1. Cơ sở lí luận của hoạt động OTCC 1.1.Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập Theo từ điển tiếng Việt (2008) của Viện khoa học Việt Nam: Ôn tập là học để nhớ, để nắm chắc; Ôn tập là hệ thống hóa lại kiến thức đã dạy để HS nắm chắc chương trình20. Theo từ điển tiếng Việt mới của trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội (Hoàng Phê chủ biên) và từ điển tiếng Việt chuyên ngành thì: Ôn tập là học và luyện lại những điều đã học để nắm chắc, để nhớ lâu. Như vậy, ôn tập có thể được hiểu là quá trình học lại và luyện lại những điều đã học để nhớ, để nắm chắc. Theo các nhà giáo dục học (Nguyễn Ngọc Bảo; Hà Thị Đức; Nguyễn Bá Kim;…) 1, 9: Ôn tập là giúp học sinh củng cố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo; tạo điều kiện cho giáo viên sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của học sinh, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng như phát triển năng lực nhận thức, chú ý cho học sinh. Ôn tập còn giúp học sinh mở rộng đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm vững chắc những kĩ năng, kĩ xảo đã được hình thành. Theo các nhà tâm lí học 8: Ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sự cấu trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc mới kết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới. Khi cần có thể tái hiện lại những thông tin và sử dụng những thông tin đó có hiệu quả cho nhiều hoạt động khác nhau. Ôn tập còn là một quá trình giúp HS xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, tổ chức lại thông tin đó nếu thấy có chỗ chưa hợp lí hay có chỗ chưa tối ưu, góp phần củng cố và khắc họa thông tin để có thể sử dụng thông tin có hiệu quả trong các hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau. Từ những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng ôn tập là quá trình người học xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, bổ sung, chỉnh lí thông tin và tổ chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn, giúp cho người học vận dụng thông tin đã lĩnh hội một cách nhanh chóng, dễ dàng và hiệu quả. Thông qua ôn tập, tri thức của người học được hệ thống hoá, đào sâu và mở rộng, trên cơ sở đó mà từng bước rèn luyện được các kĩ năng, kĩ xảo, phát triển trí nhớ cũng như tư duy của người học.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
========
PHẠM THỊ HẰNG
XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ
ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
KIẾN THỨC CHƯƠNG “DAO ĐỘNG VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ”
- VẬT LÍ 12
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Vật lý
Mã số : 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHẠM XUÂN QUẾ
Trang 2CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ HỖ TRỢ CỦA WEBSITE ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
CỦA HỌC SINH TRONG CÁC TRƯỜNG THPT
1 Cơ sở lí luận của hoạt động OTCC
1.1.Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập
Theo từ điển tiếng Việt (2008) của Viện khoa học Việt Nam: Ôn tập là học
để nhớ, để nắm chắc; Ôn tập là hệ thống hóa lại kiến thức đã dạy để HS nắm chắcchương trình[20]
Theo từ điển tiếng Việt mới của trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội(Hoàng Phê chủ biên) và từ điển tiếng Việt chuyên ngành thì: Ôn tập là học vàluyện lại những điều đã học để nắm chắc, để nhớ lâu
Như vậy, ôn tập có thể được hiểu là quá trình học lại và luyện lại nhữngđiều đã học để nhớ, để nắm chắc
Theo các nhà giáo dục học (Nguyễn Ngọc Bảo; Hà Thị Đức; Nguyễn BáKim;…) [1], [9]: Ôn tập là giúp học sinh củng cố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo; tạođiều kiện cho giáo viên sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của họcsinh, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng nhưphát triển năng lực nhận thức, chú ý cho học sinh Ôn tập còn giúp học sinh mởrộng đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm vững chắcnhững kĩ năng, kĩ xảo đã được hình thành
Theo các nhà tâm lí học [8]: Ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sự cấutrúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc mớikết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới Khi cần có thể táihiện lại những thông tin và sử dụng những thông tin đó có hiệu quả cho nhiều hoạt
Trang 3động khác nhau
Ôn tập còn là một quá trình giúp HS xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, tổchức lại thông tin đó nếu thấy có chỗ chưa hợp lí hay có chỗ chưa tối ưu, góp phầncủng cố và khắc họa thông tin để có thể sử dụng thông tin có hiệu quả trong cáchoạt động ở nhiều mức độ khác nhau
Từ những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng ôn tập là quá trình người họcxác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, bổ sung, chỉnh lí thông tin và tổ chức lại thôngtin theo một cấu trúc khoa học hơn, giúp cho người học vận dụng thông tin đã lĩnhhội một cách nhanh chóng, dễ dàng và hiệu quả Thông qua ôn tập, tri thức củangười học được hệ thống hoá, đào sâu và mở rộng, trên cơ sở đó mà từng bước rènluyện được các kĩ năng, kĩ xảo, phát triển trí nhớ cũng như tư duy của người học
1.2 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức
Tái hiện kiến thức của nhân loại một cách chính xác, khoa học, dễ hiểu, dễtiếp thu là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong dạy học Ôn tập được tổ chức tốtcũng chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình dạy học ở bất cứ môn họcnào trong nhà trường Nó là biện pháp cần thiết mà GV phải sử dụng trong việcdạy học của mình và nó giúp người học trong quá trình hoàn thiện tri thức và rènluyện kỹ năng, kỹ xảo Nhờ ôn tập được tổ chức tốt mà những kiến thức đã đượchọc không chỉ được ghi lại trong trí nhớ mà còn được cấu trúc lại, khắc sâu mộtcách khoa học hơn, cái thứ yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cái chủ yếu được gắnlại với nhau và có một chất lượng mới Kiến thức giữ lại trong trí nhớ nếu thiếu ôntập, và nói chung nếu thiếu bất kỳ sự vận dụng nào thì sẽ bị “teo lại” giống như các
cơ trong cơ thể nếu thiếu sự luyện tập
Ôn tập cần thiết cho việc củng cố tri thức, hiểu sâu tri thức và hoàn thiện trithức và sau đó là để làm mới lại chúng trong trí nhớ lúc này hoặc lúc khác Ôn tậpcòn có một ý nghĩa lớn hơn trong việc rèn luyện kỹ năng đặc biệt là kĩ năng vậndụng kiến thức vào trong các tình huống cụ thể khi ôn tập vật lí Không có gì tai
Trang 4hại hơn là khi tiếp thu một kiến thức rời rạc và thiếu ổn định, người thầy nếu cungcấp một lượng kiến thức rời rạc sẽ gây khó khăn cho việc tri giác kiến thức mới vàcủng cố kiến thức cũ Những kiến thức cũ cần được củng cố, điều chỉnh là để “giảiphóng bộ óc” giúp cho việc lĩnh hội kiến thức mới dễ dàng và nhanh chóng, bởi vìchỉ có thể cố định kiến thức cũ thì mới dùng nó làm chỗ dựa cho kiến thức mớiđược.[17]
Thông qua việc OTCC giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức, có một “bứctranh” tổng thể, hệ thống về những kiến thức, luyện tập và phát triển các kĩ năng đãđược học, giúp học sinh đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa và tránhđược các quan niệm sai lầm thường mắc phải trong và sau khi học lần đầu
1.3 Nội dung cần OTCC trong dạy học vật lí
Ôn tập là một khâu trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông,
vì thế ôn tập không tự đề ra nội dung, chương trình riêng cho nó mà trên cơ sở nộidung chương trình của môn học quy định cho từng khóa học mà lựa chọn nhữngvấn đề cơ bản cần ôn tập và sắp xếp có hệ thống những vấn đề đó Ôn tập cũngkhông tự đề ra phương pháp riêng cho mình mà dựa trên phương pháp dạy học của
bộ môn với nội dung cần ôn tập để lựa chọn phương pháp thích hợp nhất trongkhoảng thời gian cho phép được quy định của chương trình
Đối với môn vật lí, những kiến thức vật lí cơ bản sẽ tạo nên nội dung chínhcủa môn học Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản đó mà thực hiệncác nhiệm vụ khác của dạy học vật lí, trước hết là phát triển năng lực nhận thức,năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học Trong quá trình dạy học vật
lí cần chú ý đến những tác động sư phạm khác nhằm điều hành quá trình dạy học
từ đầu đến cuối, thí dụ như: gợi động cơ, hứng thú, củng cố, ôn tập, điều chỉnh,kiểm tra, đánh giá…
Trong học tập vật lí, một mặt HS phải quan sát thực tế để cảm nhận được sựtồn tại của thực tế khách quan và những đặc tính bên ngoài của nó, mặt khác HS
Trang 5phải thực hiện các phép suy luận, biến đổi để rút ra được các đặc tính bản chất vànhững mối quan hệ phổ biến khách quan, nhờ thế mà rút ra chân lí mới Trình tựhợp lí của những hoạt động vật chất và tinh thần đảm bảo cho kết luận cuối cùngrút ra phản ánh đúng thực tế khách quan gọi là phương pháp nhận thức vật lí Cácphương pháp nhận thức vật lí đều do các nhà bác học đúc kết được thông qua hoạtđộng thực tiễn, đã được thực tiễn khẳng định Muốn cho HS làm quen dần vớiphương pháp đi tìm chân lí mới trong quá trình học tập, nhất thiết phải dạy cho họcác phương pháp nhận thức phổ biến
Tuy nhiên, việc vận dụng các phương pháp đó để nghiên cứu một hiệntượng, một tính chất, một định luật vật lí là một việc không dễ dàng Chính vì thế,trong nhà trường, cần cố gắng làm cho HS biết được người ta thực hiện nhữnghành động nào, trải qua những giai đoạn nào trên con đường đi tìm chân lí; đồngthời tuỳ theo trình độ của HS và các điều kiện cụ thể của nhà trường mà tổ chứccho HS tham gia trực tiếp một số giai đoạn của các phương pháp nhận thức đó
Những kiến thức vật lí cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiến thứcmới cũng như trong quá trình OTCC trong chương trình vật lí phổ thông gồm cácloại sau [13]:
- Những khái niệm vật lí, đặc biệt là khái niệm về đại lượng vật lí
- Những định luật vật lí
- Những thuyết vật lí
- Những ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật
- Những phương pháp nhận thức vật lí
Một số kĩ năng HS cần phải có để nâng cao hiệu quả OTCC:
- Kĩ năng thu thập thông tin: Thông qua việc tự làm thí nghiệm hay quan sátcác hiện tượng trong tự nhiên, đời sống hàng ngày; kĩ năng đọc sách, tài liệu; kĩnăng quan sát, đọc đồ thị, biểu đồ; kĩ năng khai thác thông tin trên mạng Internet,
Để thu thập được đúng và đủ các thông tin cần thiết, học sinh cần bám sát mục tiêu
Trang 6hoạt động học tập Mục tiêu này do học sinh tự xác định dưới sự hướng dẫn củagiáo viên, trong một vài trường hợp có thể giáo viên nêu mục tiêu
- Kĩ năng xử lí thông tin: Đây là kĩ năng đòi hỏi tư duy cao Học sinh cầnđược hướng dẫn lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch xử lí các thông tin thu thậpđược để rút ra các kết luận cần thiết Hoạt động này thường được tiến hành bởi cáchình thức:
+ Thiết kế một phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán
+ Sử dụng biểu bảng, đồ thị, công thức toán để xử lí các số liệu thu được từthí nghiệm
+ Tiến hành các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, qui nạp, suydiễn… các thông tin thu được để rút ra các kết luận
- Kĩ năng truyền đạt thông tin: trình bày, viết, báo cáo kết quả, nhận xét ý kiến
cá nhân hay của nhóm, báo cáo kết quả hoạt động của nhóm, nhận xét đánh giá ýkiến của cá nhân…Hoạt động này không những góp phần phát triển ngôn ngữ ởhọc sinh mà con giúp các em rèn luyện các phẩm chất cần thiết để hoà nhập vớicuộc sống cộng đồng
1.4 Các hình thức ôn tập
Hoạt động học tập ôn tập của học sinh chủ yếu thông qua hoạt động học tậptrên lớp và hoạt động tự học ở nhà Ôn tập của học sinh ở nhà chính là tạo điềukiện để học tập trên lớp theo giờ giảng đạt hiệu quả hơn OTCC có thể thực hiệndưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu là hai hình thức: OTCC ngay trong giờ họcchính khóa trên lớp và OTCC ngoài giờ học chính khóa [17]
1.4.1 OTCC kiến thức ngay trong giờ lên lớp
- Ôn tập ngay trước và trong khi học sinh tìm hiểu, tiếp thu kiến thức mớidựa trên cơ sở của những kiến thức đã học trước đó Hình thức này thường đượctiến hành ngay trong mỗi bài học hằng ngày, thực hiện thông qua hệ thống các câuhỏi được giáo viên chuẩn bị sẵn, đó là các câu hỏi kiểm tra bài cũ đầu giờ, hoặc
Trang 7những câu hỏi đặt ra trong tiết học nhằm gợi lại kiến thức cũ mà nó là cơ sở đểhình thành kiến thức mới trong bài học.
- Ôn tập được thực hiện ngay sau khi học sinh vừa học bài mới, nhằm củng
cố những kiến thức học sinh vừa mới lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốtlõi của bài học Hình thức này có thể tiến hành vào cuối tiết học bằng cách đưa racác câu hỏi để học sinh trả lời hoặc làm các bài tập có tính chất hệ thống hóa, tổngkết những kiến thức cơ bản của bài học
- Ôn tập sau khi kết thúc một chương hoặc một phần chương trình Hìnhthức ôn tập này thường được thực hiện trong một (hoặc một vài) tiết học riêng biệt.Mục đích sư phạm của các tiết ôn tập như vậy là chỉnh lí lại, hệ thống lại, tìm ramối liên hệ logic giữa các kiến thức mà học sinh đã được lĩnh hội trong một phầncủa tài liệu học; tạo cho học sinh có cái nhìn toàn diện về nội dung kiến thức trongphần đó
- Ôn tập tổng kết được áp dụng khi chương trình kết thúc vào cuối kỳ, cuốinăm Ôn tập tổng kết không phải đơn thuần khôi phục lại trong trí nhớ mọi tri thức
đã học Mục đích của nó là nâng cao tri thức cho học sinh lên một trình độ mới caohơn Trước hết là nó phải đảm bảo hệ thống hóa lại các tri thức đã học, điều đó đạtđược nhờ nội dung của vấn đề cần ôn tập
1.4.2 OTCC kiến thức ngoài giờ lên lớp
Hình thức này diễn ra sau giờ lên lớp và dưới sự hướng dẫn gián tiếp củagiáo viên thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập mang tính định hướng trong cácgiờ học tự chọn, bổ trợ kiến thức Học sinh thực hiện việc ôn tập của mình bằngcách đọc lại bài học hoặc tái hiện lại nội dung bài học như cấu trúc của các phần,các mục, nội dung của các đề mục trong bài học Sau đó trả lời các câu hỏi củagiáo viên hoặc câu hỏi trong sách giáo khoa, hoặc tự đặt ra câu hỏi để trả lời Đồngthời cần tìm đọc các tài liệu có liên quan để mở rộng và đào sâu những kiến thức
đã học Trong quá trình ôn tập học sinh có thể trao đổi với bạn bè về kết quả ôn tập
Trang 8của mình, sau đó ghi chép lại toàn bộ nội dung ôn tập bằng cách tóm tắt bài học,xây dựng dàn ý, sơ đồ, bảng biểu; bằng cách xây dựng đáp án trả lời câu hỏi haybằng cách vận dụng kiến thức của bài học
Theo quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm hiện nay, dạy học là dạyhọc sinh biết tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức cũng như tự OTCC kiến thức, dạy học
là dạy học sinh biết phối hợp hoạt động trong nhóm dưới sự hướng dẫn của thầy.Hoạt động tự OTCC cũng như hoạt động OTCC trong nhóm HS trong hiện tại vàtương lai là hết sức quan trọng Hơn nữa, ngày nay CNTT phát triển, việc tổ chứccho học sinh tự OTCC và OTCC trong nhóm thông qua việc xây dựng cácWebsite, các diễn đàn trên mạng dưới sự điều khiển của giáo viên thông qua việcxây dựng các chương trình ôn tập phân nhánh, thông qua các bài trắc nghiệm cóphản hồi, hướng dẫn, các thí nghiệm ảo, thí nghiệm minh họa khảo sát chưa được
sử dụng trong quá trình học kiến thức mới là có thể làm được để nâng cao chấtlượng OTCC
1.5 Các phương pháp OTCC ngoài giờ lên lớp
1.5.1 Đọc lại và hoàn thành những bài tập tự luận, trắc nghiệm ở nhà có tác dụng giúp HS tự OTCC kiến thức.
Học tập ở nhà có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng củaquá trình dạy học HS học tập ở nhà là sự tiếp tục một cách có lôgic hình thức họctập trên lớp Ở nhà, HS phải tự lực đọc lại và hoàn thành các bài tập (dưới dạng tựluận và trắc nghiệm) do GV đề ra sau các giờ lên lớp Ngoài những bài tập về nhàchung cho cả lớp, GV có thể ra những bài tập riêng cho các HS kém và giỏi Họctập ở nhà có tác dụng củng cố, đào sâu, mở rộng, khái quát hóa và hệ thống hóa trithức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo; góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng ở
HS năng lực tự học, năng lực làm việc độc lập Nó còn cho phép thực hiện được sự
cá biệt hóa việc dạy học, giúp lấp những lỗ hổng trong tri thức của những HS kém
và phát triển năng lực sáng tạo ở HS giỏi
Trang 91.5.2 Xây dựng lôgic hình thành các kiến thức thông qua xây dựng các sơ đồ Graph về từng phần hay toàn bộ hệ thống kiến thức cần ôn tập.
Graph trong lí thuyết Graph bắt nguồn từ “Graphic” có nghĩa là tạo ra mộthình ảnh rõ ràng, chi tiết sinh động trong tư duy Trong toán học, Graph được địnhnghĩa: Graph gồm một tập hợp điểm gọi là đỉnh của Graph cùng với một tập hợpđoạn thẳng (hoặc cong) gọi là các cạnh của Graph, mỗi cạnh nối hai đỉnh khácnhau và hai đỉnh khác nhau được nối với nhau bằng nhiều nhất một cạnh.[4]
- Nếu với mỗi cạnh của Graph không phân biệt điểm gốc (đầu) với điểmngọn (cuối) thì đó là Graph vô hướng
Trang 10yếu tố.
* Những ứng dụng của lí thuyết Graph trong dạy học:
Dùng Graph để hệ thống hóa khái niệm trong một tổng thể, giúp mở rộngnhững hiểu biết về đối tượng nghiên cứu
Dùng Graph cấu trúc hóa nội dung tài liệu giáo khoa, tạo nên mối liên hệgiữa các đơn vị kiến thức trong một hệ thống nhất định (trong một chương trình,một chương hay một bài)
Dùng Graph hướng dẫn học sinh tự học, hoàn thiện tri thức: giáo viên có thể
để cho học sinh tự thiết kế các Graph hoặc hoàn thiện các Graph do giáo viên gợi
ý Hệ thống hóa kiến thức giúp học sinh có bức tranh tổng thể, hệ thống về nhữngkiến thức được học trong một lĩnh vực nhất định Sử dụng Graph trong khâu này
có các mức độ sau:
- Mức độ thứ nhất: giáo viên đưa ra:
- các yếu tố có trong Graph đã có chiều mũi tên nối các đỉnh nhưng nộidung ở các đỉnh còn trống, hoặc
- các yếu tố có trong Graph chưa có chiều mũi tên nối các đỉnh và cácđỉnh đã điền đủ (hoặc thiếu) các yếu tố nội dung,
- chưa có các cạnh rồi yêu cầu học sinh điền thông tin vào những chỗtrống đó, tạo các liên kết giữa các đỉnh theo các chiều từ yếu tố cơbản đến yếu tố dẫn xuất v v
- Mức độ thứ hai: học sinh tự xây dựng Graph thể hiện các kiến thức đã họctheo một lôgic mà mỗi học sinh tự xác định, giáo viên chỉ nêu định hướng chung,những yêu cầu cơ bản của bài ôn tập
Sử dụng Graph trong khâu hoàn thiện tri thức là sự kết hợp giữa khâu học ởlớp với khâu tự học ở nhà dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Tuy nhiên, các phương pháp OTCC như: đọc lại và hoàn thành những bàitập tự luận, trắc nghiệm hay xây dựng lôgic hình thành các kiến thức thông qua xây
Trang 11dựng các sơ đồ-Graph về từng phần hay toàn bộ hệ thống kiến thức cần ôn tậpcũng có thể được sử dụng trong giờ ôn tập chính khoá.
1.5.3 Hoạt động ngoại khóa góp phần tự OTCC kiến thức.
Hoạt động ngoại khoá vật lí là một trong những hoạt động ngoài giờ lên lớp,
có tổ chức, có kế hoạch, có phương hướng xác định, được HS tiến hành theonguyên tắc tự nguyện ở ngoài giờ nội khoá dưới sự hướng dẫn của các GV vật línhằm gây hứng thú, phát triển tư duy, rèn luyện một số kĩ năng, bổ sung và mởrộng kiến thức vật lí cho HS; nó có tác dụng lớn về mặt giáo dưỡng, giáo dục vàgiáo dục kĩ thuật tổng hợp [9]
Hoạt động ngoại khoá vật lí có tác dụng góp phần củng cố, đào sâu, mởrộng, hệ thống hoá kiến thức vật lí đã học trên lớp; bổ sung những kiến thức về mặt
lí thuyết hoặc khắc phục những sai lầm mà HS thường mắc phải khi học nội khoá
Hiện nay, hoạt động ngoại khóa đã và đang được thực hiện tại các trườngphổ thông trên toàn quốc, nhiều đề tài khoa học giáo dục nghiên cứu về ngoại khóathuộc nhiều bộ môn như vật lí, hóa học, địa lí… đã bổ sung nhiều kĩ năng, kĩ thuậttổng hợp cho học sinh
1.6 Phương tiện hỗ trợ việc OTCC
Phương tiện dạy học là các phương tiện sư phạm đối tượng - vật chất do GVhoặc (và) HS sử dụng dưới sự chỉ đạo của GV trong quá trình dạy học, tạo nhữngđiều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học Phương tiện dạy học có thểđược sử dụng một cách đa dạng trong quá trình củng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng,
hệ thống hoá) kiến thức, kĩ năng của HS [6] Hiện nay, các phương tiện được dùngtrong OTCC thường là các phương tiện sau:
1.6.1 Sách (giáo khoa, bài tập, các tài liệu khác )
Sách là một công cụ để chứa đựng hệ thống tri thức Sách là hình thức vậtchất, còn nội dung của nó là tri thức, mà cốt lõi của tri thức là hệ thống khái niệm
Do đó, khi đọc sách con người dùng năng lực tư duy, năng lực ngôn ngữ và toàn
Trang 12bộ kinh nghiệm xã hội vốn có của mình để tách khái niệm ra khỏi hệ thống từ ngữ
mà lĩnh hội chúng, đó là một con đường nhận thức, con đường tái tạo lại tri thức,một phương thức lĩnh hội khái niệm Khả năng lĩnh hội khái niệm qua con đườngđọc sách phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau [21]
1.6.2 Các tài liệu, bài tập, bài kiểm tra (trắc nghiệm và tự luận) trên mạng (dưới dạng Web )
Các mô hình mô phỏng các hiện tượng vật lí, các đoạn video chưa được sửdụng khi nghiên cứu kiến thức mới có thể dùng trong giai đoạn vận dụng các kiếnthức đã học để xây dựng Website củng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá)kiến thức, kĩ năng của HS
Các bài kiểm tra, bài trắc nghiệm được xem như phương tiện để kiểm trakiến thức, kĩ năng trong dạy học Theo chúng tôi, việc soạn thảo công phu các câuhỏi trắc nghiệm, các bài trắc nghiệm có phản hồi những sai lầm của HS và hướngdẫn HS tự đọc tư liệu dựa trên công nghệ thiết kế Web hợp lí thì sẽ tạo ra được mộtcông cụ, phương tiện hữu hiệu để định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần
ôn tập, đánh giá mục tiêu và phương pháp dạy học, mà hiện nay chưa có những bàitrắc nghiệm như vậy trên mạng
Ưu thế của Web thể hiện ở các tính năng tạo lập và quản lí nội dung ôn tậpnhư: Giao – nộp bài tập; trao đổi trực tuyến giữa GV và học viên, giữa các bạn học(chat), tạo lập các diễn đàn thảo luận, Và đặc biệt hơn cả “Quản lí học viên” làmột tính năng đặc biệt quan trọng của công nghệ thiết kế Web bao gồm: Kết nạp
và theo dõi thông tin học viên trong một khóa học, chia học viên thành các nhóm(lớp học, khóa học), lên lịch các sự kiện của site hoặc khóa học…, quản lí điểm,theo dõi lần truy cập của học viên và tải lên các file ở ngoài để sử dụng cho khóahọc… GV có thể phân quyền truy cập vào nội dung ôn tập đối với từng nhóm đốitượng như: ôn tập cho mọi người, ôn tập dành cho học viên, Với khả năng tính
Trang 13toán của máy tính, máy tính có thể dễ dàng và nhanh chóng thực hiện kiểm tra trênWeb đồng thời thực hiện chấm điểm trên Web theo thang điểm đã đặt ra.
1.6.3 Phần mềm dạy học hỗ trợ OTCC
Phần mềm dạy học (PMDH) là phương tiện chứa chương trình để ra lệnhcho máy tính thực hiện các yêu cầu về nội dung và phương pháp dạy học theo cácmục tiêu đã định
Khác với các phương tiện dạy học khác, PMDH là một dạng vật chất đặcbiệt, là các câu lệnh chứa thông tin, dữ liệu để hướng dẫn máy vi tính thực hiện cácthao tác xử lí theo một thuật toán xác định từ trước Các PMDH được lưu trữ trongcác thiết bị nhớ ngoài của máy vi tính như trong các đĩa cứng, đĩa mềm, đĩa CD.PMDH rất gọn nhẹ, rất dễ nhân bản với số lượng lớn, không cồng kềnh, dễ bảoquản, dễ vận chuyển, dễ sử dụng, sinh động và hấp dẫn Tuỳ thuộc vào từng mônhọc cụ thể mà xây dựng các PMDH tương ứng để phục vụ cho dạy và học môn đó,
do vậy có các PMDH bộ môn Tuỳ thuộc vào hình thức sử dụng và chức năng sưphạm mà phần mềm đảm nhận có thể phân chia các PMDH thành các loại khácnhau [11]
Trong dạy học vật lí có thể phân chia các PMDH thành các nhóm sau:
- Phần mềm mô phỏng, minh họa: thường gọi là phần mềm mô phỏng
- Phần mềm thu thập và xử lí các số liệu thực nghiệm dùng hỗ trợ cho các thínghiệm vật lí: thường gọi là phần mềm hỗ trợ thí nghiệm vật lí
- Phần mềm ôn tập, tổng kết, hệ thống hoá kiến thức của từng phần, từngchương trong sách giáo khoa
- Phần mềm kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh
Như vậy, bên cạnh rất nhiều chức năng thì PMDH cũng có chức năng hỗ trợhọc sinh tự OTCC và KTĐG kiến thức về một nội dung nào đó
1.7 Mối quan hệ giữa OTCC và kiểm tra, đánh giá
Theo GS Phạm Hữu Tòng “Kiểm tra là sự theo dõi, tác động của người
Trang 14kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánhgiá”[15].
Kiểm tra trong quá trình dạy học là nhằm theo dõi thu thập số liệu, chứng cứ
để đánh giá kết quả học tập, nhằm củng cố, mở rộng, tăng cường việc học tập vàphát triển của học sinh
Đánh giá kết quả của một hoạt động là nhằm phát hiện và uốn nắn kịp thờinhững sai sót, điều chỉnh có hiệu quả hoạt động đó, một cách tổng quát: Đánh giá
có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được vớimột tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyếtđịnh theo một mục đích nào đó
KTĐG là hai công việc có nội dung khác nhau nhưng có liên quan mật thiếtvới nhau, kiểm tra là phương tiện để đánh giá còn muốn đánh giá thì phải tiến hànhkiểm tra
Ôn tập được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với việc kiểm tra tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo Những công việc mà đòi hỏi tính tích cực của HS nhiều hơn làkhi giảng kiến thức mới
Giữa ôn tập và kiểm tra có mối liên hệ với nhau vô cùng khăng khít Ôn tậpđược tổ chức theo tiết học thông qua kiểm tra (vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm…) vàviệc đánh giá đúng trình độ nhận thức của HS qua kiểm tra giúp GV lựa chọn đúngnội dung và đối tượng cần ôn tập Ôn tập tốt giúp người học thể hiện tốt trình độnhận thức của mình trong bài kiểm tra trên lớp
Như vậy ôn tập được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với kiểm tra vàthông qua các hình thức tổ chức dạy học cơ bản Việc tách riêng ôn tập và kiểm tra
là do mục đích, nhiệm vụ của mỗi công việc và chúng ta không thể tuyệt đối hóatừng công việc được Sự phân chia công việc như vậy trong tiết học chỉ mang tínhtương đối
Có thể biểu diễn quan hệ đó qua sơ đồ:
Trang 15HS tự học ở nhà
(nên có phương tiện hỗ trợ)
9
Thời gian trên lớp
(hoạt động nội khóa)
9
Các hoạt động ngoại khóa
9
2 Cơ sở thực tiễn của hoạt động OTCC
Để đánh giá khách quan thực trạng của hoạt động ôn tập củng cố và kiểm trađánh giá của GV và HS trong các trường phổ thông, chúng tôi tiến hành khảo sátbằng phương pháp Ăngket (điều tra), phương pháp nghiên cứu sản phẩm (bài kiểmtra của HS), phương pháp phỏng vấn và đàm thoại với HS và GV của 3 trường phổthông Đó là Trường THPT Trực Ninh A – Nam Định; THPT Trực Ninh B – NamĐịnh; THPT Lê Quý Đôn – Nam Định
Thời điểm khảo sát: học kỳ hai của năm học 2014-2015
Khách thể: Đối tượng khảo sát là học sinh lớp 12, với số lượng 225 học sinh,
và 22 giáo viên của cả ba trường nói trên
Mục tiêu khảo sát: đánh giá thực trạng về hoạt động ôn tập củng cố và kiểmtra đánh giá ở các trường THPT hiện nay về các mặt: nhận thức về vai trò của ôntập; nội dung ôn tập; phương pháp ôn tập; các phương tiện hỗ trợ hoạt động ôntập…
Kết quả khảo sát cho thấy thực tiễn của vấn đề nghiên cứu như sau:
2.1 Đánh giá vai trò của OTCC từ phía GV và từ phía HS
2.1.1 Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc hướng dẫn HS ôn tập
Trang 16Để tìm hiểu nhận thức của GV về tầm quan trọng của của việc hướng dẫn
HS ôn tập, chúng tôi đưa ra 9 yếu tố có ảnh hưởng tới kết quả học tập của HS vàyêu cầu họ đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố đó theo thứ tự từ 1 đến 9, trong
đó 1 là yếu tố quan trọng nhất, 9 là ít quan trọng nhất Kết quả khảo sát trên 22 GVcủa 3 trường THPT cho kết quả như sau:
1 Giáo viên nhiệt tình và có phương pháp giảng
2 Giáo viên thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết
3 Học sinh có phương pháp học tập khoa học, khả
4 Giáo viên thường xuyên quan tâm đến việc
5 Học sinh có thái độ, động cơ học tập đúng đắn 5,4 5
6 Giáo viên luôn quan tâm, khích lệ, động viên học
Kết quả khảo sát cho thấy, yếu tố được GV đánh giá quan trọng nhất là GV
có phương pháp giảng dạy phù hợp với các đối tượng HS (2,3), Giáo viên thườngxuyên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh (2,9) Giáo viên thườngxuyên quan tâm đến việc hướng dẫn học sinh ôn tập(4,5)…ngoài ra, qua trao đổi,phỏng vấn chúng tôi nhận được các ý kiến đều cho rằng việc tổ chức ôn tập kiếnthức cho HS có vai trò rất quan trọng Theo chúng tôi, nhận thức của GV về cácyếu tố ảnh hưởng tới kết quả học tập của HS như vậy là hợp lí, bởi vì đối với đối
Trang 17tượng HS phổ thông việc tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng vàviệc thường xuyên quan tâm đến việc học sinh ôn tập, động viên tạo động cơ họctập đúng đắn cho học sinh là cần thiết và là điều kiện rất quan trọng để nâng caochất lượng học tập của HS.
2.1.2 Nhận thức của HS về vai trò của hoạt động ôn tập củng cố.
Tại 3 trường THPT, chúng tôi tiến hành điều tra bằng phỏng vấn, đàm thoại
và dùng phiếu điều tra, HS khi được hỏi về vai trò của hoạt động OTCC thì thuđược kết quả như sau:
“Em có muốn được Thầy/cô tổ chức hướng dẫn ôn tập kiến thức một cách thường xuyên không?”
Khi được hỏi về hứng thú trong giờ ôn tập chúng tối thu được kết quả như
sau:“Trong các giờ học ôn tập kiến thức môn vật lý trên lớp, em có thấy hứng thú
Trang 18Thực tiễn này cho chúng ta thấy hai vấn đề: một là, các tiết học ôn tập hiện nay được GV tổ chức chưa gây được hứng thú đối với HS; hai là, HS đã nhận thức
được vai trò quan trọng của hoạt động ôn tập củng cố kiến thức và mong muốnđược GV tổ chức hướng dẫn ôn tập thường xuyên, điều này tạo nên một mâu thuẫngiữa nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu của hoạt động ôn tập kiến thức hiện nay ở cáctrường phổ thông
2.2 Thực trạng việc áp dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng và ôn tập kiến thức cho HS ở các trường THPT.
Để tìm hiểu các biện pháp rèn luyện kỹ năng và ôn tập kiến thức cho HS mà
GV đã và đang thực hiện, chúng tôi tiến hành khảo sát trên phiếu điều tra, yêu cầu
GV đánh số thứ tự từ 1 đến 9 theo mức độ giảm dần tính thường xuyên (số 1 làthường xuyên sử dụng nhất, số 9 là ít sử dụng nhất) kết hợp với dự giờ của các GV
và thu được kết quả như sau:
T
Mức độ
3 Hệ thống hóa kiến thức cho học sinh bằng cách
4 Hướng dẫn học sinh xây dựng dàn ý tóm tắt bài
Trang 197 Tổ chức hoạt động nhóm về nội dung cần ôn tập 6,6 7
8 Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động
9 Động viên, khích lệ học sinh kịp thời, đúng lúc 8,1 9
Kết quả khảo sát trên cho thấy các biện pháp mà GV ở các trường phổ thôngthường xuyên sử dụng nhất trong các hoạt động tổ chức hướng dẫn HS ôn tập làhướng dẫn HS giải bài tập (2,3), hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi (2,8), hệ thốnghóa kiến thức cho HS bằng sơ đồ kiến thức và lập bảng (3,5),…Các biện pháp tíchcực, hướng dẫn học sinh tự học khác như: ôn tập cho học sinh bằng hoạt độngngoại khóa, hướng dẫn học sinh tự đọc sách giáo khoa và tài liệu tham khảo,… thìđược ít GV sử dụng
Qua dự giờ chính khóa và một số giờ hướng dẫn học sinh ôn tập, quan sáthoạt động của giáo viên và học sinh chúng tôi có một số nhận định: Trong các tiếthọc giáo viên cũng đã có chú ý tới việc hướng dẫn học sinh ôn tập như: Ôn lạinhững kiến thức cũ có liên quan trực tiếp đến việc tiếp thu kiến thức mới; hướngdẫn học sinh ôn lại kiến thức vừa học; hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi vàgiải bài tập; kiểm tra việc học bài cũ của học sinh, hướng dẫn HS xây dựng sơ đồnội dung bài học, lập dàn ý tóm tắt trong quá trình ôn tập… Tuy nhiên, việc hướngdẫn học sinh chủ yếu là do GV chuẩn bị sẵn nội dung ôn tập, giảng giải cho HS cácnội dung đó hoặc giảng giải theo bài mẫu, yêu cầu HS thực hiện lại như GV đãhướng dẫn, việc chỉ ra cách thức thực hiện và yêu cầu HS tự thực hiện ít được GVquan tâm Do đó, học sinh rất lúng túng khi được yêu cầu hệ thống hóa kiến thứctheo sơ đồ và lập bảng, tóm tắt những ý cơ bản, bản chất theo tiến trình lôgic củabài học thì đa phần các em chỉ sao chép lại như trong vở ghi hoặc sách giáo khoa
Với HS, chúng tôi khảo sát trên phiếu điều tra với câu hỏi: “Nếu được tổ
Trang 20chức ôn tập một kiến thức nào đó trong chương trình vật lí thì em thích được cácthầy cô giáo tổ chức hoạt động gì?” và kết quả thu được như sau:
T
T
Cách thức tổ chức Kết quả Tỉ lệ %
1 Hướng dẫn làm các bài tập luyện tập 148/225 65,8%
2 Hướng hẫn trả lời các câu hỏi ôn tập 57/225 25,3%
3 Hướng dẫn lập sơ đồ nội dung kiến thức 98/225 43,6%
4 Hướng dẫn lập dàn ý tóm tắt nội dung kiến thức 78/225 34,6%
5 Ôn tập thông qua các bài thực hành thí nghiệm
ngoại khoá
52/225 23,1%
7 Ôn tập có sử dụng các phương tiện hỗ trợ hiện đại
như máy tính…
108/225 48%
Từ kết quả khảo sát, ta thấy ngoài mong muốn được GV hướng dẫn làm bàitập (65,8%) và hướng dẫn trả lời các câu hỏi ôn tập (25,3%), thì nhiều HS còn cónhu cầu muốn được GV hướng dẫn lập sơ đồ nội dung kiến thức (43,6%) và lậpdàn ý tóm tắt nội dung kiến thức (34,6%).Một phần lớn học sinh cũng mong muốnđược ôn tập có phương tiện hỗ trợ (48%) Theo chúng tôi, những nhu cầu đó của
HS là hợp lí, và GV cần thay đổi cách thức tổ chức các tiết ôn tập để đáp ứngnhững yêu cầu đó, đồng thời tăng cường hướng dẫn HS tự ôn tập ở nhà bằng cáchhướng dẫn HS tự lập dàn ý, sơ đồ tóm tắt bài học
2.3 Các nội dung mà hiện nay GV và HS thường OTCC
Để tìm hiểu các nội dung mà GV và HS thường ôn tập hiện nay, chúng tôikhảo sát trên phiếu điều tra đối với GV vật lí ở các trường THPT, yêu cầu họ đánh
số từ 1 đến 6 theo thứ tự giảm dần tính quan trọng (số 1 là nội dung quan trọngnhất cần được ôn tập, số 6 là ít quan trọng nhất) kết quả như sau:
B
Mức độ
2 Kiến thức: khái niệm vật lí, định luật vật lí, thuyết 2,6 2
Trang 21vật lí
3 Kĩ năng thu thập thông tin: đọc biểu đồ, đồ thị … 3,0 3
4
Kỹ năng xử lí thông tin: kỹ năng xây dựng bảng,
biểu đồ, đồ thị; rút ra kết luận bằng suy luận quy
nạp, suy luận diễn dịch, khái quát hoá; kỹ năng so
sánh, đánh giá…
5
Kiến thức: về phương pháp nhận thức vật lí (phương
pháp nhận thức vật lí theo con đường lí thuyết và
phương pháp nhận thức vật lí theo con đường thực
đã đáp ứng việc đánh giá mục tiêu dạy học vật lí như nêu trong chương trình vàchuẩn kiến thức, kĩ năng
2.4 Các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động OTCC đang được sử dụng
Qua điều tra cho thấy các phương tiện hỗ trợ OTCC chủ yếu của đa số các
GV vẫn là SGK, SBT, tài liệu tham khảo, bài tập trắc nghiệm và tự luận trên giấy.Tài liệu, bài tập dưới dạng giáo án điện tử Powerpoint, cũng như các phần mềmmáy tính, thí nghiệm mô phỏng thì rất ít GV sử dụng, nếu có thì các tư liệu sử dụngcòn chưa vận dụng đúng lí luận dạy học nên hiệu quả dạy học đạt được chưa cao
Trang 22Hầu hết các GV chưa bao giờ sử dụng tư liệu, bài tập trắc nghiệm và tự luậndưới dạng Web để OTCC mặc dù đã có rất nhiều Website hỗ trợ HS dưới dạng tưliệu học và ôn tập kiến thức ở trường phổ thông như: http://cunghocvatly.violet.vn;http://www.vatlyonline.com; http://hocmai.vn Hiện nay, trên Internet chưa cómột Website nào được xây dựng giúp HS tự OTCC về riêng môn vật lí có bài tậptrắc nghiệm có phản hồi, hướng dẫn, gợi ý câu trả lời, để HS có thể đào sâu, mởrộng, khắc sâu các kiến thức, sửa và tránh được các quan niệm sai lầm thường mắcphải trong và sau khi học lần đầu.
2.5 Phân tích, đánh giá ưu nhược điểm của việc xác định vai trò, nội dung, hình thức, phương tiện hiện đang sử dụng trong thực tiễn khi OTCC
2.5.1 Ưu điểm
Các SGK, sách bài tập, tư liệu thao khảo của rất nhiều các tác giả hiện naybán trên thị trường đã tạo nên nguồn tư liệu khổng lồ, đủ các loại để HS có thể tiếpcận dễ dàng, nhanh chóng Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của CNTT thì cácthư viện tư liệu vật lí trên mạng Internet liên tục ra đời giúp cho GV cũng như HSnhanh chóng tìm được các tài liệu tham khảo cần thiết trong quá trình OTCC kiếnthức, kĩ năng của mình; các diễn đàn trao đổi và học tập trên mạng đã góp phần rútngắn về thời gian và không gian đem lại hiệu quả OTCC
Trang 23duy, chỉ mong tìm kiếm những thông tin có sẵn để đáp ứng yêu cầu tức thời của
GV đề ra
Các hình ảnh, âm thanh, văn bản được đưa lên Web thường chưa chú ý theomột cấu trúc sư phạm cao, HS có nguy cơ “nhảy cóc” giữa những đoạn và cắt ngắnhoặc bỏ qua các trang văn bản có tính tư duy lí thuyết
Các tư liệu trên mạng, sách thao khảo có quá nhiều, nội dung trùng lặp, vàcũng chỉ dừng lại ở sự liện kê kiến thức ở từng chương, từng phần mà:
+ Không hề đề cập đến việc bồi dưỡng cho HS các phương pháp nhận thứcvật lí phổ biến
+ Không hướng dẫn HS tự suy nghĩ tìm ra lời giải khi trả lời sai lầm lần đầu.+ Không chú ý đến các sai lầm cố hữu mà HS gặp phải để xây dựng hệthống bài tập qua đó giúp HS sửa các sai lầm trong quá trình OTCC
+ Chưa chú ý đến logic hình thành và phát triển các kiến thức trong từng bài,từng phần của chương trình
Vì vậy, khi đứng trước nguồn tư liệu khổng lồ của nhân loại, đa số HS gặpkhông ít khó khăn cũng như mất rất nhiều thời gian khi tự học, tự ôn tập, khôngbiết chọn kiến thức nào là cơ bản, kiến thức nào là quan trọng để có thể tự OTCCkiến thức mình đã học một cách khoa học và hiệu quả nhất Do đó, HS thườngkhông có “bức tranh” tổng thể, khái quát hóa, hệ thống hóa về hệ thống logic kiếnthức phổ thông
3 Vai trò của Website trong hoạt động OTCC kiểm tra và đánh giá.
3.1 Một số ưu điểm của Web trong dạy học hiện đại
Từ thuở sơ khai, kinh nghiệm được truyền thụ bắt đầu từ hành động, lời nóigiữa các thế hệ Sau khi ngôn ngữ, chữ viết xuất hiện, sách và các hình thức lưu trữkhác ra đời, thế giới sách và các ấn phẩm được in ấn, phổ biến rộng rãi đã tác độngvào sự nghiệp phát triển giáo dục của nhân loại, tham gia vào việc hình thành kiếnthức, kỹ năng và nhân cách con người
Trang 24Ngày nay, máy tính điện tử, Internet và Web ra đời, góp phần đào tạo conngười và tăng hiệu quả giáo dục lên một mức độ cao hơn, giúp con người tích cực,
tự lực và chủ động hơn trong học tập Sách và các ấn phẩm cho phép con ngườibiểu đạt hiểu biết của mình dưới dạng văn bản, hình ảnh còn máy tính điện tử vàWeb cho con người khả năng biến những hiểu biết của mình thành hành động Sựphát triển của máy tính điện tử tạo ra cho mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng, mỗi cánhân những cơ hội sử dụng máy tính như một phương tiện để nâng cao chất lượnggiảng dạy và học tập nhờ các Website giáo dục
- Dạy học trên mạng tạo điều kiện cho người học vượt qua “rào cản về thời gian và không gian”
Đối với các lớp học truyền thống, mỗi GV tại một thời điểm chỉ có thể giảngdạy cho một lớp HS với số lượng ít Hơn nữa, cả GV và HS phải có mặt tại cùngmột địa điểm và cùng một thời điểm Những đặc điểm đó sẽ trở nên bất lợi đối với
xu hướng dạy học hiện đại Dạy học trên mạng là một biện pháp có thể tạo điềukiện cho người học vượt qua các bất lợi đó
Đối với dạy học trên mạng, người học không phải có mặt đúng giờ quy địnhtại một địa điểm quy định cho tất cả các lớp như ở các lớp học truyền thống khinghe giảng lí thuyết, làm bài tập hay thảo luận nhóm… Tùy điều kiện về thời giancủa mình trong ngày và ở bất kỳ chỗ nào có Internet là họ có thể học lí thuyết, làmbài tập, thảo luận nhóm, làm bài kiểm tra… Họ có thể đặt các câu hỏi đối với GVqua email Họ có thể hỏi đáp trực tuyến, trực tiếp với GV theo các giờ quy định ghisẵn trong chương trình, hay đã thỏa thuận trước Họ có thể trao đổi, thảo luận trongnhóm học tập qua các hình thức online hoặc offline
- Dạy học trên mạng giúp cho việc dạy học vượt qua “rào cản liên quan đến đối tượng học tập”
Đối với các đối tượng học tập có liên quan đến các thí nghiệm thì dạy họcbằng Web có thể hỗ trợ được rất nhiều cho cả GV và HS Hiện nay, nhờ các công
Trang 25cụ lập trình hỗ trợ tạo các thí nghiệm trên màn hình có thể tương tác được, ngườihọc có thể tự lắp đặt thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm, thu thập số liệu, vẽ đồ thịthực nghiệm, khớp đồ thị thực nghiệm với các hàm chuẩn… ngay trên mạng Nhưvậy, nếu không có điều kiện đến phòng thí nghiệm, họ có thể thực hiện các thínghiệm ngay trên mạng Hơn nữa, nhiều thí nghiệm không thể thực hiện đượctrong phòng thí nghiệm truyền thống (do giá thành quá cao, quý hiếm hay dokhông an toàn trong khi thực hiện thí nghiệm) thì nay có thể thực hiện được trongcác “phòng thí nghiệm trên mạng” mà HS cũng như GV đều có thể sử dụng.
- Nhờ dạy học trên mạng người học có thể vượt qua được “rào cản về tư liệu học tập”
Nội dung các trang Web trên Internet là kho tài nguyên tri thức khổng lồ củanhân loại liên quan đến tất cả các lĩnh vực trong xã hội và cuộc sống, giúp chongười học có thể tra cứu đầy đủ các tư liệu cần thiết liên quan đến chuyên môn củamình Hơn thế nữa, việc tìm kiếm, tra cứu trên Internet lại rất tiện lợi và nhanhchóng, nên có thể nói nội dung trên Internet trực sự là một “thư viện số lí tưởng”của nhân loại, đầy đủ về nội dung, nhanh chóng và tiện lợi về tra cứu
- Các trang Web còn có các nội dung ôn tập kiến thức cũng như tự kiểm tra,đánh giá đối với từng bài, từng chương, phần kiến thức đã học Sau khi tự học,người học có thể tự ôn tập và kiểm tra đánh giá trình độ lĩnh hội kiến thức củamình ngay Khả năng này không thể thực hiện được ở hình thức dạy học truyềnthống đối với tất cả HS trong lớp trong cùng một lúc.[1]
3.2 Các khả năng hỗ trợ của Web đối với OTTC
3.2.1 Sử dụng Website như một công cụ hỗ trợ học tập của HS
Hs có thể tự OTTC lại kiến thức của mình thông qua Web như ôn lại cáckhái niệm, định luật vật lí, giải thích các hiện tượng vật lí, làm bài tập luyện tậpmột cách nhanh chóng và dễ dàng từ nguồn tài nguyên phong phú của Web CóWeb, HS có thể học tập ở bất cứ đâu có mạng Internet, vào bất cứ thời gian nào,
Trang 26các kiến thức luôn được cập nhật, được bổ sung, hoàn thiện vì ngoài việc tự học, tựnghiên cứu, bên cạnh các em còn có một cộng đồng sử dụng Web có thể chia sẻthông tin qua các diễn đàn trao đổi, giúp cho việc học tập đạt chất lượng ngày càngcao [16].
Học sinh có thể phát triển và rèn luyện các kĩ năng thực hiện một số thao tác
cơ bản, bao gồm các thao tác tư duy và thao tác chân tay nhờ có Web Trong họctập vật lí, những thao tác chân tay phổ biến là: Quan sát, lắp ráp thí nghiệm, sửdụng các thiết bị thí nghiệm…Những thao tác tư duy hay dùng là phân tích, tổnghợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá, cụ thể hoá…Thực tế cho thấy, nhữngthao tác chân tay thì có thể huấn luyện tương đối nhanh, còn những thao tác tư duythì rất khó khăn vì GV không quan sát được quá trình HS thực hiện Vì vậy, Webđưa ra những câu hỏi, mà khi trả lời HS phải thực hiện một thao tác nào đó, dựavào kết quả trả lời mà biết được HS thực hiện như thế nào, từ đó Web có thể đưa ranhững gợi ý, hướng dẫn HS tránh khỏi các sai lầm không đáng có, giúp HS thựchiện ít thao tác và chính xác, khoa học hơn Làm như vậy thường xuyên, HS sẽhình thành được kỹ năng, tích luỹ được kinh nghiệm cho mình để có thể thực hiệnnhanh hơn và chính xác hơn vào lần sau
Thông qua các Web học tập, HS có thể tự kiểm tra, đánh giá trình độ, khảnăng của mình Đồng thời HS còn học được cách điểu khiển Web, sử dụng cáccông cụ mà Web hỗ trợ để tìm kiếm thông tin trên Internet, phục vụ cho việc họctập và nghiên cứu
Sử dụng Web, GV có thể tạo được cho HS niềm yêu thích bộ môn và say mêkhoa học qua các tình huống có vấn đề, được thể hiện một cách sinh động quanhững tập tin đa phương tiện như hình ảnh thực tế, mô hình, flash, video thínghiệm, phần mềm mô phỏng, hình vẽ, sơ đồ…Đặc biệt, qua các tình huống cóvấn đề được thể hiện theo một phong cách khác hẳn phong cách dạy học truyềnthống, sẽ kích thích hứng thú của HS, thúc đẩy các em hào hứng, hăng say nghiên
Trang 27cứu, tìm tòi để giải quyết bằng được những mâu thuẫn giữa những vấn đề đã biết,chưa biết và muốn biết.
3.2.2 Sử dụng Website như một công cụ hỗ trợ GV nâng cao chất lượng giảng dạy
GV có thể thiết kế bài giảng sử dụng những tính năng đa phương tiện (âmthanh, hình ảnh, video, flash…) của Web làm cho bài giảng thêm sinh động hơn Đặcbiệt, với những hiện tượng khó quan sát (do xảy ra quá nhanh, hoặc quá chậm), nhữngthí nghiệm khó thực hiện (do các lí do kỹ thuật, tài chính, độ an toàn….) thì GV có thểđưa những đoạn video, hình ảnh vào trong Web hoặc xây dựng mô phỏng những hiệntượng đó trên Web với những công cụ trợ giúp HS học tập, lĩnh hội kiến thức tốt hơn,gây hứng thú, hấp dẫn các em khi được học, nghiên cứu một vấn đề mới, đồng thờigiúp các em tiếp cận với các phương tiện hiện đại ngay tại nhà
Bản chất của quá trình dạy học là tạo ra các tình huống học tập, trong đó HS sẽhoạt động dưới sự hướng dẫn của GV nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học
GV không chỉ là người đưa ra thông tin, đưa ra kiến thức mà sẽ trở thành ngườihướng dẫn để các em tự tìm ra những kiến thức đó Mặt khác, với mạng Internet,người GV có điều kiện dễ dàng hơn trong việc trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, traudồi kiến thức với bạn bè, đồng nghiệp, nâng cao trình độ, đổi mới và hoàn thiện bảnthân
Qua Web, GV có thể lấy thông tin nhanh chóng từ phía HS về một vấn đềnào đó thông qua các câu hỏi nhanh hoặc thiết kế những bài kiểm tra, chấm điểm
tự động và lưu giữ bảng điểm đó
Bên cạnh việc xây dựng nội dung học tập thì vấn đề quản lí HS đối với mỗi
GV cũng quan trọng không kém Các Website có thể hỗ trợ GV quản lí HS rất tốt.Các vấn đề như quản lí sự truy cập thông tin của HS trong một khóa học, khả năngchia HS thành các nhóm, lên lịch người dùng hay quản lí điểm… giúp cho GV nắmbắt được thông tin của HS, kiểm soát được việc học tập của HS một cách linh hoạthơn và từ đó có thể thay đổi sao cho phù hợp với từng đối tượng
Trang 283.2.3 Sử dụng Website tạo môi trường tương tác để HS hoạt động và thích nghi
với máy tính, Internet và Web
Những công cụ đào tạo đa truyền thông và phương pháp mô phỏng tương táccủa hệ thống Hypermedia đã tạo ra cho Web những khả năng đáp ứng nhu cầu củangười dùng Những phương pháp học tập thành nhóm trên mạng làm cho HS họctập sinh động hơn, tác động qua lại tích cực hơn
Vai trò của GV là người hướng dẫn quan trọng, mỗi GV có thể phụ tráchquản lí một nhóm HS phân theo lớp HS thực hành và thực hiện các hoạt động củalớp học dưới sự hướng dẫn của GV qua các hình thức liên lạc, trao đổi thông tinvới nhau một cách chủ động như thảo luận theo chủ đề (các forum) hoặc trao đổitrực tuyến qua chatroom Như vậy giữa GV và HS, HS với HS, GV với GV có thểtiến hành trao đổi đồng bộ hoặc không đồng bộ với nhau trên Web
3.2.4 Sử dụng Website để hỗ trợ kiểm tra và đánh giá kiến thức, kỹ năng mà HS
đã thu được
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS là một vấn đề khó và phức tạp.Nhiệm vụ cơ bản của việc kiểm tra, đánh giá là làm rõ được tình hình lĩnh hội kiếnthức, mức độ thành thạo về kỹ năng và trình độ phát triển tư duy của HS trong quátrình học tập Thông qua kiểm tra, đánh giá, người GV có thể tự đánh giá việc giảngdạy của mình song song với sự đánh giá việc học tập của HS GV có thể thấy đượcnhững thành công và những vấn đề phải rút kinh nghiệm trong công tác giảng dạy,
từ đó định ra được những biện pháp sư phạm thích hợp, nâng cao chất lượng dạyhọc
Kiểm tra và đánh giá là công việc không chỉ của GV mà của cả HS Nó làhai công việc có nội dung khác nhau nhưng lại liên quan mật thiết với nhau Thôngthường có kiểm tra (tự kiểm tra, HS kiểm tra với nhau, GV kiểm tra HS…) rồi mới
có đánh giá (GV đánh giá HS, HS tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau) Tuynhiên, có những trường hợp kiểm tra mà không có mục đích đánh giá Việc kiểm
Trang 29tra này chỉ nhằm vào việc tìm hiểu tình hình học tập của HS
HS có thể tự kiểm tra, đánh giá trình độ, sự hiểu biết của mình thông qua cáccâu hỏi ôn tập, câu hỏi trắc nghiệm có phản hồi trong mỗi bài học, các bài luyệntập về lập sơ đồ Graph…
HS có thể kiểm tra, đánh giá lẫn nhau thông qua các diễn đàn Trên diễn đàndiễn ra các cuộc thảo luận, đồng thời những người tham gia thảo luận có thể đánhgiá (cho điểm), nhận xét các ý kiến của người khác Đó là cách thức rất hiệu quả để
HS có thể đánh giá lẫn nhau trong quá trình học tập trên mạng
GV có thể kiểm tra, đánh giá HS thông qua các bài kiểm tra Hình thức kiểmtra rất đa dạng, có thể sử dụng hình thức câu hỏi trắc nghiệm đúng sai, câu hỏi đalựa chọn, câu hỏi điền từ, câu ghép đôi, câu hỏi có đồ họa và văn bản mô tả… cácbài kiểm tra có thể sử dụng như phương tiện, phương pháp dạy học Thông quaviệc kiểm tra, đánh giá thường xuyên, nhanh chóng được sử dụng như một biệnpháp tích cực, hữu hiệu chỉ đạo hoạt động học, nó có tác dụng định hướng hoạtđộng tích cực, tự chủ của HS Với các chức năng hỗ trợ được lập trình trên Web,máy tính có thể dễ dàng tạo ra những bài kiểm tra trắc nghiệm, bài kiểm tra kéo thả(dùng trong Graph) trên Web đồng thời tự chấm điểm theo thang điểm đã định sẵn,sau đó lưu vào hồ sơ điểm của HS từng lớp để GV có thể quản lí
4 Tính tích cực, tự lực của học sinh trong hoạt động OTCC và KTĐG.
4.1.Tính tích cực
4.1.1 Khái niệm về tính tích cực
Theo từ điển tiếng việt: Tích cực có nghĩa là có tác dụng khẳng định, thúc đẩy
sự phát triển, tỏ ra chủ động, có những hoạt động tạo ra sự biến đổi theo hướngphát triển, tỏ ra nhiệt tình, đem hết khả năng và tâm trí vào công việc
Như vậy có thể hiểu tính tích cực là khái niệm hiện thị sự nỗ lực của chủ thểkhi tương tác với đối tượng Tính tích cực cũng là khái niệm biểu thị cường độvận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đấy
Trang 30Sự nỗ lực ấy diễn ra trên nhiều mặt: Sinh lí (đòi hỏi chi phí nhiều năng lượng cơbắp); Tâm lí (tăng cường các hoạt động cảm giác, tri giác, tư duy, tưởngtượng…); Xã hội (đòi hỏi tăng cường mỗi liên hệ với môi trường bên ngoài).
Vì vậy, tích cực là một thuộc tính nhân cách có quan hệ, chịu ảnh hưởng củarất nhiều nhân tố như: Nhu cầu (nhằm thoả mãn những nhu cầu nào đó); Động cơ(tích cực hướng tới những động cơ nhất định); Hứng thú (do bị lôi cuốn bởi những
sự say mê vì muốn, biến đổi cải tạo một hiện tượng nào đấy)
Tóm lại tính tích cực nói chung là một phẩm chất rất quan trọng của conngười, được hình thành từ rất nhiều lĩnh vực, nhiều nhân tố, có quan hệ, với rấtnhiều phẩm chất khác của nhân cách và với môi trường, điều kiện mà chủ thể hoạtđộng và tồn tại
Tính tích cực nhận thức (TTCNT): là tính tích cực xét trong điều kiện, phạm
vi của quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của họcsinh, sinh viên
Theo lý thuyết phản ánh, TTCNT bao gồm: sự lựa chọn đối tượng nhận thức; đề
ra cho minh mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượngnhằm cải tạo nó Tính tích cực trong hoạt động cải tạo đòi hỏi phải có sự thay đổitrong ý thức và trong hành động của chủ thể nhận thức, được thể hiện bằng nhiềudấu hiệu như sự tập trung chú ý, sự tưởng tượng mạnh mẽ, sự phân tích tổng hợpsâu sắc
Có thể phân chia sự phát triển TTCNT làm ba mức độ:
- Tính tích cực tái hiện
- Tính tích cực sử dụng
- Tính tích cực sáng tạo
4.1.2.Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức.
Có thể nhận biết tính tích cực nhận thức (TTCNT) của HS bằng các dấu hiệusau:
Trang 31Thứ nhất là: những dấu hiệu bề ngoài thể hiện qua thái độ, hành vi và hứng
thú
- Hứng thú nhận thức là thái độ, là sự lựa chọn của cá nhân về đối tượng nhậnthức, là động cơ quan trọng của quá trình nhận thức và thường biểu lộ ra ngoàidưới dạng tính tò mò, lòng khao khát cái mới
- Nhu cầu nhận thức được thể hiện là lòng ham thích, sự mong muốn tìm hiểu
và nhận thức thế giới xung quanh, được tạo ra bởi những đòi hỏi tất yếu của cánhân để tồn tại và phát triển, là động lực tích cực của cá nhân đối với việc cải tạohoàn cảnh xung quanh
Nhu cầu, hứng thú nhận thức của HS (SV) được thể hiện bằng các dấu hiệu cụthể sau:
+ Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng.
+ Chú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi những gì thầy cô làm.
+ Giơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ sung ý kiến vào câu trả lời của bạn và thích tham gia vào các hoạt động
Thông qua quan sát, GV có thể xác định được những biểu hiện xúc cảm hứngthú nhận thức niềm vui sướng, sự hài lòng khi được người khác giải đáp những câuhỏi, những thắc mắc, khi tự mình tìm ra câu trả lời đúng hay là thành công tronghoạt động Ngoài ra sự bực mình, nỗi thất vọng nếu trí tò mò không được thoả mãnhoặc khi không thành công trong hoạt động đều là những biểu hiện của tính tíchcực nhận thức
Thứ hai là: những dấu hiệu bên trong như sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực hoạt
động, sự phát triển tư duy, ý chí và xúc cảm…
Thật ra, những dấu hiệu bên trong này cũng chỉ có thể phát hiện được quanhững biểu hiện bên ngoài, nhưng phải tích luỹ một lượng thông tin đủ lớn và phảiqua quá trình xử lý thông tin mới thấy được, cụ thể là:
+ Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt các thao tác tư duy
Trang 32như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá… vào việc giải quyết nhiệm vụnhận thức.
+ Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kỹ năng đã tích luỹ được vào việc giảiquyết các tình huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt vào việc xử lí các tìnhhuống mới
+ Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát
+ Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý của mình
+ Có những biểu hiện tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết nhiệm vụnhận thức như tự tin khi trả lời câu hỏi, có sáng kiến, tự tìm ra một vài cách giảiquyết khác nhau cho các bài tập và tình huống, biết lựa chọn cách giải quyết haynhất
+ Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức, như sự nỗ lực, cốgắng vượt qua các tác động nhiễu bên ngoài và các khó khăn để thực hiện đến cùngnhiệm vụ được giáo, sự phản ứng khi có tín hiệu thông báo hết giờ
Thứ ba là: kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát
của tính tích cực nhận thức Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục,
tự giác mới có kết quả học tập tốt
Trên đây đã trình bày ba dấu hiệu thể hiện tính tích cực nhận thức Có thể cụthể hoá ba dấu hiệu đó qua một số câu hỏi sau :
Các em có chú ý, tập trung tư tượng học tập không?
Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động học tập hay không? (thểhiện ở chỗ giơ tay phát biểu ý kiến, ghi chép…)
Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?
Trang 33 Có hứng thú trong học tập hay chỉ vì một ngoại lực nào đó mà phải học?
Có biểu hiện hứng thú, say mê, có hoài bão học tập không?
Có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?
Có sự phát triển về năng lực phân tích, tổng hợp…năng lực tư duy nói chungkhông?
Có thể hiện sự sáng tạo học tập không?
Có hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao không?
Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?
Có vận dụng được kiến thức đã học vào thực tế không?
Có những biểu hiện sáng tạo trong học tập không?
Kết quả kiểm tra thi cử có cao không?
4.1.3 Các biện pháp phát huy TTCNT của HS
Các biện pháp nâng cao TTCNT của HS rất đa dạng, có thể tóm tắt như sau:
* Nhóm biện pháp cho các thầy đứng lớp.
Nhóm biện pháp này rất quan trọng vì nó tác động trực tiếp đến HS và về thờigian thì dạy học chiếm hơn 80% hoạt động của nhà trường Nó rất phong phú, đadạng nó gồm một số vấn đề sau:
- Giác ngộ ý thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thú học tậpcủa các em bằng cách nói lên ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng củavấn đề nghiên cứu
- Kích thích hứng thú nội dung: Muốn kích thích hứng thú nhận thức của HSthì nội dung phải mới, nhưng không quá xa lạ với HS mà cái mới phải liên hệ vàphát triển cái cũ, phát triển những kiến thức và kinh nghiệm mà các em đã có Kiếnthức phải có tính thực tiễn, phải thoả mãn nhu cầu nhận thức và thực tiễn của cácem
- Kích thích hứng thú nhận thức qua phương pháp dạy học (PPDH):
Để tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS phải phối hợp nhiều PPDH với
Trang 34nhau, nhưng những phương pháp có tác dụng tốt nhất trong việc tích cực hoá hoạtđộng nhận thức là: dạy học nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, sử dụng các phươngtiện hiện đại, tổ chức thảo luận, xêmina, tự học, bài tập, trò chơi học tập… Hệthống kiến thức phải được trình bày dưới dạng vận động, phát triển và mâu thuẫnvới nhau Những vấn đề quan trọng, các vấn đề then chốt phải trình bày sao chodiễn ra một cách đột ngột, bớt ngờ mới tạo ra hứng thú.
- Sử dụng các phương tiện DH, đặc biệt là những phương tiện kĩ thuật DH hiệnđại: Đây là biện pháp hết sức quan trong nhằm nâng cao tính tích cực của HS vàgiúp nhà trường đưa chất lượng lên một tầm cao mới
- Sử dụng các hình thức tổ chức DH khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể lớp, làmviệc trong vườn trường, xưởng trường, phòng thí nghiệm, tổ chức tham quan, cáchoạt động nội khoá ngoại khoá đa dạng
Ngoài ra có thể tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS (SV) qua nhiều biệnpháp như:
+ Thầy giáo, bạn bè động viên, khen thưởng khi có thành tích học tập tốt
+ Luyện tập dưới các hình thức khác nhau, vận dụng kiến thức vào thực tiễntrong các tình huống mới
+ Kích thích TTC qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS
+ Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập
+Thường xuyên kiểm tra, đánh giá có tác dụng rất quan trọng đến việc phát huytính tích cực học tập của HS
* Các nhóm biện pháp khác
Ngoài “Nhóm biện pháp cho các thầy đứng lớp”, còn có các nhóm biện phápphát huy tính tích cực nhận thức thông qua hoạt động giáo dục, nhóm biện phápthông qua các tác động của gia đình, nhóm biện pháp do xã hội tác động cũng có
tác dụng quan trọng trong việc phát phát huy TTC nhận thức của HS
Những biện pháp trên không phải có giá trị như nhau Tuy từng trường hợp,
Trang 35từng điều kiện cụ thể mà xác định những biện pháp nào là quan trọng nhất Thí dụtrong nhà trường những biện pháp do các thầy giáo đứng lớp tác động là trực tiếp,nhanh chóng và có hiệu quả nhất Các thầy giáo cần phối hợp chặt chẽ với các hoạtđộng giáo dục khác trong nhà trường, với gia đình và xã hội để việc giáo dục tínhtích cực được hoàn thiện và bền vững
Nội dung luận văn giới hạn trong nhóm các biện pháp phát huy tính tích cựctrong dạy học bộ môn vật lý
Trong tất cả các biện pháp trên GV đóng vai trò như một người hướng dẫn,giúp đỡ, tạo điều kiện cho các em xây dựng kiến thức khoa học từ vốn kiến thức đãcó
Gv cần tạo ra vấn đề cần giải quyết, đòi hỏi HS phải sử dụng vốn kiến thức sẵn
có của mình, tạo cơ hội cho các em đưa ra những ý kiến và đánh giá những ý kiếnnày qua giải thích các hiện tượng, đưa ra sự đoán,…; cung cấp những dữ liệu đểkích thích cho HS phát triển, điều chỉnh, thay đổi những ý kiến sai của họ
Trong khi đó việc hợp tác, thảo luận trong học tập phải được quan tâm, Gv gầntạo môi trường học tập thuận lợi cho HS tương tác với nhau và cả tương tác giữa
Gv với HS để giúp các em thực hiện các hoạt động học tập
4.1.4 Tiêu chí để đánh giá:
Có thể dựa vào những những biểu hiện đã kể ở trên để làm tiêu chi đánh giátính tích cực của HS
- Có quan sát, theo dõi GV đặt vấn đề không?
- Có tiếp nhận nhiệm vụ học tập không?
- Có nghe GV giảng hoặc nghe bạn phát biểu không?
- Có đọc tìm hiểu vấn đề trong SGK, tìm hiểu bảng số liệu, quan sát hiệntượng tự nhiên hoặc trong thí nghiệm hoặc làm thí nghiệm lấy số liệukhông?
- Có thảo luận nhóm hoặc làm việc cá nhân không?
Trang 36- Có tìm hiểu các thông tin liên quan, lập bảng, vẽ đồ thị… nhận xét về tínhquy luật của hiện tượng không?
- Có trả lời câu hỏi của GV, tranh luận với bạn bè trong nhóm hoặc trong lớpkhông?
- Có giải bài tập, ghi câu hỏi, bài tập về nhà, ghi những chuẩn bị cho bài saukhông
- Có tiến bộ trong học tập không?
- Kết quả bài kiểm tra, đánh giá đánh giá của nhà trường có tốt không?
4.2.Tính tự lực.
4.2.1 Khái niệm:
Tính tự lực là một trong những phẩm chất trọng tâm của nhân cách, thể hiện ở:
Sự tự làm lấy, tự giải quyết lấy vấn đề, không ỷ lại, nhờ cậy người khác
Sự tự làm lấy bắt đầu từ những việc giản đơn như tự uống, tự ăn tự thu dọn đồchơi…, những sự tự làm hoàn chỉnh bắt đầu từ việc đạt mục đích đề ra và thoả mãnyêu cầu xã hội
Nếu đặc trưng chủ yếu của tính tích cực là sự nỗ lực bản thân, thì đặc trưng củatính tự lực lại ở mỗi quan hệ với người khác: không dựa dẫm vào người khác, hếtsức tiết kiệm sự nhờ cậy [18]
Nhìn chung có hai loại tính tự lực:
Trang 37- Niềm tin vào sự đúng đắn của công việc mình làm, vào năng lực bản thân.Niềm tin này tạo ra sự vững vàng, sự kiên định về tâm thể, không dao động trướcnhững tác động từ bên ngoài.
- Có tình cảm, hứng thú, yêu thích kết quả và quá trình tự hoạt động Nhữngyếu tố này kích thích tính tự giác của hoạt động mà không phải dùng sức mạnh của
- Tính kiên trì, nhẵn nại, không sờn lòng nản chí trước khó khăn
- Tính kế hoạch năng lực tổ chức làm cho hoạt động tự lực đạt hiểu quả
- Thói quên tự lực, không trông chờ, ỷ lại cũng là một phẩm chất cần được rènluyện từ nhỏ để trở thành mọt thói quen, một phản xạ tự nhiên của con người màkhông cần vận dụng sức mạnh của trí tuệ và ý chí
4.2.2 Những biểu hiện của tính tự lực
Tính tự lực có ở mọi người, tuy nhiên mức thể hiện tuỳ thuộc vào đặc điểm cánhân, điều kiện sống và điều kiện giáo dục
Tinh tự lực của HS biểu hiện ở sự chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng tự khẳng địnhmình trong tập thể, trong lao động, trong học tập, giao tiếp và trong lĩnh vực khácnhau của chế độ sinh hoạt, cụ thể là [18]:
Nguyện vọng giải quyết các nhiệm vụ hoạt động một cách độc lập
Nguyện vọng này giúp HS hoạt động tích cực trong thời gian dài, đòi hỏi ở họkhả năng tập trung chú ý cao độ Đó cũng là biểu hiện của nhu cầu tự khẳng định
Trang 38mình là kết quả của quá trình nhận thức về giá trị tự lực và rèn luyện thói quen tựlực.
Có biểu hiện những kỹ năng thực hiện hoạt động tự lực
Có thể khái quát một số kĩ năng thực hiện hoạt động tự lực của HS trong cácđiều kiện cụ thể như sau:
- Kĩ năng thực hiện hoạt động sáng kiến của mình, nhận thức sự cần thiết thamgia vào hoạt động này hay hoạt động khác
- Kĩ năng thực hiện các công việc quen thuộc không có sự đòi hỏi giúp đỡ từxung quanh hoặc sự kiểm tra từ người lớn
- Kĩ năng thực hiện hành động có ý thức trong những tình huống có sẵn (hànhđộng theo sự chỉ dẫn, theo mẫu v.v …)
- Kĩ năng thực hiện hoạt động trong những điều kiện mới (tự đặt mục đích,chiếu cố điều kiện hoạt động, thực hiện và lập kế hoạch đơn giản)
- Kĩ năng di chuyển cách thức hoạt động đã biết vào hoàn cảnh mới, tổng hợpchúng và phân loại chúng theo kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, kĩ xảo đã có, thểhiện cách làm sáng tạo
- Kĩ năng tự kiểm tra đánh gia sản phẩm, hoạt động ở mức độ đơn giản
Có sự nỗ lực của ý chí
Ý chí của HS (SV) thể hiện sức mạnh tinh thần và thể lực giúp HS (SV) tạodựng những giá trị vật chất và tinh thần, thoả mãn nhu cầu cá nhân, tính tự lực thểhiện ở kỹ năng biết vượt khó khăn để đạt mục đích
Niềm tin vào bản thân
Niềm tin tạo cho HS (SV) nghị lực, ý chí để hành động, tạo cho họ tinh kiênđịnh khi hành động, giúp họ có nhu cầu, trạng thái hành động dựa trên năng lựccủa bản thân, tin tưởng, yêu quý trận trọng mình Sự tự tin quyết định tính nguyêntắc và tính kiên định trong suất quá trình hành động Tự tin thể hiện ở yêu cầu caođối với bản thân trong quá trình hành động
Trang 39Các yếu tố tạo nên sự tự tin ở HS (SV) là:
- Đánh giá cao về bản thân; Hiểu rõ bản thân; Có mục tiêu rõ ràng trong hoạtđộng và dễ dàng lựa chọn mục đích hoạt động; Hành động dứt khoát, quyết đoán;Sống lạc quan, yêu đời
4.2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu môn vật lý của học sinh
Về tài liệu học tập của HS
Tài liệu nên trình bày dưới dạng những câu hỏi, kèm theo những hướng dẫn,gợi ý về đáp án là khá thích hợp, nhưng với phần đáp án chỉ là ý chính, đưa ra kếtquả Chẳng hạn như đi đến một công thức nào đó ta chỉ đưa ra một vài kết quả cótính định hướng để đi đến chứ ta không làm một cách cụ thể Với cách này thì nóichung nó chỉ mang tính hướng dẫn để đi đến cái đích, còn muốn đạt được thì cầnphải có sự nỗ lực rất lớn của bản thân người học
GV cũng nên căn cứ vào thực trạng việc dạy và học, mục tiêu đào tạo củatừng địa phương, từng trường và chuẩn tài liệu của bộ giáo dục để có thể biên soạnlại giáo trình cho phù hợp với mục tiêu phát huy tính tự học của HS
Song song với đổi mới tài liệu học tập phương pháp dạy học cũng không phải
là không bàn tới
Về phương pháp dạy học
Trong vấn đề dạy học, GV phải hiểu rằng không có một phương pháp dạy họcnào là vạn năng Vì vậy, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, mục tiêu đặt ra mà GV phải biếnđổi linh hoạt hoặc kết hợp nhiều phương pháp; nhưng vẫn giữ cái cốt yếu là pháthuy được tính tích cực tự học, tự nghiên cứu của người học Với cách dạy và họcnày thì GV không đóng vai trò chính, GV chỉ trình bày mục đích của bài học làlàm gì, là người hướng dẫn gợi ý để làm được điều này thì chúng ta phải làm thếnào? Còn con đường đạt được là phải tự do người học tự đưa ra và tự tiến hành
GV phải mạnh dạn giao nhiệm vụ cho HS; chẳng hạn như tự đọc giáo trình, tài liệu
Trang 40sau đó trình bày trước lớp, trước nhóm theo cách hiểu được của mình Với cáchdạy này GV không đóng vai trò chính, không phải là ”trung tâm” mà là ”lấy ngườihọc làm trung tâm”.
Ngoài ra, chúng ta cũng phải cần đến việc sử dụng công nghệ thông tin hiện đạivào trong việc dạy học, vì do đặc thù của môn vật lý là vừa dùng lý luận logic toánhọc để biểu diễn, vừa dùng cộng cụ thí nghiệm để kiểm chứng hoặc ngược lại Nêntheo chúng tôi phòng thí nghiệm, dụng cụ thí nghiệm cho môn vật lý phải đượcchú trọng đầu tư đầy đủ
Trong quá trình nâng cao chất lượng của việc tự học, tự nghiên cứu chúng takhông những không đổi mới về nội dung, về phương pháp mà còn phải đổi mới vềnhận thức của người học Người học phải biết cần phải học gì? và học như thếnào? để có hiệu quả Đó là vấn đề cần quan tâm hiện nay
4.2.4 Tiêu chỉ đánh giá
Gv có thể dựa vào những biển hiện sau đây để làm tiêu chí đánh giá tính tự lựccủa HS :
- Có nguyện vọng giải quyết các nhiệm vụ hoạt động một cách độc lập
- Có những kỹ năng thực hiện hoạt động tự lực
- Có sự nỗ lực của ý chí
- Có niềm tin vào bản thân
Các bài kiểm tra, trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá thành tích học tập, xácnhận trình độ kiến thức, kĩ năng của HS