhưng do sự triển khai chậm, không kịp thời của Giám đốc sản xuất, Giám đốc kinh doanh,., ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án Sự trì trệ này có thể gay nên sự sụt giảm tính cạnh tranh
so với các doanh nghiệp khác và tác động đến doanh thu.
1.3.1.3 Mâu thuẫn giữa các cổ đông
Giữa các nhóm cổ đông đôi khi cũng xảy ra mâu thuẫn trong việc chọn lựa dự ánđầu tư, phương án tài trợ, phương thức chia cổ tức, bổ nhiệm người quản lý… màviệc thu xếp những xung đột như thế có thể gây những tốn kém lớn
Vào những năm 1994 – 1996, công ty Coca-cola khi mới thâm nhập thị trường Việt Nam, công ty đã phải tồn tại dưới hình thức liên doanh (do thời kì trước
đó Chính Phủ nước ta chưa cho phép thành lập công ty có 100% vốn nước ngoài), nên có 30% vốn củ doanh nghiệp Việt Nam, 70% là của tập đoàn công ty mẹ ở Mỹ Trong trường hợp này ta có thể xem công ty Việt Nam đóng vai trò là chủ nợ đầu tư vào công ty liên doanh, công ty Coca-cola Mỹ là chủ sở hữu Với mục tiêu biến công
ty liên doanh, công ty liên doanh trên thành công ty 100% vốn nước ngoài, (công ty Coca – cola Mỹ cố tình điều hành công ty liên doanh làm ăn thua lỗ trong thời gian dài, vì tiềm lực tài chính hẹp Công ty Việt Nam không thể tiếp tục đầu tư (trong khi
đó Coca – cola là một tập đoàn lớn mạnh, với chi phí thua lỗ không đáng kể)
Ngoài những mâu thuẫn lợi ích nêu trên,còn có các xung đột lợi ích khác như mâu
Trang 6thuẫn giữa các chủ nợ và cổ đông, mâu thuẫn giữa các chủ nợ,…
1.3.2 Bất cân xứng thông tin:
Các giám đốc thì biết nhiều về tiềm năng, rủi ro và các giá trị công ty mình hơn
là các nhà đầu tư từ bên ngoài Chúng ta có thể chứng minh điều này bằng cách quansát các thay đổi giá cổ phần do công bố của các giám đốc Khi một công ty công bốmột gia tăng cổ tức thường xuyên, giá cổ phần thường tăng, vì các nhà đầu tư diễndịch việc gia tăng này như một dấu hiệu về sự tin tưởng của ban giám đốc công ty vềthu nhập tương lai Cũng như lập luận của Modigliani và Miller, một gia tăng trong
cổ tưc chuyển một loại thông tin nào đó đến các cổ đông Đó làm ban điều hànhdoanh nghiệp dự kiến thu nhập tương lai sẽ cao hơn
Tương tự, một cắt giảm cổ tức được xem như truyền đạt các thông tin bất lợi vềtriển vọng lợi nhuận của doanh nghiệp Trên thực tế, các thay đổi trong chi trả cổ tứctiêu biểu một tín hiệu cho các nhà đầu tư đánh giá của ban điều hành về lợi nhuận vàdòng tiền tương lai của doanh nghiệp Ban điều hành, là người trong nội bộ công tyđược coi là có tiếp cận thông tin về kahr năng sinh lời của công ty đầy đủ hơn cácthông tin có sẵn các nhà đầu tư bên ngoài Các thay đổi trong cổ tức được coi nhưcung cấp các tín hiệu rõ ràng về triển vọng tương lai của công ty – thông tin khôngthể chuyển tải đầy đủ bằng các phương tiện khác nhau như báo cáo thường niên vàphần trình bày củ ban điều hành trước các nhà phân tích chứng khoán chẳng hạn Khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán mới, sự kiện này có thể được coi làđang cung cấp một tín hiệu cho thị trường tài chính về viễn cảnh tương lai của doanhnghiệp hay các hoạt động tương lai do các giám đốc của doanh nghiệp hoạch định.Các nghiên cứu về thay đổi cấu trúc vốn đều cho rằng các cung ứng cổ phần thường
là sẽ đưa tới các lợi nhuận được công bố dương lớn từ cổ phần thường của doanhnghiệp Các hành động làm tăng đòn bẩy tài chính thường gắn với thu nhập cổ phần
âm Một doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức, ngoài lợi thế do tấm chắnthuế mang lại, doanh nghiệp còn phải đối mặt với chi phí kiệt quệ tài chính và chínhkhoản chi phí này mà các chủ nợ thường đòi hỏi một lãi suất hứa hẹn cao Vì vậy, khimột doanh nghiệp thực hiện quyết định thay đổi cấu trúc vốn, doanh nghiệp phải chú
ý đến tín hiệu có thể về viễn cảnh thu nhập tương lai và hiện tại của doanh nghiệpcũng như các dự định của các giám đốc mà giao dịch được đề xuất chuyển đến thịtrường
2 THỰC TẾ VẤN ĐỀ CHI PHÍ ĐẠI DIỆN TẠI VIỆT NAM
Ở nước ta hiện nay, nhất là trong các doanh nghiệp nhà nước, chi phí đại diện
là khá lớn Chi phí đại diện xuất hiện trong doanh nghiệp nhà nước không chỉ là việcchi trả tiền lương, thưởng, các tổn thất có thể nhìn thấy trước mắt, mà còn những chiphí ẩn đằng sau mà do sức ỳ tâm lý, sự lề mề, thụ động gây ra
Trang 7Có thể nêu lên một vài vụ việc ở nước ta liên quan đến chi phí đại diện mà đều
có điểm chung là do người điều hành lợi dụng nhiệm vụ được các cổ đông giao phó
để hành động vì mục đích tư lợi cá nhân, gây hậu quả nghiêm trọng đến doanhnghiệp
2.1 Chi phí đại diện ở một số doanh nghiệp nhà nước:
Một vụ án nổi tiếng liên quan đến động cơ của người nắm vai trò điều hành là
vụ tham ô, cố ý làm trái của Lã Thị Kim Oanh (giám đốc công ty Tiếp thị đầu tưNông nghiệp và phát triển Nông thôn) chủ mưu, làm thất thoát hơn 100 tỷ đồng Công
ty này không có nhu cầu huy động vốn vì vốn ngân sách nhà nước luôn cấp đầy đủ vàkịp thời theo tiến độ dự án Nhưng Lã Thị Kim Oanh vẫn làm các văn bản đề nghị BộNông nghiệp và phát triển nông thôn xác nhận để đi vay các ngân hàng Lã Thị KimOanh cùng cấp dưới là phó giám đốc Phạm Tiến Bình; kế toán trưởng Đỗ Đức Thuầnlấy danh nghĩa chủ đầu tư, tận dụng mọi mối quan hệ để huy động vốn từ nhiềunguồn như ngân hàng, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và các cá nhân để dùng hàngtrăm tỉ đồng mang đi tiêu xài bừa bãi
Trong vụ án PMU18, Bùi Tiến Dũng – nguyên tổng giám đốc thay vì phải quản
lý nguồn vốn ODA trong việc xây dựng các công trình giao thông phục vụ nhân dân
đã vì mục tiêu ăn chơi sa đọa nên đã rút ruột hàng ngàn tỷ đồng từ nguồn vốn ODAcủa nhà nước đem đánh bạc, cá độ bóng đá,…Và hậu quả là nhân dân ta, nhà nước taphải gánh chịu khoản nợ rất lớn của nước ngoài Ở đây nguyên nhân thì có nhiềunhưng một trong những nguyên nhân để xảy ra vụ bê bối gây thất thoát trên là sựkhông thống nhất vể mục tiêu hoạt động giữa nhà nước - chủ sở hữu là phục vụ nhândân với ban quản lý - người đại diện là ăn chơi, tư tưởng hưởng thụ cá nhân
Hay đề án 112 cũng gây xôn xao dư luận bởi thất thoát và lãng phí hàng ngàn tỷđồng ngân sách nhà nước Một đề án lớn, được thực thi tùy tiện, sai phạm, vụ lợiđược thực hiện và tiếp tay từ một số cán bộ của Văn phòng chính phủ Họ không chỉyếu kém về năng lực chuyên môn mà còn tha hóa về đạo đức cách mạng, tự tung tựtác nâng giá thiết bị… Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, hàng ngàn tỷ đồng củadân dân đã đi vào túi của không ít người tư lợi và đề án 112 trở nên bất khả thi, khôngđưa vào ứng dụng được,…
2.2 Công ty Bông Bạch Tuyết:
Bông Bạch Tuyết là một trong những thương hiệu mạnh của ngành y tế Việt Nam,
là doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất bông y tế (60% thị phần) và băng vệsinh phụ nữ Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập, trước sự cạnh tranh mãnh mẽ vàquyết liệt cũng như thiếu những bước đi đột phá, BBT đã dần làm mất đi hình ảnhcũng như giá trị thương hiệu của mình Trong xu hướng hồi phục mạnh mẽ của thịtrường thì 11/7/2008 cổ phiếu BBT của CTCP Bông Bạch Tuyết bị tạm ngưng giaodịch Theo báo cáo tài chính năm 2007 đã được kiểm toán, con số thua lỗ của công ty
Trang 8đã lên tới gần 17 tỉ đồng Tình trạng thua lỗ này tưởng chừng như được giải quyết khimột số cổ đông chiến lược đã chấp nhận đổ vào một lượng tiền lớn bằng hình thứcmua cổ phiếu mới thông qua đợt phát hành cổ phiếu riêng lẻ Cuối tháng 5/2008, gần
200 công nhân của công ty đã đình công đòi tăng lương tối thiểu và bù đắp lương đểđảm bảo nhu cầu đời sống nhưng công ty đã không thể giải quyết được vấn đề này Nguyên nhân thua lỗ của Bông Bạch Tuyết bắt nguồn từ việc đầu tư sai lầm 2 dâychuyền sản xuất công nghệ với máy móc không đồng bộ từ năm 2003 với giá trị đầu
tư quá lớn, nợ ngân hàng vượt quá khả năng chi trả Không đáp ứng được nhu cầu sảnxuất, sản phẩm không tiêu thụ được nhưng trong các bản báo cáo hằng năm, hằng quý,kết quả sản xuất kinh doanh vẫn có lãi Sự không trung thực và không minh bạch nàykéo dài trong nhiều năm liền, đẩy công ty vào những mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộcũng như trong việc điều hành quản lý của ban lãnh đạo dẫn đến tình trạng bè phái,bất hợp tác giữa người cũ và người mới xảy ra liên tục trong hàng ngũ lãnh đạo công
ty Hoạt động thua lỗ, các quỹ khen thưởng, phúc lợi đều đang âm nên công ty đãkhông giải quyết được tiền lương cho công nhân và dẫn đến phá sản
2.3 Tổng Công ty cổ phần SABECO:
Sabeco là doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực nước giải khát với nhãn hiệu bia
333 và Sài Gòn đỏ, đã chiếm được lòng tin tuyệt đối của người tiêu dùng trên cả nướcđặc biệt là các tỉnh phía Nam Sức cạnh tranh của họ không kém các nhãn bia hàngđầu thế giới trong thị trường nội địa Tiếc thay, các công ty này không tiếp tục bồi bổcon bò sữa để thu hoạch nhiều sữa, mà dồn nhiều vốn vào các ngôi sao như tài chính
và bất động sản để kiếm siêu lợi nhuận
Theo ma trận BCG, Công ty này đã vắt sữa bò từ hoạt động kinh doanh bia,nước giải khát để đổ vốn vào các ngôi sao là chứng khoán, địa ốc và một số dấu hỏinhư du lịch…
Với cách thức này, Sabeco đã tạo ra cảm giác tập đoàn có quy mô kinh doanhhùng mạnh với nhiều công ty đa ngành Từ đó, Sabeco thu hút được nhiều nhà đầu tưmua cổ phiếu.Tuy nhiên, khi tiếp cận các báo cáo kinh doanh của Sabeco, nhiều nhàđầu tư thất vọng Với số vốn điều lệ lên đến 6.000 tỷ đồng nhưng nguồn vốn cho lĩnhvực chính là bia, nước giải khát chỉ chiếm khoảng 1/3, số còn lại là những ngànhkhông phải thế mạnh của Sabeco
Nói về vụ việc SATRACO (công ty con của Sabeco) để thương hiệu rơi vào taySABECO ASIA PACIFIC của Singapore một cách dễ dàng đã gây nhiều xôn xaotrong dư luân Công ty đã ký kết với một đối tác chưa rõ lai lịch, chưa biết hiệu quảhoạt động ra sao trong một thời gian dài đến 5 năm để họ đảm nhận một nhiệm vụquan trọng là trở thành nhà độc quyền phân phối sản phẩm của SABECO ở 20 nước
và vùng lãnh thổ Phải chăng sự phối hợp giữa các bộ phận, vai trò quản lý, điều hànhcủa lãnh đạo Tổng công ty CP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (SABECO)không tỏ tường, là sự ngây thơ đơn giản của các nhà quản lý doanh nghiệp hay có sự
Trang 9chi phối lợi ích nào khác? Điều này thể hiện sự điều hành, quản lí lỏng lẻo, thiếutrách nhiệm của Ban Giám đốc trong tồn.công ty.
Hay những việc làm “quá tay” của Tổng Giám Đốc Công ty cổ phần SABECONguyễn Quang Minh bị báo chí phanh phui như tự ý quyết định thay đổi một loạtnhãn mác của các sản phẩm Bia Sài Gòn mà chưa hề tham khảo ý kiến của hàng chụccông ty con, lại chưa được thông qua và có quyết định chính thức của Hội đồng quảntrị Với quyết tâm “đánh quả” đến cùng cho việc thay đổi nhãn mác, ngày 25-7-2008,Tổng Giám đốc Nguyễn Quang Minh đã tự ý ký hợp đồng số 01/SABECO-KRONES/2008 để mua một loại phụ tùng dán nhãn mới, thay thế phụ tùng dán nhãn
cũ với tổng giá trị hợp đồng là 644.473 EUR và ông Minh đã chuyển đi 50% số tiềncho phía đối tác Rồi ông ta tăng giá các vật tư nguyên liệu đầu vào, ký hợp đồng đầu
tư với suất đầu tư cao hơn các nước trong khu vực từ 50-100%, ưu ái giao cung cấptoàn bộ máy móc thiết bị gần như tất cả các nhà máy bia của SABECO xây dựng choTập đoàn KRONES Điều rất đáng được lưu tâm trong các phi vụ làm ăn giữa Tậpđoàn KRONES với ông Nguyễn Quang Minh đều qua trung tâm môi giới của mộtViệt kiều ở Đức,
Không chỉ Tổng giám đốc, chuyện mua ôtô giá trị lớn lại gắn biển số 80B dành cho
xe công, ông Văn Thanh Liêm, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốcSabeco đã bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị kiểm điểm, xem xét trách nhiệm
Đó là ví dụ điển hình của chi phí đại diên về việc lạm dụng chức vụ, thâu tóm
quyền hành để tư lợi cho bản thân gây ra mâu thuẫn giữa Tổng Giám đốc và Chủ tịchHĐQT ở Tổng Công ty cổ phần SABECO
3 NGHIÊN CỨU MỘT VÀI LOẠI CHI PHÍ ĐẠI DIỆN Ở CÁC CÔNG TY
CỔ PHẦN:
3.1 Chi phí đại diện và quyền sở hữu cổ phần của người quản lý:
Khi người quản lý nắm 100% cổ phần (chủ sở hữu duy nhất là người quản lý):Trường hợp cơ sở người quản lý cũng chính là người sở hữu duy nhất của công
ty hay công ty không có chi phí đại diện không thể tìm được trong những mẫu khảosát thông thường từ dữ liệu giao dịch buôn bán có sẵn do các công ty vậy mà chi phíđại diện thường được suy luận và không thể đo lường trực tiếp trong tài liệu tài chínhthực nghiệm Trong trường hợp này công ty được quản lý bởi chính chủ sở hữu duynhất, khi đó công ty không phải chịu chi phí đại diện vì nguyên nhân chủ yếu phátsinh ra chi phí đại diện là mâu thuẫn giữa nhà quản lý và chủ sở hữu Khi người quản
lý cũng là người sở hữu duy nhất của công ty, tức người sở hữu và người quản lý làmột, lúc này quyền lợi được thống nhất trong công ty, không có mâu thuẫn sẽ giảm đi
sự phát sinh của chi phí đại diện
Nhà quản lý sở hữu dưới 100% cổ phần:
Trang 10Khi người quản lý sở hữu ít hơn 100% cổ phần của công ty, cổ đông sẽ phảigánh chịu chi phí đại diện từ sự né tránh trách nhiệm điều hành và hành vi thamnhũng.Vì sự ràng buộc của lợi ích cá nhân, người quản lý đã lợi dụng các hạn chế,điều chỉnh những quy định trên số lượng cổ đông tối thiểu, và giao dịch buôn bánkhông được công bố hoàn toàn cho chủ sở hữu.
Chi phí đại diện cao hơn giữa các công ty mà không phải 100% cổ phần thuộc
về những nhà quản lý của họ, và những chi phí tăng bởi vì cổ phần cho các quản lýcủa nó giảm Vì thế chi phí đại diện tăng lên với sự giảm bớt trong quyền sở hữu banquản trị
Người quản lý không phải là cổ đông:
Đây là một trường hợp đặc biệt mà ở đó các nhà quản lí thu 100% tiền trongtăng thêm của mức tiêu thụ, nhưng chiếm tỉ lệ ít trong lợi nhuận của công ty Trườnghợp này những nhà quản lý và chủ sở hữu không có sự liên kết trong trách nhiệm vàquyền lợi đối với công ty của mình Những người quản lý họ được ưu đãi cho các đặcquyền trong công việc, trốn tránh,tự quan tâm và quyết định bảo thủ, giảm sự giàu cócủa cổ đông Lúc này chi phí hoạt động trên doanh thu hàng năm của các công ty đượcquản lý bởi người ngoài cao hơn đáng kể so với các công ty thuộc sở hữu của cổ đông.Khi người quản lý nắm càng ít cổ phần thì chi phí đại diện càng tăng và đến khi họkhông nắm giữ cổ phần nữa tức họ là người ngoài được chủ sở hữu thuê để quản lýcông ty thì chi phí đại diện là rất cao
Sau đây là một số số liệu thống kê từ một số công ty cổ phần trên lãnh thổ Việt Nam
về tỉ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và tỉ lệ nắm giữ cổ phần của giám đốc hay tổng giám đốc của công ty phản ánh chi phí đại diện về quyền sở hữu cổ phần của người quản lý Khi người quản lý càng nhiều cổ phần trong công ty sẽ có trách nhiệm điều hành công ty tốt hơn
Trang 11Kết quả chạy mô hình eview:
Hàm hồi qui mẫu: Y= a 1 + a 2 X
Trang 12với Y là tỉ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu
X là tỉ lệ nắm giữ cổ phần của CEO.)
LOINHUANVCSH =0.1382+ 1.0267TILECPGiả sử trong điều kiện khách quan, tỉ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác, khi số cổ phần CEO nắm giữ trong trong công ty tăng 1% thì tỉ lệ lợi nhuận/ vốn chủ sở hữu tăng 1,0267%
3.2 Mối liên hệ giữa chi phí đại diện và quyền thù lao của người quản lý:
Ta thấy rằng chi phí đại diện nó xuất hiện khi các nhà quản lý không cố gắngthực hiện nhiệm vụ tối đa hoá giá trị công ty, xuất hiện mâu thuẫn giữa lợi ích của chủ
sở hữu và nhà quản lý, đặc biệt là trong các công ty cổ phần điều này rất dễ xảy ra,chủ sỡ hữu phải tốn một khoản phí để theo dõi các CEO của từ đó phát sinh chi phíđại diện Vậy làm thế nào để các chủ sở hữu, các công ty có thể quản lý tốt đội ngũcác nhà quản trị này? Thù lao là một trong những công cụ hữu hiệu để làm được điềunày Một cơ chế thù lao hợp lý sẽ khuyến khích các nhà quản trị nổ lực cao nhất chocông việc quản lý của mình đối với công ty và từ đó làm gia tăng giá trị của công ty,giúp hạn chế và kiểm soát được chi phí đại diện Một cơ cấu thù lao hợp lý là cơ cấuphải đảm bảo vừa khuyến khích được các nhà quản trị nổ lực hết mình nhưng phảiđảm bảo được lợi ích ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời cơ cấu đó phảikiểm soát được rủi ro đối với doanh nghiệp Để có thể xây dựng được một cơ cấu thùlao hợp lý ta hãy cũng xét xem thù lao của CEO nó có quan hệ với những yếu tố nào?
3.2.1 Tỷ lệ cổ phiếu nắm và thù lao của CEO:
Yếu tố đầu tiên chúng ta xét tới đó chính là việc nắm giữ cổ phiếu công ty củacác CEO Việc các CEO nắm giữ cổ phiếu của Công ty mình có ý nghĩa rất quantrọng và có tác dụng hạn chế được chi phí đại diện Bởi vì, chi phí đại diện nó xuấthiện khi có sự xung đột về lợi ích của người chủ sở hữu doanh nghiệp với các nhàquản trị và khi các CEO nắm giữ cổ phiếu của công ty mà mình đang điều hành, điềunày có nghĩa là họ đã trở thành một trong những người chủ sở hữu của công ty nênviệc xung đột lợi ích này sẽ giảm, đồng thời họ sẽ nổ lực hơn để làm tăng giá trị củacông ty, kích thích các CEO điều hành quản lý công ty một cách hiệu quả, mang về lợinhuận lớn cho doanh nghiệp, từ đó giảm được chi phí đại diện Và việc nắm giữ cổphiếu của công ty ảnh hưởng trực tiếp tới thù lao của các CEO, hay nói chính xác hơn
là thu nhập của các CEO Vậy nó ảnh hưởng như thế nào tới thu nhập của các CEO?Việc chạy mô hình dưới đây sẽ phần nào định lượng được điều này
Qua nghiên cứu thù lao của 46 CEO của 46 công ty cổ phần ở Mỹ, chúng tôi
đã thu thập được một số kết quả :
lao($)
Sở hữu cổ phiếu(%)
Trang 1439 Jeffrey L Bewkes Time Warner 22,410,000 0.02
Hàm hồi quy mẫu:
Sử dụng bảng số liệu ở trên với 46 quan sát, dùng chương trình Eview, sau khichạy mô hình ta được kết quả hồi quy như sau:
Kết quả hồi quy:
Dependent Variable: THULAO
Method: Least Squares
Date: 12/21/10 Time: 15:47
Sample: 1 46
Included observations: 46
Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob
R-squared 0.662896 Mean dependent var 3.67E+08Adjusted R-squared 0.655234 S.D dependent var 9.69E+08S.E of regression 5.69E+08 Akaike info criterion 43.19941Sum squared resid 1.42E+19 Schwarz criterion 43.27892Log likelihood -991.5864 Hannan-Quinn criter 43.22919F-statistic 86.52339 Durbin-Watson stat 2.021151Prob(F-statistic) 0.000000
Vậy theo kết quả hồi quy ta có:
THULAO= 1.20E+08 + 1.07E+10SOHUU_CP
Hàm hồi quy này cho ta thấy:
• Giá trị P-value của yếu tố SOHUU_CP là 0, điều này cho thấy biến này có ý nghĩathống kê với mức ý nghĩa 5% Đồng thời giá trị P-value của toàn mô hình cũng bằng 0điều này cho thấy mô hình này có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%
• cho biết trong điều kiện các yếu tố khác không đổi khi CEO tăng 1% cổ phiếu nắmgiữ thì thù lao của họ có xu hướng tăng 1.07E+10 *1% USD hay 1.07E+08 (USD) vàngược lại