Phương pháp nghiên cứu của đề tài:...3 Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, KĨ NĂNG TỰ HỌC TRONG HOẠT ĐỘNG ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY H
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ THỊ NGA
XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ HỌC SINH
TỰ ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC CHƯƠNG “ĐIỆN HỌC” – VẬT LÍ 9
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
========
LÊ THỊ NGA
XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ HỌC SINH
TỰ ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC CHƯƠNG “ĐIỆN HỌC” – VẬT LÍ 9
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHẠM XUÂN QUẾ
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong tổ Phương pháp dạyhọc bộ môn Vật lí, các thầy cô trong khoa Vật lí, phòng Sau đại học – trườngĐại học Sư phạm Hà Nội, cùng các thầy cô giáo, các em học sinh trườngTHCS Hồng Phúc đã tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu
và thực nghiệm sư phạm
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lớp Cao học khóa 23 và khóa 24chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí, bạn bè và giađình đã nhiệt tình động viên, giúp đỡ tôi để tôi có thể xây dựng tốt Website
và hoàn thiện luận văn
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Xuân Quế
người luôn tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình xây dựng Website cũng nhưquá trình hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, các em họcsinh cùng tất cả mọi người đã quan tâm và duy trì Website này
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2016
Tác giả
Lê Thị Nga
Trang 4CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài: 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài: 1
3 Giả thuyết khoa học của đề tài: 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: 2
b Phạm vi nghiên cứu: 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: 2
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài: 3
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, KĨ NĂNG TỰ HỌC TRONG HOẠT ĐỘNG ÔN TẬP CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 5
1 Cơ sở lí luận của hoạt động OTCC 5
1.1.Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập 5
1.2 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức 6
1.3 Nội dung cần OTCC trong dạy học vật lí 7
1.4 Các hình thức ôn tập 9
1.4.1 OTCC kiến thức ngay trong giờ lên lớp 9
1.4.2 OTCC kiến thức ngoài giờ lên lớp 10
1.5 Các phương pháp OTCC ngoài giờ lên lớp 11
1.5.1 Đọc lại và hoàn thành những bài tập tự luận, trắc nghiệm ở nhà có tác dụng giúp HS tự OTCC kiến thức 11
1.5.2 Xây dựng lôgic hình thành các kiến thức thông qua xây dựng các sơ đồ Graph về từng phần hay toàn bộ hệ thống kiến thức cần ôn tập 12
1.5.3 Hoạt động ngoại khóa góp phần tự OTCC kiến thức 14
1.6 Phương tiện hỗ trợ việc OTCC 14
1.6.1 Sách (giáo khoa, bài tập, các tài liệu khác ) 15
1.6.2 Các tài liệu, bài tập, bài kiểm tra (trắc nghiệm và tự luận) trên mạng (dưới dạng Web ) 15
1.6.3 Phần mềm dạy học hỗ trợ OTCC 16
Trang 61.7 Mối quan hệ giữa OTCC và kiểm tra, đánh giá 17
2 Cơ sở thực tiễn của hoạt động OTCC 18
2.1 Đánh giá vai trò của OTCC từ phía GV và từ phía HS 19
2.1.1 Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc hướng dẫn HS ôn tập 19
2.1.2 Nhận thức của HS về vai trò của hoạt động ôn tập củng cố 20
2.2 Thực trạng việc áp dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng và ôn tập kiến thức cho HS ở các trường THCS 22
2.3 Các nội dung mà hiện nay GV và HS thường OTCC 24
2.4 Các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động OTCC đang được sử dụng 25
2.5 Phân tích, đánh giá ưu nhược điểm của việc xác định vai trò, nội dung, hình thức, phương tiện hiện đang sử dụng trong thực tiễn khi OTCC 26
2.5.1 Ưu điểm 26
2.5.2 Nhược điểm 26
3 Vai trò của Website trong hoạt động OTCC kiểm tra và đánh giá 27
3.1 Một số ưu điểm của Web trong dạy học hiện đại 27
3.2 Các khả năng hỗ trợ của Web đối với OTTC 29
3.2.1 Sử dụng Website như một công cụ hỗ trợ học tập của HS 29
3.2.2 Sử dụng Website như một công cụ hỗ trợ GV nâng cao chất lượng giảng dạy 31
3.2.3 Sử dụng Website tạo môi trường tương tác để HS hoạt động và thích nghi với máy tính, Internet và Web 32
3.2.4 Sử dụng Website để hỗ trợ kiểm tra và đánh giá kiến thức, kỹ năng mà HS đã thu được 32
4 Tính tích cực, tự lực của học sinh trong hoạt động OTCC và KTĐG 34
4.1.Tính tích cực 34
4.1.1 Khái niệm về tính tích cực 34
4.1.2.Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức 35
4.1.3 Các biện pháp phát huy TTCNT của HS 38
4.1.4 Tiêu chí để đánh giá: 40
4.2.Tính tự lực 41
4.2.1 Khái niệm: 41
Trang 74.2.2 Những biểu hiện của tính tự lực 42
4.2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu môn vật lý của học sinh 43
4.2.4 Tiêu chỉ đánh giá 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 45
Chương 2 XÂY DỰNG WEBSITE HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ OTCC VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “ ĐIỆN HỌC’’ - VẬT LÍ 9 Error! Bookmark not defined. 1 Đặc điểm cấu trúc nội dung chương “Điện học” – Vật lí 9 47
1.1 Đặc điểm về nội dung chương “Điện học” – Vật lí 9 47
1.2 Nội dung kiến thức kỹ năng học sinh cần có sau khi học xong chương “Điện học” – Vật lí 9 49
1.2.1 Về kiến thức 49
1.2.2 Về kĩ năng 50
2 Các sai lầm phổ biến của học sinh trong khi học phần “Điện học” – Vật lí 9 51
3 Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng ôn tập củng cố 52
3.1 Đề xuất về nội dung cần OTCC 52
3.1.1 Nội dung kiến thức 52
3.1.2 Kỹ năng 54
3.2 Đề xuất về hình thức ôn tập củng cố và phương pháp ôn tập củng cố 55
3.2.1 Ôn tập củng cố kiến thức thông qua việc đọc tài liệu và trả lời các câu hỏi 55
3.2.2 Ôn tập củng cố kiến thức thông qua việc xây dựng sơ đồ (graph) 56
3.2.3 Ôn tập củng cố thông qua việc làm bài tập luyện tập 57
3.2.4 Ôn tập củng cố thông qua việc làm các đề tự kiểm tra 58
3.2.5 Ôn tập củng cố thông qua diễn đàn thảo luận và chat trực tuyến 59
3.2.6 Ôn tập củng cố thông qua các hình thức giải trí 60
3.3 Đề xuất về phương tiện ôn tập củng cố 60
4 Xây dựng Website hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố chương “Điện học” - Vật lí 9 63
Trang 84.2 Nội dung của Website 65
4.2.1 Tổng quan về Website 65
4.2.2 Các module trong Website 68
4.2.3 Vai trò của Website trong việc khắc phục những sai lầm phổ biến của học sinh 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 88
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 89
1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 89
1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 89
1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 89
2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 90
2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 90
2.2 Nội dung của thực nghiệm sư phạm 90
3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 90
4 Thời gian thực nghiệm 92
5 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 92
5.1 Những khó khăn gặp phải khi tiến hành thực nghiệm sư phạm 92
5.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm về mặt định tính 93
5.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm về mặt định lượng 97
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 103
KẾT LUẬN CHUNG 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 108
PHẦN PHỤ LỤC 109
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thôngtin đã tác động vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trước những cơhội và thách thức mới trong xu thế hội nhập, đòi hỏi đất nước ta phải đào tạo
ra những thế hệ con người lao động mới, năng động và sáng tạo, thích ứng vớinền kinh tế toàn cầu
Trong các phương pháp dạy học thì tốt nhất là dạy phương pháp tự học.Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, tạo được kỹ năng, thóiquen tự học, kích thích được sự yêu thích, hứng thú, say mê khoa học củangười học thì sẽ có sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động,người học mới có thể tiếp thu kiến thức được sâu hơn, bền hơn, và kết quảhọc tập cao hơn
Trong quá trình đổi mới phương pháp, Công nghệ thông tin và Internet,Website giáo dục đã và đang mang lại hiệu quả tích cực cho quá trình dạyhọc Đối với nội dung về phần “ Điện học”, chương trình vật lí lớp 9, vẫnchưa có website nào được nghiên cứu xây dựng theo các lí luận dạy học hiệnđại Hơn nữa, qua điều tra thực tiễn cho thấy, trong và sau khi học xong phần
“ Điện học” học sinh còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc ôn tập,
củng cố kiến thức đã được học cũng như ứng dụng, sử dụng các kiến thức đãđược học trong phần này vào quá trình giải bài tập, nghiên cứu, tìm hiểu cácnội dung khác có liên quan
Với lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Xây dựng website hỗtrợ học sinh tự ôn tập, củng cố và kiểm tra đánh giá kiến thức chương " Điệnhọc" -Vật lí 9”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu, vận dụng lí luận dạy học vật lí về hoạt động ôn tập củng cố,kiểm tra đánh giá và công nghệ xây dựng trang Web tự học nhằm thiết kếtrang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố và kiểm tra, đánh giá chương “
Trang 103 Giả thuyết khoa học của đề tài:
Nếu vận dụng lí luận dạy học vật lí hiện đại về ôn tập củng cố và côngnghệ thiết kế Website thì sẽ thiết kế được trang Website hỗ trợ học sinh tự ôntập củng cố và kiểm tra, đánh giá chương “Điện học” - Vật lí 9, góp phần pháthuy tính tích cực, rèn kĩ năng tự học và nâng cao kết quả học tập của học sinh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
a Đối tượng nghiên cứu:
- Hệ thống các kiến thức, kĩ năng học sinh cần nắm vững khi học xongphần kiến thức “Điện học” - Vật lí 9
- Tính tích cực, kĩ năng tự học, kết quả học tập của học sinh trong quátrình hoạt động tự ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá của học sinh lớp 9 đốivới phần kiến thức “Điện học ” - Vật lí 9
- Các chức năng của trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập, củng cố vàkiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng phần kiến thức “Điện học”
b Phạm vi nghiên cứu:
- Xây dựng trang Website hỗ trợ hoạt động ôn tập củng cố, kiểm tra đánhgiá chương “ Điện học” - Vật lí 9, nhằm phát huy tính tích cực, rèn kỹ năng tựhọc, và nâng cao kết quả học tập cho học sinh
- Tính tích cực, kĩ năng tự học khi tự ôn tập, củng cố với việc sử dụngWebsite cả trên lớp và ở nhà
- Thực nghiệm sư phạm đối với học sinh khu vực Hải Dương
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn phát huy tính tích cực, kỹnăng tự học của việc tự ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá
- Nghiên cứu nội dung chương trình, chuẩn kiến thức và chuẩn kĩ năngphần kiến thức trong chương “Điện học” – Vật lí lớp 9
Trang 11- Xây dựng trang Web hỗ trợ việc tự ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánhgiá kiến thức của học sinh nhằm phát huy tính tích cực, kĩ năng tự học
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả trang Websitexây dựng được
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu cở sở lí luận của việc OTCC
trong dạy học hiện đại; cơ sở lí luận của việc rèn luyện kỹ năng tự học và tựnghiên cứu đối với HS trung học; cơ sở lí luận của hoạt động kiểm tra đánhgiá và tự kiểm tra đánh giá trong dạy học trung học cơ sở; nghiên cứu các tàiliệu về phương pháp giảng dạy Vật lí và giáo dục học; nghiên cứu tài liệu vềthiết kế xây dựng Website
- Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn: Nghiên cứu thực tiễn hoạt
động OTCC và kiểm tra đánh giá của GV và HS trong các trường trung học
cơ sở Tiến hành khảo sát bằng phương pháp Ăngket (điều tra), phương phápphỏng vấn và đàm thoại với HS và GV ở các trường THCS
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm đối chứng giữa hai
quá trình ôn tập phần “ Điện học” của hai nhóm HS, một nhóm có sử dụngtrang Web ôn tập và nhóm còn lại sử dụng phương pháp ôn tập truyền thống
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán
học để phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
II Dự kiến đóng góp của đề tài:
- Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ôn tập, củng cố và kiểm tra,đánh giá khi học sinh học xong phần kiến thức “ Điện học” – Vật lí 9
- Trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn đề xuất những nội dung ôn tập,củng cố, kiểm tra và đánh giá, hình thức và phương pháp cần hướng dẫn chohọc sinh tự ôn tập và kiểm tra kiến thức phần : “ Điện học” –Vật lí 9 với sự
hỗ trợ của Website nhằm phát huy tính tích cực, kĩ năng tự học
Trang 12- Trang Web được xây dựng đã góp phần giúp học sinh tự ôn tập, củng
cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức, phát huy tính tích cực và kỹ năng tự họctrên cơ sở lí luận dạy học hiện đại
III DỰ KIẾN CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương:Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát huy tính tích cực, kĩnăng tự học trong hoạt động ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá của họcsinh trong dạy học Vật lí
Chương II: Xây dựng trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố vàkiểm tra đánh giá kiến thức chương “ Điện học” – Vật lí 9 nhằm phát huytính tích cực, kĩ năng tự học
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, KĨ NĂNG TỰ HỌC TRONG HOẠT ĐỘNG ÔN TẬP CỦNG CỐ
VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
1 Cơ sở lí luận của hoạt động OTCC
1.1.Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập
Theo từ điển tiếng Việt (2008) của Viện khoa học Việt Nam: Ôn tập làhọc để nhớ, để nắm chắc; Ôn tập là hệ thống hóa lại kiến thức đã dạy để HSnắm chắc chương trình[20]
Theo từ điển tiếng Việt mới của trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội(Hoàng Phê chủ biên) và từ điển tiếng Việt chuyên ngành thì: Ôn tập là học
và luyện lại những điều đã học để nắm chắc, để nhớ lâu
Như vậy, ôn tập có thể được hiểu là quá trình học lại và luyện lại nhữngđiều đã học để nhớ, để nắm chắc
Theo các nhà giáo dục học (Nguyễn Ngọc Bảo; Hà Thị Đức; Nguyễn
Bá Kim;…) [1], [9]: Ôn tập là giúp học sinh củng cố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo;tạo điều kiện cho giáo viên sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thứccủa học sinh, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duycũng như phát triển năng lực nhận thức, chú ý cho học sinh Ôn tập còn giúphọc sinh mở rộng đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học,làm vững chắc những kĩ năng, kĩ xảo đã được hình thành
Theo các nhà tâm lí học [8]: Ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sựcấu trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấutrúc mới kết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới Khicần có thể tái hiện lại những thông tin và sử dụng những thông tin đó có hiệuquả cho nhiều hoạt động khác nhau
Ôn tập còn là một quá trình giúp HS xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội,
Trang 14góp phần củng cố và khắc họa thông tin để có thể sử dụng thông tin có hiệuquả trong các hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau.
Từ những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng ôn tập là quá trình ngườihọc xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, bổ sung, chỉnh lí thông tin và tổ chứclại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn, giúp cho người học vận dụngthông tin đã lĩnh hội một cách nhanh chóng, dễ dàng và hiệu quả Thông qua
ôn tập, tri thức của người học được hệ thống hoá, đào sâu và mở rộng, trên cơ
sở đó mà từng bước rèn luyện được các kĩ năng, kĩ xảo, phát triển trí nhớcũng như tư duy của người học
1.2 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức
Tái hiện kiến thức của nhân loại một cách chính xác, khoa học, dễ hiểu,
dễ tiếp thu là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong dạy học Ôn tập được tổ chứctốt cũng chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình dạy học ở bất cứmôn học nào trong nhà trường Nó là biện pháp cần thiết mà GV phải sử dụngtrong việc dạy học của mình và nó giúp người học trong quá trình hoàn thiện trithức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo Nhờ ôn tập được tổ chức tốt mà những kiếnthức đã được học không chỉ được ghi lại trong trí nhớ mà còn được cấu trúc lại,khắc sâu một cách khoa học hơn, cái thứ yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cái chủyếu được gắn lại với nhau và có một chất lượng mới Kiến thức giữ lại trong trínhớ nếu thiếu ôn tập, và nói chung nếu thiếu bất kỳ sự vận dụng nào thì sẽ bị
“teo lại” giống như các cơ trong cơ thể nếu thiếu sự luyện tập
Ôn tập cần thiết cho việc củng cố tri thức, hiểu sâu tri thức và hoànthiện tri thức và sau đó là để làm mới lại chúng trong trí nhớ lúc này hoặc lúckhác Ôn tập còn có một ý nghĩa lớn hơn trong việc rèn luyện kỹ năng đặcbiệt là kĩ năng vận dụng kiến thức vào trong các tình huống cụ thể khi ôn tậpvật lí Không có gì tai hại hơn là khi tiếp thu một kiến thức rời rạc và thiếu ổnđịnh, người thầy nếu cung cấp một lượng kiến thức rời rạc sẽ gây khó khăn
Trang 15cho việc tri giác kiến thức mới và củng cố kiến thức cũ Những kiến thức cũcần được củng cố, điều chỉnh là để “giải phóng bộ óc” giúp cho việc lĩnh hộikiến thức mới dễ dàng và nhanh chóng, bởi vì chỉ có thể cố định kiến thức cũthì mới dùng nó làm chỗ dựa cho kiến thức mới được.[17]
Thông qua việc OTCC giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức, có một
“bức tranh” tổng thể, hệ thống về những kiến thức, luyện tập và phát triển các
kĩ năng đã được học, giúp học sinh đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức,sửa và tránh được các quan niệm sai lầm thường mắc phải trong và sau khihọc lần đầu
1.3 Nội dung cần OTCC trong dạy học vật lí
Ôn tập là một khâu trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường cơ
sở, vì thế ôn tập không tự đề ra nội dung, chương trình riêng cho nó mà trên
cơ sở nội dung chương trình của môn học quy định cho từng khóa học màlựa chọn những vấn đề cơ bản cần ôn tập và sắp xếp có hệ thống những vấn
đề đó Ôn tập cũng không tự đề ra phương pháp riêng cho mình mà dựa trênphương pháp dạy học của bộ môn với nội dung cần ôn tập để lựa chọnphương pháp thích hợp nhất trong khoảng thời gian cho phép được quy địnhcủa chương trình
Đối với môn vật lí, những kiến thức vật lí cơ bản sẽ tạo nên nội dungchính của môn học Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản đó màthực hiện các nhiệm vụ khác của dạy học vật lí, trước hết là phát triển nănglực nhận thức, năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học Trongquá trình dạy học vật lí cần chú ý đến những tác động sư phạm khác nhằmđiều hành quá trình dạy học từ đầu đến cuối, thí dụ như: gợi động cơ, hứngthú, củng cố, ôn tập, điều chỉnh, kiểm tra, đánh giá…
Trong học tập vật lí, một mặt HS phải quan sát thực tế để cảm nhận được
sự tồn tại của thực tế khách quan và những đặc tính bên ngoài của nó, mặt khác
Trang 16HS phải thực hiện các phép suy luận, biến đổi để rút ra được các đặc tính bảnchất và những mối quan hệ phổ biến khách quan, nhờ thế mà rút ra chân lí mới.Trình tự hợp lí của những hoạt động vật chất và tinh thần đảm bảo cho kết luậncuối cùng rút ra phản ánh đúng thực tế khách quan gọi là phương pháp nhậnthức vật lí Các phương pháp nhận thức vật lí đều do các nhà bác học đúc kếtđược thông qua hoạt động thực tiễn, đã được thực tiễn khẳng định Muốn cho
HS làm quen dần với phương pháp đi tìm chân lí mới trong quá trình học tập,nhất thiết phải dạy cho họ các phương pháp nhận thức phổ biến
Tuy nhiên, việc vận dụng các phương pháp đó để nghiên cứu một hiệntượng, một tính chất, một định luật vật lí là một việc không dễ dàng Chính vìthế, trong nhà trường, cần cố gắng làm cho HS biết được người ta thực hiệnnhững hành động nào, trải qua những giai đoạn nào trên con đường đi tìmchân lí; đồng thời tuỳ theo trình độ của HS và các điều kiện cụ thể của nhàtrường mà tổ chức cho HS tham gia trực tiếp một số giai đoạn của các phươngpháp nhận thức đó
Những kiến thức vật lí cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiếnthức mới cũng như trong quá trình OTCC trong chương trình vật lí cơ sở gồmcác loại sau [13]:
- Những khái niệm vật lí, đặc biệt là khái niệm về đại lượng vật lí
- Những định luật vật lí
- Những thuyết vật lí
- Những ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật
- Những phương pháp nhận thức vật lí
Một số kĩ năng HS cần phải có để nâng cao hiệu quả OTCC:
- Kĩ năng thu thập thông tin: Thông qua việc tự làm thí nghiệm hayquan sát các hiện tượng trong tự nhiên, đời sống hàng ngày; kĩ năng đọc sách,tài liệu; kĩ năng quan sát, đọc đồ thị, biểu đồ; kĩ năng khai thác thông tin trênmạng Internet,
Trang 17Để thu thập được đúng và đủ các thông tin cần thiết, học sinh cần bám sátmục tiêu hoạt động học tập Mục tiêu này do học sinh tự xác định dưới sự hướngdẫn của giáo viên, trong một vài trường hợp có thể giáo viên nêu mục tiêu.
- Kĩ năng xử lí thông tin: Đây là kĩ năng đòi hỏi tư duy cao Học sinhcần được hướng dẫn lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch xử lí các thông tinthu thập được để rút ra các kết luận cần thiết Hoạt động này thường được tiếnhành bởi các hình thức:
+ Thiết kế một phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán
+ Sử dụng biểu bảng, đồ thị, công thức toán để xử lí các số liệu thuđược từ thí nghiệm
+ Tiến hành các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, qui nạp,suy diễn… các thông tin thu được để rút ra các kết luận
- Kĩ năng truyền đạt thông tin: trình bày, viết, báo cáo kết quả, nhận xét
ý kiến cá nhân hay của nhóm, báo cáo kết quả hoạt động của nhóm, nhận xétđánh giá ý kiến của cá nhân…Hoạt động này không những góp phần pháttriển ngôn ngữ ở học sinh mà con giúp các em rèn luyện các phẩm chất cầnthiết để hoà nhập với cuộc sống cộng đồng
1.4 Các hình thức ôn tập
Hoạt động học tập ôn tập của học sinh chủ yếu thông qua hoạt độnghọc tập trên lớp và hoạt động tự học ở nhà Ôn tập của học sinh ở nhàchính là tạo điều kiện để học tập trên lớp theo giờ giảng đạt hiệu quả hơn.OTCC có thể thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu là hai hìnhthức: OTCC ngay trong giờ học chính khóa trên lớp và OTCC ngoài giờhọc chính khóa [17]
1.4.1 OTCC kiến thức ngay trong giờ lên lớp
- Ôn tập ngay trước và trong khi học sinh tìm hiểu, tiếp thu kiến thứcmới dựa trên cơ sở của những kiến thức đã học trước đó Hình thức này
Trang 18qua hệ thống các câu hỏi được giáo viên chuẩn bị sẵn, đó là các câu hỏi kiểmtra bài cũ đầu giờ, hoặc những câu hỏi đặt ra trong tiết học nhằm gợi lại kiếnthức cũ mà nó là cơ sở để hình thành kiến thức mới trong bài học.
- Ôn tập được thực hiện ngay sau khi học sinh vừa học bài mới, nhằmcủng cố những kiến thức học sinh vừa mới lĩnh hội, chốt lại những kiến thức
cơ bản, cốt lõi của bài học Hình thức này có thể tiến hành vào cuối tiết họcbằng cách đưa ra các câu hỏi để học sinh trả lời hoặc làm các bài tập có tínhchất hệ thống hóa, tổng kết những kiến thức cơ bản của bài học
- Ôn tập sau khi kết thúc một chương hoặc một phần chương trình.Hình thức ôn tập này thường được thực hiện trong một (hoặc một vài) tiết họcriêng biệt Mục đích sư phạm của các tiết ôn tập như vậy là chỉnh lí lại, hệthống lại, tìm ra mối liên hệ logic giữa các kiến thức mà học sinh đã được lĩnhhội trong một phần của tài liệu học; tạo cho học sinh có cái nhìn toàn diện vềnội dung kiến thức trong phần đó
- Ôn tập tổng kết được áp dụng khi chương trình kết thúc vào cuối kỳ,cuối năm Ôn tập tổng kết không phải đơn thuần khôi phục lại trong trí nhớmọi tri thức đã học Mục đích của nó là nâng cao tri thức cho học sinh lên mộttrình độ mới cao hơn Trước hết là nó phải đảm bảo hệ thống hóa lại các trithức đã học, điều đó đạt được nhờ nội dung của vấn đề cần ôn tập
1.4.2 OTCC kiến thức ngoài giờ lên lớp
Hình thức này diễn ra sau giờ lên lớp và dưới sự hướng dẫn gián tiếpcủa giáo viên thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập mang tính định hướngtrong các giờ học tự chọn, bổ trợ kiến thức Học sinh thực hiện việc ôn tậpcủa mình bằng cách đọc lại bài học hoặc tái hiện lại nội dung bài học như cấutrúc của các phần, các mục, nội dung của các đề mục trong bài học Sau đó trảlời các câu hỏi của giáo viên hoặc câu hỏi trong sách giáo khoa, hoặc tự đặt racâu hỏi để trả lời Đồng thời cần tìm đọc các tài liệu có liên quan để mở rộng
Trang 19và đào sâu những kiến thức đã học Trong quá trình ôn tập học sinh có thểtrao đổi với bạn bè về kết quả ôn tập của mình, sau đó ghi chép lại toàn bộ nộidung ôn tập bằng cách tóm tắt bài học, xây dựng dàn ý, sơ đồ, bảng biểu;bằng cách xây dựng đáp án trả lời câu hỏi hay bằng cách vận dụng kiến thứccủa bài học.
Theo quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm hiện nay, dạy học
là dạy học sinh biết tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức cũng như tự OTCC kiếnthức, dạy học là dạy học sinh biết phối hợp hoạt động trong nhóm dưới sựhướng dẫn của thầy Hoạt động tự OTCC cũng như hoạt động OTCC trongnhóm HS trong hiện tại và tương lai là hết sức quan trọng Hơn nữa, ngày nayCNTT phát triển, việc tổ chức cho học sinh tự OTCC và OTCC trong nhómthông qua việc xây dựng các Website, các diễn đàn trên mạng dưới sự điềukhiển của giáo viên thông qua việc xây dựng các chương trình ôn tập phânnhánh, thông qua các bài trắc nghiệm có phản hồi, hướng dẫn, các thí nghiệm
ảo, thí nghiệm minh họa khảo sát chưa được sử dụng trong quá trình học kiếnthức mới là có thể làm được để nâng cao chất lượng OTCC
1.5 Các phương pháp OTCC ngoài giờ lên lớp
1.5.1 Đọc lại và hoàn thành những bài tập tự luận, trắc nghiệm ở nhà có tác dụng giúp HS tự OTCC kiến thức.
Học tập ở nhà có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượngcủa quá trình dạy học HS học tập ở nhà là sự tiếp tục một cách có lôgic hìnhthức học tập trên lớp Ở nhà, HS phải tự lực đọc lại và hoàn thành các bài tập(dưới dạng tự luận và trắc nghiệm) do GV đề ra sau các giờ lên lớp Ngoàinhững bài tập về nhà chung cho cả lớp, GV có thể ra những bài tập riêng chocác HS kém và giỏi Học tập ở nhà có tác dụng củng cố, đào sâu, mở rộng,khái quát hóa và hệ thống hóa tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo; góp phầnthúc đẩy sự phát triển nhanh chóng ở HS năng lực tự học, năng lực làm việc
Trang 20Ở nhà, HS tự thực hiện những nhiệm vụ học tập do GV giao cho vàtrong quá trình thực hiện nhiệm vụ, HS không có sự hướng dẫn của GV; GVđánh giá kết quả của hoạt động tự học thông qua mức độ hoàn thành côngviệc của HS; nội dung tự học cũng rất đa dạng, tuỳ thuộc nội dung chươngtrình và đối tượng HS.
1.5.2 Xây dựng lôgic hình thành các kiến thức thông qua xây dựng các sơ đồ Graph về từng phần hay toàn bộ hệ thống kiến thức cần ôn tập.
Graph trong lí thuyết Graph bắt nguồn từ “Graphic” có nghĩa là tạo ramột hình ảnh rõ ràng, chi tiết sinh động trong tư duy Trong toán học, Graphđược định nghĩa: Graph gồm một tập hợp điểm gọi là đỉnh của Graph cùngvới một tập hợp đoạn thẳng (hoặc cong) gọi là các cạnh của Graph, mỗi cạnhnối hai đỉnh khác nhau và hai đỉnh khác nhau được nối với nhau bằng nhiềunhất một cạnh.[4]
- Nếu với mỗi cạnh của Graph không phân biệt điểm gốc (đầu) vớiđiểm ngọn (cuối) thì đó là Graph vô hướng
Ví dụ:
- Nếu với mỗi cạnh của Graph, ta phân biệt hai đầu, một đầu là gốc vàmột đầu còn lại là ngọn thì đó là Graph có hướng.
Ví dụ:
Trang 21Trong dạy học người ta quan tâm nhiều đến Graph có hướng vì Graph
có hướng cho biết cấu trúc của đối tượng nghiên cứu, đồng thời biểu thị đượcmối quan hệ động, mối quan hệ trong sự phát triển của các yếu tố được đưavào Graph, trong khi đó Graph vô hướng được sử dụng để biểu thị mối quan
hệ tĩnh của các yếu tố
* Những ứng dụng của lí thuyết Graph trong dạy học:
Dùng Graph để hệ thống hóa khái niệm trong một tổng thể, giúp mởrộng những hiểu biết về đối tượng nghiên cứu
Dùng Graph cấu trúc hóa nội dung tài liệu giáo khoa, tạo nên mối liên
hệ giữa các đơn vị kiến thức trong một hệ thống nhất định (trong một chươngtrình, một chương hay một bài)
Dùng Graph hướng dẫn học sinh tự học, hoàn thiện tri thức: giáo viên
có thể để cho học sinh tự thiết kế các Graph hoặc hoàn thiện các Graph dogiáo viên gợi ý Hệ thống hóa kiến thức giúp học sinh có bức tranh tổng thể,
hệ thống về những kiến thức được học trong một lĩnh vực nhất định Sử dụngGraph trong khâu này có các mức độ sau:
- Mức độ thứ nhất: giáo viên đưa ra:
- các yếu tố có trong Graph đã có chiều mũi tên nối các đỉnh nhưngnội dung ở các đỉnh còn trống, hoặc
- các yếu tố có trong Graph chưa có chiều mũi tên nối các đỉnh và cácđỉnh đã điền đủ (hoặc thiếu) các yếu tố nội dung,
- chưa có các cạnh rồi yêu cầu học sinh điền thông tin vào những chỗtrống đó, tạo các liên kết giữa các đỉnh theo các chiều từ yếu tố cơ bản đếnyếu tố dẫn xuất v v
- Mức độ thứ hai: học sinh tự xây dựng Graph thể hiện các kiến thức đãhọc theo một lôgic mà mỗi học sinh tự xác định, giáo viên chỉ nêu định hướngchung, những yêu cầu cơ bản của bài ôn tập
Trang 22Sử dụng Graph trong khâu hoàn thiện tri thức là sự kết hợp giữa khâuhọc ở lớp với khâu tự học ở nhà dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Tuy nhiên, các phương pháp OTCC như: đọc lại và hoàn thành nhữngbài tập tự luận, trắc nghiệm hay xây dựng lôgic hình thành các kiến thứcthông qua xây dựng các sơ đồ-Graph về từng phần hay toàn bộ hệ thống kiếnthức cần ôn tập cũng có thể được sử dụng trong giờ ôn tập chính khoá
1.5.3 Hoạt động ngoại khóa góp phần tự OTCC kiến thức.
Hoạt động ngoại khoá vật lí là một trong những hoạt động ngoài giờ lênlớp, có tổ chức, có kế hoạch, có phương hướng xác định, được HS tiến hànhtheo nguyên tắc tự nguyện ở ngoài giờ nội khoá dưới sự hướng dẫn của các
GV vật lí nhằm gây hứng thú, phát triển tư duy, rèn luyện một số kĩ năng, bổsung và mở rộng kiến thức vật lí cho HS; nó có tác dụng lớn về mặt giáodưỡng, giáo dục và giáo dục kĩ thuật tổng hợp [9]
Hoạt động ngoại khoá vật lí có tác dụng góp phần củng cố, đào sâu, mởrộng, hệ thống hoá kiến thức vật lí đã học trên lớp; bổ sung những kiến thức
về mặt lí thuyết hoặc khắc phục những sai lầm mà HS thường mắc phải khihọc nội khoá
Hiện nay, hoạt động ngoại khóa đã và đang được thực hiện tại cáctrường cơ sở trên toàn quốc, nhiều đề tài khoa học giáo dục nghiên cứu vềngoại khóa thuộc nhiều bộ môn như vật lí, hóa học, địa lí… đã bổ sung nhiều
kĩ năng, kĩ thuật tổng hợp cho học sinh
1.6 Phương tiện hỗ trợ việc OTCC
Phương tiện dạy học là các phương tiện sư phạm đối tượng - vật chất
do GV hoặc (và) HS sử dụng dưới sự chỉ đạo của GV trong quá trình dạy học,tạo những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học Phương tiệndạy học có thể được sử dụng một cách đa dạng trong quá trình củng cố (ôn
Trang 23tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá) kiến thức, kĩ năng của HS [6] Hiện nay,các phương tiện được dùng trong OTCC thường là các phương tiện sau:
1.6.1 Sách (giáo khoa, bài tập, các tài liệu khác )
Sách là một công cụ để chứa đựng hệ thống tri thức Sách là hìnhthức vật chất, còn nội dung của nó là tri thức, mà cốt lõi của tri thức là hệthống khái niệm Do đó, khi đọc sách con người dùng năng lực tư duy,năng lực ngôn ngữ và toàn bộ kinh nghiệm xã hội vốn có của mình đểtách khái niệm ra khỏi hệ thống từ ngữ mà lĩnh hội chúng, đó là một conđường nhận thức, con đường tái tạo lại tri thức, một phương thức lĩnh hộikhái niệm Khả năng lĩnh hội khái niệm qua con đường đọc sách phụthuộc vào nhiều yếu tố khác nhau [21]
1.6.2 Các tài liệu, bài tập, bài kiểm tra (trắc nghiệm và tự luận) trên mạng (dưới dạng Web )
Các mô hình mô phỏng các hiện tượng vật lí, các đoạn video chưa được
sử dụng khi nghiên cứu kiến thức mới có thể dùng trong giai đoạn vận dụngcác kiến thức đã học để xây dựng Website củng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng,
hệ thống hoá) kiến thức, kĩ năng của HS
Các bài kiểm tra, bài trắc nghiệm được xem như phương tiện để kiểmtra kiến thức, kĩ năng trong dạy học Theo chúng tôi, việc soạn thảo công phucác câu hỏi trắc nghiệm, các bài trắc nghiệm có phản hồi những sai lầm của
HS và hướng dẫn HS tự đọc tư liệu dựa trên công nghệ thiết kế Web hợp lí thì
sẽ tạo ra được một công cụ, phương tiện hữu hiệu để định hướng hoạt độngchiếm lĩnh kiến thức cần ôn tập, đánh giá mục tiêu và phương pháp dạy học,
mà hiện nay chưa có những bài trắc nghiệm như vậy trên mạng
Ưu thế của Web thể hiện ở các tính năng tạo lập và quản lí nội dung ôntập như: Giao – nộp bài tập; trao đổi trực tuyến giữa GV và học viên, giữa cácbạn học (chat), tạo lập các diễn đàn thảo luận, Và đặc biệt hơn cả “Quản lí
Trang 24học viên” là một tính năng đặc biệt quan trọng của công nghệ thiết kế Webbao gồm: Kết nạp và theo dõi thông tin học viên trong một khóa học, chia họcviên thành các nhóm (lớp học, khóa học), lên lịch các sự kiện của site hoặckhóa học…, quản lí điểm, theo dõi lần truy cập của học viên và tải lên các file
ở ngoài để sử dụng cho khóa học… GV có thể phân quyền truy cập vào nộidung ôn tập đối với từng nhóm đối tượng như: ôn tập cho mọi người, ôn tậpdành cho học viên, Với khả năng tính toán của máy tính, máy tính có thể dễdàng và nhanh chóng thực hiện kiểm tra trên Web đồng thời thực hiện chấmđiểm trên Web theo thang điểm đã đặt ra
1.6.3 Phần mềm dạy học hỗ trợ OTCC
Phần mềm dạy học (PMDH) là phương tiện chứa chương trình để ralệnh cho máy tính thực hiện các yêu cầu về nội dung và phương pháp dạy họctheo các mục tiêu đã định
Khác với các phương tiện dạy học khác, PMDH là một dạng vật chấtđặc biệt, là các câu lệnh chứa thông tin, dữ liệu để hướng dẫn máy vi tínhthực hiện các thao tác xử lí theo một thuật toán xác định từ trước Các PMDHđược lưu trữ trong các thiết bị nhớ ngoài của máy vi tính như trong các đĩacứng, đĩa mềm, đĩa CD PMDH rất gọn nhẹ, rất dễ nhân bản với số lượng lớn,không cồng kềnh, dễ bảo quản, dễ vận chuyển, dễ sử dụng, sinh động và hấpdẫn Tuỳ thuộc vào từng môn học cụ thể mà xây dựng các PMDH tương ứng
để phục vụ cho dạy và học môn đó, do vậy có các PMDH bộ môn Tuỳ thuộcvào hình thức sử dụng và chức năng sư phạm mà phần mềm đảm nhận có thểphân chia các PMDH thành các loại khác nhau [11]
Trong dạy học vật lí có thể phân chia các PMDH thành các nhóm sau:
- Phần mềm mô phỏng, minh họa: thường gọi là phần mềm mô phỏng
- Phần mềm thu thập và xử lí các số liệu thực nghiệm dùng hỗ trợ chocác thí nghiệm vật lí: thường gọi là phần mềm hỗ trợ thí nghiệm vật lí
Trang 25- Phần mềm ôn tập, tổng kết, hệ thống hoá kiến thức của từng phần,từng chương trong sách giáo khoa.
- Phần mềm kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh
Như vậy, bên cạnh rất nhiều chức năng thì PMDH cũng có chức năng
hỗ trợ học sinh tự OTCC và KTĐG kiến thức về một nội dung nào đó
1.7 Mối quan hệ giữa OTCC và kiểm tra, đánh giá
Theo GS Phạm Hữu Tòng “Kiểm tra là sự theo dõi, tác động củangười kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết
để đánh giá”[15]
Kiểm tra trong quá trình dạy học là nhằm theo dõi thu thập số liệu,chứng cứ để đánh giá kết quả học tập, nhằm củng cố, mở rộng, tăng cườngviệc học tập và phát triển của học sinh
Đánh giá kết quả của một hoạt động là nhằm phát hiện và uốn nắn kịpthời những sai sót, điều chỉnh có hiệu quả hoạt động đó, một cách tổng quát:Đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tinthu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác địnhnhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó
KTĐG là hai công việc có nội dung khác nhau nhưng có liên quan mậtthiết với nhau, kiểm tra là phương tiện để đánh giá còn muốn đánh giá thìphải tiến hành kiểm tra
Ôn tập được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với việc kiểm tra trithức, kỹ năng, kỹ xảo Những công việc mà đòi hỏi tính tích cực của HSnhiều hơn là khi giảng kiến thức mới
Giữa ôn tập và kiểm tra có mối liên hệ với nhau vô cùng khăng khít
Ôn tập được tổ chức theo tiết học thông qua kiểm tra (vấn đáp, tự luận, trắcnghiệm…) và việc đánh giá đúng trình độ nhận thức của HS qua kiểm tragiúp GV lựa chọn đúng nội dung và đối tượng cần ôn tập Ôn tập tốt giúpngười học thể hiện tốt trình độ nhận thức của mình trong bài kiểm tra trên lớp
Trang 26Như vậy ôn tập được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với kiểm tra
và thông qua các hình thức tổ chức dạy học cơ bản Việc tách riêng ôn tập vàkiểm tra là do mục đích, nhiệm vụ của mỗi công việc và chúng ta không thểtuyệt đối hóa từng công việc được Sự phân chia công việc như vậy trong tiếthọc chỉ mang tính tương đối
Có thể biểu diễn quan hệ đó qua sơ đồ:
2 Cơ sở thực tiễn của hoạt động OTCC
Để đánh giá khách quan thực trạng của hoạt động ôn tập củng cố vàkiểm tra đánh giá của GV và HS trong các trường cơ sở, chúng tôi tiến hànhkhảo sát bằng phương pháp Ăngket (điều tra), phương pháp nghiên cứu sảnphẩm (bài kiểm tra của HS), phương pháp phỏng vấn và đàm thoại với HS và
GV THCS Hồng Phúc –Hải Dương
Thời điểm khảo sát: học kỳ I của năm học 2016-2017
Khách thể: Đối tượng khảo sát là học sinh lớp 9, với số lượng 170 họcsinh, và 22 giáo viên của trường nói trên
Mục tiêu khảo sát: đánh giá thực trạng về hoạt động ôn tập củng cố vàkiểm tra đánh giá ở các trường THCS hiện nay về các mặt: nhận thức về vaitrò của ôn tập; nội dung ôn tập; phương pháp ôn tập; các phương tiện hỗ trợhoạt động ôn tập…
Kết quả khảo sát cho thấy thực tiễn của vấn đề nghiên cứu như sau:
HS tự học ở nhà
(nên có phương tiện hỗ trợ)
9
Thời gian trên lớp
(hoạt động nội khóa)
Trang 272.1 Đánh giá vai trò của OTCC từ phía GV và từ phía HS
Để đánh giá khách quan thực trạng của hoạt động ôn tập củng cố vàkiểm tra đánh giá của GV và HS trong các trường cơ sở, chúng tôi tiến hànhkhảo sát bằng phương pháp Ăngket (điều tra), phương pháp nghiên cứu sảnphẩm (bài kiểm tra của HS), phương pháp phỏng vấn và đàm thoại với HS và
GV của 3 trường cơ sở Đó là Trường THCS Hồng Phúc- Hải Dương; THCSHồng Phong – Hải Dương; THCS Hồng Thái – Hải Dương
Thời điểm khảo sát: học kỳ I của năm học 2016-2017
Khách thể: Đối tượng khảo sát là học sinh lớp 9, với số lượng 170 họcsinh, và 22 giáo viên của cả ba trường nói trên
Mục tiêu khảo sát: đánh giá thực trạng về hoạt động ôn tập củng cố vàkiểm tra đánh giá ở các trường THCS hiện nay về các mặt: nhận thức về vaitrò của ôn tập; nội dung ôn tập; phương pháp ôn tập; các phương tiện hỗ trợhoạt động ôn tập…
Kết quả khảo sát cho thấy thực tiễn của vấn đề nghiên cứu như sau:
2.1.1 Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc hướng dẫn
Trang 28TT Các yếu tố ĐTB Mức độ
1 Giáo viên nhiệt tình và có phương pháp giảng
dạy phù hợp với đối tượng học sinh 2,3 1
2 Giáo viên thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết
3 Học sinh có phương pháp học tập khoa học, khả
4 Giáo viên thường xuyên quan tâm đến việc
5 Học sinh có thái độ, động cơ học tập đúng đắn 5,4 5
6 Giáo viên luôn quan tâm, khích lệ, động viên học
Kết quả khảo sát cho thấy, yếu tố được GV đánh giá quan trọng nhất là
GV có phương pháp giảng dạy phù hợp với các đối tượng HS (2,3), Giáo viênthường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh (2,9) Giáo viênthường xuyên quan tâm đến việc hướng dẫn học sinh ôn tập(4,5)…ngoài ra,qua trao đổi, phỏng vấn chúng tôi nhận được các ý kiến đều cho rằng việc tổchức ôn tập kiến thức cho HS có vai trò rất quan trọng Theo chúng tôi, nhậnthức của GV về các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả học tập của HS như vậy làhợp lí, bởi vì đối với đối tượng HS cơ sở việc tìm ra phương pháp giảng dạyphù hợp với đối tượng và việc thường xuyên quan tâm đến việc học sinh ôntập, động viên tạo động cơ học tập đúng đắn cho học sinh là cần thiết và làđiều kiện rất quan trọng để nâng cao chất lượng học tập của HS
2.1.2 Nhận thức của HS về vai trò của hoạt động ôn tập củng cố.
Trang 29Tại 3 trường THCS, chúng tôi tiến hành điều tra bằng phỏng vấn, đàmthoại và dùng phiếu điều tra, HS khi được hỏi về vai trò của hoạt động OTCCthì thu được kết quả như sau:
“Em có muốn được Thầy/cô tổ chức hướng dẫn ôn tập kiến thức một cách thường xuyên không?”
4 Tùy thuộc nội dung kiến thức và cách thức tổ chức ôn tập 38,2%
Như vậy phần lớn các em đều cho rằng ôn tập có vai trò rất quan trọngđối với hoạt động nhận thức và rất muốn được GV tổ chức hướng dẫn ôn tậpkiến thức một cách thường xuyên
Khi được hỏi về hứng thú trong giờ ôn tập chúng tối thu được kết quả
như sau:“Trong các giờ học ôn tập kiến thức môn vật lý trên lớp, em có thấy
5 Tùy thuộc vào phương pháp dạy của thầy/cô 26,7%
Thực tiễn này cho chúng ta thấy hai vấn đề: một là, các tiết học ôn tập hiện nay được GV tổ chức chưa gây được hứng thú đối với HS; hai là, HS đã
nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động ôn tập củng cố kiến thức vàmong muốn được GV tổ chức hướng dẫn ôn tập thường xuyên, điều này tạonên một mâu thuẫn giữa nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu của hoạt động ôn tậpkiến thức hiện nay ở các trường cơ sở
Trang 302.2 Thực trạng việc áp dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng và
ôn tập kiến thức cho HS ở các trường THCS.
Để tìm hiểu các biện pháp rèn luyện kỹ năng và ôn tập kiến thức cho
HS mà GV đã và đang thực hiện, chúng tôi tiến hành khảo sát trên phiếu điều tra, yêu cầu GV đánh số thứ tự từ 1 đến 9 theo mức độ giảm dần tính thường xuyên (số 1 là thường xuyên sử dụng nhất, số 9 là ít sử dụng nhất) kết hợp với dự giờ của các GV và thu được kết quả như sau:
độ
2 Hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi 2,8 2
3 Hệ thống hóa kiến thức cho học sinh bằng cách
4 Hướng dẫn học sinh xây dựng dàn ý tóm tắt bài học 3,9 4
5 Hướng dẫn học sinh đọc sách giáo khoa và tài liệu
7 Tổ chức hoạt động nhóm về nội dung cần ôn tập 6,6 7
8 Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động
9 Động viên, khích lệ học sinh kịp thời, đúng lúc 8,1 9
Kết quả khảo sát trên cho thấy các biện pháp mà GV ở các trường cơ sởthường xuyên sử dụng nhất trong các hoạt động tổ chức hướng dẫn HS ôn tập
là hướng dẫn HS giải bài tập (2,3), hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi (2,8), hệthống hóa kiến thức cho HS bằng sơ đồ kiến thức và lập bảng (3,5),…Cácbiện pháp tích cực, hướng dẫn học sinh tự học khác như: ôn tập cho học sinhbằng hoạt động ngoại khóa, hướng dẫn học sinh tự đọc sách giáo khoa và tàiliệu tham khảo,… thì được ít GV sử dụng
Trang 31Qua dự giờ chính khóa và một số giờ hướng dẫn học sinh ôn tập, quansát hoạt động của giáo viên và học sinh chúng tôi có một số nhận định: Trongcác tiết học giáo viên cũng đã có chú ý tới việc hướng dẫn học sinh ôn tậpnhư: Ôn lại những kiến thức cũ có liên quan trực tiếp đến việc tiếp thu kiếnthức mới; hướng dẫn học sinh ôn lại kiến thức vừa học; hướng dẫn học sinhtrả lời các câu hỏi và giải bài tập; kiểm tra việc học bài cũ của học sinh,hướng dẫn HS xây dựng sơ đồ nội dung bài học, lập dàn ý tóm tắt trong quátrình ôn tập… Tuy nhiên, việc hướng dẫn học sinh chủ yếu là do GV chuẩn bịsẵn nội dung ôn tập, giảng giải cho HS các nội dung đó hoặc giảng giải theobài mẫu, yêu cầu HS thực hiện lại như GV đã hướng dẫn, việc chỉ ra cáchthức thực hiện và yêu cầu HS tự thực hiện ít được GV quan tâm Do đó, họcsinh rất lúng túng khi được yêu cầu hệ thống hóa kiến thức theo sơ đồ và lậpbảng, tóm tắt những ý cơ bản, bản chất theo tiến trình lôgic của bài học thì đaphần các em chỉ sao chép lại như trong vở ghi hoặc sách giáo khoa.
Với HS, chúng tôi khảo sát trên phiếu điều tra với câu hỏi: “Nếu được
tổ chức ôn tập một kiến thức nào đó trong chương trình vật lí thì em thíchđược các thầy cô giáo tổ chức hoạt động gì?” và kết quả thu được như sau:
%
1 Hướng dẫn làm các bài tập luyện tập 148/225 65,8%
2 Hướng hẫn trả lời các câu hỏi ôn tập 57/225 25,3%
3 Hướng dẫn lập sơ đồ nội dung kiến thức 98/225 43,6%
4 Hướng dẫn lập dàn ý tóm tắt nội dung kiến thức 78/225 34,6%
5 Ôn tập thông qua các bài thực hành thí nghiệm
ngoại khoá
52/225 23,1%
6 Tổ chức thảo luận trao đổi nhóm 65/225 28,9%
7 Ôn tập có sử dụng các phương tiện hỗ trợ hiện đại
như máy tính…
108/225 48%
Trang 32Từ kết quả khảo sát, ta thấy ngoài mong muốn được GV hướng dẫn làmbài tập (65,8%) và hướng dẫn trả lời các câu hỏi ôn tập (25,3%), thì nhiều HScòn có nhu cầu muốn được GV hướng dẫn lập sơ đồ nội dung kiến thức (43,6%)
và lập dàn ý tóm tắt nội dung kiến thức (34,6%).Một phần lớn học sinh cũngmong muốn được ôn tập có phương tiện hỗ trợ (48%) Theo chúng tôi, nhữngnhu cầu đó của HS là hợp lí, và GV cần thay đổi cách thức tổ chức các tiết ôn tập
để đáp ứng những yêu cầu đó, đồng thời tăng cường hướng dẫn HS tự ôn tập ởnhà bằng cách hướng dẫn HS tự lập dàn ý, sơ đồ tóm tắt bài học
2.3 Các nội dung mà hiện nay GV và HS thường OTCC
Để tìm hiểu các nội dung mà GV và HS thường ôn tập hiện nay, chúngtôi khảo sát trên phiếu điều tra đối với GV vật lí ở các trường THCS, yêu cầu
họ đánh số từ 1 đến 6 theo thứ tự giảm dần tính quan trọng (số 1 là nội dungquan trọng nhất cần được ôn tập, số 6 là ít quan trọng nhất) kết quả như sau:
2 Kiến thức: khái niệm vật lí, định luật vật lí, thuyết
3 Kĩ năng thu thập thông tin: đọc biểu đồ, đồ thị … 3,0 3
4
Kỹ năng xử lí thông tin: kỹ năng xây dựng bảng,
biểu đồ, đồ thị; rút ra kết luận bằng suy luận quy
nạp, suy luận diễn dịch, khái quát hoá; kỹ năng so
sánh, đánh giá…
3,8 4
5
Kiến thức: về phương pháp nhận thức vật lí (phương
pháp nhận thức vật lí theo con đường lí thuyết và phương
pháp nhận thức vật lí theo con đường thực nghiệm)
4,7 5
6 Kỹ năng truyền đạt thông tin: trình bày bài, báo cáo
Trang 33Kết quả trên cho thấy hiện nay trong các hoạt động ôn tập các GV chủyếu tập chung rèn cho HS các kỹ năng giải bài tập (1,8), các nội dung kiếnthức về khái niệm vật lí, định luật vật lí, thuyết vật lí(2,6) Ít quan tâm đếnviệc ôn tập cho HS các nội dung kiến thức về phương pháp nhận thức vật lí(phương pháp nhận thức vật lí theo con đường lí thuyết và phương pháp nhậnthức vật lí theo con đường thực nghiệm) Sở dĩ như vậy vì hiện nay GV và HSđầu tư việc dạy và học theo quan điểm “thi gì thì học nấy” Trong khi đó, nộidung trong các kì thi chưa chắc là đã đáp ứng việc đánh giá mục tiêu dạy họcvật lí như nêu trong chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng.
2.4 Các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động OTCC đang được sử dụngQua điều tra cho thấy các phương tiện hỗ trợ OTCC chủ yếu của đa sốcác GV vẫn là SGK, SBT, tài liệu tham khảo, bài tập trắc nghiệm và tự luậntrên giấy Tài liệu, bài tập dưới dạng giáo án điện tử Powerpoint, cũng nhưcác phần mềm máy tính, thí nghiệm mô phỏng thì rất ít GV sử dụng, nếu cóthì các tư liệu sử dụng còn chưa vận dụng đúng lí luận dạy học nên hiệu quảdạy học đạt được chưa cao
Hầu hết các GV chưa bao giờ sử dụng tư liệu, bài tập trắc nghiệm và tựluận dưới dạng Web để OTCC mặc dù đã có rất nhiều Website hỗ trợ HS dướidạng tư liệu học và ôn tập kiến thức ở trường cơ sở như:
http://hocmai.vn Hiện nay, trên Internet chưa có một Website nào được xâydựng giúp HS tự OTCC về riêng môn vật lí có bài tập trắc nghiệm có phản hồi,hướng dẫn, gợi ý câu trả lời, để HS có thể đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiếnthức, sửa và tránh được các quan niệm sai lầm thường mắc phải trong và sau khihọc lần đầu
Trang 342.5 Phân tích, đánh giá ưu nhược điểm của việc xác định vai trò, nội dung, hình thức, phương tiện hiện đang sử dụng trong thực tiễn khi OTCC
2.5.1 Ưu điểm
Các SGK, sách bài tập, tư liệu thao khảo của rất nhiều các tác giả hiện naybán trên thị trường đã tạo nên nguồn tư liệu khổng lồ, đủ các loại để HS có thểtiếp cận dễ dàng, nhanh chóng Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của CNTT thìcác thư viện tư liệu vật lí trên mạng Internet liên tục ra đời giúp cho GV cũng như
HS nhanh chóng tìm được các tài liệu tham khảo cần thiết trong quá trình OTCCkiến thức, kĩ năng của mình; các diễn đàn trao đổi và học tập trên mạng đã gópphần rút ngắn về thời gian và không gian đem lại hiệu quả OTCC
Các hình ảnh, âm thanh, văn bản được đưa lên Web thường chưa chú ýtheo một cấu trúc sư phạm cao, HS có nguy cơ “nhảy cóc” giữa những đoạn
và cắt ngắn hoặc bỏ qua các trang văn bản có tính tư duy lí thuyết
Các tư liệu trên mạng, sách thao khảo có quá nhiều, nội dung trùng lặp,
và cũng chỉ dừng lại ở sự liện kê kiến thức ở từng chương, từng phần mà:
Trang 35+ Không hề đề cập đến việc bồi dưỡng cho HS các phương pháp nhậnthức vật lí phổ biến.
+ Không hướng dẫn HS tự suy nghĩ tìm ra lời giải khi trả lời sai lầm lần đầu.+ Không chú ý đến các sai lầm cố hữu mà HS gặp phải để xây dựng hệthống bài tập qua đó giúp HS sửa các sai lầm trong quá trình OTCC
+ Chưa chú ý đến logic hình thành và phát triển các kiến thức trongtừng bài, từng phần của chương trình
Vì vậy, khi đứng trước nguồn tư liệu khổng lồ của nhân loại, đa số HSgặp không ít khó khăn cũng như mất rất nhiều thời gian khi tự học, tự ôn tập,không biết chọn kiến thức nào là cơ bản, kiến thức nào là quan trọng để có thể
tự OTCC kiến thức mình đã học một cách khoa học và hiệu quả nhất Do đó,
HS thường không có “bức tranh” tổng thể, khái quát hóa, hệ thống hóa về hệthống logic kiến thức cơ sở
3 Vai trò của Website trong hoạt động OTCC kiểm tra và đánh giá.
3.1 Một số ưu điểm của Web trong dạy học hiện đại
Từ thuở sơ khai, kinh nghiệm được truyền thụ bắt đầu từ hành động, lờinói giữa các thế hệ Sau khi ngôn ngữ, chữ viết xuất hiện, sách và các hìnhthức lưu trữ khác ra đời, thế giới sách và các ấn phẩm được in ấn, phổ biếnrộng rãi đã tác động vào sự nghiệp phát triển giáo dục của nhân loại, tham giavào việc hình thành kiến thức, kỹ năng và nhân cách con người
Ngày nay, máy tính điện tử, Internet và Web ra đời, góp phần đào tạocon người và tăng hiệu quả giáo dục lên một mức độ cao hơn, giúp con ngườitích cực, tự lực và chủ động hơn trong học tập Sách và các ấn phẩm cho phépcon người biểu đạt hiểu biết của mình dưới dạng văn bản, hình ảnh còn máytính điện tử và Web cho con người khả năng biến những hiểu biết của mìnhthành hành động Sự phát triển của máy tính điện tử tạo ra cho mỗi quốc gia,
Trang 36mỗi cộng đồng, mỗi cá nhân những cơ hội sử dụng máy tính như một phươngtiện để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập nhờ các Website giáo dục.
- Dạy học trên mạng tạo điều kiện cho người học vượt qua “rào cản về thời gian và không gian”
Đối với các lớp học truyền thống, mỗi GV tại một thời điểm chỉ có thểgiảng dạy cho một lớp HS với số lượng ít Hơn nữa, cả GV và HS phải có mặttại cùng một địa điểm và cùng một thời điểm Những đặc điểm đó sẽ trở nênbất lợi đối với xu hướng dạy học hiện đại Dạy học trên mạng là một biệnpháp có thể tạo điều kiện cho người học vượt qua các bất lợi đó
Đối với dạy học trên mạng, người học không phải có mặt đúng giờ quyđịnh tại một địa điểm quy định cho tất cả các lớp như ở các lớp học truyềnthống khi nghe giảng lí thuyết, làm bài tập hay thảo luận nhóm… Tùy điềukiện về thời gian của mình trong ngày và ở bất kỳ chỗ nào có Internet là họ cóthể học lí thuyết, làm bài tập, thảo luận nhóm, làm bài kiểm tra… Họ có thểđặt các câu hỏi đối với GV qua email Họ có thể hỏi đáp trực tuyến, trực tiếpvới GV theo các giờ quy định ghi sẵn trong chương trình, hay đã thỏa thuậntrước Họ có thể trao đổi, thảo luận trong nhóm học tập qua các hình thứconline hoặc offline
- Dạy học trên mạng giúp cho việc dạy học vượt qua “rào cản liên quan đến đối tượng học tập”
Đối với các đối tượng học tập có liên quan đến các thí nghiệm thì dạyhọc bằng Web có thể hỗ trợ được rất nhiều cho cả GV và HS Hiện nay, nhờcác công cụ lập trình hỗ trợ tạo các thí nghiệm trên màn hình có thể tương tácđược, người học có thể tự lắp đặt thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm, thu thập
số liệu, vẽ đồ thị thực nghiệm, khớp đồ thị thực nghiệm với các hàm chuẩn…ngay trên mạng Như vậy, nếu không có điều kiện đến phòng thí nghiệm, họ
có thể thực hiện các thí nghiệm ngay trên mạng Hơn nữa, nhiều thí nghiệm
Trang 37không thể thực hiện được trong phòng thí nghiệm truyền thống (do giá thànhquá cao, quý hiếm hay do không an toàn trong khi thực hiện thí nghiệm) thìnay có thể thực hiện được trong các “phòng thí nghiệm trên mạng” mà HScũng như GV đều có thể sử dụng.
- Nhờ dạy học trên mạng người học có thể vượt qua được “rào cản về
tư liệu học tập”
Nội dung các trang Web trên Internet là kho tài nguyên tri thức khổng
lồ của nhân loại liên quan đến tất cả các lĩnh vực trong xã hội và cuộc sống,giúp cho người học có thể tra cứu đầy đủ các tư liệu cần thiết liên quan đếnchuyên môn của mình Hơn thế nữa, việc tìm kiếm, tra cứu trên Internet lại rấttiện lợi và nhanh chóng, nên có thể nói nội dung trên Internet trực sự là một
“thư viện số lí tưởng” của nhân loại, đầy đủ về nội dung, nhanh chóng và tiệnlợi về tra cứu
- Các trang Web còn có các nội dung ôn tập kiến thức cũng như tựkiểm tra, đánh giá đối với từng bài, từng chương, phần kiến thức đã học Saukhi tự học, người học có thể tự ôn tập và kiểm tra đánh giá trình độ lĩnh hộikiến thức của mình ngay Khả năng này không thể thực hiện được ở hình thứcdạy học truyền thống đối với tất cả HS trong lớp trong cùng một lúc.[1]
3.2 Các khả năng hỗ trợ của Web đối với OTTC
3.2.1 Sử dụng Website như một công cụ hỗ trợ học tập của HS
Hs có thể tự OTTC lại kiến thức của mình thông qua Web như ôn lạicác khái niệm, định luật vật lí, giải thích các hiện tượng vật lí, làm bài tậpluyện tập một cách nhanh chóng và dễ dàng từ nguồn tài nguyên phong phúcủa Web Có Web, HS có thể học tập ở bất cứ đâu có mạng Internet, vào bất
cứ thời gian nào, các kiến thức luôn được cập nhật, được bổ sung, hoàn thiện
vì ngoài việc tự học, tự nghiên cứu, bên cạnh các em còn có một cộng đồng
Trang 38sử dụng Web có thể chia sẻ thông tin qua các diễn đàn trao đổi, giúp cho việchọc tập đạt chất lượng ngày càng cao [16].
Học sinh có thể phát triển và rèn luyện các kĩ năng thực hiện một số thaotác cơ bản, bao gồm các thao tác tư duy và thao tác chân tay nhờ có Web Tronghọc tập vật lí, những thao tác chân tay phổ biến là: Quan sát, lắp ráp thí nghiệm,
sử dụng các thiết bị thí nghiệm…Những thao tác tư duy hay dùng là phân tích,tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá, cụ thể hoá…Thực tế cho thấy,những thao tác chân tay thì có thể huấn luyện tương đối nhanh, còn những thaotác tư duy thì rất khó khăn vì GV không quan sát được quá trình HS thực hiện Vìvậy, Web đưa ra những câu hỏi, mà khi trả lời HS phải thực hiện một thao tác nào
đó, dựa vào kết quả trả lời mà biết được HS thực hiện như thế nào, từ đó Web cóthể đưa ra những gợi ý, hướng dẫn HS tránh khỏi các sai lầm không đáng có, giúp
HS thực hiện ít thao tác và chính xác, khoa học hơn Làm như vậy thường xuyên,
HS sẽ hình thành được kỹ năng, tích luỹ được kinh nghiệm cho mình để có thểthực hiện nhanh hơn và chính xác hơn vào lần sau
Thông qua các Web học tập, HS có thể tự kiểm tra, đánh giá trình độ,khả năng của mình Đồng thời HS còn học được cách điểu khiển Web, sửdụng các công cụ mà Web hỗ trợ để tìm kiếm thông tin trên Internet, phục vụcho việc học tập và nghiên cứu
Sử dụng Web, GV có thể tạo được cho HS niềm yêu thích bộ môn vàsay mê khoa học qua các tình huống có vấn đề, được thể hiện một cách sinhđộng qua những tập tin đa phương tiện như hình ảnh thực tế, mô hình, flash,video thí nghiệm, phần mềm mô phỏng, hình vẽ, sơ đồ…Đặc biệt, qua cáctình huống có vấn đề được thể hiện theo một phong cách khác hẳn phong cáchdạy học truyền thống, sẽ kích thích hứng thú của HS, thúc đẩy các em hàohứng, hăng say nghiên cứu, tìm tòi để giải quyết bằng được những mâu thuẫngiữa những vấn đề đã biết, chưa biết và muốn biết
Trang 393.2.2 Sử dụng Website như một công cụ hỗ trợ GV nâng cao chất lượng giảng dạy
GV có thể thiết kế bài giảng sử dụng những tính năng đa phương tiện (âmthanh, hình ảnh, video, flash…) của Web làm cho bài giảng thêm sinh động hơn.Đặc biệt, với những hiện tượng khó quan sát (do xảy ra quá nhanh, hoặc quáchậm), những thí nghiệm khó thực hiện (do các lí do kỹ thuật, tài chính, độ antoàn….) thì GV có thể đưa những đoạn video, hình ảnh vào trong Web hoặc xâydựng mô phỏng những hiện tượng đó trên Web với những công cụ trợ giúp HShọc tập, lĩnh hội kiến thức tốt hơn, gây hứng thú, hấp dẫn các em khi được học,nghiên cứu một vấn đề mới, đồng thời giúp các em tiếp cận với các phương tiệnhiện đại ngay tại nhà
Bản chất của quá trình dạy học là tạo ra các tình huống học tập, trong đó
HS sẽ hoạt động dưới sự hướng dẫn của GV nhằm đạt được chất lượng và hiệuquả dạy học GV không chỉ là người đưa ra thông tin, đưa ra kiến thức mà sẽ trởthành người hướng dẫn để các em tự tìm ra những kiến thức đó Mặt khác, vớimạng Internet, người GV có điều kiện dễ dàng hơn trong việc trao đổi kinhnghiệm giảng dạy, trau dồi kiến thức với bạn bè, đồng nghiệp, nâng cao trình độ,đổi mới và hoàn thiện bản thân
Qua Web, GV có thể lấy thông tin nhanh chóng từ phía HS về một vấn
đề nào đó thông qua các câu hỏi nhanh hoặc thiết kế những bài kiểm tra,chấm điểm tự động và lưu giữ bảng điểm đó
Bên cạnh việc xây dựng nội dung học tập thì vấn đề quản lí HS đối vớimỗi GV cũng quan trọng không kém Các Website có thể hỗ trợ GV quản lí
HS rất tốt Các vấn đề như quản lí sự truy cập thông tin của HS trong mộtkhóa học, khả năng chia HS thành các nhóm, lên lịch người dùng hay quản líđiểm… giúp cho GV nắm bắt được thông tin của HS, kiểm soát được việc học
Trang 40tập của HS một cách linh hoạt hơn và từ đó có thể thay đổi sao cho phù hợpvới từng đối tượng.
3.2.3 Sử dụng Website tạo môi trường tương tác để HS hoạt động và thích nghi với máy tính, Internet và Web
Những công cụ đào tạo đa truyền thông và phương pháp mô phỏngtương tác của hệ thống Hypermedia đã tạo ra cho Web những khả năng đápứng nhu cầu của người dùng Những phương pháp học tập thành nhóm trênmạng làm cho HS học tập sinh động hơn, tác động qua lại tích cực hơn
Vai trò của GV là người hướng dẫn quan trọng, mỗi GV có thể phụtrách quản lí một nhóm HS phân theo lớp HS thực hành và thực hiện các hoạtđộng của lớp học dưới sự hướng dẫn của GV qua các hình thức liên lạc, traođổi thông tin với nhau một cách chủ động như thảo luận theo chủ đề (cácforum) hoặc trao đổi trực tuyến qua chatroom Như vậy giữa GV và HS, HSvới HS, GV với GV có thể tiến hành trao đổi đồng bộ hoặc không đồng bộvới nhau trên Web
3.2.4 Sử dụng Website để hỗ trợ kiểm tra và đánh giá kiến thức, kỹ năng mà HS đã thu được
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS là một vấn đề khó và phứctạp Nhiệm vụ cơ bản của việc kiểm tra, đánh giá là làm rõ được tình hình lĩnhhội kiến thức, mức độ thành thạo về kỹ năng và trình độ phát triển tư duy của
HS trong quá trình học tập Thông qua kiểm tra, đánh giá, người GV có thể tựđánh giá việc giảng dạy của mình song song với sự đánh giá việc học tập của
HS GV có thể thấy được những thành công và những vấn đề phải rút kinhnghiệm trong công tác giảng dạy, từ đó định ra được những biện pháp sư phạmthích hợp, nâng cao chất lượng dạy học
Kiểm tra và đánh giá là công việc không chỉ của GV mà của cả HS Nó
là hai công việc có nội dung khác nhau nhưng lại liên quan mật thiết với nhau