Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Trong “Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2010” của Bộ Giáo dục – Đào tạo [3] đã yêu cầu nghành giáo dục phải từng b
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG THỊ DIỆP
XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ HỌC SINH
TỰ ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KIẾN
THỨC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” VẬT LÍ 12 BAN NÂNG CAO THÔNG QUA
CÁC ỨNG DỤNG KĨ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG THỊ DIỆP
XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ HỌC SINH
TỰ ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KIẾN
THỨC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” VẬT LÍ 12 BAN NÂNG CAO THÔNG QUA
CÁC ỨNG DỤNG KĨ THUẬT
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học PGS TS Phạm Xuân Quế
Thái Nguyên - 2014
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học bộ môn Vật lý, khoa Vật lý, phòng Sau đại học và các thầy cô giáo trường ĐHSP Thái Nguyên đã giúp đỡ em hoàn thành khóa học
Tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ Vật lý và các em học sinh trường THPT Bình Yên, Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong đợt thực nghiệm sư phạm tại trường Xin cảm ơn tập thể lớp cao học khóa 20 chuyên nghành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lý, bạn bè và người thân
đã giúp đỡ tôi trong suất quá trình hoàn thành đề tài
Đặc biệt,em vô cùng trân trọng và biết ơn PGS.TS Phạm Xuân Quế đã hết lòng giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2014
Tác giả
Đặng Thị Diệp
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng, hình iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Những đóng góp của luận văn 6
9 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
10 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG CÁC TRƯỜNG THPT 8
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
1.2 Tính tích cực, tự lực của học sinh trong hoạt động OTCC 10
1.2.1 Tính tích cực 10
1.2.2 Tính tự lực 16
1.3 Cơ sở lí luận của hoạt động OTCC 20
1.3.1 OTCC và mục đích của OTCC 20
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3.2 Vai trò và vị trí của OTCC trong quá trình nhận thức 21
1.3.3 Nội dung cần OTCC trong dạy học vật lý 22
1.3.4 Các hình thức OTCC chủ yếu 24
1.3.5 Các phương pháp OTCC ngoài giờ học chính khóa 26
1.3.6 Phương tiện hỗ trợ hoạt động OTCC 29
1.3.7 Mối quan hệ giữa OTCC và KTĐG 31
1.4 Cơ sở của hoạt động OTCC thực tiễn 33
1.4.1 Đánh giá vai trò của OTCC từ phía GV và từ phía HS 33
1.4.2 Thực trạng việc áp dụng các biện pháp rèn luyện kĩ năng và OTCC kiến thức cho học sinh 35
1.5 Vai trò của Website trong hoạt động OTCC kiểm tra và đánh giá thông qua ứng dụng kĩ thuật nhằm phát huy tính tích cực, tự học và nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh 38
1.5.1 Một số ưu điểm của Website trong dạy học hiện đại 38
1.5.2 Các khả năng hỗ trợ của Web đối với OTCC thông qua ứng dụng kĩ thuật nhằm phát huy tính tích cực, tự học và nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức 41
Chương 2 XÂY DỰNG TRANG WEB HỖ TRỢ HỌC SINH OTCC, KTĐG MỘT SỐ KIẾN THỨC KĨ NĂNG THUỘC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” VẬT LÝ 12, BAN NÂNG CAO THÔNG QUA CÁC ỨNG DỤNG KĨ THUẬT 46
2.1 Một số điểm cơ bản về nội dung kiến thức, kĩ năng học sinh cần có được sau khi học xong trong chương “Dòng điện xoay chiều” 46
2.1.1 Đặc điểm của chương “Dòng điện xoay chiều” 46
2.1.2 Mức độ cần đạt được về kiến thức, kĩ năng 49
2.1.3 Các sai lầm về kiến thức và khó khăn về kĩ năng một cách phổ biến của học sinh trong khi học chương “Dòng điện xoay chiều” 49
2.2 Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng OTCC 51
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.2.1 Đề xuất về nội dung cần OTCC 51
2.2.2 Đề xuất về nội dung, phương pháp và hình thức OTCC thông qua ứng dụng kĩ thuật 52
2.2.3 Đề xuất về phương tiện OTCC 56
2.3 Xây dựng trang Web hỗ trợ HS OTCC, kiểm tra và đánh giá một số kiến thức và kĩ năng thuộc chương “ Dòng điện xoay chiều” - vật lý 12 ban nâng cao thông qua các ứng dụng kĩ thuật 62
2.3.1 Lựa chọn và nghiên cứu công cụ để xây dựng website 62
2.3.2.Thiết kế website 63
2.3.3 Xây dựng các module chính 64
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 78
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 78
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 78
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 78
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 79
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 79
3.2.2 Nội dụng của thực nghiệm sư phạm 80
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 80
3.4 Thời gian thực nghiệm 80
3.5 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 81
3.5.1 Phân tích diễn biến của quá trình thực nghiệm sư phạm 81
3.5.2 Những khó khăn gặp phải khi tiến hành thực nghiệm sư phạm 81
3.5.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 82
KẾT LUẬN CHUNG 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Đặc điểm chất lượng bộ môn của lớp TN và ĐC trước TNSP 80
Bảng 3.2:Thống kê kết quả kiểm tra 85
Bảng 3.3: Kết quả sử lý để tính tham số 86
DANH MỤC CÁC HÌNH Trang Hình ảnh 2.1: Giao diện trang chủ 63
Hình ảnh 2.2: Giao diện bài giảng lý thuyết “Máy phát điện xoay chiều” 64
Hình ảnh 2.3: Giao diện bài giảng “Máy phát điện xoay chiều” 65
Hình ảnh 2.4: Giao diện bài giảng “Động cơ không đồng bộ bap ha” 65
Hình ảnh 2.5: Giao diện bài giảng “Máy biến áp và sự truyền tải điện năng” 66
Hình ảnh 2.6: Giao diện câu hỏi ôn tập 67
Hình ảnh 2.7: Giao diện “Trả lời” câu hỏi ôn tập 67
Hình ảnh 2.8: Giao diện “Xem hướng dẫn” khi học sinh không trả lời được câu hỏi 68
Hình ảnh 2.9: Giao diện câu hỏi trắc nghiệm 69
Hình ảnh 2.10: Giao diện số điểm máy chấm tự động và gửi lại kết quả cho HS 70 Hình ảnh 2.11: Giao diện đáp án và bài giải chính xác 70
Hình ảnh 2.12: Giao diện tóm tắt kiến thức để giải bài tập máy phát điện xoay chiều 71
Hình ảnh 2.13: Giao diện bài tập ví dụ của máy phát điện xoay chiều 71
Hình ảnh 2.14: Giao diện bài tập vận dụng 72
Hình ảnh 2.15: Giao diện đáp án và bài giải chính xác 72
Hình ảnh 2.16: Giao diện bài kiểm tra 75
Hình 3.1 Đồ thị phân bố đường tần suất 87
Hình 3.2 Đồ thị phân bố đường tần suất tích lũy hội tụ 87
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở cửa
và hội nhập quốc tế Bối cảnh lịch sử đặt ra những yêu cầu mới về nhân tố con người và đặt ra những thách thức mới cho ngành giáo dục
Thực hiện theo những định hướng đổi mới đã được xác định trong các nghị quyết Trung ương được thể chế hoá trong Luật giáo dục và được cụ thể hoá trong trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo Luật Giáo dục, điều 28.2[15] đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Trong giải pháp 5 – Các giải pháp chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 – 2020 [2] đã ghi “Thực hiện cuộc vận động toàn ngành đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, biến quá trình học tập thành quá trình tự học có hướng dẫn và quản lý của giáo viên” Một trong
những giải pháp hữu hiệu nhằm thực hiện những mục tiêu trên là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực Vì vậy, dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh là một nhiệm vụ rất quan trọng của giáo dục phổ thông hiện nay
Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technology – ICT ) là một thành tựu khoa học lớn của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật (CMKH-KT) hiện nay Nó thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị, xã hội khác Trong giáo dục đào tạo, ICT được sử dụng vào tất cả các môn học tự nhiên, kĩ thuật, xã hội và nhân
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
văn Hiệu quả rõ rệt là chất lượng giáo dục tăng lên cả về mặt lý thuyết và thực hành VÌ thế, nó là chủ đề lớn được tổ chức văn hóa thế giới UNFSCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI và
dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỉ XXI
do ảnh hưởng của CNTT” Như vậy ICT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và
đào tạo, đặc biệt là trong phương pháp đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), đang tạo ra những thay đổi của một cuộc cách mạng giáo dục, vì nhờ có cuộc cách mạng này mà giáo dục đã thể hiện được các tiêu chí mới:
Học mọi nơi
Học mọi lúc
Học suốt đời
Học cho mọi người và cho mọi trình độ tiếp thu khác nhau
Như vậy, ứng dụng ICT trong dạy học là xu thế phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đại
Ở nước ta vần đề ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, đào tạo được Đảng và Nhà nước rất coi trọng, coi yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục có sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã thể hiện rõ điều này, như:
Chỉ thị số 55/2008/Ct – BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong nghành giáo dục giai đoạn 2008-2012;
Trong Nghị quyết Trung ương II, khóa VII [16] Đảng và nhà nước ta
khẳng đinh, phải “Đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cua người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh ”
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trong “Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2010” của Bộ Giáo dục – Đào tạo [3] đã yêu cầu nghành giáo dục phải từng bước phát triển giáo dục dựa
trên CNTT, vì “Công nghệ thông tin và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong quản lý hệ thống giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học”
Trên thực tế, ứng dụng của ICT, đặc biệt là Internet – Website học tập phát triển rất mạnh, tạo điều kiện để người học tự rèn luyện khả năng tự học,
tự nghiên cứu Tuy vậy, các website học tập dành cho học sinh học tập trong
đó có hoạt động ôn tập củng cố (OTCC) kết hợp với tự kiểm tra đánh giá (KTĐG) được xây dựng trên cơ sỏ lí luận dạy học Vật lí hiện đại đối với nhiều phần trong chương trình Vật lý còn ít cả về số lượng và nội dung Qua nghiên cứu cấu trúc, nội dung kiến thức và tìm hiểu thực trạng DH chương “Dòng điện xoay chiều” vật lý 12, ban nâng cao hiện nay, chúng tôi nhận thấy phần kiến thức về kĩ thuật trong sách giáo khoa tương đối khó, thiếu mối liên hệ với thực tế, do đó việc ôn tập, củng cố tốn nhiều thời lượng mà hiệu quả không cao Những kiến thức về kĩ thuật thuộc chương “Dòng điện xoay chiều” là tiền đề để học các chương tiếp theo, và là cơ sở của nhiều ứng dụng trong đời sống và trong các ngành khoa học kĩ thuật Mặt khác, qua nghiên cứu của tôi, hiện nay cũng có một số công trình nghiên cứu về xây dựng website về OTCC và KTĐG kiến thức như:
c chương "Dòng điện xoay chiều” 12 ban nâng cao Nguyễn Quốc Sở (ĐHSP Hà Nội)[18]
- 12 ban cơ bản - Trịnh Thanh Dương (ĐHSP TN) [6]
Các công trình này cũng đã nghiên cứu thực trạng và xây dựng website học tập nhưng ở các nghiên cứu đó chưa tập trung vào các ứng dụng kĩ thuật của
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vật lí, mà đó là nội dung hết sức quan trọng để thông qua đó học sinh nắm vững, đào sâu và mở rộng kiến thức cũng như ứng dụng trong thực tiễn
Xuất phát từ những lí do trên, nhằm rèn luyện cho học sinh phương pháp tự OTCC và KTĐG kiến thức sẽ tạo được nền tảng vững chắc cho học sinh trong việc lĩnh hội và vận dụng chúng vào việc học tập lên cao và vào trong thực tiễn, đồng thời với mong muốn tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh khai thác thông tin để phục vụ cho hoạt động dạy và học một cách có hiệu quả,
tôi chọn đề tài: Xây dựng website hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố và kiểm tra đánh giá một số kiến thức trong chương “Dòng điện xoay chiều”Vật lí 12 ban nâng cao thông qua các ứng dụng kĩ thuật
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng lí luận dạy học Vật lí về hoạt động OTCC, KTĐG và công nghệ xây dựng trang web tự học nhằm thiết kế website hỗ trợ cho học sinh tự OTCC và KTĐG phần “Dòng điện xoay chiều”, Vật lí 12 ban nâng cao
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Hoạt động OTCC va KTĐG của học sinh với sự hỗ trợ của website
Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống các kiến thức, kĩ năng học sinh cần nắm vững khi học xong chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lí 12 ban nâng cao
Hoạt động tự OTCC và KTĐG của học sinh đối với phần “Dòng điện xoay chiều” thông qua các ứng dụng kĩ thuật
Các chức năng của trang web hỗ trợ học sinh tự OTCC và KTĐG kiến thức,
kĩ năng chương “Dòng điện xoay chiều” thông qua các ứng dụng kĩ thuật
4 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng lý luận dạy học Vật lí hiện đại về OTCC và ứng dụng công nghệ thiết kế website để được trang web hỗ trợ học sinh tự OTCC và KTĐG
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
kiến thức chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lí 12 ban nâng cao thông qua ứng dụng kĩ thuật thì có thể phát huy tính tích cực tự lực và nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
5 Phạm vi nghiên cứu
Xây dựng trang web hỗ trợ hoạt động OTCC và KTĐG phần “Dòng điện xoay chiều” Vật lí 12 ban nâng cao thông qua ứng dụng kĩ thuật nhằm phát huy tính tích cực tự lực và nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Nghiên cứuđối với học sinh tại Định Hóa - Thái Nguyên
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sỏ lý luận và cơ sỏ thực tiễn của việc tự OTCC
Nghiên cứu mục đích, nội dung phần “Dòng điện xoay chiều” Vật lí 12 ban nâng cao
Nghiên cứu, khai thác cácứng dụng kĩ thuật của cáckiến thức về “Dòngđiện xoay chiều” đưa vào nội dung website
Nghiên cứu, điều tra các khó khăn, sai lầm phổ biến của học sinh khi học chương “Dòng điện xoay chiều”
Nghiên cứu việc thiết kế website và vai trò hỗ trợ của website đối với hoạt động OTCC và KTĐG thông qua ứng dụng kĩ thuật
Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của website xây dựng được
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc
OTCC trong dạy học hiện đại; cơ sở lý luận của việc rèn luyện kĩ năng tự học
và tự nghiên cứu đối với học sinh phổ thông; cơ sỏ lý luận của hoạt động kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra đánh giá trong dạy học phổ thông; nghiên cứu các tài liệu về phương pháp giảng dạy vật lý và giáo dục học; nghiên cứu tài liệu về thiết kế xây dựng Website
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
7.2 Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn: Nghiên cứu thực tiễn hoạt
động OTCC và kiểm tra đánh giá của GV và HS trong các trường phổ thông Tiến hành khảo sát bằng phương pháp Awngket (điều tra), phương pháp nghiên cứu sản phẩm (bài kiểm tra của HS), phương pháp phỏng vấn và đàm thoại với
HS và GV ở các trường THPT
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm đối chứng giữa hai
quá trình ôn tập chương “dòng điện xoay chiều”, thông qua các ứng dụng kĩ thuật của hai nhóm HS, một nhóm có sử dụng trang Web ôn tập và một nhóm còn lại sử dụng phương pháp ôn tập truyền thống
7.4 Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán
học để phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
8 Những đóng góp của luận văn
Trình bày hệ thống cơ sở lý luận của việc ôn tập củng cố theo quan điểm của lý luận dạy học hiện đại
Điều tra thực tiễn, xác định các khó khăn và sai lầm học sinh thường mắc phải sau khi học chương “Dòng điện xoay chiều”
Nghiên cứu, khai thác cácứng dụng kĩ thuật của cáckiến thức về “Dòngđiện xoay chiều” đưa vào nội dung website
Thiết kế trang web dưới sự vận dụng của các lý luận trên và sự hỗ trợ của CNTT giúp học sinh rèn luyện kĩ năng tự OTCC chương “Dòng điện xoay chiều” thông qua ứng dụng kĩ thuật
Góp phần đổi mới phương pháp, phối hợp các hình thức dạy học ở trường phổ thông
9 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lí luận, luận văn góp phần lựa chọn và hệ thống hóa các lí luận về việc OTCC thông qua ứng dụng kĩ thuật theo quan điểm của lí luận dạy học hiện đại cũng như vận dụng lí luận này và CNTT trong việc xây dựng Website về nội dung OTCC
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang web xây dựng được là tài liệu tham khảo tốt cho học sinh tự OTCC chương “Dòng điện xoay chiều”, nhằm rèn luyện kĩ năng tự OTCC, nâng cao hiệu quả OTCC
Trang web là một phương tiện giúp giáo viên có thể kiểm tra đánh giá kiến thức đạt được của học sinh trong chương “Dòng điện xoay chiều”
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận, thực tiễn và vai trò hỗ trợ của website đối với hoạt động OTCC và KTĐG của học sinh trong các trường THPT thông qua ứng dụng kĩ thuật
Chương 2: Xây dựng website hỗ trợ học sinh tự OTCC và KTĐG một số kiến thức thuộc chương “Dòng điện xoay chiều”, Vật lí 12 ban nâng cao thông qua ứng dụng kĩ thuật
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG
ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG
CÁC TRƯỜNG THPT
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Ngày nay việc học tập trên các website không còn là điều xa lạ với chúng ta Các website giúp cho người học có thể chủ động trong việc học tập, giúp người học tự bổ xung kiến thức cũ cũng như tự ôn tập củng cố lại kiến thức cũ Từ những trang websit học tập trên mạng và qua những trang web học tập do các học viên Cao học về chuyên nghành Lí luận và phương pháp dạy học vật lí nghiên cứu tôi có những nhận xét sau đây:
- Nội dung các trang web học tập có nội dung kiến thức rộng, cung cấp cho người học những kiến thức từ cơ bản đến nâng cao Nội dung chủ yếu trong các web học tập là các khái niệm Vật lý, định luật Vật lý, thuyết Vật lý; các bài tập vật lý giúp người học tự học hoặc tự ôn tập củng cố lại các kiến thức cũ
- Phương pháp: hướng dẫn học sinh thông qua các bài học lý thuyết, tóm tắt hoặc dàn ý bài học; hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi tự luận ;hướng dẫn giải các bài toán tự luận hoặc trắc nghiệm theo các chủ đề hoạc theo các dạng bài nhằm bổ túc hoặc cung cấp kiến thức cho người học
- Hình thức: các trang web thường sủ dụng các hình thức chủ yếu: hướng dẫn người học trả lời các câu hỏi ôn tập, hướng dẫn làm các bài tập luyện tập
- Phương tiện: các trang web thường sử dụng các ứng dụng tin học hiện đại trong việc truyền tải kiến thức cho người học như: video bài giảng, mô hình vật
lý, các thí nghiệm mô phỏng, các hình ảnh tĩnh hoặc động giúp cho bài học được sinh động hơn, học sinh dễ dàng tiếp thu với các kiến thức hơn
Các trang web học tập trên có những ưu điểm là tiện lợi, người học có thể học mọi lúc mọi nơi, người học có thể chủ động trong hoạt động học tập của bản thân
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nội dụng trên các website học tập phong phú, người học có thể dễ dàng tìm thấy kiến thức bản thân cần Các bài học lý thuyết và bài tập được trình bày dễ hiểu, có hình ảnh hay ví dụ minh họa sinh động trực quan, điều này rất cần thiết trong môn vật lý nói riêng Tuy nhiên, các website cũng có hạn chế là chưa hoặc không tập trung vào nội dung các ứng dụng kĩ thuật của vật lí, thông qua ứng dụng kĩ thuật
có điều kiện để học sinh nắm vững kiến thức sâu sắc thông qua vận dụng, giải quyết các vấn đề trong thực tiễn Cụ thể:
- Trong một số trang web học tập do các học viên Cao học về chuyên nghành Lí luận và phương pháp dạy học vật lí nghiên cứu như trang web của Nguyễn Văn Đức – trường đại học Thái Nguyên, năm 2010 “THIẾT KẾ WEBSITE HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ ÔN TẬP VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC PHẦN "MẮT CÁC DỤNG CỤ QUANG HỌC", VẬT LÍ 11 - NÂNG CAO” và trang web của Nguyễn Thị Thoa – trường đại học sư phạm hà nội, năm 2012 “XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG THUỘC CHƯƠNG “ĐIỆN TÍCH – ĐIỆN TRƯỜNG” VẬT LÝ 11 NÂNG CAO”; trang web của Trần Đức Hòa – trường đại học thái nguyên, năm
2012 “XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ ÔN TẬP CỦNG CỐ
VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “ DAO ĐỘNG CƠ” VẬT LÝ 12 (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)” [9] đều là những website học tập vật lý hay, nhưng chỉ chú trọng vào những lý thuyết và bài tập vật lý chứ chưa chú trọng vào kiến thức về các ứng dụng kĩ thuật vật lý Ngoài
ra còn có website của Trịnh Thành Dương – đại học sư phạm thái nguyên, năm
2009 “THIẾT KẾ TRANG WEB HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ ÔN TẬP, CỦNG
CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC CHƯƠNG "DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU" VẬT LÝ LỚP 12 (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)”[6] Website này đã có đề cập đến những ứng dụng vật lí, tuy nhiên chỉ là sơ qua chứ không thật sự chú trọng
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Từ những lý do trên, tôi thực hiện luận văn “XÂY DỰNG WEBSITE
HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁKIẾN THỨC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” – VẬT LÍ 12 BAN NÂNG CAO THÔNG QUA CÁC ỨNG DỤNG KĨ THUẬT” với mục đích xây dựng một website học tập chú trọng vào kiến thức về những ứng dụng
kĩ thuật thuộc chương “dòng điện xoay chiều” vật lý 12 nâng cao
1.2 Tính tích cực, tự lực của học sinh trong hoạt động OTCC
1.2.1 Tính tích cực
1.2.1.1 Khái niệm về tính tích cực
Theo từ điển tiếng Việt [22]: Tích cực có nghĩa là có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển, tỏ ra chủ động, có những hoạt động tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển, tỏ ra nhiệt tình, đem hết khả năng và tâm trí vào công việc
Như vậy có thể hiểu tính tích cực (TTC) là khái niệm hiển thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng TTC cũng là khái niệm biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đấy Sự nỗ lực ấy diễn ra trên nhiều mặt: Sinh lí (đòi hỏi chi phí nhiều năng lượng cơ bắp); Tâm lí (tăng cường các hoạt động cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng ); Xã hội (đòi hỏi tăng cường mối liên hệ với môi trường bên ngoài)
Vì vậy, TTC là một thuộc tính nhân cách có quan hệ, chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như: Nhu cầu (nhằm thỏa mãn những nhu cầu nào đó); Động cơ (tích cực hướng tới những động cơ nhất định); Hứng thú (do bị lôi cuốn bởi những sự say mê vì muốn biến đổi, cải tạo một hiện tượng nào đấy)
Tóm lại TTC nói chung là một phẩm chất rất quan trọng của con người, được hình thành từ rất nhiều lĩnh vực, nhiều nhân tố, có quan hệ với rất nhiều phẩm chất khác của nhân cách và với môi trường, điều kiện mà chủ thể hoạt động và tồn tại
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tính tích cực nhận thức (TTCNT): là TTC xét trong điều kiện, phạm vi của quá trình DH, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của HS, sinh viên
Theo lý thuyết phản ánh, TTCNT bao gồm: sự lựa chọn đối tượng nhận thức; đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng nhằm cải tạo nó TTC trong hoạt động cải tạo đòi hỏi phải có sự thay đổi trong ý thức và trong hành động của chủ thể nhận thức, được thể hiện bằng nhiều dấu hiệu như sự tập trung chú ý, sự tưởng tượng mạnh mẽ, sự phân tích tổng hợp sâu sắc
Có thể phân chia sự phát triển TTCNT làm ba mức độ:
- Tính tích cực tái hiện
- Tính tích cực sử dụng
- Tính tích cực sáng tạo
1.2.1.2 Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức
Có thể nhận biết TTCNT của HS bằng các dấu hiệu sau:
Thứ nhất là: Những dấu hiệu bề ngoài thể hiện qua thái độ, hành vi và
hứng thú
- Hứng thú nhận thức là thái độ, là sự lựa chọn của cá nhân về đối tượng nhận thức, là động cơ quan trọng của quá trình nhận thức và thường biểu lộ ra ngoài dười dạng tính tò mò, lòng khao khát cái mới
- Nhu cầu nhận thức được thể hiện là lòng ham thích, sự mong muốn tìm hiểu và nhận thức thế giới xung quanh, được tạo ra bởi những đòi hỏi tất yếu của cá nhân để tồn tại và phát triển, là động lực tích cực của cá nhân đối với việc cải tạo hoàn cảnh xung quanh
Nhu cầu, hứng thú nhận thức của HS được thể hiện bằng các dấu hiệu cụ thể sau:
+ Thích thú chủ động tiếp xúc với đối tượng
+ Chú ý quan sát, chăm chỉ lắng nghe và theo dõi những gì thầy cô làm
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Giơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ xung ý kiến vào câu trả lời của bạn và thích tham gia vào các hoạt động
Thông qua quan sát GV có thể xác định được những biểu hiện xúc cảm hứng thú nhận thức niềm vui sướng, sự hài lòng khi được người khác giải đáp những câu hỏi, những thắc mắc, khi tự mình tìm ra câu trả lời đúng hay là thành công trong hoạt động Ngoài ra sự bực mình, nỗi thât vọng nếu trí tò mò không được thỏa mãn hoặc khi không thành công trong hoạt động đều là những biểu hiện của TTCNT
Thứ hai là: những dấu hiệu bên trong như sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực
hoạt động, sự phát triển tư duy, ý chí và xúc cảm
Thật ra, những dấu hiệu bên trong này cũng chỉ có thể phát hiện qua những biểu hiện bên ngoài, nhưng phải tích lũy một lượng thông tin đủ lớn và phải qua quá trình xử lý thông tin mới thấy được, cụ thể là:
+ Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa vào việc giải quyết nhiệm
vụ nhận thức
+ Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy được vào việc giải quyết các tình huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt vào việc xử lý các tình huống mới
+ Phát biểu nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát
+ Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý của mình
+ Có những biểu hiện tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết nhiệm
vụ nhận thức như tự tin khi trả lời câu hỏi, có sáng kiến, tự tìm ra một vài cách giải quyết khác nhau cho các bài tập và tình huống, biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất
+ Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức, như sự lỗ lực, cố gắng vượt qua các tác động nhiễu bên ngoài và các khó khăn để thực hiện đến cùng nhiệm vụ được giao, sự phản ánh khi có tín hiệu thông báo hết giờ
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thứ ba là: Kết quả học tập là một dấu hiêu quan trọng và có tính chất khái
quát của TTCNT Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục, tự giác mới có kết quả học tập tốt
Trên đây đã trình bày ba dấu hiệu thể hiện TTCNT Có thể cụ thể hóa ba dấu hiệu đó qua một số câu hỏi sau:
+ Có vận dụng được kiến thức đã học vào trong thực tiễn không?
+ Có hứng thú trong học tập hay chỉ vì một ngoại lực nào đó mà phải học? + Có ý chí vượt qua khó khăn trong học tập không?
+ Có biểu hiện hứng thú, say mê, có hoài bão học tập không?
+ Có sự phát triển về năng lực phân tích, tổng hợp năng lực tư duy nói chung không?
+ Có thể hiện sự sáng tạo học tập không?
+ Có hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao không?
+ Có ghi nhớ tốt nhưng điều đã học không?
+ Có vận dụng được những kiến thức đã học vào trong thực tế không?
+ Có những biểu hiện sáng tạo trong học tập không?
+ Kết quả kiểm tra thi cử có cao không?
1.2.1.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của HS
Các biện pháp nâng cao TTCNT của HS rất đa dạng, có thể tóm tắt như sau:
* Nhóm biện pháp cho các thầy đứng lớp
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhóm biện pháp này rất quan trọng vì nó tác động trực tiếp đến HS và về thời gian thì dạy học chiểm hơn 80% hoạt động của nhà trường Nó rất phong phú, đa dạng nó gồm một số vấn đề như sau:
- Giác ngộ ý thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thú học tập của các em bằng cách nói lên ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu
- Kích thích hứng thú nội dung: Muốn kích thích hứng thú nhận thức của HS thì nội dung phải mới, nhưng không quá xa lạ với HS mà cái mới phải liên hệ
và phát triển cái cũ, phát triển những kiến thức và kinh nghiệm mà các em đã
có Kiến thức phải có tính thực tiễn, phải thỏa mãn nhu cầu nhận thức và thực tiễn của các em
- Kích thích hứng thú nhận thức qua PPDH:
Để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS phải phối hợp nhiều PPDH với nhau, nhưng những phương pháp (PP) có tác dụng tốt nhất trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức là: DH nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, sử dụng các phương tiện (PT) hiện đại, tổ chức thảo luận, xemina, tự học, bài tập, trò chơi học tập Hệ thống kiến thức phải được trình bày đươi dạng vận động, phát triển
và mâu thuẫn với nhau Những vấn đề quan trọng, các vấn đề then chốt phải trình bày sao cho diễn ra một cách đột ngột, bất ngờ mới tạo ra hứng thú
Sử dụng các PTDH, đặc biệt là những PT kĩ thuật DH hiện đại: đây là biện pháp hết sức quan trọng nhằm nâng cao tính tích cực của HS và giúp nhà trường đưa chất lượng lên một tầm cao mới
- Sử dụng các hình thức tổ chức DH khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể lớp Làm việc trong vườn trường, xưởng trường, phòng thí nghiệm, tổ chức tham quan, các hoạt động nội khóa, ngoại khóa đa dạng
Ngoài ra có thể tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS qua nhiều biện pháp như:
+ Thầy giáo, bàn bè động viên, khen thưởng khi có thành tích học tập tốt
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Luyện tập dưới các hình thức khác nhau, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới
+ Kích thích TTC qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS
+ Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập
+ Thường xuyên kiểm tra, đánh giá có tác dụng rất quan trọng đến việc phát huy TTC học tập của HS
* Các nhóm biện pháp khác
Ngoài nhóm biện pháp cho các thầy đứng lớp cồn có các nhóm biện pháp phát huy TTCNT thông qua hoạt động giáo dục, nhóm biện pháp thông qua các tác động của gia đình, nhóm biện pháp do xã hội tác động cũng có tác dụng quan trọng trong việc phát huy TTCNT của HS
Những biện pháp trêm không phải có giá trị như nhau, tùy từng trường hợp, từng điều kiện cụ thể mà xác định những biện pháp nào là quan trọng nhất Thí
dụ trong nhà trường những biện pháp do các thầy giáo đứng lớp tác động là trực tiếp, nhanh chóng và có hiệu quả nhất Các thầy cô giáo cần phối hợp chặt chẽ với các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường, với gia đình và xã hội để việc giáo dục TTC được hoàn thiện và bền vững
Nội dung luận văn giới hạn trong nhóm các biện pháp phát huy tính tích cực trong dạy học bộ môn vật lý
Trong tất cả các biện pháp trên GV đóng vai trò như một người hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các em xây dựng kiến thức khoa học từ vốn kiến thức
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trong khi đó việc hợp tác, thảo luận trong học tập phải được quan tâm, GV cần tạo môi trường giữa học tập thuận lợi cho HS tương tác với nhau và cả tương tác giữa GV với HS để giúp các em thực hiện các hoạt động học tập
1.2.1.4 Tiêu chí để đánh giá
Có thể dựa vào những biểu hiện đã kể trên để làm tiêu chí đánh giá tính tích cực của HS
- Có quan sát, theo dõi GV đặt vấn đề không?
- Có tiếp nhận nhiệm vụ học tập không?
- Có nghe GV giảng hoặc nghe bạn phát biểu không?
- Có đọc tìm hiểu vấn đề trong SGK, tìm hiểu bảng số liệu, quan sát hiện tượng tự nhiên hoặc trong thí nghiệm hoặc làm thí nghiệm lấy số liệu không?
- Có thảo luận nhóm hoặc làm việc cá nhân không?
- Có tìm hiểu các thông tin liên quan, lập bảng, vẽ đồ thị nhận xét về tính quy luật của hiện tượng không?
- Có trả lời câu hỏi của GV, tranh luận với bạn bè trong nhóm hoặc trong lớp không?
- Có giải bài tập, ghi câu hỏi, bài tập về nhà, ghi những chuẩn bị cho bài sau không?
- Có tiến bộ trong học tập không?
- Kết quả bài kiểm tra, đánh giá của nhà trường có tốt không?
1.2.2 Tính tự lực
1.2.2.1 Khái niệm
Tính tự lực là một trong những phẩm chất trọng tâm của nhân cách, thể hiện ở: Sự tự làm lấy, tự giải quyết vấn đề, không ỷ lại, nhờ cậy người khác
Sự tự làm lấy bắt đầu từ những việc đơn giản như tự uống, tự ăn, tự thu dọn
đồ chơi những sự tự làm hoàn chỉnh bắt đàu từ việc đạt mục đích đề ra và thảo mãn yêu cầu xã hội
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nếu đặc trưng chủ yếu của tính tích cực là sự nỗ lực bản thân, thì đặc trưng của tính tự lực lại ở mối quan hệ với người khác: không dựa dẫm vào người khác, hết sức tiết kiệm nhờ cậy [21]
Nhìn chung có hai loại tính tự lực:
- Tính tự lực nhận thức
- Tính tự lực hành động
Tính tự lực là một phẩm chất tổng hợp, liên quan đến những phẩm chất và năng lực khác, như:
- Kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo: đây là những nhân tố rất quan trọng để tạo nên tính tự lực, vì chỉ có thể tự lực hoạt động khi nhận thức sâu sắc bản chất của sự vật hiện tượng và nắm chắc phương pháp hoạt động
- Niềm tin vào sự đúng đắn của công việc mình làm, vào năng lực bản thân Niềm tin này tạo ra sự vững vàng, sự kiên định về tâm thể, không dao động trước những tác động từ bên ngoài
- Có tình cảm, hứng thú, yêu thích kết quả và quá trình tự hoạt động Những yếu
tố này kích thích tự giác của hoạt động mà không phải dùng sức mạnh của ý chí
- Có nhu cầu, động cơ Nhu cầu và động cơ càng mạnh thì tính tự lực càng cao
- Tính kiên trì, nhẫn lại, không sờn lòng nản chí trước khó khăn
- Tính kế hoạch năng lực tổ chức làm cho hoạt động tự lực đạt hiệu quả
- Thói quen tự lực, không trông chờ, ỷ lại cũng là một phẩm chất cần được rèn luyện từ nhỏ để trở thành một thói quen, một phản xạ tự nhiên của con người mà không cần vận dụng sức mạnh của trí tuệ và ý chí
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.2.2 Những biểu hiện của tính tự lực
Tính tự lực có ở mọi người, tuy nhiên mức độ thể hiện tùy thuộc vào đặc điểm cá nhân, điều kiện sống và điều kiện giáo dục
Tính tự lực của HS biểu hiện ở sự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng tự khẳng định mình trong tập thể, trong lao động, trong học tập, giao tiếp và trong lĩnh vực khác nhau của chế độ sinh hoạt, cụ thể là [5]:
* Nguyện vọng giải quyết các nhiệm vụ hoạt động một cách độc lập
Nguyện vọng này giúp HS hoạt động tích cực trong thời gian dài, đòi hỏi ở họ khả năng tập trung chú ý cao độ Đó là biểu hiện của nhu cầu tự khẳng định mình
là kết quả của quá trình nhận thức về giá trị tự lực và rèn luyện thói quen tự lực
* Có biểu hiện những kĩ năng thực hiện hoạt động tự lực
Có thể khái quát một số kĩ năng thực hiện hoạt động tự lực của HS trong các điều kiện cụ thể như sau:
- Kĩ năng thực hiện hoạt động sáng kiến của mình, nhận thức sự cần thiết tham gia vào hoạt động này hay hoạt động khác
- Kĩ năng thực hiện các công việc quen thuộc không có sự đòi hỏi giúp đỡ từ xung quanh hoặc sự kiểm tra từ người lớn
- Kĩ năng thực hiện hành động có ý thức trong những tình huống có sẵn ( hành động theo sự chỉ dẫn, theo mẫu )
- Kĩ năng thực hiện hoạt động trong những điều kiện mới (tự đặt mục đích, chiếu cố điều kiện hoạt động, thực hiện và lập kế hoạch đơn giản)
- Kĩ năng di chuyển cách thức hoạt động đã biết vào hoàn cảnh mới, tổng hợp chúng và phân loại chúng theo kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo đã
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Niềm tin vào bản thân
Niềm tin tạo cho HS nghị lực, ý chí để hành động, tạo ra cho họ tính kiên định khi hành động, giúp họ có nhu cầu, trạng thái hành động dựa trên năng lực của bản thân, tin tưởng, yêu quý trân trọng mình Sự tự tin quyết định tính nguyên tắc và tính kiên định trong suất quá trình hành động Tự tin thể hiện ở yêu cầu cao đối với bản thân trong quá trình hành động
Các yếu tố tạo nên sự tự tin ở HS là:
- Đánh giá cao về bản thân; hiểu rõ bản thân; có mục tiêu rõ ràng trong hoạt dộng và dễ dàng lựa chọn mục đích hoạt động; hành động dứt khoát, quyết đoán; sống lạc quan, yêu đời
1.2.2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu môn Vật lý của HS
* Về tài liệu học tập của HS
Tài liệu nên trình bày dưới dạng những câu hỏi, kèm theo những hướng dẫn, gợi ý về đáp án là khá thích hợp, nhưng với phần đáp án chỉ là ý chính, đưa ra kết quả Chẳng hạn như đi đến một công thức nào đó ta chỉ đưa ra một vài kết quả có tính định hướng để đi đến chứ ta không làm một cách cụ thể Với cách này thì nói chung nó chỉ mang tính hướng dẫn để đi đến cái đích, còn muốn đạt được thì cần phải có sự nỗ lực rất lớn của bản thân người học
GV cũng nên căn cứ vào thực trạng việc dạy và học, mục tiêu đào tạo của từng địa phương, từng trường và chuẩn tài liệu của bộ giáo dục để có thể biên soạn lại giáo trình cho phù hợp với mục tiêu phát huy tính tự học của HS
Song song với đổi mới tài liệu học tập PPDH cũng không phải là không bàn tới
* Về PPDH
Trong vấn đề DH, GV cần phải hiểu rằng không có một PPDH nào là vạn năng Vì vậy, tùy thuộc vào hoàn cảnh, mục tiêu đặt ra mà GV phải biến đổi linh hoạt hoặc kết hợp với nhiều PP, nhưng vẫn giữ cái cốt yếu là phát huy tính tích cực, tự lực, tự nghiên cứu của người học Với cách dạy và học này thì GV không đóng vai trò chính, GV Chỉ trình bày mục đích của bài học là làm gì, là
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
người hướng dẫn gợi ý để làm được điều này thì chúng ta phải làm thế nào? Còn con đường đạt được là phải tự do người học tự đưa ra và tự tiến hành GV phải mạnh dạn giao nhiệm vụ cho HS, chẳng hạn như tự đọc giáo trình,tài liệu sau đó trình bày trước lớp, trước nhóm theo cách hiểu được của mình Với cách dạy này, GV không đóng vai trò chính, không phải là “trung tâm” mà là “lấy người học là trung tâm”
Ngoài ra, chúng ta cũng phải cần đến việc sử dụng CNTT hiện đại vào trong việc DH, vì do đặc thù của môn vật lý là vừa dùng lý luận logic toán học để biểu diễn, vừa dùng công cụ thí nghiệm để kiểm chứng hoặc ngược lại Nên theo chúng tôi phòng thí nghiệm, dụng cụ thí nghiệm cho môn vật lý phải được chú trọng đầu tư đầy đủ
Trong quá trình nâng cao chất lượng của việc tự học, tự nghiên cứu chúng ta không những không đổi mới về nội dung, về phương pháp mà còn phải đổi mới
về nhận thức của người học Người học phải biết cần phải học cái gì và học như thế nào để có hiệu quả, đó là vấn đề cần quan tâm hiện nay
1.2.2.4 Tiêu chí đánh giá
GV có thể dựa vào những biểu hiện cụ thể sau đây làm tiêu chí đánh giá tính
tự lực của HS:
- Có nguyện vọng giải quyết các nhiệm vụ hoạt động một cách độc lập
- Có những kĩ năng thực hiện hoạt động tự lực
- Có sự nỗ lực của ý chí
- Có niềm tim vào bản thân
Các bài kiểm tra, trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá thành tích học tập, xác nhận trình độ kiến thức, kĩ năng của HS
1.3 Cơ sở lí luận của hoạt động OTCC
1.3.1 OTCC và mục đích của OTCC
Theo từ điển tiếng Việt năm 2008 của Viện khoa học Việt Nam: Ôn tập là học để nhớ học để nắm chắc; Ôn tập là hệ thống hóa lại kiến thứcđã dạy để HS nắm chắc chương trình[22]
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo từ điển tiếng Việt mới của trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội (Hoàng Phê chủ biên) và từ điển tiếng Việt chuyên nghành thì: Ôn tập là học và luyện lại những điều đã học để nắm chắc, để nhớ lâu
Như vậy, ôn tập có thể được hiểu là quá trình học lại và luyện lại những điều đã học để nhớ, để cho kiến thức trở nên bền vững, chắc chắn hơn
Theo các nhà tâm lí học [11]: Ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sự cấu trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc mới kết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới Khi cần có thể tái hiện lại những thông tin và sử dụng những thông tin đó có hiệu quả cho nhiều hoạt động khác nhau
Theo các nhà giáo dục học (Nguyễn Ngọc Bảo; Hà Thị Đức; Nguyễn Bá Kim; …): Ôn tập là giúp học sinh củng cố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo; tạo khả năng cho giáo viên sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của học sinh, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng như phát triển năng lực nhận thức, chú ý cho học sinh Ôn tập còn giúp học sinh mở rộng, đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm vững chắc những kĩ năng, kĩ xảo đã được hình thành.[10][12]
Như vậy, chúng tôi cho rằng ôn tập là quá trình người học xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, bổ sung, chỉnh lí thông tin và tổ chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học phù hợp giúp cho người học vận dụng thông tin đã lĩnh hội một cách nhanh chóng, dễ dàng và hiệu quả Thông qua ôn tập tri thức của người học được hệ thống hóa, đào sâu và mở rộng, trên cơ sở đó từng bước rèn luyện được kĩ năng, kĩ xảo, phát triển trí nhớ cũng như tư duy của người học
1.3.2 Vai trò và vị trí của OTCC trong quá trình nhận thức
Tục ngữ có câu: “Văn ôn, võ luyện” Như vậy, ông cha ta đã đề cao vai trò,
vị trí của việc ôn luyện trong bất cứ lĩnh vực nào Trong giáo dục, việc tái hiện kiến thức cuả nhân loại một cách chính xác, khoa học, dễ hiểu, dễ tiếp thu là một yếu tố vô cùng quan trọng Hoạt động OTCC được tổ chức tốt chiếm một
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vị trí hết sức quan trọng trong QTDH ở bất cứ môn học nào trong nhà trường
Nó là biện pháp cần thiết mà GV phải sử dụng trong QTDH của mình và để giúp người học trong quá trình hoàn thiện tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo Nhờ ôn tập được tổ chức tốt mà những kiến thức đã được học không chỉ được nghi lại trong trí nhớ mà còn được cấu trúc lại, khắc sâu một cách khoa học hơn, cái thứ yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cái cốt lõi được gắn lại với nhau với một chất lượng mới Kiến thức giữ lại trong trí nhơ nếu thiếu ôn tập và nói chung nếu thiếu bất kì sự vận dụng nào thì sẽ bị “teo lại” giống như các cơ
trong cở thể nếu thiếu sự luyện tập
Ôn tập giúp cho việc củng cố tri thức, hiểu rõ tri thức, hoàn thiện tri thức và sau đó là để làm mới lại tri thức trong trí nhớ
Ôn tập có ý nghĩa lớn trong rèn luyện kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng vận dụng kiến thức vào trong các tình huống cụ thể khi ôn tập vật lí
Ôn tập giúp HS hệ thống hóa kiến thức, có một “bức tranh” tổng thể, hệ thống về những kiến thức, luyện tập và phát triển các kỹ năng đã được học
Ôn tập giúp HS đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức đã học; sửa và tránh được các quan niệm sai lầm mắc phải trong và sau khi học lần đầu
1.3.3 Nội dung cần OTCC trong dạy học vật lý
Ôn tập là một khâu trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông,
vì thế ôn tập không tự đề ra nội dung, chương trình riêng cho nó mà trên cơ sở nội dung chương trình của môn học qui định cho từng khóa học mà lựa chọn những vấn đề cơ bản cần ôn tập và sắp xếp có hệ thống những vấn đề đó Ôn tập cũng không tự đề ra phương pháp riêng cho mình mà dựa trên phương pháp dạy học của bộ môn với nội dung cần ôn tập để lựa chọn phương pháp thích hợp nhất trong khoảng thời gian cho phép được qui định của chương trình.[22] Đối với môn vật lí cũng như các môn học khác cái tạo thành nội dung chính của môn học là một hệ thống tri thức cơ bản Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản đó mà thực hiện các nhiệm vụ khác của dạy học vật lí, đó là
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học Trong quá trình dạy học vật lí cần chú ý đến những tác động sư phạm nhằm điều hành quá trình dạy học từ đầu đến cuối như: gợi động cơ, gợi hứng thú, củng cố, ôn tập, kiểm tra, đánh giá…
Trong dạy học Vật lý, một mặt HS phải quan sát thực tế để cảm nhận được
sự tồn tại của thực tế khách quan và những đặc tính bên ngoài của nó, mặt khác
HS phải thực hiện phép suy luận, biến đổi rút ra được các đặc tính bản chất và những mối quan hệ phổ biến khách quan, nhờ thế mà rút ra chân lý mới Trình
tự hợp lý của những hoạt động vật chất và tinh thàn đảm bảo cho kết luận cuối cùng rút ra phản ảnh đúng thực tế khách quan gọi là phương pháp nhận thức vật
lý Các phương pháp nhận thức vật lý đều do các nhà bác học đúc kết được thông qua hoạt động thực tiễn, đã được thực tiễn khẳng định Muốn cho HS làm quen dần với phương pháp đi tìm chân lý mới trong quá trình học tập, nhất thiết phải dạy cho họ các phương pháp nhận thức phổ biến
Tuy nhiên, việc vận dụng các phương pháp đó để nghiên cứu một hiện tượng, một tính chất, một định luật vật lý là một việc không dễ dàng Chính vì thế, trong nhà trường, cần cố gắng làm cho HS biết được người ta thực hiện những hành động nào, trải qua những giai đoạn nào trên con đường đi tìm chân lí; đồng thời tùy theo trình độ của HS và các điều kiện cụ thể của nhà trường
mà tổ chức cho HS tham gia trực tiếp một số giai đoạn của các phương pháp nhận thức đó
Những kiến thức vật lí cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiến thức mới cũng như trong quá trình OTCC đối với chương trình vật lí phổ thông theo quan điểm hiện đại, bao gồm:
- Những khái niệm vật lí, đặc biệt là những khái niệm về đại lượng vật lí
- Những định luật vật lí
- Những thuyết vật lí
- Những ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Kĩ năng xử lí thông tin: Đây là kĩ năng đòi hỏi tư duy cao HS cần được hướng dẫn lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch xử lí các thông tin thu thập được
để rút ra các kết luận cần thiết Hoạt động này thường được tiến hành bởi các hình thức:
+ Thiết kế một phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán
+ Sử dụng bảng biểu, đồ thị, công thức toán để xử lí các số liệu thu được
cá nhân hay của nhóm, báo cáo kết quả hoạt động của nhóm, nhận xét đánh giá
ý kiến của cá nhân… Hoạt động này không những góp phần phát triển ngôn ngữ ở HS mà còn giúp các em rèn luyện các phẩm chất cần thiết để hòa nhập với cuộc sống cộng đồng
1.3.4 Các hình thức OTCC chủ yếu
Hoạt động học tập của HS chủ yếu thông qua hoạt động học tập trên lớp và hoạt động tự học ở nhà Ôn tập của HS ở nhà chính là tạo điều kiện để học tập trên lớp theo giờ giảng đạt hiệu quả hơn OTCC có thể thực hiện dưới nhiều
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hình thức nhưng chủ yếu là hai hình thức: OTCC ngay trong giờ học chính khóa trên lớp và OTCC ngoài giờ học chính khóa [20]
1.3.4.1 OTCC trong giờ học chính khóa
Ôn tập được tiến hành ngay trong mỗi bài học hằng ngày, thực hiện ngay trước và trong khi HS tìm hiểu, tiếp thu kiến thức mới dựa trên cơ sở của những kiến thức đã học trước đó Việc OTCC thông qua các câu hỏi được GV chuẩn bị trước, đó là các câu hỏi kiểm tra bài cũ đầu giờ, hoặc những câu hỏi đặt ra trong tiết học nhằm gợi lại những kiến thức cũ trên cơ sở đó để hình thành kiến thức mới trong bài học
Ôn tập ngay sau khi HS vừa học xong bài mới, nhằm củng cố, khắc sâu, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốt lõi của bài học Việc OTCC thường được tiến hành bằng cách đưa ra các câu hỏi, phiếu học tập để HS trả lời hoặc làm các bài tập có tính chất hệ thống hóa, tổng kết những kiến thức trọng tâm, cơ bản của bài học
Ôn tập sau khi kết thúc một chương hoặc một phần chương trình.Hình thức ôn tập này thường được thực hiện trong một (hoặc vài) tiết học riêng biệt Mục đích sư phạm của tiết ôn tập là chỉnh lí lại, hệ thống lại, tìm ra mối quan
hệ logic giữa các kiến thức mà HS đã được học trong một phần của tài liệu học, tạo cho HS cái nhìn toàn diện, tổng quát về nội dung kiến thức trong phần đó
Ôn tập tổng kết được áp dụng khi chương trình kết thúc vào cuối kì, cuối năm Ôn tập tổng kết không phải đơn thuần khôi phục lại trong trí nhớ mọi tri thức đã học Mục đích của nó là nâng cao tri thức cho HS lên một trình độ mới cao hơn.Trước hết nó phải đảm bảo hệ thống hóa lại các tri thức đã học, điều đó đạt được nhờ nội dung của vấn đề cần ôn tập
1.3.4.2 OTCC ngoài ngờ học chính khóa
Hình thức này diễn ra sau giờ học chính khóa và dưới sự hướng dẫn gián tiếp của GV thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập mang tính định hướng trong các giờ học tự chọn, bổ trợ kiến thức HS thực hiện việc ôn tập của mình bằng
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cách đọc lại bài học hoặc tái hiện lại nội dung bài học Sau đó trả lời câu hỏi của GV hoặc câu hỏi trong SGK hoặc tự đặt câu hỏi để trả lời.Đồng thời cần tìm đọc các tài liệu có liên quan để mở rộng và đào sâu những kiến thức đã học Trong quá trình ôn tập HS có thể trao đổi với bạn bè về kết quả ôn tập của mình, sau đó ghi chép lại toàn bộ nội dung ôn tập bằng cách tóm tắt bài học, lập dàn ý, sơ đồ, bảng biểu; bằng cách xây dựng đáp án trả lời câu hỏi hay bằng cách vận dụng kiến thức của bài học
Theo quan niệm mới về đổi mới PPDH thì cốt lõi là phương pháp tự học.Dạy cho HS biết tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức cũng như tự OTCC kiến
thức, dạy cho HS biết phối hợp hoạt động trong nhóm dưới sự hướng dẫn của GV.Vì vậy, hoạt động tự OTCC cũng như hoạt động OTCC trong nhóm như thế nào trong thời gian hiện nay và trong tương lai là hết sức quan trọng và cần chiếm tỉ lệ thích đáng Hơn nữa, cùng với sự phát triển CNTT, việc tổ chức cho
HS tự OTCC và OTCC trong nhóm thông qua việc xây dựng các Website, các Forum trên mạng dưới sự điều khiển của thầy giáo thông qua việc xây dựng các chương trình ôn tập phân nhánh, thông qua các bài trắc nghiệm có phản hồi, hướng dẫn, các thí nghiệm ảo, thí nghiệm minh họa khảo sát chưa được sử dụng trong quá trình học kiến thức mới là có thể làm được để nâng cao chất lượng OTCC
1.3.5 Các phương pháp OTCC ngoài giờ học chính khóa
1.3.5.1 Đọc lại và hoàn thành những bài tập tự luận, trắc nghiệm ở nhà có tác dụng giúp học sinh tự OTCC kiến thức
HS học tập ở nhà là sự tiếp tục một cách có logic hình thức trên lớp Ở đây, HS phải tự đọc lại và hoàn thành các bài tập do GV đề ra sau các bài học trên lớp Ngoài những bài tập về nhà chung cho cả lớp, GV có thể ra các bài tập riêng cho các HS khá, giỏi và HS yếu, kém Như vậy học tập ở nhà có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của QTDH Nó có tác dụng OTCC, đào sâu, mở rộng, khái quát hóa và hệ thống hóa tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, góp phần
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thúc đẩy nhanh chóng ở HS năng lực tự học, năng lực làm việc cá nhân, độc lập
Nó còn cho phép thực hiện được sự cá biệt hóa việc DH, giúp lấp những trong trí thức của những HS yếu, kém và phát triển năng lực sáng tạo ở HS khá, giỏi Vì
HS tự thực hiện những nhiệm vụ học tập do GV giao cho, trong quá trình thực hiện không có sự hướng dẫn của GV; GV đánh giá kết quả của hoạt động tự học thông qua mức độ hoàn thành công việc của HS.Nội dung tự học cũng rất đa dạng,
tùy thuộc nội dung chương trình và đối tượng HS
1.3.5.2 Hoạt động ngoại khóa góp phần tự OTCC kiến thức
Hoạt động ngoại khóa vật lí là một trong những hoạt động ngoài giờ lêp lớp, có
tổ chức, có kế hoạch, có phương hướng xác định, được HS tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện ở ngoài giờ trên lớp học dưới sự hướng dẫn của GV vật lí nhằm gây hứng thú, phát triển tư duy, rèn luyện một số kĩ năng, bổ sung và mở rộng kiến thức cho HS; nó có tác dụng lớn về mặt giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục kĩ thuật tổng hợp[13]
Hoạt động ngoại khóa vật lí góp phần bổ sung kiến thức cho nội khoá, củng cố, đào sâu mở rộng hợp lí các kiến thức trong chương trình vật lí, bổ sung những kiến thức còn thiếu hụt hay mắc sai lầm khi học nội khoá
Hiện nay, hoạt động ngoại khóa đã và đang được thực hiện tại các trường phổ thông trên toàn quốc, nhiều đề tài khoa học giáo dục nghiên cứu về ngoại khóa thuộc nhiều bộ môn như: vật lý, toán học, hóa học…đã bổ sung nhiều kĩ năng, kĩ thuật tổng hợp cho HS
1.3.5.3 Tham gia xây logic hình thành các kiến thức thông qua xây dựng sơ đồ Graph về từng phần hay toàn bộ hệ thống kiến thức cần ôn tập
Graph trong lí thuyết graph bắt nguồn từ “graphic” có nghĩa là tạo ra một hình ảnh rõ ràng, chi tiết sinh động trong tư duy Trong toán học, Graph được định nghĩa: Graph gồm một tập hợp điểm gọi là đỉnh của Graph cùng với một tập hợp đoạn thẳng (hoặc cong) gọi là các cạnh của Graph, mỗi cạnh nối hai đỉnh khác nhau và hai đỉnh khác nhau được nối với nhau bằng nhiều nhất một cạnh [4]
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Nếu với mỗi cạnh của Graph không phân biệt điểm gốc (đầu) với điểm ngọn (cuối) thì đó là Graph vô hướng
- Nếu với mỗi cạnh của Graph, ta phân biệt hai đầu, một đầu là gốc và một đầu là ngọn thì đó là Graph có hướng
Phương pháp graph dạy học được hiểu là phương pháp tổ chức rèn luyện tạo được những sơ đồ học tập ở trong tư duy của HS.Trên cơ sở đó hình thành một phong cách tư duy khoa học mang tính hệ thống Những ứng dụng của lí thuyết graph:
- Dùng graph để hệ thống hóa khái niệm trong một tổng thể, giúp mở rộng hiểu biết về đối tượng nghiên cứu
- Dùng graph cấu trúc hóa nội dung tài liệu giáo khoa: là tạo nên mối liên
hệ giữa các đơn vị kiến thức trong một hệ thống nhất định (trong một chương trình, một chương hay một bài)
- Dùng graph hướng dẫn HS tự học, hoàn thiện tri thức: GV có thể để cho HS tự thiết kế các graph hoặc hoàn thiện các graph do GV gợi ý Hệ thống hóa kiến thức giúp HS có một bức tranh tổng thể, hệ thống về những kiến thức được học trong một lĩnh vực nhất định Sử dụng graph trong khâu này có các mức độ sau:
+ Mức độ thứ nhất: giáo viên đưa ra:
- Các yếu tố có trong graph đã có chiều mũi tên nối các đỉnh nhưng nội dung ở các đỉnh còn trống
- Các yếu tố có trong graph chưa có chiều mũi tên nối các đỉnh và các đỉnh đã điền đủ (hoặc thiếu) các yếu tố nội dung
- Chưa có các cạnh rồi yêu cầu HS điền thông tin vào những chỗ trống
đó, tạo các liên kết giữa các đỉnh theo các chiều từ yếu tố cơ bản đến yếu tố dẫn xuất…
+ Mức độ thứ hai: HS tự xây dựng graph thể hiện các kiến thức đã học theo một logic mà mỗi HS tự xác định, GV chỉ nêu định hướng chung, những yêu cầu cơ bản của bài ôn tập
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Sử dụng graph trong khâu hoàn thiện tri thức là sự kết hợp giữa khâu học
ở lớp với khâu tự học ở nhà dưới sự hướng dẫn của giáo viên [4]
Tuy nhiên, các phương pháp OTCC như: Đọc lại và hoàn thành những bài tập tự luận, trắc nghiệm hay xây dựng loogic hình thành các kiến thức thông qua xây dựng các Graph về từng phần hay toàn bộ hệ thống kiến thức cần ôn tập cũng có thể được sử dụng trong giờ ôn tập chính khóa
1.3.6 Phương tiện hỗ trợ hoạt động OTCC
Phương tiện dạy học là các phương tiện sư phạm đối tượng – vật chất do giáo viên hoặc (và) học sinh sử dụng dưới sự chỉ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học, tạo những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học Phương tiện dạy học có thể được sử dụng một cách đa dạng trong quá trình củng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hóa) kiến thức, kĩ năng của học sinh [8]
1.3.6.1 Sách (giáo khoa, bài tập, các tư liệu khác )
Sách là một công cụ chứa đựng hệ thống tri thức.Sách là hình thức vật chất, còn nội dung của nó là tri thức, mà cốt lõi của tri thức là hệ thống khái niệm
Do đó, khi đọc sách con người dùng năng lực tư duy, năng lực ngôn ngữ và toàn bộ kinh nghiệm xã hội vốn có của mình để tách khái niệm khỏi hệ thống
từ ngữ mà lĩnh hội chúng, đó là một con đường nhận thức, con đường tái tạo lại tri thức, một phương thức lĩnh hội khái niệm Khả năng lĩnh hội khái niệm qua con đường đọc sách phụ thuộc vào nhiều yếu tố.[19]
1.3.6.2 Các tư liệu, bài tập, bài kiểm tra (trắc nghiệm và tự luận) trên mạng (dưới dạng web )
Các tư liệu như các mô hình mô phỏng các hiện tượng và quá trình vật lí, các đoạn video có thể dùng trong giai đoạn vận dụng các kiến thức đã học để xây dựng trang Web củng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hóa) kiến thức, kĩ năng của HS
Các bài kiểm tra, bài trắc nghiệm được xem như phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng trong dạy học Theo chúng tôi, việc soạn thảo công phu các
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
câu hỏi, bài tập trắc nghiệm có phản hồi những sai lầm, khó khăn phổ biến của
HS và hướng dẫn HS tự đọc tài liệu dựa trên công nghệ thiết kế web hợp lí thì
sẽ tạo ra được một công cụ, phương tiện hữu hiệu để định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần ôn tập, đánh giá mục tiêu và phương pháp dạy học,
mà hiện nay rất ít các bài tập trên mạng như vậy
Web có ưu thế ở các tính năng tạo lập và quản lý nội dung ôn tập như: Giao – nộp bài, trao đổi trực tuyến giữa GV và học viên, giữa các học viên (chat), tạo lập các diễn đàn, … Đặc biệt là tính năng “Quản lý học viên” – một tính năng đặc biệt quan trọng của công nghệ thiết kế web - bao gồm: kết nạp và theo dõi thông tin học viên trong khóa học, chia học viên thành các nhóm (lớp học, khóa học), các đối tượng mong muốn ( nhóm đối tượng có trình độ như nhau, nhóm ghép HS khá và HS yếu để giúp đỡ nhau qua forum …), lên lịch các
sự kiện của site hoặc khóa học…, áp dụng tỉ lệ cho các hoạt động khác nhau cho học viên, quản lí điểm, theo dõi lần truy cập của học viên và tải lên các file ở ngoài để sử dụng cho khóa học… GV có thể phân quyền truy cập vào nội dung
ôn tập đối với từng nhóm đối tượng như: ôn tập cho mọi người, cho nhóm hay
HS khá, nhóm hay HS trung bình hoặc nhóm hay HS yếu … Với khả năng tính toán của máy tính thì có thể dễ dàng và nhanh chóng thực hiện kiểm tra trên Web
và chấm trên Web theo thang điểm đã đặt ra
1.3.6.3 Phần mềm dạy học hỗ trợ OTCC
Phần mềm dạy học (PMDH) là phương tiện hỗ trợ chứa chương trình đã được thiết lập sẵn để ra lệnh cho máy tính thực hiện các yêu cầu về nội dụng và phương pháp dạy học theo các mục tiêu đã định
Khác với các PTDH khác, PMDH là một dạng vật chất đặc biệt, là các câu lệnh chứa thông tin, dữ liệu để hướng dẫn máy vi tính thực hiện các thao tác xử lí theo một thuật toán xác định trước Các PMDH được lưu trữ trong các thiết bị nhớ ngoài của máy vi tính như trong các đĩa cứng, đĩa mềm, đĩa CD PMDH rất gọn nhẹ, rất dễ nhân bản với số lượng lớn, không cồng kềnh, dễ bảo
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quản, dễ vận chuyển, dễ sử dụng, sinh động và hấp dẫn Tùy thuộc vào môn học cụ thể mà xây dựng các PMDH tương ứng để phục vụ cho dạy và học môn
đó, do vậy có các PMDH bộ môn Tùy thuộc vào hình thức sử dụng và chức năng sư phạm mà phần mềm đảm nhận có thể phân chia các PMDH thành các loại khác nhau [17]
Trong dạy học vật lí có thể phân chia các PMDH thành các nhóm như sau:
- Phần mềm mô phỏng, minh họa: thường gọi là phần mềm mô phỏng
- Phần mềm xử lí các số liệu thực nghiệm dùng hỗ trợ cho các thí nghiệm vật lí: thường gọi là phần mềm hỗ trợ thí nghiệm vật lí
- Phần mềm ôn tập, tổng kết, hệ thống hóa kiến thức của từng phần, từng chương trong SGK
- Phần mềm kiểm tra, đánh giá kiến thức của HS
Như vậy, bên cạch rất nhiều chức năng thì PMDH cũng có chức năng hố trợ OTCC và KTĐG kiến thức về một nội dung nào đó
1.3.7 Mối quan hệ giữa OTCC và KTĐG
1.1.7.1 Kiểm tra, đánh giá và vai trò của KTĐG kết quả học tập
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình
độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn
Kiểm tra là phương tiện và hình thức của đánh giá.Trong kiểm tra, người
ta xác định trước các tiêu chí và không thay đổi chúng trong quá trình kiểm tra Như vậy, kiểm tra là quá trình hẹp hơn đánh giá, hay nói khác đi kiểm tra là một khâu của quá trình đánh giá
KTĐG là một bộ phận hợp thành quan trọng không thể thiếu của QTDH KTĐG kết quả học tập nhằm những mục đích chính sau đây:
- Đối với HS:
+) Thúc đẩy, động viên HS cố gắng khắc phục thiếu sót, phát huy năng lực của mình để học tập kết quả hơn
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+) Giúp HS củng cố tri thức, kĩ năng, phát triển trí tuệ;
+) Hình thành ở HS thói quen, nhu cầu tự kiểm tra, tự đánh giá, xác định động cơ, thái độ học tập đúng đắn;
+) Giúp HS rèn luyện tinh thần trách nhiệm, thói quen tốt trong học tập;
- Đối với GV:
+) Cung cấp cho GV thông tin về QTDH từ đó có các điều chỉnh phù hợp; +) Giúp giáo GV định ra các nhiệm vụ, mục tiêu dạy học phù hợp với HS; +) Tác động tới phương pháp dạy của GV và phương pháp học của HS;
- Đối với các cơ quan quản lí và nghiên cứu giáo dục:
+) Giúp các nhà quản lí ra quyết định hoàn thiện nội dung giáo dục, định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Chúng tôi cho rằng KTĐG trong quá trình dạy học là thu tập số liệu, chứng cứ để đánh giá kết quả học tập, phát hiện những thiếu sót nhằm củng cố,
mở rộng, điều chỉnh, tăng cường việc học tập và phát triển của HS
1.1.7.2 Mối quan hệ giữa OTCC và KTĐG
OTCC và KTĐG là hai công việc có nội dung khác nhau nhưng có quan
hệ mật thiết với nhau Ôn tập và kiểm tra liên hệ giữa chúng vô cùng khăng khít.Tổ chức ôn tập để tuyệt đối hóa nó, không có yếu tố kiểm tra hoặc tổ chức kiểm tra để tuyệt đối hóa nó, không có yếu tố ôn tập như thế không thể có được.Ở đây công việc tiến hành chỉ là trong trường hợp thứ nhất, những yếu tố
ôn tập trội hơn yếu tố kiểm tra, hoặc trong trường hợp thứ hai thì ngược lại.Thực tế việc giảng dạy ở trường phổ thông cho thấy rõ điều này
Ôn tập được tổ chức theo tiết học thông qua kiểm tra (vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm…) và việc đánh giá đúng trình độ nhận thức của HS qua kiểm tra giúp GV lựa chọn đúng nội dung và đối tượng cần ôn tập Ôn tập tốt giúp người học thể hiện tốt trình độ nhận thức của mình trong bài kiểm tra trên lớp