1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc sắc thơ nguyễn khoa điềm

103 1,5K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 577,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Vũ Tuấn Anh trong Mặt đường khát vọng đến Ngôi nhà có ngọn lửa ấm đã chỉ ra tiến trình vận động thơ Nguyễn Khoa Điềm từ thời chiến sang thời bình và kết luận: Ngôi nhà có ngọn lửa ấm

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

QUÁCH THỊ THANH THUỶ

ĐẶC SẮC THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thái Nguyên - 2012

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

QUÁCH THỊ THANH THUỶ

ĐẶC SẮC THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM

CHUYÊN NGHÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Văn Sỹ

Thái Nguyên - 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo - PGS.TS Vũ Văn Sỹ,

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành cuốn luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ, động viên

và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn những nhận xét, đánh giá của Hội đồng khoa học bảo vệ luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa học và bảo vệ thành công luận văn này !

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 4 năm 2012

Người thực hiện

Quách Thị Thanh Thuỷ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Quách Thị Thanh Thuỷ

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục i

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 9

Chương 1 MỘT CẢM HỨNG THI CA GIÀU CHẤT SỬ THI CỦA TUỔI TRẺ KHÁT VỌNG VÀ HÀNH ĐỘNG 9

1.1 Quan niệm nghệ thuật thi ca của Nguyễn Khoa Điềm 9

1.2 Cảm hứng của tuổi trẻ trên Mặt đường khát vọng 14

1.2.1 Cảm hứng chung của thơ tuổi trẻ miền Nam chống Mỹ 14

1.2.2 Cảm hứng nhận đường và xuống đường của tuổi trẻ miền Nam trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 16

1.3 Cảm hứng công dân về Đất nước và Nhân dân 24

1.3.1.Tư tưởng Đất nước của Nhân dân 24

1.3.2 Hình ảnh Con đường và Ngọn lửa 31

Chương 2 MỘT HỒN THƠ THẤM ĐƯỢM TRẦM TÍCH HUẾ 38

2.1 Nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm từ góc độ văn hoá và văn hoá Huế 38

2.2.Thiên nhiên, cuộc sống và con người xứ Huế trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 48

2.2.1.Thiên nhiên miền sông Hương núi Ngự 49

2.2.2 Cuộc sống, con người xứ Huế 55

2.3 Những tâm sự, những trải nghiệm thế sự và nhân tình mang màu sắc truyền thống và văn hóa Huế 60

2.4 Sự khai thác các chất liệu văn hoá và ngôn ngữ thơ ca 67

Trang 6

2.4.1 Những giá trị văn hoá truyền thống trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 67

2.4.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Khoa Điềm 70

Chương 3 MỘT CHẤT GIỌNG TRỮ TÌNH SUY TƯỞNG, CHÍNH LUẬN VÀ TRIẾT LÝ MANG DẤU ẤN CÁ TÍNH 73

3.1.Chất giọng của thời đại và phong cách sáng tạo riêng 73

3.1.1.Phong cách và phong cách thời đại 73

3.1.2 Phong cách sáng tạo của nhà thơ 77

3.2 Giọng trữ tình chính luận trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 80

3.3 Giọng trữ tình chiêm nghiệm và tự bạch 83

3.4 Giọng trữ tình triết lý trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 88

PHẦN KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thế kỷ XX, một thế kỷ đầy những biến động xã hội và sự thăng trầm của các giá trị tinh thần Về lĩnh vực văn học đã có bốn năm lớp nhà văn lần lượt kế tiếp và kế thừa nhau gắn với tiến trình lịch sử Thế hệ trước Cách mạng, Thế hệ chống Pháp, Thế hệ chống Mỹ và Thế hệ “ sau 1975”… Tuy nhiên, phải đến giai đoạn chống Mỹ mới có được một lớp thi sĩ trẻ thuần khiết của nền thơ trữ tình Cách mạng Họ sinh ra cùng cách mạng, lớn lên trong kháng chiến và được đào tạo, trưởng thành, khẳng định trong cuộc chiến tranh chống Mỹ Đây là lớp nhà thơ làm nên sức sống mới cho giai đoạn văn học này với nhiều tài năng và phong cách sáng tạo: Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Dương Hương Ly, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa Điềm…

1.2 Trong số các nhà thơ trẻ của nền thơ chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm là gương mặt tiêu biểu Ông không những là một nhà thơ chiến sỹ, mà còn là nhà hoạt động xã hội – văn hóa tích cực, từng đảm nhiệm nhiều chức

vụ quan trọng của Nhà nước

Sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Khoa Điềm được đánh giá và đánh dấu

bằng 3 tập thơ đặc sắc: Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974) và Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986) được Giải thưởng Nhà nước về Văn học – Nghệ thuật Tập thơ Cõi Lặng (2007) gần đây là những lời tự bạch

và chiêm nghiệm về nhân sinh, nhân thế giầu triết lý trữ tình trong sự nghiệp văn chương của ông

1.3 Sáng tạo văn học của Nguyễn Khoa Điềm không chỉ đơn thuần mang mục đích văn chương mà còn là một khát vọng hành động mang tính công dân

Trang 8

Nghiên cứu chân dung sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm, ta có nhận ra những đặc điểm phong cách trong từng thời kỳ sáng tác, những ấn tượng thẩm

mĩ đặc sắc vừa ổn định, vừa biến đổi nhưng cũng nhất quán trong tư duy nghệ thuật của thơ ông

2 Lịch sử vấn đề

Trong phần này, chúng tôi tập hợp những bài viết, những công trình nghiên cứu, đánh giá về thơ Nguyễn Khoa Điềm trên hai mặt nội dung và hình thức

Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ mang đậm dấu ấn của lịch

sử dân tộc nửa sau thế kỷ XX So với lớp nhà thơ ra đời trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, bút danh Nguyễn Khoa Điềm xuất hiện hơi muộn nhưng thơ

Nguyễn Khoa Điềm nhanh chóng được dư luận chú ý và khẳng định, “đó là

thứ thơ trữ tình thấm đẫm chất men say khát vọng và hành động Một thứ thơ giàu chất sử thi của một thời” [35]

Năm 1972, tập thơ đầu tay chững chạc Đất ngoại ô của Nguyễn Khoa Điềm ra mắt độc giả và sau đó năm 1974, trường ca Mặt đường khát vọng xuất

bản Đây là hai tập thơ, đương thời đã góp phần củng cố niềm tin và sự kỳ vọng

về một thế hệ mới trên thi đàn văn học Nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung khai thác, đánh giá về những đặc sắc trong nội dung tư tưởng và nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm

- Nguyễn Trọng Hoàn, Ngô Thị Bích Hường trong cuốn Nhà văn và

tác phẩm trong nhà trường đã khẳng định phong cách thơ Nguyễn Khoa

Điềm chính là “ chất suy tư, chính luận và sự dồn nén cảm xúc cũng như sự

am hiểu hiện thực trong thơ Nguyễn Khoa Điềm cùng cái nhìn giàu tính phát hiện sâu sắc, bất ngờ” [20]

- Đánh giá về cảm hứng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm – giai đoạn trước và sau 1975, đặc biệt là giai đoạn sau đổi mới 1987 – các bài viết, các

Trang 9

công trình nghiên cứu hầu như đều có chung một nhận xét: Thơ Nguyễn Khoa Điềm có sự chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự đời tư Cụ

thể về điều này, Hoàng Thu Thuỷ trong bài viết Ngôi nhà tâm hồn Nguyễn

Khoa Điềm luôn có ngọn lửa ấm đã đặc biệt chú ý đến quan niệm thơ của

Nguyễn Khoa Điềm sau chiến tranh: “ Anh cho rằng, nhược điểm của thơ văn

trong chiến tranh là suy nghĩ riêng, tâm tư riêng của con người không phong phú đa dạng Chỉ có một âm hưởng chung là chiến đấu; những ước mơ, dằn vặt lo âu, đau thương mất mát không có… Có lẽ đã đến lúc phải thay đổi cách nhìn về chiến tranh, về văn học chiến tranh”

- Vũ Tuấn Anh trong Mặt đường khát vọng đến Ngôi nhà có ngọn lửa

ấm đã chỉ ra tiến trình vận động thơ Nguyễn Khoa Điềm từ thời chiến sang

thời bình và kết luận: Ngôi nhà có ngọn lửa ấm vừa nối tiếp vừa chuyển đổi

cảm xúc nên giọng thơ “ điềm đạm và sâu lắng, tách các lớp vỏ của sự vật để

tìm cái cốt lõi bên trong khơi gợi từ đấy những triết lý đạo đức và nhân sinh”

Và thực sự, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm đã đạt tới những cảm xúc dồn nén

trong vùng sâu thẳm của tâm hồn và giàu tính thuyết phục hơn khi chắt lọc chất thơ từ những điều rất đỗi đời thường đơn sơ bình dị

- Võ Văn Trực trong bài Gương mặt quê hương, gương mặt nhà thơ

(1988) thì chú tâm đi tìm và phân tích chất văn hoá Huế trong thơ Nguyễn Khoa Điềm và khẳng định chính chất Huế làm nên phong cách và bản lĩnh thơ

Nguyễn Khoa Điềm Theo Võ Văn Trực, “ Hầu hết đề tài trong thơ anh đều

được rút ra từ mảnh đất Huế, ngoại ô Huế và của chiến trường Bình Trị Thiên” và “ Lịch sử Huế, nền văn hoá Huế, hơi thở hàng ngày của cuộc sống

cố đô thấm vào máu thịt và cảm xúc về Huế chan chứa trong thơ anh” Thơ

Nguyễn Khoa Điềm không “ ngổn ngang” tên đất tên người xứ Huế, không “

bề bộn” phong tục tập quán Huế nhưng “ tâm hồn Huế vẫn dịu dàng ở phía sau mỗi dòng thơ”

Đối tượng thẩm mĩ trung tâm của thơ Nguyễn Khoa Điềm trước năm

1975 là hiện thực cuộc sống chiến đấu của nhân dân của đất nước Sau năm

Trang 10

1975, đặc biệt sau năm 1987, Nguyễn khoa Điềm trở về Ngôi nhà có ngọn

lửa ấm với những vui buồn của cuộc sống đời thường

- Vũ Quần Phương trong Ngôi nhà có ngọn lửa ấm - Nguyễn Khoa

Điềm đã bộc lộ thái độ trân trọng trước quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm “

Muốn tìm chất thơ tiềm ẩn trong cái thường ngày” và “quan tâm đến những cảm nhận của lòng mình”

- Tiếp theo mạch tư duy hướng nội, tập thơ Cõi lặng ra đời năm 2007

với rất nhiều ý kiến đánh giá khẳng định giá trị của nó Nguyễn Sỹ Đại trong

bài viết Cõi lặng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cho rằng: “ Một số bài đã

vươn tới độ lớn mang tính phổ quát Dù trong hoàn cảnh nào thì tâm hồn thi sĩ trong anh vẫn hài hoà nồng thắm cùng Đất nước theo cách riêng của mình, tức

là nơi chân tơ, kẽ tóc, trong tế bào, trong mỗi hơi thở hàng ngày… Tập thơ mang đậm sự chiêm nghiệm về cuộc sống và triết lý nhân sinh thế sự”

Giới nghiên cứu, phê bình và độc giả không chỉ tập trung khai thác, đánh giá về những đặc sắc trong nội dung tư tưởng mà còn đặc biệt quan tâm đến việc phát hiện những nét riêng độc đáo về nghệ thuật trong thơ Nguyễn Khoa Điềm Đó là sự dồn nén và hàm xúc tối đa của câu chữ để từ đó đúc kết những triết lý về đạo đức nhân sinh

- Hoàng Thu Thuỷ trong Ngôi nhà tâm hồn Nguyễn Khoa Điềm luôn

có ngọn lửa ấm đã có những phát hiện tinh tế và chính xác về nghệ thuật

trong thơ Nguyễn Khoa Điềm:

“Nắm vững đặc trưng của thơ ca, bảo đảm cho tư duy thơ đông đặc và nhảy vọt, lựa chọn từ ngữ, hình ảnh hàm xúc, triệt để khai thác

âm vang của các khoảng cách trong thơ” và “Đó có lẽ là sự vận động

từ gân guốc, mạnh khoẻ một cách điềm tĩnh đến độ sâu sắc đến mức tĩnh tại, chạm vào phần sâu kín nhất của tâm hồn con người làm bật lên những hiệu ứng thẩm mĩ phong phú”

Trang 11

- Trong Luận văn Thạc sĩ Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm (2005),

Lưu Thị Lập sau khi nêu lên những đóng góp của thơ Nguyễn Khoa Điềm trong phong trào thơ chống Mỹ đã đưa ra và phân tích những cảm hứng chính trong thơ Nguyễn Khoa Điềm (về đất nước, con người trong và sau chiến tranh) đã tập trung phân tích những hình ảnh thơ, ngôn ngữ thơ và màu sắc văn hoá dân gian trong thơ Nguyễn Khoa Điềm

- Nguyễn Văn Long trong bài viết Nguyễn Khoa Điềm với Mặt đường

khát vọng (1974) đã nhấn mạnh đến lối thơ thời sự, chính luận và cách trữ

tình khác biệt của Nguyễn Khoa Điềm Về nhược điểm: “ Cũng dễ thấy là đọc

thơ ông, có ấn tượng hơi căng thẳng, có khi nặng nề nữa” Cuối cùng, tác giả

khẳng định: “ Nguyễn Khoa Điềm có những đóng góp nhất định và đáng kể

vào bước phát triển của thơ ca cách mạng miền nam”

- Trong Nguyễn khoa Điềm, nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng (1976),

Tôn Phương Lan đề cập đến sự thể nghiệm mới và thành công của Nguyễn

Khoa Điềm từ thơ chuyển sang sáng tác trường ca: Trường ca Mặt đường khát

vọng “ là một thể nghiệm mới trong vấn đề tìm tòi phương pháp thể hiện và là

một thành công mới của anh” Về cấu trúc trường ca này, Tôn Phương Lan

nhận xét khá xác đáng: “ không coi việc kể chuyện là chính Lấy suy nghĩ, cảm

xúc làm chỗ dựa cho kết cấu để rồi từ đó triển khai cả bề rộng lẫn bề sâu”

- Trần Đăng Xuyền trong cuốn Giảng văn văn học Việt nam (1998) chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá chương Đất Nước: “ Thông qua

những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, Nguyễn Khoa Điềm muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm gắn

bó với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ trong những năm chống Mỹ”

- Trong cuốn Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt nam giai đoạn 1945-

1995 (1999), Vũ Văn Sỹ sau khi giới thiệu kết cấu toàn bộ chín chương của

trường ca đã nhận xét: “ Trường ca viết về phong trào đấu tranh của học sinh,

Trang 12

sinh viên Huế, nhưng tác giả không dừng lại khai thác những sự kiện ở Huế,

mà còn mở rộng liên tưởng trên nhiều bình diện, nhiều khía cạnh của vấn đề: tình hình thời sự trong nước và thế giới, về lãnh tụ, về lịch sử, về ca dao, thần thoại Trong các trường đoạn này các biện pháp tự sự vẫn được huy động một cách đắc lực”

- Nguyễn Trọng Hoàn trong Cảm nhận thơ Nguyễn khoa Điềm (1999)

đề cập đến độ chín về mọi mặt, độ khái quát cao và sức vươn tới của thơ Nguyễn

Khoa Điềm: “ Trường ca Mặt đường khát vọng hội tụ không chỉ độ chín của tư

tưởng, nhận thức mà còn thể hiện một phong cách thơ có chất giọng riêng”

- Nét đặc sắc về nghệ thuật trong thơ Nguyễn Khoa Điềm còn được thể hiện ở những biểu tượng thơ sống động, độc đáo theo kiểu chấm phá, khơi

gợi Năm 2000, Chu Văn Sơn trong bài phê bình thi phẩm Đất nước của

Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định: “ Nét chủ đạo trong tư duy triết luận trữ

tình là đào sâu vào cái bản chất của sự vật dưới dạng những biểu tượng thi

ca sống động Tư duy ấy chuyển động dựa trên mạch lôgic biện chứng với những mối liên hệ bất ngờ kì thú” Sự hoà hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố triết

luận và trữ tình đã góp phần tạo nên đặc sắc thơ Nguyễn Khoa Điềm

- Với sự am hiểu sâu sắc văn hoá Huế, Hoài Anh trong bài viết Nguyễn

Khoa Điềm với chủ đề thơ sóng đôi: Đất và khát vọng đăng trên báo Văn

nghệ ra ngày 25/4/2002 đã tìm thấy ảnh hưởng của khúc đàn tranh xứ Huế

trong thơ Nguyễn Khoa Điềm: “ Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm, tôi liên tưởng

đến một khúc đàn tranh của một nhạc sỹ Huế” Theo tác giả, trong thơ

Nguyễn Khoa Điềm niềm vui thì “ khoẻ khoắn, tươi lành của điệu Nam

Xuân”, nỗi buồn thì “ nhẹ nhàng, sâu lắng của điệu Nam Bình” và những

đoạn “ đảo phách”, “ chuyển điệu” của bản Đảo Ngũ Cung…

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào những suy nghĩ và cảm nhận của mình, phân tích và lý giải những đặc trưng thẩm mĩ đặc sắc của thơ Nguyễn Khoa Điềm

Trang 13

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp phân tích tác giả và tác phẩm

Trong luận văn, chúng tôi cố gắng bám sát tìm hiểu mối quan hệ giữa tiểu sử tác giả (tức là những hoạt động xã hội thực tiễn) với tác phẩm thi ca

Về mặt tác phẩm, chúng tôi dành nhiều cho sự cảm nhận chủ quan của mình, với tư cách là người đọc đã được đào tạo Ngữ văn

3.2 Phương pháp liên nghành giữa văn học và văn hóa

Luận văn cũng đi sâu nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm từ góc độ văn hóa Nhấn mạnh sự ảnh hưởng của văn hóa vùng miền được hội tụ ở đất Huế thẩm thấu vào thơ ông

3.3 Ngoài ra, chúng tôi có vận dụng các lý thuyết và các phương pháp bổ trợ như xã hội học, thi pháp học; các phương pháp, thao tác khác như phân tích – tổng hợp và so sánh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những ấn tượng thẩm mĩ đặc sắc về thơ Nguyễn Khoa Điềm

4.2 Về phạm vi nghiên cứu là 4 tập thơ chính

5 Mục đích và ý nghĩa của luận văn

Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ thời chống Mỹ Mục đích của luận văn là phát hiện những đặc trưng thẩm mĩ đặc

Trang 14

sắc của một phong cách thơ vừa ổn định vừa vận động nhưng cũng nhất quán trong tư duy nghệ thuật của ông

Tìm hiểu đặc sắc thơ Nguyễn Khoa Điềm là cách tiếp cận mới mẻ, có nhiều triển vọng giúp người đọc có cái nhìn thấu đáo, toàn cảnh thơ ông Qua

đó góp phần đánh giá một cách khoa học vị trí của Nguyễn Khoa Điềm trong nền thơ chống Mỹ

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tư liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Một cảm hứng thi ca giàu chất sử thi của tuổi trẻ khát vọng

và hành động

Chương 2 Một hồn thơ thấm đượm trầm tích Huế

Chương 3 Một chất giọng trữ tình suy tưởng, chính luận và triết lý

mang dấu ấn cá tính

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 MỘT CẢM HỨNG THI CA GIÀU CHẤT SỬ THI CỦA TUỔI TRẺ

KHÁT VỌNG VÀ HÀNH ĐỘNG

Sau khi tốt nghiệp Đại học, Nguyễn Khoa Điềm đã tình nguyện chọn cho mình địa bàn Thừa Thiên- Huế để sống và chiến đấu trong suốt cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ Vùng cảm hứng thi ca của ông là phong trào đấu tranh của học sinh và sinh viên đô thị vùng tạm chiếm miền Nam Việc chọn cho mình mảng hiện thực máu lửa này khiến cho thơ Nguyễn Khoa Điềm để lại ấn tượng đặc biệt, đặc sắc và khó lẫn Đây chính là luận đề mà luận văn nghiên cứu trong chương này

1.1 Quan niệm nghệ thuật thi ca của Nguyễn Khoa Điềm

Nguyễn Khoa Điềm xuất thân trong một gia đình trí thức cách mạng Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, cùng một lứa với Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân(Ca Lê Hiến), sau đó Nguyễn Khoa Điềm được trở về quê hương hoạt động ở chiến trường Thừa Thiên- Huế Trong một trận càn, ông bị địch bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ suốt mấy tháng ròng Mãi đến chiến dịch Mậu thân (1968), ông mới được giải thoát, tiếp tục trở lại hoạt động Chính thời điểm này, Nguyễn Khoa Điềm bắt đầu làm thơ Trong buổi giao lưu với công chúng yêu thơ ở Huế, Nguyễn Khoa Điềm nói một cách thành thật là ông hoàn toàn không có năng khiếu về thơ Nguyễn Khoa Điềm làm được thơ

là nhờ học hỏi, tìm tòi, khổ luyện đặc biệt là được sống trong không khí cách mạng sôi sục của đồng bào miền Nam và tinh thần chiến đấu chống Mỹ của nhân dân cả nước Được đào tạo ở miền Bắc, lại sớm tiếp thu một cách có chọn lọc văn học đô thị miền Nam thông qua các bạn văn như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Vàng Sao Điều đó góp phần hình thành phong cách thơ ông ngay trong những sáng tác đầu tay

Trang 16

Nguyễn Khoa điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một phong cách riêng Thơ ông nhanh chóng được dư luận chú ý và khẳng định: “

Đó là một thứ thơ trữ tình thấm đẫm chất men say khát vọng và hành động

Một thứ thơ giầu chất sử thi của một thời”.[35] Gần đây, trong cuốn Nhà văn

Việt Nam thế kỉ XX, Nguyễn Khoa Điềm đã “tự bạch”: Theo nhà thơ, những

yếu tố làm nên bản chất văn chương là lời, hành động và tấm lòng Lời không chỉ là câu thơ, lời văn mà bao hàm cả cách thể hiện, cách viết- tức là hình thức văn chương; Hành động, đó là ý tưởng văn chương thúc giục người ta

hành động; Còn “ tấm lòng, đó là tâm hồn tác giả trên từng trang giấy Có lời

văn hay, có khát vọng hành động mạnh mẽ nhưng thiếu đi tấm lòng nhân hậu, cao thượng thì vẫn chưa có văn hay” Theo ông, “ Thơ phải góp phần làm đẹp tâm hồn” Tóm lại, với Nguyễn Khoa Điềm, thi ca là một hoạt động xã

hội, hay nói đúng hơn, làm thơ tức là thể hiện khát vọng hành động

Sau hơn bốn mươi năm vừa đảm nhiệm những chức vụ quan trọng vừa cầm bút, ông đã đóng góp cho nền thơ ca nước nhà một sồ thành tựu đáng kể

Những tác phẩm Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng và Ngôi nhà có ngọn

lửa ấm của Nguyễn Khoa Điềm đã nhận được Giải thưởng Nhà nước về Văn

học- Nghệ thuật Bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ và chương Đất Nước trong trường ca Mặt đường khát vọng của ông đã được

tuyển chọn vào sách giáo khoa Ngữ văn để giảng dạy trong nhà trường Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ xuất hiện trong những năm chiến tranh chống Mỹ

Trong cuốn Văn nghệ - Một thời để nhớ, cuốn sách tập hợp những lá

thư của anh chị em văn nghệ sĩ miền Nam gửi miền Bắc trong những ngày kháng chiến chống Mỹ đầy khó khăn ác liệt nhưng cũng rất hào hùng và oanh liệt Đó là những lá thư viết vội, viết dở dang ở chiến trường, giữa hai trận chống càn quyết liệt Những lá thư như là những lá huyết thư gợi nhớ những

Trang 17

nỗi niềm trong những ngày Đất Nước gian lao còn mất; những thông điệp dự báo những điều lớn lao về tương lai biểu hiện trong từng công việc của các văn nghệ sĩ, những thông tin đời thường về họ để đời sau hiểu thêm những câu thơ, dòng văn hào sảng một thời Cuốn sách đã in một vài bức thư còn lưu gữi lại được của Nguyễn Khoa Điềm viết vào những năm 1970- 1971, gửi ra miền Bắc cho Tiểu ban Văn nghệ miền Nam và Ban phụ trách đồng hương Huế Những bức thư mà người viết hoàn toàn không nhằm và không ngờ sau này sẽ trở thành thông điệp của một thời cho mai sau:

- Ngay trong số thơ có đây, tôi cũng thấy có một lỗ hổng Mặt chiến

đấu, mặt hi sinh chiến trường, đồng bằng, thành phố vẫn chưa đề cập đầy đủ

Mơ ước có những bài thơ sôi sục, sắc bén giầu tính hiện thực và chiến đấu hơn nữa vẫn chưa làm được Tôi cố lo nghĩ nhiều mặt này trong thời gian tới

Ngày 20- 3- 1971

- Sức khoẻ của tôi không thể nói là tốt, nhưng rõ ràng nó không ngăn

cản tôi thiết tha sống và làm việc cho chiến trường

Ngày 29- 7- 1973

- Số bài tôi gửi ra tháng 6 có những bài chẳng hạn: Năm con ba mươi tuổi, Kính chào Tổ quốc các anh đã nhận được chưa? Vì sơ xuất, trong bài Năm con ba mươi tuổi tôi có đưa một câu không chính xác xin các anh chị sửa cho không kỳ lắm Câu thơ ấy là

Trang 18

- Tôi muốn viết những bài thơ thật khoẻ, thật gân guốc có nhiều hơi thở của chiến đấu hiện tại Nhưng ước mơ đó đang đặt ra trong tình hình phải lựa chọn, tìm tòi một cách thích hợp với mình, hơn nữa tình hình đang phải chiến đấu rèn luyện thật tốt để có một cái nền tư tưởng và cảm xúc Cho nên chỉ thực hiện ở mức độ ít ỏi, khó đáp ứng được mong đợi của người đọc

Ngày 20- 3- 1971

- Kính gửi các chú trong Ban đồng hương Huế

Cháu thấy mình chưa đến lúc sử dụng số tiền nhuận bút vào việc gì cả cháu đề nghị chuyển tất cả số nhuận bút trước nay và sau này đến Ban đồng hương Coi đó như là một đóng góp mà mỗi người vẫn tham gia lâu nay, nhằm góp công góp của với bà con đang khổ đau ở quê nhà”

Nền thơ chống Mỹ nói chung và thơ Nguyễn Khoa Điềm nói riêng, trước hết và chủ yếu là thơ của những người trong cuộc nói về những người trong cuộc và nói về mình Nhà thơ và cũng là nhân vật trữ tình cùng có chung một nhu cầu bộc lộ nhân cách của mình trong các sự kiện và biến cố lịch sử Cuộc chiến tranh lâu dài đã kéo căng toàn bộ sức lực bên trong của một dân tộc, có ảnh hưởng đến đời sống của cả cộng đồng Chính trong trạng thái tinh thần đó cho thấy vẻ đẹp thẩm mĩ của xã hội nói chung và tố chất sử

thi nói riêng của thi ca chống Mỹ

Sau hơn mười năm học tập ở miền Bắc, Nguyễn Khoa Điềm đã trở về chiến đấu và hoạt động để chắt lọc từ trong khói lửa chiến tranh, trong hi sinh mất mát những vần thơ mang âm hưởng sử thi hào hùng Sức sống dồi dào, sự trỗi dậy kiên cường bất diệt của quê hương khắc khổ mà anh dũng đã ảnh hưởng không nhỏ tới phẩm chất con người và phẩm chất thơ Nguyễn Khoa Điềm Ông đã giáp mặt với chiến tranh, cận kề với bom đạn và cái chết, đã từng xuống đường đối mặt với Mỹ Ngụy, đã từng chịu cảnh ngục tù Nhưng những thử thách đó như lửa thử vàng, càng làm sáng tỏ lý tưởng cách mạng kiên định trong tâm tưởng nhà thơ Thời gian hai năm gắn bó với phong trào

Trang 19

học sinh sinh viên thành phố Huế có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm Đây là thời gian nhà thơ hoà mình

vào tuổi trẻ thành phố bị chiếm đóng Từ những “ đêm không ngủ”, những ngày “ xuống đường”, Nguyễn Khoa Điềm đã tích luỹ cho mình vốn sống và

sự trải nghiệm để sau này cảm hứng thơ ca trào lên thành những bài thơ đặc

sắc trong tập Đất ngoại ô: Con gà đất, cây kèn và khẩu súng, Chiếc công sự

giữa lòng phố, Đêm không ngủ và đặc biệt là thành công của trường ca Mặt đường khát vọng

Năm 1970, Nguyễn Khoa Điềm được điều về hoạt động ở vùng giáp ranh Trong hoàn cành ấy, việc sáng tác thật khó khăn nhưng ông vẫn không nản lòng Khát vọng sáng tạo nung nấu trong lòng và nhà thơ vừa làm công việc cơ quan vừa tranh thủ sáng tác Nhà văn Trần Phương Trà đã nghi lại

hình ảnh Nguyễn Khoa Điềm trong những ngày tháng vất vả ấy: “ Nguyễn

Khoa Điềm ít nói, lặng lẽ làm việc Nhưng bên trong cái dáng dong dỏng, gầy xanh ấy là sự suy nghĩ nung nấu, kiếm lời giải đáp cho những vấn đề mà Điềm đang băn khoăn tìm tòi Nhiều lần vừa gùi gạo lên dốc cao, Điềm vừa lẩm nhẩm làm thơ Một lần về đến nhà, chỉ kịp đặt gùi gạo xuống, vớ chiếc khăn mặt lau mồ hôi, Điềm ngồi vào bàn ghi ngay bài thơ Khúc hát ru những

em bé lớn trên lưng mẹ ” Say mê, kiên trì và nhẫn nại trong công việc sáng

tác, năm 1972 tập thơ đầu tay Đất ngoại ô của Nguyễn Khoa Điềm được xuất bản đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc Với Đất ngoại ô,

Nguyễn Khoa Điềm đã góp một tiếng nói mới mẻ có âm sắc, có phong cách vào dàn đồng ca của thơ ca chống Mỹ Tập thơ gồm 31 bài, tái hiện sinh động hiện thực đời sống chiến trường và thế giới nội tâm giàu rung động tinh tế, giàu xúc cảm của một nhà thơ- chiến sĩ Chủ đề của tập thơ phong phú: tình cảm quê hương đất nước, tình mẹ, tình bạn bè, tình yêu Và bao trùm lên tất

cả là sự sôi động, náo nức của một tâm hồn thơ trẻ nồng cháy lý tưởng Giọng thơ thiết tha, sâu lắng mỗi khi viết về mẹ, về quê hương; nhưng khi đề cập đến những vấn đề của dân tộc, thời đại thì giọng thơ lại giầu tính triết lí và

Trang 20

chính luận, khiến cho những câu thơ của ông có dáng dấp tráng ca- những câu

thơ báo hiệu cho sự hào sảng, phóng khoáng của trường ca Mặt đường khát

vọng sau này

Trường ca Mặt đường khát vọng được viết tại khu sáng tác Trị Thiên -

Huế tháng 10- 1971, trong hoàn cảnh khốc liệt dưới những căn hầm, trong khoảng yên tĩnh giữa những đợt bom Chính trong hoàn cảnh ấy, dường như mọi cảm xúc về cuộc chiến đấu của tuổi trẻ, những trải nghiệm của nhà thơ trong thời gian hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế có dịp dồn

tụ, trỗi dậy mạnh mẽ, thôi thúc nhà thơ viết nên một bản hùng ca của tuổi trẻ miền Nam đấu tranh

Trường ca Mặt đường khát vọng gồm 9 chương, trong đó một số chương xuất sắc: Lời chào, Đất Nước, Xuống đường Đặc biệt thành công

là chương Đất Nước Đất Nước đã trở thành một bài thơ có sức sống độc lập, thể hiện trọn vẹn tài năng phong cách Nguyễn Khoa Điềm Cùng với Đât

Nước của Nguyễn Đình Thi, bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm trở thành hai

áng thơ đẹp nhất viết về Tổ quốc của văn học Việt Nam hiện đại

Với gần mười năm chiến đấu, làm việc và sáng tác ở chiến trường Bình Trị Thiên, Nguyễn Khoa Điềm đã đóng góp cho nền thơ chống Mỹ hai tập

thơ: Đất ngoại ô (1972) và Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974) Số lượng

ấy chưa phải là nhiều, song Nguyễn Khoa Điềm sớm khẳng định một tài năng, một phong cách thơ độc đáo Đóng góp lớn nhất của ông cho thơ ca giai

đoạn này đó là cảm hứng mới mẻ về Đất Nước, về Nhân dân Tập thơ Đất

ngoại ô và trường ca Mặt đường khát vọng đã góp thêm tiếng nói sâu sắc,

một phong cách riêng cho dàn đồng ca của thơ chống Mỹ

1.2 Cảm hứng của tuổi trẻ trên Mặt đường khát vọng

1.2.1 Cảm hứng chung của thơ tuổi trẻ miền Nam chống Mỹ

Trong thành công của phong trào thơ chống Mỹ, phải kể đến sự đóng góp rất lớn của thế hệ các nhà thơ trẻ Họ có thể chiếm phần đông trong tuyển tập, có thể đứng cùng nhau trong một tập thơ chung, và số lớn lại đã có những

Trang 21

tập thơ riêng khá dày dặn, có những trường ca được dư luận chú ý Bên nền lí tưởng và ý thức trách nhiệm chung của thơ ca, ta có thể gặp trong thơ trẻ đây

đó chất trữ tình nhuần nhuyễn của Tố Hữu, chất trí tuệ tài hoa của Chế Lan Viên, sức cảm thụ phong phú, dồi dào của Xuân Diệu, tiếng nói thông minh của Nguyễn Đình Thi Nhưng dưới ảnh hưởng của những phong cách tiêu biểu ấy, lớp trẻ đang cố gắng đi đến những sáng tạo mới trong thơ Thực tế,

họ đã mang đến cho thơ chống Mỹ tiếng nói đặc sắc của riêng lứa tuổi trẻ mà những thế hệ nhà thơ trước không thể nói thay được

Đóng góp chung của đội ngũ trẻ trên hậu phương lớn những năm đánh

Mỹ đã được khẳng định khá nhiều Mặt khác, với một nền thơ chiến đấu, gần như những gì tinh tuý đều có mặt và được tập trung trong đề tài chiến đấu Và như vậy, lực lượng nhà thơ quân đội có thể xem là lực lượng xung kích của đội ngũ thơ Vì thế, nói đến đóng góp của lớp trẻ trong thơ chống Mỹ, không thể không nói đến những nhà thơ trẻ trong quân đội Trong tiểu mục này, chúng tôi muốn dành nói nhiều hơn về những đóng góp quan trọng của những nhà thơ cách mạng miền Nam, đặc biệt là những cây bút học sinh, sinh viên như Trần Quang Long, Nguyễn Thái Bình, Thái Ngọc San, Trần Vàng Sao, Đông Trình, Tần Hoài Dạ Vũ, Võ Quê Hàng loạt các tập thơ ra đời nói lên tinh thần yêu nước và đấu tranh của thế hệ trẻ miền Nam Thơ họ trẻ trung, đằm thắm, vượt lên những chán chường bế tắc và những vay mượn siêu hình đương thời để cất lên tiếng gọi lên đường

Nếu thơ con bất lực Con xin nguyện trọn đời Dùng trái tim mình làm trái phá Sống chết một lần thôi

(Trần Quang Long)

Trong lửa đạn chiến tranh, những vần thơ ấy có sức cảm hoá lạ lùng, đã kết nối tuổi trẻ đấu tranh bởi sức lay động sâu xa của nó Võ Quê trong những

Trang 22

ngày bị tù đày đã viết những bài thơ “lục bát từ Côn Đảo” với những câu thơ

hào sảng phản ánh khí thế đấu tranh sôi nổi của phong trào học sinh, sinh viên Huế đòi tự do:

Kiêu hùng tóc biếc bay cao

Em tung nón rách em gào tự do

Những hình ảnh giàu tính biểu cảm trên thể hiện khí thế của tuổi trẻ thành Huế nói riêng và của tuổi trẻ cả nước nói chung trong những ngày sôi sục chống

Mỹ, quyết tâm đứng lên đấu tranh giải phóng quê hương, Đất Nước

Hoà một nhịp với âm hưởng của thơ tuổi trẻ miền Nam những năm chống mỹ, thơ Nguyễn Kha cũng như đốt bùng lên phong trào đấu tranh của tuổi trẻ học đường Và nhà thi sĩ - chiến sĩ ấy cũng đã hy sinh trên một sườn đồi ở ngoại ô thành Huế:

Ta nghe chừng đoàn người ngựa Thăng Long Đang phá vỡ trùng vây, đập tan quân cướp nước

Ta đã thấy vành đai mở rộng Thành phố rộn ràng khoác áo tứ thân

Đó là những tiếng thơ đại diện cho tuổi trẻ miền Nam và cả nước đứng lên đấu tranh giải phóng quê hương, Đất Nước Nhìn chung, các tác phẩm của các tác giả trên đều thể hiện được chiều sâu tâm hồn và tình cảm của những người đang trực tiếp cầm súng chiến đấu Những câu thơ trẻ trung đằm thắm

của họ góp phần hoàn thiện bức tranh “ xuống đường” của thế hệ trẻ miền

Nam những năm chống Mỹ

1.2.2 Cảm hứng nhận đường và xuống đường của tuổi trẻ miền Nam

trong thơ Nguyễn Khoa Điềm

Sự xuất hiện của các nhà thơ trẻ chống Mỹ đã tạo nên một sự biến đổi mạnh mẽ cả về lượng cũng như về chất trong thơ Có thể khẳng định, chưa bao giờ số lượng nhà thơ trong một giai đoạn thơ ca lại đông đảo như vậy Từ

Trang 23

các chiến trường, các quân khu, trung đoàn cho đến các nông trường, xí nghiệp đâu đâu cũng có tiếng thơ của các nhà thơ trẻ đang khao khát bộc lộ, khẳng định mình Thơ không còn là sản phẩm tinh thần của một số ít trí thức tiểu tư sản như thời trước cách mạng Từ kháng chiến chống Pháp, xu hướng này đã xuất hiện, nhưng phải đến kháng chiến chống Mỹ mới thực sự trở thành một phong trào rộng khắp trong toàn quân, toàn đân Tiêu biểu nhất trong số đó phải kể đến những chàng trai, cô gái vừa rời ghế nhà trường Lớn lên và trưởng thành từ chiếc nôi của chế độ mới, họ ít chịu ảnh hưởng của những tư tưởng cũ và cũng không phải trải qua những giai đoạn khó khăn

phải tìm đường, nhận đường như các nhà thơ lớp trước Tiếng thơ của họ

được kế thừa những tinh hoa của thế hệ đi trước, nhưng chủ yếu được cất lên

từ chính cuộc đời đang lăn lộn với khói bom, đất cát của họ, bởi vậy nó rất sinh động và tươi mới Từ những mái trường nơi đồng quê, thành phố họ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực nơi hậu phương lớn Họ ra chiến trường, hành trang mang theo là tình yêu Tổ quốc, quê hương và lòng căm thù giặc

Họ đã góp vào thơ kháng chiến những giọng điệu mới, những phong cách mới

từ cách cảm nhận, cách quan niệm về cuộc sống, về hạnh phúc và chiến tranh

đa chiều và đa dạng

Giữa chiến trường rộng lớn, mỗi nhà thơ chọn cho mình một mảng hiện thực phù hợp để sáng tác, tạo ra những vùng thẩm mĩ riêng Nếu như vùng thẩm mĩ của Phạm Tiến Duật là đường Trường Sơn với cuộc sống của những người lính lái xe, những cô thanh niên xung phong; thì vùng thẩm mĩ của Nguyễn Khoa Điềm là phong trào học sinh, sinh viên đô thị bị tạm chiếm miền Nam Chọn cho mình một mảng hiện thực đặc biệt, nên tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm có giọng điệu riêng Đó là tiếng nói đại diện cho tuổi trẻ miền Nam trong quá trình nhận đường về với nhân dân, với Tổ quốc

Quá trình nhận thức ấy quả không đơn giản, Sống trong thành phố bị kẻ thù chiếm đóng, cách mạng đối với họ thật xa lạ Đối diện với từng ngày,

Trang 24

từng giờ là cảnh bắt lính của chính quyền tay sai, là những cám dỗ của cuộc sông tiêu cực, buông thả:

Sông Hương ơi sông Hương Ngươi còn nguồn với bể

Để đi và để đến Còn ta hai nhăm tuổi Trôi cạn trên mặt đường

(Mặt đường khát vọng) Mặt đường khát vọng là tập trường ca hùng tráng, thiết tha khái quát

quá trình thức tỉnh của tuổi trẻ các đô thị vùng tạm chiếm miền Nam Họ nhận thức rõ bộ mặt xâm lược của Đế quốc Mỹ, luôn hướng về Nhân dân, Đất Nước,

ý thức được trách nhiệm của thế hệ mình để rồi cùng xuống đường, hoà vào dòng thác nhân dân đấu tranh vì độc lập tự do

Giặc Mỹ với đầy đủ các chiêu bài đã gieo rắc lên trên quê hương đất nước ta bao tội ác dã man mà ngàn đời chúng còn bị nhân loại lên án Bằng những sự kiện lịch sử, những tin tức, tư liệu khá đầy đủ, Nguyễn Khoa Điềm

đã vạch trần bản chất xâm lược của Đế quốc Mỹ: với vẻ mặt giả nhân giả nghĩa và bàn tay đẫm máu, với đầu óc đầy những âm mưu đen tối và những

lời đường mật giả tạo, mang “ văn minh của chủ nghĩa thực dân mới”:

Chúng đánh ta truỵ hết những bào thai truyền thống Từng đẻ ra nhân nghĩa, anh hùng, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du Chúng đánh cho cả dân tộc ta biến hình thành sứa

Trôi bập bềnh theo cuồng lưu của chủ nghĩa thực dân

Một tay mang bom, đi gieo rắc thảm hoạ chiến tranh, tay kia, giặc Mỹ cầm cành ô liu và củ cà rốt, mồm không ngớt kêu gọi hoà bình Tuổi trẻ thành thị miền Nam phải sống trong cái xã hội phồn hoa giả tạo ấy Nguyễn Khoa Điềm muốn thức tỉnh họ, và nhà thơ hoà nhập với tuổi trẻ miền Nam để cất lên tiếng nói của chính họ Nhà thơ cùng họ thấm thía xót xa về thân phận nô lệ:

Trang 25

Phượng vẫn rơi những cánh tươi hồng Đau như máu những tâm hồn son trẻ Sao con học để làm bầy nô lệ

Súng Mỹ hôm nay thành giáo cụ học đường

Sống trong thành phố bị giặc chiếm đóng, tuổi trẻ phải hứng chịu bao bất trắc tai hoạ ngày đêm rình dập, bủa vây Bọn Mỹ - Nguỵ dùng mọi thủ đoạn tàn bạo để bắt lính, để lùa những chàng trai sức vóc căng tràn ra trận làm

bia đỡ đạn: “ Xe bắt lính ngoài đường – Rào kẽm gai ngoài đường – Xe Mỹ

chẹt người ngoài đường” Nỗi băn khoăn về “ Tổ quốc chỉ còn nửa nước” và

kiếp đời “ học để làm bầy nô lệ” trở thành nỗi niềm day dứt khôn nguôi trong

tâm hồn họ Nguyễn Khoa Điềm đã nhập thân vào lớp người này để thấm thía

tận cùng nỗi tuyệt vọng, bất lực của tuổi trẻ trong hiện trạng đau thương ấy: “

Hai lăm năm qua chưa một thời trai trẻ?” Phải chứng kiến cảnh lam lũ của

mẹ cha bị bóc lột đến sức tàn lực kiệt, „cảnh em đi trường cho Mỹ vuốt má” Tuổi trẻ uất ức, căm hận nhưng đành bất lực bởi “ ra đường bị bắt lính ngay” Trong hoàn cảnh ấy, số đông đã chọn đúng đường, số không ít vẫn “ Bâng

khuâng đứng giữa hai dòng nước” như Tố Hữu đã nói Một số đã lầm đường

lạc lối cầm súng chống lại nhân dân Và lại không ít một số người chống lại trật tự xã hội, chống chiến tranh dưới một hình thức tiêu cực: huỷ hoại cơ thể

mình để trốn lính, phải sống chui lủi ở những nơi tăm tối, phải “ đeo gương

cho cận thị suốt đời”, nhịn đói, thức đêm, “ ăn tỏi cho tim rung”, hút thuốc

nhiều cho phổi nám, phải ngốn đi- a- moc, uống nhị thiên đường Tuổi trẻ như cây xanh căng tràn nhựa sống bị đốn gãy giữa chừng, héo khô đi những đường gân bắp thịt, những đôi mắt trong và những nụ cười hồng Họ đã tự

biến mình thành những cái bóng lay lắt “ vật vờ như cỏ lác đầu đông”

Hành trình đến với lí tưởng, đến với cách mạng, với nhân dân của tuổi trẻ thành thị miền Nam thật vô cùng gian nan, phức tạp Nguyễn Khoa Điềm

đẫ cất lên tiếng nói cảnh tỉnh hướng đi lầm lạc này:

Trang 26

Có ngờ đâu ta không cầm súng giết người

Ta lại giết chính ta

Đó là tiếng nói của lý tưởng tiến bộ, của nhân dân thấu tình đạt lý và lại được cất lên từ một người trong cuộc nên nó có ý nghĩa như một sự thức tỉnh

Với vốn hiểu biết khá kĩ lưỡng về cuộc sống của tuổi trẻ thành thị miền Nam - kết quả của một quá trình công tác gắn bó với thực tiễn phong trào học sinh sinh viên; và hơn cả là sự đồng cảm sâu sắc với nỗi đau, sự bất lực của

tuổi trẻ miền Nam lúc bấy giờ Những câu hỏi tu từ “ Đất Nước mai sau có

tha thứ ta không? – Ta đau buồn Đất Nước hiểu ta không?” vừa khẳng định

sự ân hận của những người lạc lối vừa là câu trả lời của nhà thơ: nhân dân, Đất Nước hiểu hoàn cảnh đau khổ, hiểu tâm trạng tủi nhục bất lực của tuổi trẻ thành thị miền Nam dưới chế độ Mỹ - Nguỵ

Nhằm lôi kéo tuổi trẻ sa vào vòng truỵ lạc để quyên đi nỗi nhục mất nước, ngày 25 tháng 5 năm 1971, Đại hội hip- pi Giao Chỉ được tổ chức tại sân Hoa Lư (Sài Gòn) là một cách mị dân, cải lương của Mỹ - Nguỵ Những người nhẹ dạ sa vào con đường này, vùi mình vào lối sống hiện sinh theo

phong trào hip- pi thời thượng Họ ngộ nhận: “ Đại hội này là đại hội của

những người tuổi trẻ - Thờ phụng tuổi trẻ mình như Tổ quốc thiêng liêng”

Những danh từ Giao Chỉ, Hoa Lư gợi về cội nguồn chỉ là cách đánh lừa tuổi trẻ Nguyễn Khoa Điềm đã dùng chính lịch sử để chứng minh ngộ nhận đáng thương của họ:

Sao các anh đến Hoa Lư

Không đem theo mỗi người một cành lau

Để làm cờ và tập trận

Như Đinh Bộ Lĩnh ngày xưa từng nuôi chí lớn

Mà các anh mang trên người

Nhiều tóc, nhiều râu và giẻ rách mà thôi

Trang 27

Những cuộc đời hip- pi buông tuồng vô vị Họ lao vào vòng xoáy của

tự do cá nhân cực đoan, phủ nhận, chối bỏ phẩm chất người của mình Không tình cảm, không lí trí, họ hưởng thụ những thú vui tầm thường theo triết lí tự

do độc hại: “ Tự do làm tình, tự do buồn, tự do ca hát - Tự do chết khi quét

cùn thân xác”

Để lí tưởng tiến bộ thấm vào những tâm hồn tuổi trẻ, Nguyễn Khoa

Điềm đã đưa vào thơ một “cuộc đối thoại thảo ngay” để cảnh tỉnh những tâm

hồn lầm đường lạc lối trở về con đường chính nghĩa của nhân dân, Đất nước Đây không phải là cuộc tranh luận của những người ở hai trận tuyến mà là sự thuyết phục của người đi trước có trách nhiệm dẫn dắt người đi sau Có khuyên nhủ, có chê chách nhưng lại giàu tính thuyết phục bởi đó là sự đối

thoại của những con người cùng cảnh ngộ : “ Chúng tôi đây bằng lứa tuổi các

anh- Chúng tôi đã buồn đau, đã nhiều ngày mất hướng” Tất cả cùng một thế

hệ, cùng một lứa tuổi sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, cùng sống trong thành phố bị chiếm đóng và có lúc đã cùng đi trên con đường lầm lạc Đó là tiếng nói ân tình cảm động kết liên tuổi trẻ thành thị miền Nam

sát cánh bên nhau hướng tới Mặt đường khát vọng Với cách phân tích thấu

tình đạt lí trong ngót một chục trang, Nguyễn Khoa Điềm đã cho họ nhận ra được nỗi lầm lẫn nguy hiểm và hướng họ đi vào con đường đấu tranh giải phóng mà cả dân tộc đang đi:

Chỗ đứng của chúng ta không phải ở Hoa Lư

Mà trên con đường ta tìm về dân tộc

Dân tộc và Đất nước Lịch sử của dân tộc là lịch sử của cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước Tuổi trẻ miền Nam đã hoà vào cuộc đấu tranh mãnh liệt của dân tộc, đã xuống đường

Bức tranh xuống đường của đông đảo đội ngũ các tầng lớp thành thị miền Nam đã được Nguyễn Khoa Điềm dựng nên thật đẹp:

Những người thợ một đời cầm gang sắt

Trang 28

Những người mẹ buôn thúng bán bưng Những nông dân bị cướp ruộng mất làng Những trí thức đau một đời chữ nghĩa

Em bé đánh giầy, bậc tu hành cứu khổ

Tất cả, cùng với học sinh- sinh viên họp lại, sát cánh bên nhau, mang sức mạnh của một cơn sóng dữ tràn xuống đường phố đầy lính Mỹ và cảnh sát Nguỵ Nguyễn Khoa Điềm đã thực sự đưa người đọc sống lại không khí quyết liệt của cuộc đấu tranh say sưa, đầy nhiệt huyết của họ Đã có nhiều nhà thơ, những nhạc sĩ viết về những cuộc xuống đường, những đêm không ngủ của tuổi trẻ thành thị miền Nam Nhưng ở đây, sao đọc lên chúng ta vẫn rất xúc động trước tấm lòng, trước ý chí và tinh thần của họ Họ là những người mặc dù được tiếp xúc rất ít với chủ nghĩa xã hội, với những trào lưu tư tưởng tiến bộ; nhưng tinh thần đân tộc, lòng yêu nước luôn là ngọn lửa cháy sáng trong lương tâm và tình cảm thúc giục họ bất chấp bạo tàn, hi sinh tất cả Họ

nhận ra không chỉ “ tội lỗi” với bản thân khi “ Huỷ hoại hết những gì cha mẹ

trao xương gửi thịt” mà đã nhận ra con đường chân lí phải đi, đó là “ trên con đường ta tìm về dân tộc” Một giai đoạn mới trong cuộc đời những học sinh-

sinh viên Huế bắt đầu:

Cái đích một đời, cái nghĩa hi sinh

Lẽ sống lớn lao, tình yêu cháy bỏng Phút này đây chúng ta đều tiếp cận Phút này đây đồng nghĩa cuộc đời mình

Từ đây, một loạt trí thức, văn nghệ sĩ Huế không bao giờ ngồi yên

trong các giảng đường, các “ tháp ngà viễn mơ” (trào lưu văn nghệ lúc bấy

giờ) lần lượt dấn thân vào các cuộc đấu tranh chống chế độ Mỹ- Nguỵ Huế là nơi khởi phát các cuộc đấu tanh chính trị và sau này trở thành một chiến luỹ kiên cường của mặt trận đường phố trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

Ta vụt lớn lên trong nhịp bước tuần hành

Trang 29

Ngực trải rộng chiếm cả tầm biểu ngữ Trường thành cổ ta làm trường thành trẻ Sông lặng im ta đổ sóng mặt đường

Những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm tái hiện không khí đấu tranh rất hào hùng và cũng rất Huế Nổi bật lên trên bức tranh ra trận ấy là bóng những thiếu nữ Huế với áo trắng mộng mơ, có những đại lộ quên thuộc xanh mát rợp bóng cây, có trường thành rêu phong cổ kính và có cả dòng Hương giang như một chứng nhân lịch sử dõi theo từng nhịp bước tuần hành

Quá trình nhận đường của tuổi trẻ đô thị miền Nam còn được Nguyễn

Khoa Điềm khắc hoạ qua việc miêu tả những số phận cụ thể Ở bài thơ Con

gà đất, cây kèn và khẩu súng, Nguyễn Khoa Điềm đã dựng lên ba hình ảnh

tượng trưng cho ba chặng đường trong cuộc đời người thanh niên vùng tạm chiếm Tuổi ấu thơ tràn trề hạnh phúc trong hơi thở của đất trời mùa xuân, trong sắc màu rực rỡ của con gà đất bảy màu Nhưng rồi:

Mùa xuân sau, tuổi thơ đi qua

Con gà đất của anh không còn gáy nữa

Hạnh phúc truyền môi một thằng bé bên nhà

Cũng tiếng gà, cũng mùa xuân, hối hả

Lời mẹ thành xót xa

Cuộc sống nhộn nhạo của đô thị bị tạm chiếm đã khiến cậu bé yêu tha thiết chiếc kèn, con gà đất ngày xưa vào vòng xoáy của nó Người thanh niên giờ đây phải làm nghề thổi kèn trong snachbar để kiếm sống Người thổi kèn thấm thía sự vô nghĩa của cuộc đời khi phải chứng kiến sự đối nghịch giữa cảnh tiệc tùng xa hoa thừa mứa của lũ bán nước và cướp nước với cảnh “

Ngoài cửa kia những đứa bé giơ tay gầy chầu chực/ Trong tiếng bom rơi rung đất cuối con đường” Bất lực, anh thấy xung quanh mình là bốn bức tường địa

ngục và tiếng kèn nấc lên tức tưởi, tủi nhục Nhưng không thất vọng, người thổi kèn vẫn mong đợi một cuộc đổi đời Vào những lúc kiệt sức đuối hơi thì

Trang 30

những ước mơ trong sáng của tuổi thơ lại hiện lên rực rỡ, tiếp thêm cho anh nguồn sống và nghị lực:

Muốn ngất hơi Anh bỗng mơ một con gà bảy sắc

Nở như hoa trên môi

Để rồi đến một mùa xuân khác, trong tiếng đại bác gầm cùng với bản hành khúc của những binh đoàn giải phóng, người thổi kèn đã tìm thấy vị trí của mình trong dòng biến cố của lịch sử:

Người thổi kèn nhận phần mình khẩu súng Như người nhận chỗ trong tay nhạc trưởng Chợt hiểu rằng, đầy khao khát thẳm sâu

Mẹ đã hẹn một lần và anh đợi từ lâu

Để đến được với cách mạng, người thanh niên đô thị tạm chiếm miền Nam đã đi từ con gà đất, cây kèn đến khẩu súng với nhiều cung bậc tình cảm:

có tiếc nuối, xót xa; tức tưởi rồi náo nức, sung sướng, hả hê Đây là một bài thơ đặc sắc phác hoạ cả một quá trình giác ngộ của tuổi trẻ yêu nước miền Nam Nhân danh một lí tưởng sống cao đẹp, nhà thơ đã cất lời thức tỉnh, kêu gọi tuổi trẻ đến với nhân dân, Đất nước

1.3 Cảm hứng công dân về Đất nước và Nhân dân

1.3.1.Tư tưởng Đất nước của Nhân dân

Trong số các nhà thơ thế hệ chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm là người rất thành công với giọng thơ trữ tình – sử thi thể hiện rõ những tâm tư của thế

hệ trẻ đô thị miền Nam Trường ca Mặt đường khát vọng (1974) là tiếng

vọng tâm tình của một hồn thơ hoà cùng mạch cảm xúc của dân tộc đứng

trước dòng thác lũ thời đại Trong đó, chương V Đất Nước đã gói ghém trọn

vẹn tâm tình của thế hệ trẻ thời chống Mỹ Thanh niên trí thức yêu nước ở các

đô thị miền Nam lúc bấy giờ rất tâm đắc với bản trường ca này, vì họ tìm được ở đó những tâm tư sâu kín của mình

Trang 31

Đất nước là chủ đề xuyên suốt bao trùm lên các tác phẩm trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước Các nhà thơ, nhà văn bằng tình cảm công dân đã có nhiều phát hiện mới mẻ, độc đáo về Đất Nước, nhân dân Đất Nước thường được soi chiếu từ bình diện lịch sử chống ngoại xâm, được khái quát bằng những hình tượng kì vĩ, khai thác triệt để chất sử thi hoành tráng Trong dòng chủ lưu ấy, Nguyễn Khoa Điềm đã chọn lựa cách thể hiện riêng của mình Bằng trải nghiệm của tuổi trẻ, bằng nhiệt tình cách mạng và cả bằng vốn tri thức được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, tạo nên chiều sâu trong các hình ảnh biểu tượng con đường và ngọn lửa

Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm là tiếng ca

sôi nổi, nhiệt tình cất lên từ trái tim tuổi trẻ xuống đường tranh đấu Trong đó,

những trang thơ khắc hình Đất nước là những nốt nhạc rung động lòng người,

được toả sáng dưới một cái nhìn mới mẻ đầy tính phát hiện Xuyên suốt

chương Đất Nước là tư tưởng Đất Nước của nhân dân nhuần nhuỵ trong hình

thức Đất Nước của ca dao thần thoại như một sợi chỉ đỏ tạo nên mạch chảy

đằm sâu, tha thiết trong xúc cảm của nhà thơ Nó như là một bản nhạc với đầy

đủ những âm vực cao độ xen kẽ nhau, hoà quyện vào nhau tạo nên sức hấp dẫn lôi cuốn người đọc

Giọng thơ thủ thỉ đã chuyển tải suy ngẫm của nhà thơ về nhân dân, Đất Nước, tiếp nối mạch suy tưởng của thi ca giai đoạn trước Trả lời cho câu hỏi

: “ Đất Nước có từ bao giờ?”, nhà thơ bắt đầu bằng những kí ức tuổi thơ để

hình dung ra một sự tồn tại của Đất Nước trong nhận thức và tình cảm tự nhiên nhất của con người Những vẻ đẹp được khơi lên từ mạch tâm tình thấm đẫm hơi thở ca dao dân ca, huyền tích sử thi của dân tộc:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ ngày xửa ngày xưa ”

mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Trang 32

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó

Đoạn thơ thể hiện sự cảm nhận và lí giải của tác giả về Đất Nước Để tái hiện quá trình bắt đầu và lớn lên của Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm đã làm sống dậy cả một không gian văn hoá cổ xưa của dân tộc trong bề dày lịch

sử bốn nghìn năm Bề dày lịch sử ấy chứa đựng cả chiều sâu của một nền văn hoá phong phú lâu đời với những truyền thống quý báu: cần cù, chịu khó trong học tập, làm ăn; dũng cảm trong chiến đấu; chung thuỷ, bền vững trong tình yêu Đất Nước được gợi lại từ lịch sử, được sống dậy qua phong tục tập

quán trong đời sống tinh thần của nhân dân: miếng trầu, trồng tre, bới tóc sau

đầu, cách đặt tên người, cả tình yêu của con người Tất cả góp phần làm nên

khuôn mặt dân tộc - một dân tộc đằm thắm nghĩa tình Đó chính là Đất Nước được cảm nhận ở chiều sâu văn hoá và lịch sử

Nối tiếp mạch thơ trữ tình – chính luận là sự trả lời cho câu hỏi “ Đất

Nước là gì?” Đó là sự cảm nhận về Đất Nước trong sự thống nhất, hài hoà các

phương diện địa lí và lịch sử, không gian và thời gian Xuất thân từ một thế hệ trí thức trẻ mà những tri thức văn hoá được trang bị còn tươi rói, tác giả chia tách ý

niệm đất nước thành hai yếu tố đất và nước để cảm nhận và suy tư, không dừng

lại ở khái niệm mà ở một bình diện khác sâu hơn, thể hiện một cái nhìn về hình tượng đất nước thiêng liêng bằng quan niệm mới của tuổi trẻ:

Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Trang 33

Đan xen với khoảnh khắc thời gian, không gian hiện tại là sự thức tỉnh của ý thức cộng đồng với sự tổng hoà những vẻ đẹp trong đời sống tinh thần, tâm linh của người Việt Vẻ đẹp quê hương đất nước được tái hiện trong những lời ca dao toát lên lòng tự hào về non sông gấm vóc, về Cha Rồng Mẹ Tiên, gắn với lòng biết ơn tổ tiên đã ăn sâu vào tiềm thức từng người Việt:

Đất là nơi “ con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “ con cá ngư ông móng nước biển khơi”

Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng

Quá khứ, hiện tại, tương lai đã gắn kết trong một ý thức cộng đồng bền chặt, là nguồn sức mạnh và cũng là phẩm chất tâm hồn dân tộc đã được nhà thơ lí giải qua những hình tượng thơ giàu tính thẩm mĩ và hàm chứa mối quan

hệ Đất Nước – con người nhân dân không thể tách rời Thời gian lịch sử, không gian văn hoá hoà quyện trong mạch thơ đầy ân tình đã dần phác hoạ rõ nét tượng đài Đất Nước Không chỉ tiếp cận hình tượng trong huyền sử, trong hiện thực đời sống, trong mối quan hệ cá nhân - cộng đồng, Nguyễn Khoa Điềm còn dẫn dắt độc giả trở về với hiện thực trực tiếp của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nói lên tiếng nói đầy trách nhiệm của cả một thế hệ chống Mỹ thực sự trưởng thành trong nhận thức và tình cảm:

Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay

Trang 34

Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất Nước vẹn tròn, to lớn

Ý thơ thật giản dị, không hề gượng ép tình cảm, đi từ mối quan hệ riêng

tư để hướng về với mối quan hệ cộng đồng, dân tộc Tứ thơ độc đáo chính là

từ sự mở rộng từ thế giới của “ anh và em hôm nay” đến với “mọi người” Vẻ đẹp của Đất Nước được phát hiện thêm với vẻ đẹp “ hài hoà nồng thắm” và “

vẹn tròn to lớn” Đó cũng là sự kết hợp hài hoà của lí trí và tình cảm con

người thời đại chống Mỹ Hơn thế nữa, những câu thơ này còn cắt nghĩa cho

vẻ đẹp tình yêu của thế hệ trẻ thời chống Mỹ không hề mất đi vẻ lãng mạn, khi khoảnh khắc cầm tay hiện tại đã nghĩ về thế hệ tương lai, về một ngày

thanh bình và sự phát triển của Đất Nước với “ những tháng ngày thơ mộng”

Không dừng lại ở đó, nhà thơ tiếp tục đi sâu vào mối quan hệ Đất Nước với tâm hồn của từng con người, giọng thơ tâm tình, thấm thía:

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời

Phần mở đầu của chương Đất Nước được cấu tứ trên cơ sở gắn bó giữa

các vẻ đẹp riêng biệt, độc đáo và giàu sức biểu cảm để làm nên vẻ đẹp chung tổng hoà thành hình tượng Đất Nước kì vĩ và giàu sức thuyết phục Nhà thơ

đã trữ tình hoá vấn đề mang tính chính luận, nhằm trả lời những câu hỏi lớn

mà dân tộc đang phải tìm lời đáp trong cuộc chiến đấu vì lí tưởng độc lập tự

do, cuộc chiến đấu của lương tri chống lại thế lực bạo tàn

Tư tưởng Đất Nước của nhân dân đã chi phối cách nhìn của nhà thơ

khi nghĩ về lịch sử bốn nghìn năm của Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm đã có những phát hiện thú vị và độc đáo về Đất Nước trên các phương diện: địa lí,

Trang 35

lịch sử, văn hoá, Dưới cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, lịch sử Đất Nước được kết thành từ bao thế hệ, bao cuộc đời và số phận của nhân dân: từ những người vợ nhớ chồng ra trận, cặp vợ chồng yêu nhau, anh học trò nghèo, những người dân vô danh được gọi bằng những cái tên mộc mạc, rồi cả những con cóc, con gà quê hương đến những gót ngựa của Thánh Gióng, 99 con voi chầu đất Tổ Hùng Vương, Mỗi người, mỗi vật đi qua lịch sử, không gian, thời gian đều để lại một chút gì cho Đất Nước Tác giả đã đi đến một kết luận mang tính khái quát:

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hoá núi sông ta

Theo Nguyễn Khoa Điềm, những thắng cảnh, những địa danh nổi tiếng trên khắp mọi miền Đất Nước đều do nhân dân tạo ra, đều kết tinh bao công sức và khát vọng của nhân dân, của những con người bình thường, vô danh

Trên phương diện thời gian lịch sử, cũng chính nhân dân, những con

người bình dị, vô danh đã “ Làm nên Đất Nước muôn đời” Chính vì vậy, khi

cảm nhận về Đất Nước bốn ngàn năm lịch sử, Nguyễn Khoa Điềm không nói

đến các triều đại, các anh hùng mà lại nhấn mạnh đến vai trò “ làm ra Đất

Nước ” của nhân dân:

Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

Trang 36

Và cũng chính những con người “ giản dị và bình tâm”, “ không ai nhớ

mặt đặt tên ” ấy đã sáng tạo, gìn giữ và truyền lại cho đời sau mọi giá trị tinh

thần và vật chất của Đất Nước từ hạt lúa, ngọn lửa, giọng nói, tên xã, tên

làng Họ là những anh hùng văn hoá:

Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi

Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái

Với cái nhìn xuyên suốt lịch sử, Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh đến vai trò của nhân dân Nhân dân bằng máu xương của mình đã chiến đấu bảo

vệ gìn giữ Đất Nước:

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Có nội thù thì vùng lên đánh bại

Khi nói đến “Đất Nước của nhân dân”, Nguyễn Khoa Điềm mượn văn học dân gian để nhấn mạnh thêm vẻ đẹp của Đất Nước: “ Đất Nước của ca dao

thần thoại” và cũng bằng văn học dân gian, nhà thơ đã khám phá ra vẻ đẹp tâm

hồn và tính cách của nhân dân: họ là những con người yêu say đắm và thuỷ

chung “ Dạy anh biết “ yêu em từ thuở trong nôi”, quý trọng tình nghĩa “ Biết

quý công cầm vàng những ngày lặn lội”, và quyết liệt trong chiến đấu với kẻ

thù “ Biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ Đi trả thù mà không sợ dài lâu”

Nguyễn Khoa Điềm viết lên những trang thơ này bằng tất cả sự trải nghiệm của một người lăn lộn trong phong trào đấu tranh của thanh niên đô thị miền Nam Nhà thơ đã thay mặt thế hệ mình để phát biểu tâm tư với tinh thần công dân, với nhiệt tình tuổi trẻ Đó cũng là lời đáp cho câu hỏi mang tính chính luận về sự trường tồn của Đất Nước Đất Nước bất tử chính nhờ ở tinh thần của những con người sẵn sàng dâng bầu máu của tuổi thanh xuân, biết sống có trách nhiệm với thời đại và đầy khát vọng về tương lai trường tồn

của Đất Nước

Trang 37

1.3.2 Hình ảnh Con đường và Ngọn lửa

Ngay từ những bài thơ đầu tiên trong sự nghiệp như Đất ngoại ô, Con

chim thời gian, Mặt đường khát vọng, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ Nguyễn Khoa Điềm đã chứng tỏ một năng lực suy nghĩ, cảm nhận

tinh tế trong việc sáng tạo những hình ảnh thơ độc đáo, hấp dẫn như : trường

thành vỡ rạn, con cầu như tiếng nấc nằm ngang, mặt trời của mẹ em nằm trên lưng, trái tim hồng lắp đầu súng chống tăng, đất nước đầu mũi tên, đất nước đầu tiếng chiêng Thế giới hình ảnh trong thơ Nguyễn Khoa Điềm gây ấn

tượng mạnh đến người đọc bởi vẻ đẹp thâm trầm, sắc xảo và giàu ý nghĩa biểu tượng Cái quen mà lạ, giản dị mà độc đáo, nhẹ nhàng nhưng mang tầm sâu triết lí là những đặc trưng dễ nhận thấy nhất trong hình ảnh thơ Nguyễn Khoa Điềm Có những hình ảnh đã trở thành hình ảnh đặc trưng, có tần số xuầt hiện nhiều lần trong thơ ông, lại cũng có những hình ảnh chỉ một lần xuất hiện nhưng lại có sức ám ảnh, lắng sâu vào lòng người đọc Tất cả đều thể hiện ý thức sáng tạo, tính tích cực, chủ động chống lại sự xói mòn, sơ cứng của từ để tìm kiếm hình ảnh mới lạ, giàu ý nghĩa cho thơ

Xuất hiện nhiều nhất trong thơ Nguyễn Khoa Điềm ở giai đoạn kháng

chiến chống Mỹ là hình ảnh con đường và ngọn lửa Hình ảnh con đường và

ngọn lửa vừa thể hiện trung thực hiện thực cuộc sống vừa trở thành những

biểu tượng giàu ý nghĩa cho phong trào đấu tranh với khí thế sôi sục, quyết liệt của tuổi trẻ Huế và hơn thế nữa, đó là biểu tượng cho khát vọng về một cuộc sống yên ấm, thanh bình

Qua khảo sát trường ca Mặt đường khát vọng và các tập thơ Đất ngoại

ô, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Cõi lặng, hình ảnh con đường (mặt đường) có

đến 180 lần xuất hiện, hình ảnh ngọn lửa xuất hiện 49 lần

Là người có ý thức trang bị cho mình một vốn liếng kiến thức trước khi

đi chiến trường, nhưng điều đáng quý là, những kiến thức mà Nguyễn Khoa

Trang 38

Điềm có được trong trường Đại học đã lặn sâu vào cảm xúc của ông, và chính đời sống chiến trường đầy hiểm nguy nhưng cũng đầy xúc cảm đã làm chấn động tâm hồn một người vốn điềm tĩnh như Nguyễn Khoa Điềm Đó cũng là con đường đến với thơ của nhiều nhà thơ thế hệ chống Mỹ, những người biết hoà trộn giữa bản năng và nhận thức, giữa những gì có được từ đời sống sách

vở với những gì có được từ đời sống chiến trường Những vần thơ Nguyễn Khoa Điềm trào dâng như không thể khác:

Xe bắt lính ngoài đường Rào kẽm gai ngoài đường Cha mẹ chạy gạo ngoài đường

Xe Mỹ chẹt người ngoài đường Hồi trống trường không khép ta vào yên tĩnh nữa Nhìn màu bảng đen nhớ màu mặt đường

(Mặt đường khát vọng)

Hình ảnh con đường gắn liền với chặng đường tuổi trẻ của nhà thơ khi

phải chứng kiến bao đau thương, mất mát diễn ra ngay trên mảnh đất quê hương thân yêu:

Đi trên đường “ mười tám tuổi”

Dẫu anh đi quen Con đường kẽm gai quằn quại

Trước hiện thực tàn khốc, ác liệt ấy, những con đường giục giã những

bước chân, đã trở thành biểu tượng của sự tranh đấu, để rồi con đường đó cũng chính là con đường dẫn đến thành công:

Mặt đường gọi: hãy giằng ngay sự sống Nhanh chân bước, bước chân chúng ta

Mặt đường đưa ta về ngày hội lớn Độc lập, Hoà bình, thống nhất Bắc Nam

Trang 39

Những người lính – trí thức như Nguyễn Khoa Điềm đã đến với chiến trường và từ chiến trường đến với thơ thật tự nhiên Nhưng quan trọng hơn là, Nguyễn Khoa Điềm đã biết đồng hoá, hoà nhập, cộng trường tình yêu Đất nước, yêu nhân dân ở những người khác thành tình yêu của riêng mình, với những cảm nhận và lí giải của riêng mình:

Chỗ đứng chúng ta không phải ở Hoa Lư

Mà trên con đường ta tìm về dân tộc

- Mặt đường là mặt người, mặt đường là thanh niên

Nguyễn Khoa Điềm có riêng một bài thơ Tôi lại đi đường này khẳng

định lý tưởng đúng đắn đã chọn:

Tôi lại đi đường này Đường đỏ cờ độc lập ( )Tôi lại đi đường này Con đường đi cứu nước ( )Tôi lại đi đường này Không bao giờ sợ lạc

Đó là con đường chân lí, con đường giành độc lập tự do cho quê

hương, cho dân tộc; con đường cùng hành trình với đồng chí, đồng đội để đi

cho đến cuối- khi cái điều mong đợi- đang vang ở chân trời

Trong những bài thơ viết sau chiến tranh ở hai tập thơ Cõi lặng và

Ngôi nhà có ngọn lửa ấm của Nguyễn Khoa Điềm, hình ảnh con đường

mang thêm ý nghĩa là cuộc hành trình dài trong cuộc sống con người Để trở

về cõi lặng, Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục cuộc hành trình của mình Đó là

hành trình tìm đến niềm vui, sự thật: Sau chiến tranh - Những ngôi nhà như

tinh thể kết bất ngờ trong hạnh phúc - Định hình tất cả niềm vui và sự thật -

Bằng gỗ, bằng vôi và giấc mơ ngày lên đường (Trên đường) Đó là hành trình

hoài niệm qúa khứ: Trên những con đường - Đời tôi sẽ trôi qua – Mãi mãi tôi

Trang 40

không còn lung linh màu nắng ấy - Một chút mùa thu sách vở (Đi bên mùa

thu); Những con đường không ai trở lại – Đã xuyên qua anh những mạch

máu âm thầm (Những bài hát, con đường và con người) Đó là hành trình

học không ngừng không nghỉ: Giữa thế giới không nhiều may mắn/ Ta học

cách vừa lòng với mình/ Chia xẻ sự bình tâm của cỏ (Hy vọng) Đó là hành

trình hy vọng: Cuộc đời độ lượng – Có chỗ cho mọi vóc hình sự sống - Để sự

sống phải mở đướng đi – Qua bóng tối cái chết (Nhớ Nguyễn Đ) Đó là hành

trình tự do: Anh là một với cánh đồng, cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ/

Hò hát một mình, đọc những gì mình thích, ghi chép những gì cần ghi chép/ Thế giới thật rộng, những ngả đường độ lượng/ Cho anh làm mới cuộc đời

mình (Bây giờ là lúc ) Đó là hành trình suy tư, vật vã: Trong những buổi

chiều buồn bã/ Tôi nói thầm với hàng cây trước nhà/ Hãy dịu dàng hơn, hãy dịu dàng nữa/ Vì sao không thể yêu mến hơn/ Vì sao không xanh hơn/ Vì sao

không trong sạch hơn? (Trong những buổi chiều) Đó là hành trình cảm và

nghĩ: Anh mải miết trên đường hoạn lộ - Nghoảnh về quê hư ảo một vầng

trăng (Viết cuối năm) Và sau cùng, đó là sự mở đầu một giai đoạn mới Quẫy đạp một hành trình mới (Tháng tư)

Gắn liền với hình ảnh con đường trong những bài thơ viết trong chiến tranh chống Mỹ là hình ảnh ngọn lửa Nếu con đường là biểu tượng của hành

trình nhận thức, suy nghĩ và tranh đấu để giành độc lập tự do cho mảnh dất

quê hương thì ngọn lửa là biểu tượng của khí thế sục sôi, tinh thần quật cường

của tuổi trẻ Huế trong cuộc đấu tranh ấy:

Ta đan lửa những vùng trời cao rộng

Ta đan dấu những mặt đường cháy nóng

Ngọn lửa căm thù của đồng bào đã bùng lên như lời kêu gọi, giục giã chiến đấu, nối tiếp truyền thống đấu tranh của dân tộc tự ngàn đời:

Hãy đứng dậy và giơ cao ngọn đuốc Của tình yêu đã khơi lửa ngàn đời

Ngày đăng: 16/11/2014, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
[2]. Mai Bá Ấn (2009), Đặc trưng trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Chuyên luận văn học, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo
Tác giả: Mai Bá Ấn
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2009
[3]. Dương Kỳ Anh (2008), Cõi lặng nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và tôi, Báo Tiền phong, số ra 10/8/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cõi lặng nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và tôi
Tác giả: Dương Kỳ Anh
Năm: 2008
[4]. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945- 1975. Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945- 1975
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
[5]. Hoài Anh, Nguyễn Khoa Điềm với chủ đề thơ sóng đôi: Đất và khát vọng, Báo Văn nghệ, số tháng 4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khoa Điềm với chủ đề thơ sóng đôi: Đất và khát vọng
[6]. Nguyễn Sỹ Đại (2008), Đọc tập thơ Cõi lặng của Nguyễn Khoa Điềm, Báo Nhân dân, tháng 3/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc tập thơ Cõi lặng của Nguyễn Khoa Điềm
Tác giả: Nguyễn Sỹ Đại
Năm: 2008
[7]. Trần Đăng (2006), Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: “ Bây giờ gió gọi anh đi”, Báo Bình Định, 23/8/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: “ Bây giờ gió gọi anh đi”
Tác giả: Trần Đăng
Năm: 2006
[8]. Nguyễn Khoa Điềm (1972), Đất ngoại ô, Nxb Giải phóng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất ngoại ô
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Giải phóng
Năm: 1972
[9]. Nguyễn Khoa Điềm (1995), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôi nhà có ngọn lửa ấm
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1995
[10]. Nguyễn Khoa Điềm (2007), Cõi lặng, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cõi lặng
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
[11]. Nguyễn Khoa Điềm (1999), “ Đôi nét về cuộc đời và tác phẩm”, Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường, Nxb Giào dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về cuộc đời và tác phẩm”, "Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Giào dục
Năm: 1999
[12]. Nguyễn Khoa Điềm (2005), “ Đầu xuân với nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm” (Trả lời phỏng vấn của Nguyễn Trọng Tạo), Vietnam net, 9/2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu xuân với nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm”" (Trả lời phỏng vấn của Nguyễn Trọng Tạo), "Vietnam net
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Năm: 2005
[13]. Nguyễn Khoa Điềm (1977), “Mặt đường khát vọng”, tuyển tập trường ca, Nxb Quân đội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mặt đường khát vọng”, tuyển tập trường ca
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Quân đội
Năm: 1977
[14]. Nguyễn Khoa Điềm – “Đất Nước”(trả lời phỏng vấn), Tác giả nói về tác phẩm, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Nước”(trả lời phỏng vấn), "Tác giả nói về tác phẩm
Nhà XB: Nxb Trẻ
[15]. Nguyễn Khoa Điềm (1988), “Đôi nét về cuộc đời và tác phẩm”, Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về cuộc đời và tác phẩm”, "Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1988
[16]. Bùi Minh Đức (2007), Dấu ấn văn hoá Huế, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn văn hoá Huế
Tác giả: Bùi Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
[17]. Hà Minh Đức, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
[18]. Đặng Huy Giang (2009), Một nhân cách thơ qua Cõi lặng, HoinhavanVietNam.vn, 13/7/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một nhân cách thơ qua Cõi lặng
Tác giả: Đặng Huy Giang
Năm: 2009
[19]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
[20]. Nguyễn Trọng Hoàn, Ngô Thị Bích Hường (1999), Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn, Ngô Thị Bích Hường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w