Lý do chọn đề tàiNhã nhạc âm nhạc cung đình là loại hình âm nhạc chính thống, đượcxem là quốc nhạc, Nhã nhạc được dùng trong các cuộc tế, lễ của triều đình.Nhã nhạc phát triển qua các tr
Trang 1HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
HỌC VIỆN ÂM NHẠC HUẾ
………
PHẠM XUÂN BẰNG
ĐÀN NHỊ TRONG NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHỆ THUẬT ÂM NHẠC
HUẾ, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Trang 2HỌC VIỆN ÂM NHẠC HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHỆ THUẬT ÂM NHẠC
Người hướng dẫn khoa học:
TS Bùi Thiên Hoàng Quân
HUẾ, 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, Luận vănđảm bảo tính trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trìnhnào ở trong và ngoài nước Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn đãđược các tác giả đồng ý và cho phép sử dụng.
Thừa Thiên Huế, ngày 10 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Phạm Xuân Bằng
Trang 4ÂNQGVN : Âm nhạc Quốc gia Việt NamCLB : Câu lạc bộ
HS – SV : Học sinh – Sinh viên
Nxb : Nhà xuất bản
TK : Thế kỷ
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Lịch sử đề tài 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp của luận văn 5
7 Bố cục của luận văn 5
B PHẦN NỘI DUNG 6
Chương I NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ, MỘT “KIỆT TÁC DI SẢN PHI VẬT THỂ VÀ TRUYỀN KHẨU CỦA NHÂN LOẠI” 6
1.1 Nguồn gốc của Nhã nhạc cung đình Huế 6
1.2 Giá trị của Nhã nhạc cung đình Huế 12
Tiểu kết chương I 15
Chương II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐÀN NHỊ Ở VIỆT NAM 16
2.1 Nguồn gốc xuất xứ của đàn Nhị 16
2.2 Các loại đàn Nhị ở Việt Nam 17
2.2.1 Đàn Nhị 18
2.2.2 Đàn Cò líu 18
2.2.3 Đàn Gáo 18
2.2.4 Đàn Cò Lòn 18
2.3 Cấu tạo đàn Nhị 19
2.3.1 Bầu cộng hưởng 20
2.3.2 Cần đàn 20
2.3.3 Trục đàn 20
Trang 62.3.5 Cung vĩ (Archet) 21
2.3.6 Khuyết đàn 21
2.3.7 Dây đàn 21
2.4 Tầm âm 22
2.5 Kỹ thuật diễn tấu 23
2.5.1 Tư thế đàn 23
2.5.2 Kỹ thuật diễn tấu 23
2.5.2.1 Kỹ thuật tay phải 23
2.5.2.2 Kỹ thuật tay trái 26
Tiểu kết chương II 30
Chương III NGHỆ THUẬT DIỄN TẤU ĐÀN NHỊ TRONG NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ 31
3.1 Vai trò, vị trí 31
3.2 Nghệ thuật diễn tấu của Đàn Nhị 31
3.2.1 Phương thức liên kết về bài bản 31
3.2.1.1 Về nội dung, nghi thức 32
3.2.1.2 Về thang âm, điệu thức 33
3.2.1.3 Về giai điệu 34
3.2.1.4 Về cái kết của mỗi bài 37
3.2.1.5 Về sắc thái, cường độ, tốc độ 38
3.2.2 Nghệ thuật diễn tấu của đàn Nhị đối với các bài Nhã nhạc 38
Tiểu kết chương III 48
Kết luận và kiến nghị 49
Tài liệu tham khảo 53 Phụ lục
Trang 7A PHẦN MỞ ĐẦU
Ngay từ thời kỳ đầu dựng nước, ông cha ta đã chế tác ra những nhạc
cụ, có thể gọi là đầu tiên, để phục vụ cho nhu cầu của các thế lực thống lĩnhlúc bấy giờ Theo các tài liệu khảo cổ học, từ thời kỳ đồ đồng đồ đá, nền vănhoá Đông Sơn đã xuất hiện các loại Trống Đồng và Cồng Chiêng TrốngĐồng là nhạc cụ thiêng liêng, biểu hiện tín ngưỡng thờ thần mặt trời; CồngChiêng thể hiện quyền uy của thủ lĩnh bộ tộc Ngoài ra, người ta còn tìm thấytrên mặt các Trống Đồng có khắc những hình người hoá trang bằng lông chimdài đang thổi Khèn, chơi Sênh, đánh trống mặt da trong các lễ hiến tế Chúng
ta có thể khẳng định rằng đó chính là những nhạc cụ cung đình đầu tiên củacác triều đại Việt nam thời kỳ đó Tuy nhiên, sau thời kỳ này lại có rất ít tưliệu ghi chép về nền âm nhạc cung đình của các triều đại tiếp theo Mãi chođến thời nhà Lý, âm nhạc Chămpa đã ảnh hưởng rất lớn đến âm nhạc cungđình nhà Lý và cũng từ đây xuất hiện nhiều nhạc cụ cung đình Đến thời nhàTrần thì xuất hiện hai dàn nhạc đó là dàn Đại nhạc và dàn Tiểu nhạc Đâycũng chính là cái nôi của nền Nhã nhạc cung đình của các triều đại sau này.Thời nhà Lê, Nhã nhạc là loại hình âm nhạc mang tính chính thống, với quy
mô tổ chức chặt chẽ Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối của triều Lê, âm nhạccung đình dần dần đi vào thời kỳ suy thoái và phai nhạt dần Đến thời nhàNguyễn, với điều kiện xã hội cho phép, âm nhạc cung đình có những pháttriển hưng thịnh Nhã nhạc lúc này có hệ thống bài bản rất phong phú, vớihàng trăm nhạc chương được trình tấu theo những quy luật chặt chẽ qua sựthể hiện của dàn nhạc cung đình có quy mô, biên chế rõ ràng
Trang 81 Lý do chọn đề tài
Nhã nhạc (âm nhạc cung đình) là loại hình âm nhạc chính thống, đượcxem là quốc nhạc, Nhã nhạc được dùng trong các cuộc tế, lễ của triều đình.Nhã nhạc phát triển qua các triều đại quân chủ Việt Nam và trở thành mộttrong những biểu tượng cho vương quyền về sự trường tồn, hưng thịnh củamỗi triều đại Các quy định về quy mô dàn nhạc, cách thức diễn xướng, nộidung bài bản… của Nhã nhạc đều rất chặt chẽ, phản ánh tính quy cũ qua cácđịnh chế thẩm mỹ cao, có khả năng phản ánh tư tưởng, quan niệm, triết lý củachế độ đương thời Nhã nhạc còn được xem như là một phương tiện liên lạc
và bày tỏ sự tôn kính đến các vị thần và các bậc đế vương
Qua nhiều triều đại tồn tại và phát triển, cho đến năm 1945, khi chế độquân chủ nhà Nguyễn chấm dứt thì Nhã nhạc cũng bị rơi vào quên lãng Việcnghiên cứu và bảo tồn một loại hình âm nhạc có giá trị như Nhã nhạc, thiếtnghĩ, đó là một nhiệm vụ quan trọng mà chúng ta cần quan tâm
Nhã nhạc cung đình Huế có những niêm luật, phong cách riêng của nó.Các nhạc cụ trong dàn Nhã nhạc cũng có những quy luật trình tấu khác nhau.Song song với các quy luật là cách thức diễn tấu của các nhạc cụ, sao cho cáihồn, cái hơi thở, sắc màu của Nhã nhạc không thể sai lệch, méo mó Đàn Nhị– một trong những nhạc cụ lâu đời của dân tộc, xuất hiện trong dàn Nhã nhạcnhư một sự hiển nhiên
Là sự kế thừa một cách khoa học nhất khi chúng ta nghiên cứu vai trò,
vị trí và phương thức diễn tấu của đàn Nhị trong dàn Nhã nhạc để truyền dạycho các thế hệ tiếp nối sau này
Trang 92 Lịch sử đề tài
Đã có những công trình nghiên cứu, bài viết, tài liệu, đề cập đến Nhãnhạc cung đình Huế như:
Dương Bích Hà (2009), “Âm nhạc cổ truyền xứ Huế, trong mối quan
hệ bác học và dân gian”, Tạp chí Sông Hương
Nguyễn Đình Sáng (1999), “Khảo sát Nhạc lễ cung đình Huế”, Luận
văn tốt nghiệp Đại học Nghệ thuật Huế
Phan Thuận An – Phan Thuận Thảo (1997), “Thử đi tìm định nghĩa về
Nhã nhạc Việt Nam”, Tham luận Hội thảo Quốc tế về Âm nhạc cung đình
Việt Nam, Huế
Phan Thuận Thảo (2011), “Các loại hình nghệ thuật biểu diễn Cung
đình Huế”, Luận văn tốt nghiệp Đại học Nghệ thuật Huế
Phan Thuận Thảo (2007), “Nhạc chương triều Nguyễn”, Tạp chí Sông
Vĩnh Phúc (2010), “Nhã nhạc Triều Nguyễn”, Nxb Thuận Hóa.
Văn Thị Minh Hương (2003), “GagaKu và Nhã nhạc”, Nxb Thanh Niên.
Vũ Nhật Thăng (2002), “Nhạc cung đình Huế một di sản quý cần được
bảo tồn và phát huy”, Tham luận Hội thảo Quốc tế về Âm nhạc cung đình Huế
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên mang tính chất khái quát,định danh tính, khai thác về nghệ thuật, bài bản và một số nhạc khí trong Nhãnhạc Cung đình Huế Việc nghiên cứu chuyên sâu về vai trò, vị trí cũngphương thức diễn tấu của đàn Nhị trong Nhã nhạc Cung đình Huế chưa được
đề cập đến
Trang 103 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống các bài bản sử dụng trong Nhã nhạc cung đình Huế;
Nghiên cứu các phương thức diễn tấu của đàn Nhị trong dàn nhạc Nhãnhạc, qua đó khẳng định vai trò, vị trí của đàn Nhị trong Nhã nhạc Cung đìnhHuế;
Đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo tính kế thừa và phát triểncây đàn Nhị trong đào tạo và biểu diễn Nhã nhạc cung đình Huế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên:
Các Nghệ nhân hiện đang biểu diễn Nhã nhạc cung đình Huế
Các đồng nghiệp hiện đang giảng dạy, có kinh nghiệm về loại hìnhnghệ thuật này
Các bài bản đàn Nhị – Nhã nhạc cung đình Huế trong chương trình, tàiliệu giảng dạy hay tham khảo hiện đang được lưu hành tại các đơn vị đào tạo,lưu trữ ở thanh phố Huế
Băng đĩa và những tư liệu, tài liệu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về một nền Âm nhạc di sản đã được thế giới công nhận là
“Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại” và tìm hiểu vai trò
và vị trí của đàn Nhị trong Nhã nhạc cung đình Huế là việc tương đối khókhăn do có nhiều nguồn tư liệu khác nhau, do đó, Luận văn chỉ dựa trênnhững tài liệu, bài bản hiện đang được lưu hành tại Học viện Âm nhạc Huếnói riêng và thành phố Huế nói chung
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp thu thập, thống kê và phân tích và tổnghợp từ các tài liệu của các nghệ nhân, các nhà nghiên cứu và những lớp thầy
cô đi trước để hiểu rõ về lịch sử của Nhã nhạc cung đình Huế Nghiên cứucũng dựa trên những tài liệu nghe nhìn được xuất bản và lưu hành hành rộngrãi Nghiên cứu được tiến hành trên quan điểm của ngành Âm nhạc học
Trang 116 Những đóng góp của luận văn
Khẳng định vai trò, vị trí của đàn Nhị trong dàn nhạc Nhã nhạc cungđình Huế
Phân tích các kỹ thuật diễn tấu của đàn Nhị trong Nhã nhạc cung đình HuếThống kê các bài bản sử dụng trong dàn Nhã nhạc
Là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình, cácgiảng viên, HS - SV, các nhạc công trong dàn nhạc Nhã nhạc cùng nhữngngười yêu thích bộ môn đàn Nhị khi trình tấu loại hình nghệ thuật này
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo,luận văn gồm có 3 chương:
Chương I: Nhã nhạc cung đình Huế, một “Kiệt tác Di sản phi vật thể
và truyền khẩu của nhân loại”
Chương II: Quá trình hình thành và phát triển đàn Nhị ở Việt Nam Chương III: Phương thức diễn tấu của đàn Nhị trong dàn nhạc Nhã nhạc cung đình Huế
Trang 12B PHẦN NỘI DUNG
Chương I NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ, MỘT “KIỆT TÁC DI SẢN PHI VẬT
THỂ VÀ TRUYỀN KHẨU CỦA NHÂN LOẠI”
1.1 Nguồn gốc của Nhã nhạc cung đình Huế
Âm nhạc cung đình Việt có nguồn gốc lâu đời trong nền văn hoá, lịch
sử của dân tộc
Sau thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm, vào đầu TK X,Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập với sự thiết lập nhà nước quân chủ, sựhình thành giai cấp quý tộc, từ đó dẫn đến sự hình thành và phát triển mộthình thức sinh hoạt âm nhạc riêng phục vụ cho lễ nghi của triều đình và nhucầu sinh hoạt của tầng lớp quý tộc
Từ thời nhà Lý (1010- 1225), triều đình đã cho thành lập một tổchức ca múa nhạc cung đình với quy mô lên đến hơn 100 người Được xâydựng trên cơ sở truyền thống văn hóa văn nghệ dân gian lâu đời của ngườiViệt cổ, sinh hoạt ca múa nhạc trong cung đình thời Lý và sau đó là thời Trần(1225 - 1400) đã trở nên khá phong phú về các loại hình và bài bản
Lúc này, cuộc sống giữa quý tộc và dân thường vẫn khá gần gũinên các hình thức ca múa nhạc trong cung đình vẫn còn bám rễ và giữ mốiquan hệ khăng khít với dòng âm nhạc dân gian Mặt khác, các tài liệu lịch sử
và khảo cổ cho thấy âm nhạc cung đình Việt Nam thời kỳ này đã chịu một sốảnh hưởng nhất định của hai nền văn hóa lân cận là Trung Hoa và ChiêmThành Càng về sau, sự phân hoá giai cấp trong xã hội càng trở nên rõ rệt,mức độ chính quy hóa về mặt tổ chức trong cung đình Việt Nam ngày càngcao, dẫn đến sự phân biệt rõ nét hơn trong việc sử dụng các loại dàn nhạctrong cung đình và ngoài dân gian
Dưới thời nhà Trần, cùng với sự xuất hiện của Đại nhạc và Tiểunhạc Triều đình quy định rõ Đại nhạc chỉ dành riêng cho vua, còn hoàng gia
và các quan lớn khi nào có tế lễ lớn mới được sử dụng; Với Tiểu nhạc thì kẻtrên người dưới đều dùng được
Trang 13Bước sang TK XV, âm nhạc cung đình Việt có những bướcchuyển biến đáng kể Thời đại nhà Hồ (1400 - 1407) dù tồn tại trong thời gianrất ngắn nhưng cũng đã tiến hành nhiều cuộc cải cách về kinh tế, văn hóa, xãhội Đối với âm nhạc cung đình, nhà Hồ đã chính thức cho du nhập Nhã nhạccùng một số nguyên tắc của nó từ Trung Hoa Nhã nhạc thời kỳ này có sử dụngmúa văn và múa võ Đây được coi là một trong những nguyên tắc của Nhãnhạc
Đến thời nhà Lê (1427 - 1788), Nhã nhạc hoàn thiện với tư cách
là một điển chế Thời kỳ này, Nhã nhạc được phát triển như là loại nhạc chínhthống, một thứ tài sản riêng của triều đình, đối lập với nó là Tục nhạc, tức làdòng âm nhạc dân gian Như vậy, trong thời kỳ này, âm nhạc cung đình Việt
đã hình thành một dòng âm nhạc chính thống là quốc nhạc song song vớidòng âm nhạc dân gian cùng tồn tại và phát triển
Về quy mô tổ chức, âm nhạc cung đình Việt dưới thời nhà Lê đãtrở nên hoàn thiện và chặt chẽ Các tổ chức âm nhạc được thành lập, đặt dưới
sự cai quản của các Nhạc quan Thời kỳ này, triều đình định ra các loại nhạcnhư sau: Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Cứu nhật nguyệt giao trùngnhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Đại yến nhạc, Cung trung nhạcphỏng theo nguyên tắc Nhã nhạc nhà Minh của Trung Hoa Triều đình nhà Lêcho thành lập 2 tổ chức dàn nhạc là Đường thượng chi nhạc và Đường hạ chinhạc
Tuy nhiên, sang TK XVI, XVII và đặc biệt vào giai đoạn cuốitriều Lê, âm nhạc cung đình dần dần đi vào suy thoái Biên chế các dàn nhạc
bị thu hẹp, Nhã nhạc và Tục nhạc không còn phân biệt rõ rệt như trước nữa,thậm chí một số dàn nhạc dân gian còn được đưa vào chơi trong cung đình
Khi triều đại nhà Nguyễn (1802-1945) lên kế vị, tình hình trên được cảithiện Vào nửa đầu TK XIX, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn định đã tạođiều kiện cho văn hoá nghệ thuật phát triển, đặc biệt dưới triều vua Minh Mạng(1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1848-1883) Âm nhạc cungđình được nhà vua coi trọng và giao cho Bộ Lễ tổ chức nhiều loại âm nhạc cung
Trang 14đình Bấy giờ triều đình quy định 7 thể loại âm nhạc: Giao nhạc, Miếu nhạc,Ngũ tự nhạc, Đại Triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung trung nhạc.
Sử dụng các loại nhạc này là do các quan trong bộ Lễ biên soạn,
có nội dung phù hợp với từng cuộc lễ của triều đình Chẳng hạn, trong lễ Tếgiao, có 9 nhạc chương mang chữ Thành (nghĩa là: nên việc, thành công,thành tựu) bao gồm: An thành chi chương (khúc hát cầu mong mọi sự đượcyên ổn và thành công), được diễn tấu trong lễ rước thần về; Triệu thành chichương (khúc hát cầu mong sự khởi đầu tốt đẹp), được diễn tấu trong lễ dângngọc lụa; Đăng thành chi chương (khúc hát cầu mong sự dâng hiến thànhcông), được diễn tấu trong lễ dâng vật tế (mâm thịt tế); Mỹ thành chi trương(khúc hát cầu mong điềm lành), được diễn tấu trong á hiến lễ (tuần rượu thứhai); Vĩnh thành chi chương (khúc hát cầu mong sự thành công lâu dài), đượcdiễn tấu trong chung hiến lễ (tuần rượu thứ ba); Doãn thành chi chương (khúchát cầu mong sự bằng lòng của thần), được diễn tấu trong tấu khi hạ cỗ; Hythành chi chương (Khúa hát cầu mong thần phù hộ, giúp đỡ), được diễn tấutrong tấu khi tiễn thần đi; Hựu thành chi chương (khúc hát cầu mong thần phù
hộ, giúp đỡ), được diễn tấu trong khi đốt đồ cúng; Khánh thành chi chương(khúc hát bày tỏ niềm vui mừng sau sự thành công của cuộc tế lễ), được diễntấu trong khi vua về cung Các nhạc chương được hát lên với sự phụ hoạ củadàn nhạc, cùng sự tham gia của múa Bát dật (gồm 64 văn sinh và 64 võ sinh),tạo nên một khung cảnh hoành tráng, trang trọng
Tương tự, trong lễ tế Xã tắc có 7 nhạc chương mang chữ Hoà (nghĩa là
sự hài hoà); Tế Lịch đại đế vương có 6 nhạc chương mang chữ Huy (nghĩa là
sự tốt lành); Tế văn miếu có 6 nhạc chương mang chữ Văn (nghĩa là có họcvấn); Lễ Đại triều dùng 5 bài mang chữ Bình (nghĩa là sự hòa bình); Lễ vạnthọ dùng 7 bài mang chữ Thọ (nghĩa là sống lâu); Lễ Đại Yến dùng 5 bàimang chữ Phúc (nghĩa là may mắn)…
Trang 15Bên cạnh số lượng phong phú các nhạc chương, có thể nói đâycòn là thời điểm nở rộ của các dàn nhạc cung đình So với các thời đại trước,triều đình Nguyễn đã cho bổ sung thêm nhiều loại dàn nhạc như Đại nhạc, Tiểunhạc (hay Nhã nhạc), Huyền nhạc, Ti Trúc Tế nhạc, Ty chung, Ty Khánh, Ty
Cổ Biên chế các dàn nhạc cũng được mở rộng hơn trước, một số quy mô rấtlớn
Cụ thể các dàn nhạc thời kỳ này có biên chế như sau (Theo Nộicác triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội diễn Sư lệ giữa TK XIX):
Đại nhạc gồm 42 nhạc cụ: 20 Trống, 8 Minh già, 4 Câu giốc (Tù
và bằng sừng trâu), 4 Sa la, 4 Tiểu sa, 2 Hải loa (Tù và bằng ốc biển)
Tiểu nhạc gồm 8 nhạc cụ: 1 Trống bản, 1 Tỳ bà, 1 đàn Nguyệt, 1đàn Nhị, 2 Địch, 1 Tam âm, 1 Phách tiền
Huyền nhạc gồm 26 nhạc cụ: 1 Kiến cổ, 1 Bác chung, 1 Đặckhánh, 1 bộ Biên chung, 1 bộ Biên khánh, 1 Bác phụ, 1 Chúc, 1 Trống, 2 đànCầm, 2 đàn Sắt, 2 Bài tiêu, 2 Tiêu, 2 Địch, 2 Sinh, 2 Huân, 2 Trì, 2 Pháchbản
Ti trúc tế nhạc gồm 8 ca sinh và 8 nhạc công Ty chung - Tykhánh gồm 6 nhạc công chơi các nhạc cụ: Bác chung, Đặc khánh, Biênchung, Biên khánh Ty cổ gồm 7 nhạc công
Trước khi trở thành kinh đô của Việt, Huế đã từng là Thủ phủcủa Đàng Trong (còn gọi là Nam Hà là tên gọi vùng lãnh thổ Đại Việt kiểmsoát bởi nhà Nguyễn, xác định từ phía Nam sông Gianh - tỉnh Quảng Bình trởvào Nam) trong suốt hơn 200 năm Lúc bấy giờ, văn hóa Huế vừa kế thừa vănhóa Thăng Long, tiếp thu văn hoá miền Trung và bên ngoài để sáng tạo nênmột nền văn hóa - văn hóa Phú Xuân
Trong giai đoạn này, giai cấp quý tộc đã manh nha hình thành,dẫn đến sự xuất hiện của một số hình thức ca múa nhạc trong các dinh phủ đểphục vụ cho nhu cầu giải trí của giới quý tộc Nhiều điệu múa cung đình hiện
Trang 16còn như Nữ tướng xuất quân, Đấu chiến thắng Phật, Tam Quốc - Tây Du…
đã xuất hiện ngay từ thời này Nghệ thuật Tuồng cũng được giới quý tộc hếtsức ưa chuộng, trong các dinh phủ đã cho thành lập những đội diễn gồmnhững diễn viên Tuồng chuyên nghiệp
Trang 17Việc chính quy hoá, chuyên nghiệp hóa ngày càng cao này đã tạođiều kiện thuận lợi cho việc thành lập hình thức âm nhạc cung đình Huế vàođầu thế kỷ XIX, khi Huế trở thành kinh đô của toàn bộ lãnh thổ Việt Namdưới thời nhà Nguyễn.
Âm nhạc cung đình Việt bắt nguồn từ âm nhạc dân gian, chọnlọc, tinh chế và nâng cao cho phù hợp với lối sống và lễ nghi của cung đình
Có thể nói âm nhạc cung đình mang âm hưởng của âm nhạc dân gian ViệtNam Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển, âm nhạc cung đình Việt Nam
có tiếp thu ảnh hưởng của âm nhạc cung đình Trung Hoa (ví dụ như quanniệm về vũ trụ và nhân sinh liên quan đến âm dương ngũ hành ) và nền âmnhạc ChămPa Đây cũng chính là nét tương đồng chung của văn hoá phươngĐông
Nhã nhạc mang bản sắc văn hoá đậm nét, mang âm điệu đặc trưng, thểhiện phong cách, tâm hồn, bản sắc Việt nói chung và Huế nói riêng Nhã nhạc
là một trong những đại diện của văn hoá cung đình Huế Về mặt âm nhạc học,Nhã nhạc có mối liên hệ gần gũi với âm nhạc dân gian Huế, như việc cùng ápdụng một số loại hơi nhạc đặc trưng như hơi Khách, hơi Thiền
Trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, hơi nhạc được cấu thành bởi yếu
tố thang âm và các hình thức trang điểm chữ nhạc phù hợp với ngữ điệu giọngnói của từng địa phương Với việc áp dụng các loại hơi nhạc của Huế, Nhãnhạc thể hiện rõ bản sắc văn hóa Huế, đặc biệt là văn hóa cung đình Tính ưuviệt của Nhã nhạc còn được thể hiện ở chỗ nó đã gây ảnh hưởng không nhỏđến nhiều loại hình âm nhạc khác trong vùng như Ca Huế, nhạc Tuồng, nhạcMúa cung đình Tiếp đến, vượt ra khỏi vùng đất khai sinh ra nó, Nhã nhạc đãlan toả vào miền Nam để khai sinh ra những hình thức nghệ thuật biểu diễnmới, đó là loại hình Đờn ca Tài tử (một loại nhạc thính phòng) và hình thức sânkhấu Cải lương vốn rất phổ biến trên toàn quốc trong mấy thập kỷ qua
Trang 18Nhã nhạc có các chức năng văn hoá, xã hội, biểu tượng sấu sắc.Đây là một loại hình âm nhạc bác học, phản ánh nhận thức, thẩm mỹ nghệthuật của giai cấp quý tộc xã hội phong kiến, một thành phần đóng vai trò chủđạo trong xã hội Việt Nam suốt hơn 9 thế kỷ (TK X đến TK XIX) Bên cạnh
đó, nhã nhạc còn là một thành tố của các cuộc tế lễ, lễ cung đình như Tế Giao,
Tế Miếu, Lễ Đại triều, Thường triều; là phương tiện văn hoá giúp con ngườigiao tiếp với thế giới thần linh; là một biểu tượng của vương triều, của sự bìnhyên cho cả quốc gia Nhã nhạc được coi là một kiệt tác sáng tạo Trong khicác thể loại âm nhạc khác ở Việt Nam đều là sáng tạo của địa phương thì Nhãnhạc là loại hình duy nhất mang tính chất quốc gia
Nhã nhạc từng là quốc nhạc của triều đình quân chủ, được sự quan tâm,chăm sóc đặc biệt của triều đình nên nó mang những giá trị nổi bật về mặtlịch sử và nghệ thuật Với chức năng phục vụ các nghi lễ của triều đình và làphương tiện giao tiếp với thế giới thần linh, Nhã nhạc mang tính triết lý cao
Nó thể hiện những quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của người Việt Nam nóiriêng và phương Đông nói chung, chẳng hạn quan niệm về một thế giới siêuhình, ở đó Trời Đất, các thần linh và tổ tiên ngự trị; trong văn hoá của ngườiViệt cổ; tư tưởng Tôn quân…
Những quan niệm trên được biểu lộ rất rõ trong kết cấu các biênchế dàn nhạc, trong các động tác múa cũng như trong nội dung các bài bản
âm nhạc Là loại hình âm nhạc nghi lễ, Nhã nhạc có tính trang trọng, hoànhtráng, phù hợp với các cuộc lễ long trọng của triều đình
Các dàn nhạc và nhạc cụ của Nhã nhạc đa dạng và quy mô lớn, chẳnghạn Huyền nhạc có 26 nhạc công, Đại nhạc có đến 42 nhạc công… Các nhạckhí sử dụng có âm sắc đa dạng, phong phú với đầy đủ tiếng kim, tiếng thổ,tiếng tơ, tiếng trúc, tiếng da tạo nên những âm thanh trầm bổng, trong đụckhác nhau Vì vậy khi hòa tấu, mỗi nhạc cụ của dàn nhạc đều nghe được rõràng mà không nhạc cụ nào lấn át nhạc cụ nào Nhã nhạc Việt Nam có các hệ
Trang 19thống hơi nhạc phong phú như hơi Khách (Bắc), hơi Dựng, hơi Thiền… nó cókhả năng diễn đạt tốt các sắc thái âm nhạc khác nhau.
Kể từ khi triều đình Nguyễn rơi vào tình trạng suy thoái trước nạnngoại xâm cuối thế kỷ XIX, âm nhạc cung đình cùng các sinh hoạt văn hoátruyền thống khác của triều đình cũng dần dần phôi pha
Cuối thời Nguyễn, triều đình chỉ còn duy trì 2 loại dàn nhạc là Đại nhạc
và Tiểu nhạc với các nhạc cụ như sau:
Đại nhạc gồm: Trống, Kèn, Mõ, Bồng, Xập xoãTiểu nhạc gồm: Trống bản, đàn Tỳ bà, Đàn Nhị, đàn Tam, Địch,Tam âm, Sáo, Phách tiền
Bên cạnh đó, với sự ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của văn hoáphương Tây, đặc biệt là văn hoá Pháp, triều đình cho du nhập dàn Quân nhạccủa phương Tây Đến khi chế độ quân chủ Việt Nam chấm dứt vào năm 1945,
âm nhạc cung đình Huế mất vị trí chức năng xã hội, môi trường diễn xướngnguyên thuỷ đi vào suy thoái có nguy cơ thất truyền
1.2 Giá trị của Nhã nhạc cung đình Huế
Tại Việt Nam, âm nhạc dân gian phát triển khá phong phú ở cả bamiền Nền âm nhạc dân gian ấy gắn liền với đời sống con người từ lúc sơ sinhđến khi trưởng thành và lúc lìa xa cõi trần Con người ngay từ khi mới đượcsinh ra cho đến khi trở về với cát bụi luôn gắn liền với những bài đồng dao,hát ru, hò, lý, Ca trù, ca Huế, Bài chòi, Đờn ca tài tử… Tuy nhiên, theo GS
Trần Văn Khê: “… Nhạc cung đình chỉ có ở miền Trung và đặc biệt tại Huế
mới còn có di tích của bộ môn âm nhạc độc đáo, tinh vi mà chúng ta đến ngày nay chưa nhận thấy được hết cái giá trị của bộ môn đó”.
Theo ông thì Nhã nhạc cung đình Huế còn có giá trị rất độc đáo
ở chỗ:
“…Sắp xếp dàn nhạc tinh vi, nhạc ngữ độc đáo, bài bản phong phú và quan điểm thẩm mỹ rất sâu sắc”
Trang 20Trong dàn Nhã nhạc ta có thể nghe tiếng chững chạc trangnghiêm của đàn Nguyệt, tiếng chuyền tiếng rơi vào nhịp nhịp ngoại, tiếngchầy, tiếng phi bay bướm của tỳ bà, tiếng trong nhờ nhạc công đàn Nhị dùngtay mặt kéo cung, tay trái vuốt ve “nên lời dịu ngọt”, tiếng đục của đàn Tamđem tiếng thổ chen vào tiếng kim của Tam âm la, với tiếng nỉ non vi vút “nhưtiếng hạc bay qua” của ống sáo, tất cả nhạc khí ấy cùng theo nhịp do tiếngtrống bảng dìu dắt, tiếng trống khi khoan khi nhặt, khi đánh nhịp chánh diệnkhi vào nội phách khi ra ngoại phách, toàn bộ dàn Nhã nhạc, liên tục trong 10bài Ngự, từ nhịp điệu khoan thai của mấy bản Phấm Tuyết, Nguyên Tiêu lúc
mở đầu, lần lần dồn dập qua các bài Hồ Quảng, Liên Hoàn, Bình Bán, TâyMai, Kim Tiền, rộn rã từ Xuân Phong, Long Hổ đi đến náo nhiệt qua cấp điệunhư tiếng vó ngựa trong bài Tẩu Mã
Từ hơn 90 năm trước – năm 1918, khi chứng kiến lễ Tế Giao diễn ratrong hai ngày 12 và 13 tháng 2 âm lịch, nhà báo Phạm Quỳnh trong bút ký
“Mười ngày ở Huế” đã ghi lại cảm xúc của mình:
“Ngoài sân phường ca hát ca khúc An thành, vừa múa, vừa hát Đương đêm hơn một trăm con người đồng thanh hát ca, nghe rất cảm động, tưởng thấu đến tận trời cao đất thẳm, cái tấm lòng thành của cả một dân tộc, một nước”; rồi: “Cảnh giao đàn ban đêm như cảnh trong mộng, đèn thắp sáng trong Đàn thành từng dãy dọc, dãy ngang, trông xa như một chữ Triện lớn viết bằng những nét chấm sáng mà treo lưng chừng trời Tiếng đàn, tiếng sáo thì như nước chảy, suối reo, tiếng hát như tiếng thiên thần…”
(http://www.huefestival.com/?cat_id=459&id=307)
Với những giá trị về nhiều mặt và rất đặc trưng của loại hình nhãnhạc của Việt Nam, ngày 7.11.2003 tại Paris, ông Koichiro Matsura – Tổng
Giám đốc UNESCO tuyên bố: “Nhã nhạc cung đình Huế (cùng với 27 kiệt
tác của các quốc gia khác) được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại”.
Trang 21Tuy Nhã nhạc được hiểu là đồng nghĩa với nhạc lễ cung đình và
nó bao hàm tất cả các tổ chức dàn nhạc lễ nhưng Nhã nhạc hiện nay tồn tạidưới hai tổ chức dàn nhạc cơ bản là Đại nhạc và Tiểu nhạc Trong đó, Đạinhạc được xem là dàn nhạc quan trọng nhất trong hệ thống nhạc lễ cung đình.Nếu Đại nhạc là hoạt động âm nhạc rất trang trọng thì các bài bản âm nhạccủa hệ thống Tiểu nhạc lại mang màu sắc trang nhã, vui nhộn và tương đối ổnđịnh; thường được diễn ra trong những buổi yến tiệc của vua và hoàng gia,trong dịp tết và trong các dịp tiếp quốc khách Chất liệu âm nhạc của Tiểunhạc khá ổn định và dễ đi vào lòng người bởi nó không quá trang nghiêmhoặc quá sầu bi như Đại nhạc
Dàn Nhã nhạc hiện nay có biên chế như sau:
Đại nhạc gồm: Trống, Kèn, Mõ, Bồng, Xập xoã
Tiểu nhạc gồm: Trống bản, đàn Tỳ bà, đàn Nhị, đàn Nguyệt, đànTam, Sáo, Tam âm, Phách tiền, Phách một
Trang 22du nhập Nhã nhạc của Trung Hoa vào nước ta Nhã nhạc hoàn chỉnh dưới thờinhà Lê và phát triển mạnh vào thời nhà Nguyễn với nhiều loại dàn nhạc được
bổ sung như Đại nhạc, Tiểu nhạc (hay Nhã nhạc), Huyền nhạc… Biên chế cácdàn nhạc cũng được mở rộng hơn trước, một số có quy mô rất lớn Bên cạnh
đó, Nhã nhạc còn là một thành tố quan trong các cuộc tế lễ cung đình như TếGiao, Tế Miếu… đến cuối triều Nguyễn thì chỉ còn Đại nhạc và Tiểu nhạc.Trong khi các thể loại âm nhạc khác ở Việt Nam đều là sáng tạo của địaphương thì Nhã nhạc là loại hình duy nhất mang tính chất quốc gia
Nhã nhạc cung đình Huế có giá trị nhạc văn vô cùng to lớn,không chỉ với Việt Nam mà còn của cả thế giới Ngày 7/11/2003, Nhã nhạc -Nhạc Cung đình Việt Nam đã được UNESCO công nhận là “Kiệt tác phi vậtthể và truyền khẩu của nhân loại” Từ đây công tác bảo tồn và phát triển làmột thách thức lớn đối với mọi người dân Việt Từ chính phủ hay nhữngngười được giao trọng trách quản lý đến những nhà nghiên cứu, lý luận, phêbình, những nhạc sĩ, nhạc công cùng những người quan tâm đều phải ý thứcđược nhiệm vụ giữ gìn tài sản quý giá của dân tộc cho các thế hệ mai sau
Bằng tất cả những gì còn lại ở Huế chắc chắn sẽ tiếp tục được giữ gìn
và bảo tồn một cách hiệu quả, góp phần cùng với các loại hình di sản văn hóa
và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam khẳng định vị thế của một dân tộc, mộtquốc gia trong khu vực và thế giới
Trang 23Chương II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
ĐÀN NHỊ Ở VIỆT NAM
2.1 Nguồn gốc xuất xứ của đàn Nhị
Theo nhiều nhà nghiên cứu, nguồn gốc của cây đàn Nhị là xuất xứ từđất nước Mông Cổ xa xôi, do sinh sống trên vùng thảo nguyên, kết bạn cùngcon ngựa và sinh sống dưới mái lều du mục, người dân nơi đây đã phát kiến
ra cây đàn Mã đầu Cầm có chiếc hộp đàn được làm từ xương sọ ngựa và cóhai dây, cung kéo làm bằng lông đuôi ngựa, truyền bá tới Trung Hoa trở thànhcây đàn Nhị và nó giữ nguyên tên khi vào tới Việt Nam
Ở một số nước châu Á cũng có đàn dây kéo tương tự với đàn nhị như
Trung Quốc có Erhu (Nhị hồ) hay Huqin (Hồ cầm), Thái Lan có Soduang, Sawsam Sai và Sou, ở Lào có So-i và So-u, ở Campuchia có Trochey và Tro-
u, ở Indonesia và Malaysiacó Rebab, nguyên là Ðàn Cò cổ xưa đến từ Europe
ở TK XII
Qua nghiên cứu người ta phát hiện ra những đoạn dây đồng mảnh, nhỏđào được ở một số địa điểm khảo cổ thuộc thời kỳ này và hình ảnh còn để lạitrên mặt trống đồng Ngọc Lũ có thể gợi ra cho chúng ta sự liên tưởng tới việc
sử dụng của cư dân thời đó một loại đàn dây có hộp cộng hưởng và có cần,phải chăng đây là nguồn gốc cho chúng ta thấy sự ra đời và phát triển sớmcủa các loại nhạc khí dây ở Việt Nam trong buổi đầu dựng nước (Nguyễn
Thụy Loan, (1993), “Lược Sử Âm Nhạc Việt Nam”, Nxb Âm nhạc, Nhạc viện
Hà Nội)
Theo Thạc sĩ Võ Thanh Tùng thì: “Trên những bệ đá kê chân một số
cột ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh), người ta phát hiện ra nhiều dấu tích của một dàn nhạc Phật giáo và đây cũng là một dàn nhạc cung đình của triều đại sùng Phật thời đó, đồng thời với những đường diễu trên những bệ đá sẽ cho
Trang 24phép ta khẳng định là ít ra từ TK thứ X, ở Việt Nam đã có đàn Hồ là một loại nhạc khí thuộc bộ Dây có cung vĩ” (Võ Thanh Tùng (2001), “Nhạc khí dân tộc Việt”, Nxb Âm nhạc).
Cùng nhận định trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thụy Loan cho rằngcây đàn Hồ trên bệ đá chùa Phật tích có nguồn gốc từ các nước Trung Á phải
chăng đã bị biến dạng qua Trung Hoa trước khi vào Việt Nam (“Suy nghĩ về
sức sống Việt Nam qua những chặng đường sử nhạc”, Tạp chí nghiên cứu Nghệ thuật, số 1-1979)
Trong quyển “Âm nhạc Việt nam truyền thống và hiện đại”, Phó
Giáo sư Tô Vũ cho rằng Nhị là tên gọi tắt của nhị huyền (hai dây), đây là âmHán – Việt của t’i hsien k’in (Nhị huyền cầm) Trung Quốc Cách gọi như vậy
có thể gợi ý đến chỗ xuất xứ của đàn Nhị đã tới Việt Nam Những cây nhịhuyền cầm Trung Quốc lại còn được gọi là “Nhị Hồ” và một dạng khác của
nó được gọi là Hồ cầm Điều này củng cố giả thiết của một số nhà nghiên cứuphương Tây cho rằng cây đàn này là của “rợ” Hồ phương Bắc đã du nhậpTrung Quốc từ thời xa xưa
Ngoài tên gọi phổ thông là đàn Nhị vì đàn có hai dây (“=” theo tiếngHán Việt), nhạc khí này còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Người
Mường gọi là “Cò ke” (tên gọi này có thể khi diễn tấu cung vĩ kéo qua kéo lại như Cò cưa; Người Nam Bộ gọi là “Đờn Cò” (vì ở đầu cần đàn có hình như
cổ và mỏ của con Cò) (Giáo sư Tô Vũ (2002), “Âm nhạc Việt Nam truyền
thống và hiện đại”, Viện âm nhạc).
2.2 Các loại đàn Nhị ở Việt Nam
Chẳng những có nhiều cách gọi tên cho loại nhạc khí này, về hìnhdáng, kích cỡ và nguyên liệu làm đàn Nhị cũng khác đôi chút tùy theo tộcngười sử dụng nó Chính vì thế khả năng diễn tấu của loại nhạc khí dây kéo(cung vĩ) này rất đa dạng
Trang 252.2.1 Đàn Nhị
Như đã trình bày ở trên, đàn Nhị là loại nhạc khí dây kéo, có 2 dây, khi
du nhập vào Việt Nam đã trở thành đàn một nhạc khí rất quan trọng trongbiên chế dàn nhạc dân tộc Việt Nam Âm sắc của đàn Nhị trong sáng, mềmmại nhưng không kém phần chắc chắn, diễn tả được nhiều trạng thái tình cảmcủa con người, được dùng phổ biến trong nhiều dàn nhạc của âm nhạc truyềnthống Việt Nam như phường bát âm, dàn Nhã nhạc, hát Chầu văn… trong cácdàn nhạc ca kịch như hát Bội, Chèo, Cải lương và các loại ca kịch dân cakhác (Xem phụ lục I, mục 2.2)
2.2.2 Đàn Cò líu
Là loại nhạc khí có kích thước nhỏ hơn đàn Nhị, Cò Líu tầm âm caonhất trong bộ dây kéo nên có tên là Líu (cao hơn 1 quãng 8) Ngoài ra nó cònđược gọi là Cò Chỉ Đàn Cò Líu có âm thanh trong trẻo, chói sáng, đôi khi sắcnhọn do trình tấu ở âm khu cao, thường dùng rộng rãi ở Nam Bộ, trong dànhát Bội (Xem phụ lục I, mục 2.2)
2.2.3 Đàn Gáo
To và dài hơn đàn Nhị, bầu công hưởng được làm bằng gáo dừa nênđược gọi là đàn Gáo và có âm sắc giống đàn Hồ của Trung Quốc
Theo Giáo sư Tô Vũ: “Gáo và Cò là sáng tạo ngôn ngữ có tính cách
dân gian ở Nam Bộ, để chỉ đàn Nhị và đàn Hồ ở miền Bắc và miền Trung Đây là một loại nhạc khí được cải biên từ loại Nhị Hồ của Trung Quốc, sau khi du nhập vào Việt Nam và đã trở thành loại nhạc khí của Việt Nam”
Đàn Gáo có âm thanh ấm, hơi trầm và rất phù hợp khi diễn tả tình cảmsâu lắng, thường dùng trong ban nhạc hòa tấu của dân tộc Khme, nhạc cổNam Bộ, nhạc thính phòng (Xem phụ lục I, mục 2.2)
2.2.4 Đàn Cò Lòn
(Còn gọi là cò Luồn) giống như đàn Nhị nhưng có kích thước lớn hơn
và âm thanh trầm hơn Do có âm vực trung, giữa cò Líu và đàn Gáo nên khi
Trang 26diễn tấu, người nghe có cảm giác âm thanh “Lòn" giữa 2 nhạc cụ “Líu” và
“Gáo” Cò Lòn có âm sắc hơi mờ đục nhưng đầy đặn, thường dùng trong hátChèo và hát Bội
Khả năng diễn tấu của đàn Nhị hết sức phong phú do có âm vực rộnghai quãng tám, tầm âm của đàn Nhị được chia như sau:
Khoảng âm thấp và khoảng âm giữa: Đàn Nhị phát ra âm thanh đẹp,mềm mại, rõ ràng và đều đặn
Khoảng âm cao và siêu cao: Đàn Nhị phát ra âm thanh trong sáng, ởnhững nốt nhạc quá cao tiếng đàn sẽ đanh, gay gắt Người ta chỉ sử dụngkhoảng âm siêu cao ấy để phô diễn kỹ thuật cá nhân trong những sáng tác mới
(Võ Thanh Tùng (2001), “Nhạc khí dân tộc Việt”, Nxb Âm nhạc) (Xem phụ
lục I, mục 2.2)
2.3 Cấu tạo đàn Nhị
Tuy có nhiều loại đàn Nhị nói chung, nhưng xét về cấu tạo chúng đều
có những phần chính giống nhau, do đó, chúng tôi căn cứ trên loại đàn Nhịthông dụng hiện đang được sử dụng trong các đơn vị đào tạo hay biểu diễnnghệ thuật để phân tích về cấu tạo của chúng
Trang 272.3.1 Bầu cộng hưởng
Là một ống hình tròn, dài khoảng 12,7cm có hai đầu, một đầu thườngđược bịt bằng da Trăn, hoặc da Kỳ đà, đầu này có đường kính khoảng 4,1cm.Trước đây, các nghệ nhân thường gắn đổ nhựa thông lên phần trên ở đầu này
để tạo sự cọ xát giữa cung vĩ và nhựa thông, giúp cung vĩ lúc nào cũng đầy đủchất dính, khi ma xát với dây đàn sẽ tạo thành âm thanh Ngày nay, người takhông làm theo cách này nữa mà dùng nhựa thông rời, trước khi đàn, nhạc sĩchỉ cần ma xát nhựa thông lên cung vĩ vài lần là được
Đầu còn lại có hình dáng loe như hình hoa rau muống, đườngkính khoảng ngoài cùng khoảng 3,6cm và vòng trong bầu cộng hưởng khoảng3,3cm Chỗ uốn cong của bầu cộng hưởng có chu vi khoảng 11,7cm Với cấutạo bầu cộng hưởng của đàn Nhị trong Nhã nhạc Cung đình Huế nhỏ hơn sovới các loại nhị khác nên âm thanh của đàn Nhị trong trẻo, chói sáng hơn
2.3.2 Cần đàn
Được làm bằng gỗ cứng, tiết diện hình tròn có kích thước khoảng1,5cm x 1,5cm, chiều dài khoảng 70cm Phần đầu cần đàn được được cáchđiệu Phía trên có khoét hai lỗ để gắn trục đàn; Phía dưới cần đàn cắm xuyênqua bầu cộng hưởng khoảng 1cm để tiện cho việc mắc dây đàn
2.3.3 Trục đàn
Dùng để lên dây đàn, có chiều dài khoảng 12,5cm, làm bằng gỗ cứng,hình tròn Trục đàn đều được cắm xuyên qua cần đàn bằng 2 lỗ khoét sẵn trêncần đàn Đầu nhỏ của mỗi trục đàn có khoét lỗ nhỏ để xâu dây đàn
2.3.4 Ngựa đàn
Được làm bằng tre hoặc gỗ dài khoảng 2cm, cao khoảng 0,8cm, dàykhoảng 0,5cm Ngựa đàn được đặt vào khoảng giữa mặt da của Bầu cộnghưởng Phần trên của ngựa đàn có khoét hai rãnh để cố định vị trí của dâyđàn, khoảng cách của hai rãnh thường khoảng 0,5cm
Trang 282.3.5 Cung vĩ (Archet)
Cung vĩ gồm một thanh tre hoặc gỗ mềm được gọt mảnh, dài, uốn hơicong ở hai đầu như cây cung và nhiều sợi dây tơ, dây cước hay đuôi ngựa;Các sợi dây tơ (dây kéo) được mắc căng từ hai đầu của thanh tre Cung có độdài khoảng 78cm; Dây tơ được mắc giữa hai dây đàn Khi đàn, các nhạc công
sẽ cọ xát dây tơ vào dây đàn và kéo, đẩy để phát ra âm thanh Là dụng cụ đểphát ra âm thanh nên tiếng đàn có ngọt ngào hay sâu lắng, êm ái hay chắckhỏe là tùy thuộc vào trình độ của người sử dụng nó Nói cách khác, việc sửdụng cung vĩ thể hiện trình độ điêu luyện của nhạc công Trong Nhã nhạccung đình Huế, thủ pháp cung vĩ kéo vào, đẩy ra của các nghệ nhân khôngđược xem là quan trọng vì họ quan niệm mục đích của cung vĩ chỉ là tạo ra
âm thanh mà thôi
2.3.6 Khuyết đàn
Khuyết đàn có tác dụng điều chỉnh cao độ của đàn Khuyết đàn cònđược gọi là cữ đàn, là một sợi tơ dùng để quấn hai dây đàn vào sát gần cầnđàn ở đoạn phía dưới các trục đàn Dây tơ mềm, quấn nhẹ vừa phải nên rấtlinh động trong việc di chuyển lên xuống dọc cần đàn Chính nhờ khuyết đàn
mà ta thấy các nhạc công Nhã nhạc trước khi trình tầu, họ thường chỉ lên dâychuẩn lần đầu bằng trục, còn trong quá trình diễn tấu, nếu cao độ của đàn bịlệch trong phạm vi nhỏ, nhạc công sẽ dùng khuyết đàn để điều chỉnh
Trang 292.4 Tầm âm
Âm thanh (màu âm - âm sắc) đàn Nhị khá đẹp, rất gần với giọng người.Màu âm của đàn Nhị vừa trong trẻo, rõ ràng, đôi khi sắc nhọn ở âm khu cao,lại vừa mềm mại, mượt mà, đầy đặn ở các âm khu thấp
Tầm âm, khoảng âm: Đàn Nhị có tầm âm rộng hơn hai quãng 8 (từ C1
đến F3), nhưng các nhạc công thường diễn tấu trong hai quãng tám tính từ âmthấp nhất trở lên, vì nếu diễn tấu ở những âm quá cao (hơn 2 quãng 8) thì âmthanh trở nên gay gắt, sắc nhọn và khó nghe, thường chỉ áp dụng trong cácsáng tác mới
Tuy nhiên, các nghệ nhân trong Nhã nhạc cung đình thường chỉ sửdụng khoảng một quãng 8 cộng quãng 5 mà thôi, phần vì âm sắc của đàn Nhị,phần sẽ khó hòa quyện với các nhạc cụ khác (Xem phụ lục I, mục 2.4)
Âm vực của đàn nhị có thể chia làm 4 khoảng âm với đặc tính như sau:Khoảng âm dưới và khoảng âm giữa: tiếng đẹp, rõ ràng, đầy đặn…
Khoảng âm cao và khoảng âm siêu cao: âm thanh trong sáng,càng lên cao âm thanh càng đanh, gay gắt Diễn tấu trong khoảng âm khu cựccao, thường khó khăn hơn vì khoảng vang ít
Bằng những ngón vuốt, nhấn, rung, vỗ… những kỹ thuật cung vĩliền, cung vĩ rời, cung vĩ ngắt… và khả năng thay đổi sắc thái, cường độ, tốcđộ… tương đối linh hoạt và thuận lợi, nên đàn Nhị có thể diễn tả được tất cảcác sắc thái tình cảm của con người, mô phỏng (bắc chước) gần như tuyệt đốicác âm thanh của thế giới tự nhiên và thế giới sinh vật
Tất cả những điều trên cho thấy khả năng diễn tấu của cây đàn Nhị cónhiều ưu thế hơn hẳn so với các loại nhạc cụ khác trong dàn nhạc dân tộc Do
đó, vai trò vị trí của Đàn Nhị rất quan trọng, nhất là khi khai thác tính năng
của nó để thể hiện các hơi, giọng, phong cách vùng miền của các thể loại,
khác nhau
Trang 302.5 Kỹ thuật diễn tấu
2.5.1 Tư thế đàn
Có ba tư thế khi biểu diễn đàn Nhị đó là tư thế ngồi ghế, tư thế ngồitrên giường (ngồi trên chiếu) và tư thế đứng Trong các loại hình nghệ thuậtkhác thì tư thế đàn phổ biến là ngồi ghế và ngồi trên giường nhưng trong Nhãnhạc cung đình Huế thì tư thế đứng là phổ biến
Tư thế ngồi trên giường (ngồi chiếu): Người nhạc công ngồi xếp bàn
tròn, bàn chân bên phải để ngửa, đầu gối bên trái đè lên bầu cộng hưởng, cầnđàn để thẳng, bầu cộng hưởng để ngang, mặt bịt da của đàn để sát bàn chânphải, ngón chân cái áp vào ngựa đàn để điều khiển tiếng bằng cách ấn nhẹngón chân về phía ngựa đàn (Xem phụ lục I, mục 2.5)
Tư thế ngồi trên ghế: bầu cộng hưởng để ngang, giữa hai gối của hai
chân hoặc để trên đùi sát hông (Xem phụ lục I, mục 2.5)
Tư thế đứng: Người nhạc công dùng một sợi dây buộc Bầu cộng hưởng
vào ngang hông có thể đứng hoặc vừa đi vừa chơi đàn, hiện nay nhiều người
đã cải tiến bằng cách làm những cái móc hoặc những cái kẹp cài vào thắt lưng
sử dụng rất hiệu quả (Xem phụ lục I, mục 2.5)
2.5.2 Kỹ thuật diễn tấu
Kỹ thuật diễn tấu của đàn Nhị được nâng lên ngày càng cao nhằm đápứng được yêu cầu của những sáng tác mới Tuy nhiên, trong Nhã nhạc, nhạccông chỉ cần những kỹ thuật phục vụ cho loại hình nghệ thuật này cũng như
để phù hợp với yêu cầu của Luận văn, trong phần này chúng tôi chỉ trình bàynhững kỹ thuật đó mà thôi
2.5.2.1 Kỹ thuật tay phải
Kỹ thuật tay phải sử dụng cung vĩ Sử dụng cung vĩ ở đàn Nhị có tầmquan trọng đặc biệt: điều khiển khéo léo sẽ cho tiếng đàn mềm mại, ngọt ngàohoặc khỏe mạnh, chắc chắn
Hướng chuyển động của cung vĩ là đẩy từ phải sang trái và kéo từ tráisang phải, hướng chuyển động thường đi tương đối vuông góc với cần đàn
Trang 31vĩ chỉ có thể đạt đến cường độ hơi nhẹ hoặc nhẹ.
Về tốc độ, nên chú ý là do dây cung vĩ đặt giữa 2 dây đàn, nên khi chạynhanh nhiều âm liên tiếp giữa hai dây đàn (từ dây nọ chuyển sang dây kia) thìkhả năng thao tác của cung vĩ sẽ rất khó khăn
Kỹ thuật tay phải của đàn Nhị có 2 loại:
Trang 32Cung vĩ rời lớn: Là cách kéo hay đẩy cả cung vĩ (từ gốc đến ngọn hay
từ ngọn đến gốc) để diễn tấu những âm mạnh, đầy đặn, rắn rỏi, dứt khoát…
Sử dụng cung vĩ rời lớn ở đàn Nhị khó dùng tất cả một hướng cung để tấu các
âm liền nhau (tức là khó dùng liên tiếp nhiều cung đẩy cả, hay nhiều cung kéocả) mà phải phối hợp với cung vĩ kéo, cung vĩ đẩy xen kẽ nhau, vì vĩ bị kẹpgiữa hai dây đàn, khó nhấc nhanh như cung vĩ của đàn Violon (Xem phụ lục
I, mục 2.5.2.1)
Cung vĩ rời nhỏ: Là cách kéo hoặc đẩy 1/2 hoặc đẩy 1/3 độ dài của
cung vĩ Khi diễn tấu những âm bay bổng, diễn tả sự linh hoạt, nhẹ nhàng,thường sử dụng phần ngọn vĩ, còn khi diễn tấu những âm thanh mạnh, biểuthị sự khỏe khoắn, thôi thúc thường sử dụng phần gốc vĩ (Xem phụ lục I,mục 2.5.2.1)
- Cung vĩ liền:
Ký hiệu:
Là kỹ thuật sử dụng mỗi đường cung vĩ (kéo hoặc đẩy) để tấu nhiều âm(có trường độ dài hoặc ngắn) Sử dụng cung vĩ liền tạo hiệu quả âm thanh liềnnhau, các âm luyến vào nhau, do đó còn gọi là cung luyến Cung vĩ liền ở đànNhị có mặt hạn chế bởi cung vĩ ngắn, nên không thể tấu được quá nhiều âmtrên một đường kéo hay đẩy Tuy vậy, nếu tấu những âm ở chỉ số cường độnhẹ thì có thể tấu được nhiều âm hơn ở chỉ số cường độ mạnh
Trong diễn tấu nhạc cổ truyền, các nghệ nhân ít chú ý đến sự ưu thế củacung vĩ liền, thông thường chỉ sử dụng từ 2 đến 4 âm, ít thấy 6 âm trong mộtđường cung vĩ Ngày nay các nhạc công đã sử dụng cung vĩ liền với số âmnhiều hơn trong một cung vĩ (Xem phụ lục I, mục 2.5.2.1)
Trong khi cung vĩ rời diễn đạt các âm thanh khỏe, dứt khoát thì cung vĩliền tạo nên những âm thanh mang tính chất dịu nhẹ, tình cảm chan chứa, cókhi bay bổng, phơi phới…
Trang 332.5.2.2 Kỹ thuật tay trái
Nếu tay phải là phần “xác” thì tay trái là phần “hồn” của âm nhạc.Trong nghệ thuật diễn tấu nhạc cụ dân tộc Việt Nam nói chung, Nhã nhạcCung đình Huế nói riêng, các nhạc công thường phải dùng những kỹ thuậtrung, nhấn, vỗ… đặc thù cho từng hơi, từng điệu, sao cho đúng với tính chất,tình cảm của từng bài bản Những âm được rung, nhấn, vỗ… đó đều được thểhiện qua những ngón tay trái của người nhạc công Điểm đặc biệt là các nhạccông đàn Nhị trong Nhã nhạc Cung đình Huế thường dùng lòng đốt ngón tay
để bấm vào dây đàn trong khi ngày nay, hầu hết các nhạc công đều bấm vàodây đàn bằng đầu ngón tay Điều này cũng dễ hiểu vì các nghệ nhân trước đâykhông dùng cao độ chính xác theo âm nhạc phương Tây và cũng không dichuyển bàn tay nhiều vì tầm âm các nghệ nhân sử dụng đều không rộng (mộtquãng 8 cộng một quãng 5) Điều này khác với các nhạc công ngày nay là cần
độ chính xác chuẩn phương Tây, tầm âm hoạt động rộng
Kỹ thuật tay chủ yếu là kỹ thuât sử dụng các thế tay, các ngón bấm, củatay trái Nguyên tắc chung là sự tiếp xúc của các ngón tay với dây đàn ở các
vị trí khác nhau để tạo ra các âm thanh cao thấp, dài ngắn khác nhau
Thế tay:
Trước đây, các nghệ nhân thường chuyển thế tay bằng cách thay đổi cữtay theo một nguyên tắc riêng, ít khi họ chạy các âm cao và chưa tận dụngtriệt để khả năng các ngón tay bấm Ngày nay, ở đàn Nhị có thể sử dụng đến 9thế tay khác nhau, trong độc tấu đôi khi còn có thể sử dụng đến các thế tay 10,11… để chơi các âm ở dây cao Ký hiệu các thế tay bằng chữ số La mã (I, II,III…) Từ thế tay V trở xuống gọi là các thế tay trên, còn từ thế tay VI trở lêngọi là các thế tay dưới
Ký hiệu các ngón bấm bằng các chữ số:
số 0 chỉ dây buông
số 1 chỉ ngón trỏ
Trang 34số 2 chỉ ngón giữa
số 3 chỉ ngón áp út
số 4 chỉ ngón út
Ít khi sử dụng ngón cái, vì chức năng của ngón tay cái trong đàn
Nhị là phối hợp với lòng bàn tay để giữ cần đàn (một số nhạc cụ khác vẫn có
thể sử dụng ngón cái tay trái như các nhạc cụ đàn dây gảy).
Các ngón bấm:
Ngoài mục đích thể hiện cao độ, và độ dài ngắn (trường độ) của âmthanh, các kỹ thuật tay trái còn góp phần quan trọng trong việc thể hiện tínhchất của âm thanh, làm cho nét nhạc mang tính đậm đà, mang nhiều phongcách, hơi, điệu… khác nhau
Trong bản nhạc, nếu ta không chú ý ghi đầy đủ các ký hiệu chỉđịnh cho kỹ thuật tay trái, thì ngón bấm chỉ làm được chức năng thuần túy làtạo nên cao độ, giữ âm đủ trường độ Lập tức những giai điệu sẽ giảm đi rấtnhiều tính chất phong phú của đàn Nhị, làm ảnh hưởng không ít đến nội dungbiểu hiện Có rất nhiều ngón bấm trong kỹ thuật tay trái của đàn Nhị, tuynhiên trong Nhã nhạc cung đình Huế chủ yếu sử dụng các ngón bấm sau:
Ngón rung:
Ký hiệu: đặt trên nốt nhạc
Là kỹ thuật làm cho tiếng đàn ngân vang mà không khô, cứng Trongnhã nhạc cung đình Huế các nghệ nhân thường dung kỹ thuật rung là ngón taybấm, nhấn nhẹ (thường gọi là rung ngang) liên tiếp ở một âm nào đó khiến âmthanh phát ra như làn sóng nhỏ Ngón rung được sử dụng trong các bài bản cổtruyền theo quy ước chặt chẽ, tạo nên “hơi”, “điệu” Trong các bài bản nhạcmới, các âm có độ ngân dài thường được rung bằng cách lắc nhẹ cổ tay liêntiếp ở một âm nào đó làm cho âm thanh phát ra có hình dáng nhấp nhô như lànsóng (thường gọi là rung dọc) Nhưng, điều cốt yếu của rung là tạo nên đặcđiểm âm điệu của giai điệu, không nên lạm dụng cũng như thực hiện bừa bãi
Trang 35Đối với dây buông, các nghệ nhân thường dùng ngón tay trỏ nhấn nhẹliên tiếp vào khuyết đàn Cũng có người không tập được kỹ thuật này, khi đóngười ta thay bằng kỹ thuật vỗ (Xem phụ lục I, mục 2.5.1.2)
Ngón vuốt:
Ký hiệu:
Là kỹ thuật làm cho tiếng đàn thêm mềm mại, uyển chuyển gần với giọnghát, giọng nói, bằng cách di chuyển ngón tay trên dây đàn, từ dưới lên (âm thanhcao dần) hoặc từ trên xuống (âm thanh thấp dần) Có 2 kiểu vuốt sau:
Vuốt để chuyển thế tay, lối vuốt này tiến hành nhanh và chỉ nên chạm ngónrất nhẹ trên dây, hết sức tránh âm thanh nghe phát ra nghe nhõng nhẽo Vuốt đểchuyển thế tay không cần ghi ký hiệu mà chỉ cần ghi thế tay và ngón bấm
Vuốt làm âm thanh dịu ngọt, mềm mại, ký hiệu ngón vuốt như gạch nốigiữa các nốt nhạc, đặt trước hoặc sau một nốt nhạc tùy theo từng trường hợp.(Xem phụ lục I, mục 2.5.1.2)
Ngón nhấn:
Ký hiệu:
Là kỹ thuật làm cho âm thanh cao lên (nhấn luyến lên) hoặc thấp xuống(nhấn luyến xuống) thường là một cung, bằng cách bấm vào một cung phímnào đó rồi nhấn cho dây đàn căng lên, hoặc chùng xuống Hiệu quả của ngónnhấn nghe mềm mại, nhưng không nên sử dụng quá nhiều (Xem phụ lục I,mục 2.5.1.2)
Ngón láy (còn gọi là ngón vỗ):
Ký hiệu: v đặt dưới nốt nhạc
Là kỹ thuật phối hợp giữa một ngón bấm nào đó (thường là ngón 1),còn ngón kia (thường là ngón 2 hoặc 3) đập vào cung phím có âm cao hơnliền bậc Ngón láy diễn tả tình cảm lưu luyến, ngậm ngùi, đôi khi day dứt.(Xem phụ lục I, mục 2.5.1.2)
Trang 36Ngón láy rền (còn gọi là ngón “đổ hột”):
Ký hiệu: đặt trên nốt nhạc
Đây là kiểu láy nhưng láy nhanh hơn, tạo hiệu quả hai âm liền bậc (haycách quãng) phát ra như làn sóng rền Âm chính cũng có thể là từ âm của dâybuông Ngón láy rền có giá trị bằng độ dài của nốt nhạc có ký hiệu chỉ định
kỹ thuật láy rền là chữ “trille” (viết tắt là “tr”), được ghi trên mỗi nốt nhạc,kèm theo một hình sóng ngắn tương đương với trường độ nốt nhạc (Xem phụlục I, mục 2.5.1.2)
Trang 37Tiểu kết chương II
Đàn nhị là nhạc khí rất quen thuộc, gần gũi với sinh hoạt, cũng nhưbiểu diễn âm nhạc của người Việt Nam Có xuất xứ từ Mông Cổ, truyền báđến Trung Quốc và du nhập vào Việt Nam, đàn Nhị đã trở thành một nhạc cụkhông thể thiếu trong nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam Với khả năng diễntấu đa dạng và phong phú đàn Nhị đã hỗ trợ cho rất nhiều loại hình nghệ thuật
cổ truyền mà cụ thể ở đây là Nhã nhạc cung đình Huế
Từ khi xuất hiện ở Việt Nam cho đến nay, đàn Nhị đã không ngừng cảitiến từ cấu tạo cho đến kỹ thuật, nhằm đáp ứng được đòi hỏi ngày càng caocủa người nghe cũng như yêu cầu của tác phẩm hiện đại Tuy nhiên, dù thểloại âm nhạc nào đi nữa, dù có cải tiến đến đâu thì đàn Nhị vẫn giữ được chomình một tâm hồn dân tộc thuần tuý, đó là tâm hồn dân tộc Việt
Trang 38Chương III NGHỆ THUẬT DIỄN TẤU ĐÀN NHỊ TRONG NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ
3.1 Vai trò, vị trí
Cũng như trong các dàn nhạc khác, từ Tuồng, Chèo… và đến Nhã nhạccung đình Huế, đàn Nhị không chỉ hiện diện một cách đơn thuần mà cònkhẳng định là một nhân tố chính trong các dàn nhạc Khó có thể tưởng tượngtrong các dàn nhạc ấy lại có thể thiếu vắng tiếng đàn Nhị Những âm thanhgãy gọn của các loại nhạc cụ dây gảy sẽ được kết nối lại với nhau qua tiếngđàn dây kéo Sự chững chạc trang nghiêm của đàn Nguyệt, tiếng chuyền tiếngrơi vào nhịp ngoại, tiếng chầy, tiếng phi bay bướm của Tỳ bà, tiếng đục củađàn Tam đem tiếng thổ chen vào tiếng kim của Tam âm la, với tiếng nỉ non vivút “như tiếng hạc bay qua” của ống Sáo sẽ được hòa quyện lại với nhaubằng sự mượt mà, ẻo lả của tiếng đàn Nhị Trong hầu hết các hình thức hòađàn của Nhã nhạc cung đình Huế lúc nào ta cũng thấy có hiện diện của đànNhị Với tính năng độc đáo của mình, ngân dài, vang xa… đàn Nhị như làmnhiệm vụ kết dính các nhạc cụ lại với nhau, đó là điều có thể nói khó có nhạc
cụ nào làm được
Trong Nhã nhạc cung đình Huế thì Đàn Nhị chỉ nằm trong hệ thống cácbài bản Tiểu nhạc do đó phần này chúng tôi chỉ trình bày phương thức diễntấu của Đàn Nhị trong dàn nhạc Tiểu nhạc mà thôi
3.2 Nghệ thuật diễn tấu của Đàn Nhị
3.2.1 Phương thức liên kết về bài bản
Có thể nói, trong các phương thức liên hoàn về bài bản của Nhã nhạccung đình Huế, thì hình thức liên hoàn mười bản Ngự (Thập thủ liên hoàn), làmột thể thức liên hoàn có tính thống nhất và hoàn chỉnh nhất cả về khúc thứcnội dung và hiệu quả trình tấu Theo sử sách ghi lại thì mười bản Ngự này do
Trang 39ban Ngự nhạc của triều đình biểu diễn phục vụ Hoàng thân, Quốc thích trongnhững dịp lễ quan trọng của Hoàng gia Mười bản Ngự còn được gọi là mườibản Tàu Cũng theo sử sách mô tả thì mười bản nhạc này được triều đình ViệtNam hoàn chỉnh từ thời Lý – Trần, sau đó được nhà Nguyễn – Tây Sơn(Quang Trung Hoàng đế) mang đi biểu diễn kiến triều (đi sứ) tại triều đìnhMãn Thanh (Trung Hoa) nên có tên gọi là mười bản Tàu Dù “tác phẩm” liênhoàn khúc này có tính thuần việt, hay từng giao lưu, tiếp biến với âm nhạcTrung Hoa mà hình thành thì kỹ năng trình tấu của nó từng được các “quannhạc”, các nhạc công của dàn nhạc cung đình dày công biên soạn, trau chuốt,gọt dũa và hoàn thiện để nó trở thành một thể loại âm nhạc liên hoàn có tínhnghệ thuật cao trong lĩnh vực hòa tấu nhạc cung đình Huế, có thể xem xét giátrị thể loại của mười bản Ngự khi trình tấu theo thể thức liên hoàn bởi nhữngđặc điểm nghệ thuật sau:
3.2.1.1 Về nội dung, nghi thức
Mỗi bài đều có nội dung riêng, ứng với mỗi nghi thức cuộc lễ Nhưngcho đến nay, ít khi những bài bản này được diễn tấu độc lập, mà nó có thểđược người nghe cảm nhận một cách đầy đủ khi biểu diễn liên hoàn cả mườibản Ngự Điều đó chứng tỏ các “quan nhạc” ngày trước đã có dụng ý xâydựng tính liên kết cho mười bản nhạc này
Các bài bản trong Mười bản liên hoàn trước khi có sự phối hợp lạithành một liên khúc chắc chắn đã là các bài bản độc lập và có thể là các tácphẩm có lời Mười bản liên hoàn có chức năng kép, nếu tách từng bài một ra
và hát thì đó là các bài bản thuộc hình thức ca Huế, nếu hòa tấu dàn nhạc thì
cả mười bài là một thể thống nhất trong Nhã nhạc
Giai điệu mỗi bài mặc dù có sự thống nhất chung nhưng đồng thời có
những nét riêng biệt Hai bài Phẩm tuyết và Nguyên tiêu với chất nhạc khoan
hòa, đĩnh đạc và phóng khoáng, rộng mở như bổ sung và làm cân bằng về mặt
âm nhạc học cho phần mở đầu Bài Hồ quảng mang một nét nhạc rộn ràng