Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế hội nhập
Trang 1PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đang trở
thành một xu thế khách quan của các quan hệ kinh tế hiện đại Trong xu thế
đó, quốc gia nào có chiến lược, chính sách, biện pháp và công cụ quản lý hợp
lý sẽ mang lại được lợi ích lớn hơn và hạn chế bất lợi, ngược lại sẽ có những
kết quả không như mong muốn
Để có thể hợp tác tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài đặc biệt là
nguồn vốn, tiến bộ khoa học và công nghệ nguyên nhiên liệu…đòi hỏi trước
tiên phải có sự thống nhất nhận thức về độc lập dân tộc và hội nhập Độc lập
dân tộc để mở cửa, chủ động hội nhập để bảo vệ độc lập dân tộc Đảng và nhà
nước ta đứng vững trên quan điểm và nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh kiên định mục tiêu XHCN để tỉnh táo, phân tích, đánh giá
tình hình thế giới Từ đó vạch ra con đường, đường lối đối ngoại, độc lập tự
chủ đem lại những thành tựu quan trọng gíp phần tạo nên thế và lực mới Đưa
đất nước ta ngày càng lớn mạnh so với các nước trong khu vực và thế giới Là
sinh viên của trường Đại học kinh tế quốc dân chúng ta sẽ là những cán bộ
kinh tế của đất nước trong tương lai, do đó việc nhận thức như thế nào đối với
vấn đề chủ động hội nhập kinh tế thế giới và khu vực có vai trò rất to lớn đối
với bản thân chúng ta cũng như sự phát triển kinh tế của nước nhà Vì vậy
chúng ta cần phân tích đề tài: "Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế hội nhập"
Trang 2PHẦN II : PHẦN NỘI DUNG
1 Nhận thức chung về hội nhập kinh tế
Trong bối cảnh hiện nay, người ta đều thấy rằng, nhận thức về hội
nhập vẫn là một vấn đề thời sự Các quốc gia dều khẳng định cần xây dựng
nhận thức thống nhất trong nội bộ rằng hội nhập là cần thiết, phù hợp với xu
thế chung, nhất là tham gia WTO sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển của đất
nước
Hội nhập là một quá trình tất yếu, một xu thế bao trùm mà trọng tâm
là mở cửa kinh tế, tạo điều kiện kết hợp tốt nhất nguồn lực trong nước và
quốc tế, mở rọng không gian để phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp nhất có
thể trong quan hệ kinh tế quốc tế Như vậy hội nhập vừa là đòi hỏi khách
quan vừa là nhu cầu nọi lại của sự phát triển mỗi nước cần phải hội nhập sớm
nhất là tham gia WTO, để tránh thu các cơ hội kinh doanh để có tiếng nói
trong quá trình hình thành luật lệ kinh tế, thương mại quốc tế có lợi cho đất
nước Hội nhập muộn sẽ chấp nhận nhiều quy định đã rồi, nghĩa vụ phải thực
hiện sẽ lớn hơn và thời gian chu tiếp ngắn hơn
Hội nhập thực chất là tham gia cạnh tranh trên quốc tế và ngay trong thị
trường nội địa Để hội nhập có hiệu quả, phải ra sức tăng cường nội lực cải
cách và điều chỉnh cơ chế, chính sách luật lệ, tập quán kinh doanh, cơ cấu
kinh tế trong nước để phủ với (luật chơi chung) của quốc tế Điều này không
có nghĩa là các nước bị ép phải cải cách, mở cửa hội nhập nhưng thực ra cải
cách, hội nhập là vì sự phát triển của đất nước đối với Việt Nam Chính sách
hội nhập phải dựa và gần chặt với chiến lược phát triển của đất nước, đồng
thời cải cách kinh tế hành chính phải gần chặt với yêu cầu của quá trình hội
nhập Cải cách trong nước và hội nhập là (con đường hai chiều) cải cách bên
trong quyết định tốc độ và hiệu quả hội nhập đồng thời hội nhập sẽ hỗ trợ
thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước qua đó nâng cao sức cạnh tranh của
nền kinh tế cần phải nhận thức rằng dù có hội nhập hay không thì vẫn tiếp tục
Trang 3cải cách, cải cách mạnh hơn, nhanh hơn vì sự phát triển của Việt Nam Điều
quan trọng là phải duy trì ổn định chính trị xã hội để phát triển kinh tế và hội
nhập có hiệu quả
Hội nhập không phải để được hưởng ưu đãi, nhân nhương đặc biệt
Hội nhập là mở rộng các cơ hội kinh doanh, thâm nhập thị trường có môi
trường pháp lý và kinh doanh ổn định dựa trên quy chế, luật lệ của các thể chế
hội nhập, không bị phân biệt đối xử, không bị các động cơ chính trị hay
những lý do khác cản trở việc giao lưu hàng hoá , định vụ và đầu tư Từ ổn
định và thị trường, các nước sẽ có điều kiện thuận lợi để xây dựng kế hoạch
đầu tư, sản xuất, kinh doanh ổn định dựa trên quy chế, luật lệ của các thể chế
hội nhập không bị phân biệt đối xử, không bị các động cơ chính trị hay những
lý do khác cản trở việc giao lưu hàng hoá, dịch vụ và đầu tư Từ ổn định về
thị trường, các nước sẽ có điều kiện thuận lợi để xây dựng kế hoạch đầu tư,
sản xuất kinh doanh ổn định, giải quyết việc làm phát triển kinh tế Ngoài ra,
các nước có thể xây dựng những luật lệ, quy định, cơ chế giải quyết tranh
chấp của các thể chế hội nhập để bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam
Phải tăng cường thông tin, tuyên truyền, giải thích để giới kinh doanh
nhận thức sâu sắc và ủng hội hội nhập, chuẩn bị thật tốt mọi mặt dể chủ động
hội nhập từng bước, tận dụng những lợi thế so sánh của mỗi nước để cạnh
tranh chiếm lĩnh thị trường Đặc biệt quan tâm đến việc thông tin, giải thích
cho doanh nghiệp và nhân dân, đặc biệt các thành phần bị ảnh hưởng bởi mở
cửa và tự do hoá, về lợi ích của hội nhập và tham gia WTO cần tham khảo và
thu hút giới doanh nghiệp tham gia xây dựng chính sách, lộ trình, các biện
pháp hội nhập vì chính họ sẽ thực hiện các cam kết và bảo đảm hiệu quả của
quá trình hôị nhập
Nhìn lại quá trình hội nhập quốc tế Việt Nam trong những năm gần đây
Điều cần nói là, không phải chỉ có thập kỷ 90 vừa qua nước Việt Nam
mới tiến hành hội nhập quốc tế Nhìn lại chặng đường phát triển của dân tộc
Trang 4Việt Nam, trên thực tế Việt Nam chưa bao giờ tách khỏi nền kinh tế thế giới,
Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục quá trình hội nhập
Trước khi nhà nước Việt Nam ( Việt Nam dân chủ cộng hoà và nay là
cộng hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời việc tham gia vào tiến trình kinh
tế thế giới của Việt Nam chịu sự chi phối của chủ nghĩa thực dân, đó thực
chất là quá trình bị động Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoa ra đời do
điều kiện chiến tranh nên việc phát triển kinh tế và tham gia vao quá trình
kinh tế quốc tế rất hạn chế Trên thực tế từ năm 1945 đến khi Việt Nam thực
hiện đổi mới, quan hệ Việt Nam với khu vực (Đồng Nam á) có thể nói là bị
ngừng trệ.Nước Việt Nam chỉ tiến hành quan hệ và hợp tác với các quốc gia
XHCN mà đáng chú ý là việc tham gia vào Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)
Tham gia vào SEV phần nhiều cũng không phải xuất phát từ yêu cầu tất yếu
của phân công hợp tác về mặt kinh tế đối với Việt Nam Như vậy có thể thấy
thập kỷ 90 là thập kỷ hội nhập khởi đầu đúng nghĩa Cũng vì vậy chúng tôi
muốn đi sâu nhìn nhận lại quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam thời gian
này, từ đó có cơ sở cho những đề xuất và gọi ý cho tương lai
Họ biết rằng từ cuối thập kỷ 70, đất nước lâm vào tình trạng khó
khăn, cơ chế kinh tế cũ tỏ ra không còn tác dụng, cơ chế mới chưa hình thành,
Viện trợ ở bên ngoài bắt đầu khó khăn, giảm sút, trong khi đó các thể lực thù
địch trong và ngoài chống phá dồn ép ta trên các phương diện gần suốt thập
kỷ 80 chúng loay hoay tìm phương cách khắc phục song không những không
hiệu quả mà làm cho tình trạng khó khăn, phức tạp thêm Đại hội VI của
Đảng đã mở ra phương cách mới, Nước Việt Nam đã tiến hành đổi mới
chuyển sang cơ chế thị trường Cùng với những đổi mới bên trong Việt Nam
thực hiện chuyển hướng chiến lược trong kinh tế đối ngoại, từng bước hội
nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Tiếp tục theo tinh thần đổi mới của đại hội VI, Đại hội VII và VIII,
cùng các nghị quyết của hội nghị trung ương trong các kỳ Đại hội đều có chú
ý đến vấn đề hội nhập quốc tế, nếu như Đại hội VI Đảng của nước Việt Nam
Trang 5phải nhấn mạnh phải “ gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới, giải
quyết mối quan hệ giữa tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có chính sách bảo
vệ sản xuất nội địa”, thì tại Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá VII đã có
bước tiến trong xác định cụ thể nội dung của hội nhập quốc tế, trong đó khẳng
định phải khai thông quan hệ với các tổ chức kinh tế quốc tế Tư tưởng này
được khẳng định lại tại trong Hội nghị Trung ương 7 khoá VII là “từng bước
tham gia các hội, các tổ chức kinh tế thương mại thế giới và khu vực”
Đại hôi VIII của Đảng tiếp tục phát triển và khẳng định về sự cần thiết
cũng như làm rõ thêm về nội dung và tiến trình hội nhập Nghị quyết Đại hội
nhấn mạnh phải “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập khu vực và thế giới,
hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thể nhập khẩu bằng nhữmg sản
phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả “ Điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa
hội nhập khu vực vừa hội nhập toàn cầu, xử lý đúng đắn lợi ích giữa Việt
Nam và các đối tác Chủ động tham gia thương mại thế giới, các diễn đàn, các
tổ chức định chế quốc tế một cách có chọn lọc, với bước đi thích hợp”
Như vậy có thể nói chủ trương hội nhập của Đảng Việt Nam là nhất
quân trọng tiến trình đổi mới Đây chính là cơ sở rất quân trọng để triển khai,
thúc đẩy hội nhập trên thực tế
Trải qua hơn một thập kỷ từng bước hội nhập của Việt Nam đã có được
những kết quả bước đầu quan trọng trên các mặt thương mại, đầu tư, ngoại
giao phá bỏ thế thì có lập, tạo ra môi trường cùng hợp tác phát triển với các
đối tác trên thế giới Cụ thể về ngoại thương, Việt Nam đã mở quan hệ kinh tế
với 150 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới Từ năm 1990 đến 1999 tổng giá trị
xuất khẩu của Việt Nam tăng 4,5 lần, khi đó tổng giá trị nhập khẩu tăng hơn 4
lần trên thực tế kết thúc năm 1999 kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu gần
như ngang bằng Trong cơ cấu hàng hoá cũng có chuyển biến tích tính theo
hướng đa dạng hoá mặt hàng, tăng dần những hàng hoá qua chế biến Trong
lĩnh vực thu hút vốn nước ngoài Việt Nam cũng đã đạt được những kết quả
đáng khích lệ Tính đến tháng 9/1999 Việt Nam đã thu hút 35,9 tỷ USA FDI
Trang 6của hơn 70 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, trong đó đầu tư kể vào công
nghiệp và xây dựng là gần 51 Cùng với vốn FDI Việt Nam còn tiếp nhận
một lượng không nhỏ nguồn vốn quá kênh ODA Nguồn ODA thực sự có ý
nghĩa quan trọng trong phát triển cơ sở hạ tầng, cả phần cứng và phần mềm
đối với Việt Nam tính ra mức vốn nước ngoài hiện nay chiếm khaỏng 30%
tổng vốn đầu tư xã hội Tỷ lệ đóng góp của khu vực có vốn đầu tư của nước
ngoài trong GDP đều tăng lên qua các năm, năm 1993 đạt 3,6% đến 1998 đạt
9% năm 1999 đạt khoang 10,5% Nguồn thu ngân sách từ khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài đạt 370 triệu USD vào năm 1998
cùng với mở cửa thu hút vốn nứơc ngoài, ra tăng xuất khẩu, các doanh
nghiệp Việt Nam cũng đã mạnh dạn tham gia đầu tư ra nước ngoài kể cả vào
những nước phát triển Nhật bản Tính cho đến nay các doanh nghiệp Việt
Nam đã có dự án 27 đầu tư ra nước ngoài với tổng số khoảng 80 triệu USD,
tập trung chủ yếu trong lĩnh vực chế biến thực phẩm, thương mại dịch vụ và
xây dựng v.v Đồng thời trong những năm 90 Việt Nam đã ký hợp đồng đưa
7 vạn lao động ra nước ngoài làm việc
Việc hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới không chỉ cho phép
Việt Nam thu được vốn, mà dựa vào đó họ nắm bắt được những công nghệ kỹ
thuật và quản lý tiên tiến, từng bước tạo cho họ một đội ngũ công nhân có
trình độ phù hợp cho việc phát trển nền công việc hiện đại trong thời đại ngày
nay Theo con số của Vụ quản lý dự án Bộ kế hoạch và đầu tư, riêng trong
khu vực có FDI đã thu hút 285,7 nghìn lao đông (số liệu đến tháng 8/1999)
Thực ra để đạt được những kết quả như trên trong những năm qua Việt
Nam đã có nhiều đổi mới cải thiện môi trường đầu tư, đặc biệt là luật đầu tư,
mặc dù còn có điều cần điều chỉnh, song đều được thừa nhận là luật cửa mở,
có sức thu hút đối với FDI, Việt Nam cũng có nhiều đổi mới trong lĩnh vực
tài chính tiền tệ, điều chỉnh các mức thuế theo hướng ngày một tự do hơn
Kết quả của hội nhập được thể hiện rõ ở việc gia nhập và tham gia vào
những hoạt động của các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu Họ đã trở
Trang 7thành thành viên của APTA, APEC, có quan hệ chặc chẽ với các tổ chức
chuyên môn của UN, IMF và WB cũng như ADB Đặc biệt họ đã ký hiệp
định thương mại Việt-Mỹ và đang xúc tiến tham gia vào WTO
Với việc hội nhập tích cực chủ động như trên đã góp phần quan trọng
vào thành tựu kinh tế-xã hội trong hơn 10 năm đổi mới vừa qua Không
những đã phá bỏ được thế bao vây và cô lập mà còn góp phần nâng cao vị thế
của Việt Nam trong khu vực cũng như trên trường quốc tế
Tuy vậy, điều cũng cần thấy là, bên cạnh những kết quả, tiến trình hội
nhập của Việt Nam trong hơn 10 năm qua cũng đã và đang đặt ra nhiều vấn
đề cả ở tầm vĩ mô và vi mô cần suy nghĩa quyết để tiếp tục hội ngày càng hiệu
qủa hơn
2 Những thuận lợi và khó khăn khi Việt Nam tham gia vào hội
nhập kinh tế quốc tế:
a Những thuận lợi cơ bản:
Thứ nhất, Đảng cũng như nhà nước đã có những chủ trương và chính sách
nhất quán cho việc chủ động tham gia vào tiến trình khu vực hoá và toàn cầu
hoá Chúng ta còn nhớ khi bắt đầu bước vào cải cách đổi mới việc mở rộng
quan hệ kinh tế với các quốc gia, tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và
toàn cầu chưa phải đã có tiếng nói chung Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến
nhịp độ hội nhập Nay với quan điểm và nguyên tác rõ ràng chúng ta chủ
động đẩy nhanh quá trình hội nhập Đường lỗi ở tầm vĩ mô, về “xu thế không
thể tránh khỏi đối với sự phát triển” của việc tham gia toàn cầu hoá thực tế có
ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp đổi mới, hội nhâp của Việt Nam Từ nhận
thức này, mà trong những năm qua Việt Nam đã có bước chuyển đổi lớn
trong chính sách phát triển kinh tế noí chung, chính sách phát triển kinh tế đối
ngoại nói riêng Các chính sách này đều theo hướng tự do hoá, tất nhiên ở các
tầng cấp khác nhauphụ thuộc vào thực lực cụ thể của mỗi lĩnh vực
Thứ hai, tham gia toàn cầu hoá chính là tranh thủ những đIũu kiện quốc
tế để khai thác các tiềm năng kinh tế nước nhà, phục vụ cho việc tâng cao đời
Trang 8sống nhân dân Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú nhưng chưa được khai thác hiệu quả Với nguồn tài nguyên phong phú
không chỉ tạo điều kiện trong việc phát triển các ngành công nghẹp khai thác
chế biến mà còn là sức thu hút đối với các công ty nước ngoài Trên cơ sở các
nguồn tài nguyên thiên mhiên chúng ta có thể xác lập cơ cấu ngành kinh tế
với những sản phẩm có tính canh tranh đáp ứng được thu cầu thị trường thế
giới
Về vị trí địa lý, nước ta là cửa gõ đi ra thái bình dương của một số quốc
gia đông nam á, là điểm tiếp giáp với các tuyến đường giao thông quan trọng
của thế giới Đáng chủ ý với bờ biển rộng, trải dài từ Bắc đến Nam với nhiều
hải cảng, đặc biệt cảng Cam Ranh có độ sâu thuận lợi cho phát triển giao
thông hàng hải cũng như phát triển hành hoá
Ngoài một số khoáng sản như Bỗit có trữ lượng lớn 5 tỷ tấn đứng thứ 3
thế giới, quặng đất hiếm cũng có trữ lượng lớn đứng thứ hai thế giói sau trung
quốc, thì các loại khoáng sản ở Việt Nam tuy trữ lượng không lớn nhưng rất
đa dạng và phong phú Trong thời gian qua việc khai thác chế biến còn hạn
chế Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá hiện dại hoá, thì việc khai thác
sử dụng các nguồn lực đó thông qua hợp tác quốc tế là rất cần thiết
Với thực trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như xết trên hiệu quả phát
triển kinh tế chúng ta không nên hình thành cơ cấu kinh tế hướng về xuất
khẩu tài nguyên như một số quốc gia có nguồn taì nguyên lớn Cần qua hợp
tác cũng như phát huy năng lực bên trong đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế chuyển sang xuất khẩu các mặt hàng chế biến Thực tế cho thấy,
mặc dù những năm qua cơ cấu hàng xuất khẩu của ta cũng đã có cảI thiện,
xong về cơ bản cũng là xuất khẩu tàI nguyên, trong đó có dầu, than đa Trong
điều kiện giá cánh kéo chúng ta càng tăng xuất khẩu càng thua thiệt Với
nguồn lực về tàI nguyên hiện có chúng ta cần tập trung phát triển các nhành
vật liệu xây nghiệp, gốm sứ, du lịch, kết hợp phát triển các sản phẩm xuất
khẩu đồng thời chủ ý phát triển các loại hình xí nghiệpvừa và nhỏ, trên cơ sở
Trang 9liên doanh để tận dụng nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng phục vụ nhu
cầu công nghiệp hoá, hiện đại
Thứ ba, Việt Nam hiện nay tuy là quốc gia đang phát triển, là một trong
những nước nghèo nhất trong thế giới, song nước ta được đanh giá cao về chỉ
số nguồn nhân lực Với thị trường cần 80 triệu dân, trong đó tỷ lệ người trong
độ tuổi lao động cao (dân số trẻ), có trình độ văn hoá, cần cù lao động và đặc
biệt giá lao động rẻ Đó là lợi thế so sánh có ý nhgiã trong quá trình tham gia
hồi nhập
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang quá độ sang nền kinh tế trí
tuệ, khoa học “công nhgệ phát triển nhanh, trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, chi phối mọi lĩnh vực kinh tế -xã hội, nhưng cũng không thể thay thế vai
trò của nhuồn lực lao động Hơn nữa, bản thân nguồn lực lao động còn là
nhân tố sáng tạo ra công nghệ thiết bị và sử dụng chung trong quá trình phát
triển kinh tế
Trên thực tế nhiều công ty nước ngoài vào Việt Nam, một trong những
lý do quan trọng là tận dụng nguồn lao động dồi dào, rẻ và có khả năng tiếp
thu công nghệ mới ở việt nam Theo đánh giá của các công ty Nhật khi phân
tích lợi thế môi trường kinh doanh của các quốc gia ASEAN, Việt Nam đứng
thứ 7 trong tổng số 10 quốc gia Tuy vậy nếu xét riêng về yếu tố nguồn nhân
lực lợi thế của nước Việt Nam không thua kém Thái Lan, thậm chí còn vượt
cả Inđônexia và Myanma Chỉ số HDI của Việt Nam tuy chưa cao do với thế
giới, mới chỉ đạt 0,56 song nếu do với các quốc gia có thu nhập tương ứng thì
Việt Nam lại ở nhóm cao
Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo cơ hội để nguồn nhân lực của nước Việt
Nam khai thông giao lưu với thế giới bên ngoài Việt Nam có thể qua xuất
khẩu lao động qua các hợp đồng gia công chế biến hàng xuất khẩu Đồng thời
tạo điều kiện để nhập khẩu lao động kỹ thuật cao, công nghệ mới mà hiện
Việt Nam rất cần Như vậy với lợi thế nhất về nguồn lao động cho phép lựa
Trang 10chọn dạng hình phù hợp tham gia vào hội nhập và chính qua hội nhập là điều
kiện để nâng cao chất lượng nguồn lao động của Việt Nam
Thứ tư, chúng ta đẩy nhanh tiến hội nhập kinh tế quốc tế trong điều
kiện đất nước hoà bình, chính trị-xã hội ổn định Đây là cơ hội rất quan trọng
để tập trung phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại Chính trị-xã hội ổn
định theo một khuynh hướng nhất quán chính là bộ lọc quan trong trong quá
trình giao lưu hội nhập, hơn nữa nó bảo đảm vai trò định hướng trong hội
nhập quốc tế
Họ biết rằng khi bắt đầu thực hiện đổi mới, gắn liền với bước chuyển
cơ ché đã nảy sinh không ít tiêu cực trong tư tưởng, đạo đức, lối sống Nhiều
người lợi dụng chính quyền và sự chưa hoàn thiện của cơ chế quản lý và pháp
luật đã giàu lên nhanh chóng, trong khi đó đại bộ phận dân cư còn sống trong
khó khăn Nhìn chung tình hình kinh tế-xã hội còn khá gay gắt vào cuối
những năm 1980
Trong bối cạnh đó, trên thế giới cũng đang có chuyển biến phức tạp,
đáng chú ý là sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu Việt Nam cũng
như đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ nhân dân với CNXH, hoài nghi vào
khả năng mở cửa hội nhập phát triển
Phân tích tình hình thực tế, ngày từ hội nghị Trung ương 7 khoá VI
Đảng Việt Nam đã khẳng định tính tất yếu lịch sử của CNXH, khẳng định
tính khách quan và phương hướng XHCN của quá trình cải cách đổi mới Đại
hội VII cũng khẳng định: (nhân dân Việt Nam quyết không chấp nhận con
đường nào khác ngoài con đường XHCN) Trên thực tế gắn liền với sự vận
động hiện thực của cuộc sống, Đảng Việt Nam đã từng bước hoàn thiện, bổ
sung cụ thể hoá thêm đường lối đổi mới, mở cửa hội nhập trong quá trình đó,
Đảng Việt Nam đã được củng cố yề chính trị và tổ chức, vai trò lãnh đạo của
Đảng trong xã hội được tăng cường
Trong quá trình đổi mới gắn liền với cải cách hành chính, đổi mới nội
dung và phương thức hoạt động của các đoàn thể chính trị xã hội, nước Việt
Trang 11Nam đã ban hành Hiến pháp mới cũng nhiều luật lệ nhằm thể chế hoá quyền
lực của nhân dân, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật theo định hướng
xây dựng một xã hội có dân giầu, nước mạnh, xã hội cân bằng dân chủ và văn
minh Cùng với chỉnh đốn Đảng Việt Nam đã chú trọng dân chủ hoá cơ sở
thực sự mở ra khả năng tham gia đóng góp của mội người vào các quyết sách
phát triển liên quan đến lợi ích của chính ngươì dân, của các địa phương cũng
như của cả nước
Với sự đổi mới của phát triển hơn mười năm qua đất nước đã thu được
kết quả rất đáng tự hào, sau một thập kỷ tăng trưởng GDP đã tăng lên gấp hơn
2 lần, từ nước nhập lương thực trở thành không những là một quốc gia tự túc
được lương thực mà còn là nưóc có mức xuất khẩu lớn, dứng thứ 2-3 thế giới
với 3,8 triệu tấn năm 1998 và 4,3 triệu tấn năm 1999 Cùng với đó đời sống
vật chất và văn hoá tinh thần của nhân dân được cải thiện Thành quả nay tạo
ra niềm tin vững chắc của toàn dân vào sự nghiệp đổi mới, đưa lại sự ổn định
về chính trị - xã hội theo một khuynh hướng đi lên CNXH
Sự ổn định về chính trị - xã hội cho phép tập trung toàn thể sức lực của
nhân dân cho phát triển đất nước Trong những năm vừa qua không những
phát huy tốt nguồn lực trong nước cho đổi mới mà còn thu hút được sự đóng
góp không nhỏ của kiều bào Việt Nam ở nước ngoài bên cạnh một lượng vốn
lớn của nước ngoài đổ vào Việt Nam sự ổn định về chính trị - xã hội thực sự
là yếu tố quan trọng tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, tăng sức hút đối
với đầu tư
Việt Nam thực hiện đổi mới để đi lên CNXH Hội nhập vào nền kinh
tế khu vực và thế giới cũng chính là nhằm tranh thu các điều kiện về vốn, kỹ
thuật v.v cho sự nghiệp phát triển nền kinh tế dân tộc theo hướng đã xác
định : xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà trong
đó Đảng lãnh đạo Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ Với mục
tiêu và đường hướng hội nhập đó đã xác định những nguyên tắc trong quá
trình tham gia hôị nhập và quy định các chiều hướng giá trị vật chất và tinh
Trang 12thần khi tiếp nhận Đồng thời nó cũng quy định quan điểm chính thức của
Việt Nam trong đấu tranh trong xu thế hội nhập bình đẳng vì sự phát triển
chung của các dân tộc
Nước VIệt Nam hội nhập để xây dựng xã hội có dân giàu nước mạnh
xã hội công bằng dân chủ văn minh, vì vậy nước VIệt Nam chỉ chấp nhận
vào cuộc chơi khi mở ra các điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu đó về điều
này quan điểm về Trung quốc rất đáng tham khảo, Họ quan niệm các luật
chơi hiện nay có ba cấp độ: phủ hợp chưa phù hợp và không phù hợp và khi
khong phù hợp hơn họ không chấp nhận, còn chưa phù hợp họ đấu tranh cho
phù hợp dần
Thứ năm, mặc dù kinh tế của Việt Nam chưa phát triển, nhưng Việt
Nam hội nhập không phải với hai bàn tay trắng, ngoài nguồn tài nguyên thiên
nhiên, nguồn nhân lực cùng với sự ổn định về chính trị xã hội họ cũng đã có
kinh nghiệm nhất định sau hơn 10 năm đổi mới hội nhập vào nền kinh tế khu
vực và thế giới
Với hơn mười năm qua nước Việt Nam tạo ra được một đội ngũ cán bộ
tiếp cận được cách thức làm ăn trên thương trường quốc tế, tất nhiên về trình
độ đòi hỏi phải nâng cao hơn Thực tế họ đã hoà dần vào nhịp độ chung của
nền kinh tế thế giới Hiện nay Việt Nam đã là thành viên của ASEAN đang có
những đóng góp tích cực vào sự liên kết kinh tế trong hiệp hội Thành công
của cuộc gặp của các vị đứng đầu ASEAN lần thứ 6 tại Hà Nội vào cuối năm
1998 với việc ra Tuyên bố Hà Nội và Chương trình hành động Hà Nội thể
hiện sự đóng góp đó Nước Việt Nam cũng đã trở thành thanh viên của Hội
đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương năm 1994 và theo hội nghị cấp cao
APEC lần thứ năm họp tại Canada (1997) quyết định chấp nhận đơn xin gia
nhập của Việt Nam, và theo quy định tháng 11/1998 Việt Nam chính thức là
thành viên của APEC
Trong những năm qua Việt Nam cũng gia tăng quan hệ với liên hợp
quốc, IMF, ƯB Cho đến nay đã hơn 20 năm Việt Nam nhận được sự giúp đỡ
Trang 13của liên hợp quốc trong nhiều lĩnh vực, đồng thời qua đó Việt Nam cũng đóng
góp vào sự phát triển của chính tổ chức này Ghi nhận sự đóng góp đó, năm
1997, lần đầu tiên Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng kinh tế - xã hội Liên
hợp quốc Đây là điều kiện quan trọng cho phép mở rộng và phát triển quan
hệ của Việt Nam với liên hợp quốc cũng như với các quốc gia và các tổ chức
quốc tế khác Ngày nay Nước Việt Nam đã tham gia khá tích cực vào hoạt
động của Liên hợp quốc Các tổ chức thuộc Liên hợp quốc như: UNDP,
UNFPA, UNICEF, UNHCR, UNDCP v.v Việt Nam đều có quan hệ chặt
chẽ
Đối với UB, hiện tại Việt Nam là thành viên chính thức của một số tổ
chức thuộc WB, đó là ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD), Hiệp
hội phát triển quốc tế (IDA), Tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) và công ty bảo
hiểm đầu tư đa biên (MIGA) Tuy vậy quan hệ Việt Nam với WB thực chất
mới chỉ là quan hệ tín dụng giữa Việt Nam với IDA và IFC Sau một thời gian
đình trệ trong quan hệ với WB cuối năm Việt Nam đã khai thông quan hệ với
IDA Từ đó cho đến nay quan hệ với IDA phát triển khá tốt, trung bình hàng
năm IDA cung cấp cho nước Việt Nam 300 đến 500 triệu USD năm 1995
WB đã đặt văn phòng đại diện tại Hà Nội
Cùng với WB chúng ta cũng có quan hệ hợp tác với IMF Năm 1976
chúng ta tiếp tục quy chế thành viên với cổ phần lúc đó là 0.12%tổng số của
IMF với 314 triệu USD Tuy nhiên do những khó khăn trong những phát triển
kinh tế cùng tác động về mặt chính trị quan hệ với IMF thời gian đầu cũng
chưa được phát triển tốt Vào năm 1984 IMF quyết định đình chỉ quyền được
vay vốn của Việt Nam Năm 1993 quan hệ với IMF được tái phục hồi và cũng
năm này IMF cho Việt Nam vay 223 triệu USD Trong quan hệ với IMF cũng
như với WB Việt Nam luôn đã giữ quan hệ hợp tác và đấu tranh Bởi lẽ trên
thực tế WB và IMF chịu sự chi phối của Mỹ vì vậy trong những thoả thuận
luôn ẩn chứa ý đồ của nước ngoài Đây là lĩnh vực hợp tác đòi hỏi sự nhạy
Trang 14bén và linh hoạt của ta vừa đạt được hiệu quả kinh tế mà lại đảm bảo được
chủ quyền an ninh quốc gia
Ngoài các tổ chức kinh tế có tính toàn cầu và khu vực chủ yếu trên,
trong thời gian qua Việt Nam cũng đã tham gia hội nhập khá tích cực dưới
hình thức quan hệ song phương Đáng chú ý là quan hệ của Việt Nam với
Nhật, Mỹ và các quốc gia thuộc E Riêng Nhật Bản và các nước thành viên
EU là những quốc gia co quan hệ tương đối thuận lợi đối với Việt Nam từ
sau khi trở lại cung cấp viện trợ cho Việt Nam (1992) Nhật Bản luôn là nước
cung cấp ODA lớn nhất, bạn hàng thương mại lớn nhất và là một trong ba nhà
đầu tư hàng đầu ở Việt Nam Đối với EU, Việt Nam cũng là một trong những
người nhận tài trợ chính từ EU Tháng 7/1995 Việt Nam và EU đã ký hiệp
định khung về hợp tác Nhiều quốc gia trong EU có quan hệ khá chặt chẽ với
Việt Nam chẳng hạn như Pháp Việc gia tăng quan hệ với các quốc gia tư bản
phát triển có ý nghĩa lớn đối với Việt Nam trong việc đáp ứng nguồn vốn và
kỹ thuật, có thể xem đây là những đầu nguồn về dòng vốn đầu tư mà Việt
Nam cần có chiến lược tranh thủ thu hút Trong quan hệ với Mỹ, Việt Nam
luôn tỏ ra thiện chí Năm 1994 Mỹ đã xoá bỏ lệnh cấm vận với Việt Nam và
nhất là tháng 7 vừa qua Hiệp định thương mại Việt-Mỹ đã được ký kết góp
phần mở ra điều kiện gia tăng quan hệ Việt-Mỹ cũng như quan hệ của Việt
Nam với thế giới tuy vậy quan hệ hai bên vẫn còn chịu ảnh hưởng rất lớn của
yếu tố lịch sử và cần có thời gian để giảm bớt bất đồng
Nói tóm lại hơn 10 năm đổi mới vừa qua, nếu như nhìn dưới góc độ
kinh tế đối ngoại thì đúng là thập kỷ của hội nhập vào kinh tế thế giới và khu
vực Thời gian đó tuy chưa dài, cùng với những kết quả đạt được là những trả
giá không nhỏ cho những yếu kem, ít hiểu biết trong quan hệ quốc tế hiện đại
Nói cách khác đó chính là những bài học kinh nghiẹm cả thành công và thất
bại trên bước đường hội nhập, đó là hành trang cho ta vững bước đi vào giai
đoạn mới - đây nhanh hơn nữa hội nhập quốc tế
Trang 15Thứ sáu việc thúc đẩy hội nhập trong tương lai ngoài những nhân tốt
thuận lợi cơ bản trên còn một nhân tố quan trọng giúp cho ta nhanh chóng hoà
nhập vào sự phát triển chung, đó là xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển đã
và đang là chủ đề chính của thời đại ngày nay
Có thể nói ngày nay sự phát triển kinh tế trở thành mục tiêu chiến lược
của mỗi quốc gia, trong đó hợp tác là cách thức chủ yếu và ổn định là điều
kiện cần thiết để phát triển Với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế dưới tác
động khoa học kỹ thuật đã làm cho phân công lao động quốc tế càng sâu sắc,
các quốc gia ngày một gắn bó, tuy thuộc vào nhau Đồng thời do sự chạy đua
vũ trang, nhất là vũ trang hạt nhân trong những thập kỷ sau chiến tranh thế
giới hai đã đẩy nhân loại đến một thảm hoạ khó lường và nguy cơ huỷ diệt
của tất cả các bên cũng khó tránh khỏi Những điều đó đã buộc các quốc gia
phải hợp tác với nhau để đảm bảo sự tồn tại, phát triển của mình Tuy vậy hợp
tác lại đi liền với cạnh tranh, đặc biệt cạnh tranh phát triển kinh tế sự cạnh
tranh diễn ra trong ràng buộc, xâm nhập lẫn nhau, các quốc gia không thể
phát triển nêu đứng tách riêng trong điều kiện toàn cầu hoá ngày nay
Với xu hướng trên các quốc gia, trong đó có Việt Nam có điều kiện tập
trung phát triển kinh tế, hội nhập, hợp tác cạnh tranh với nhau để cùng tồn tại
và phát triển
b) Những khó khăn, thách thức chủ yếu đặt ra cho việc đẩy nhanh quá
trình hội nhập
Thứ nhất, về mặt kinh tế, trình độ phát triển của ta so với quốc tế còn
thấp, lạc hậu hiện nay 75%lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp
Cho đến năm1999 nền kinh tế nước ta về thực chất là nền kinh tế nông
nghiệp, trong đó khu vực nông nghiệp chiếm 25,4% GDP, công nghiệp chiếm
34,5% và dịch vụ chiếm 41,1% Trong khi đó ở các nước phát triển, tỷ trọng
khu vực nông nghiệp giảm mạnh, chỉ khoảng 43% GDP,công nghiệp cũng
giảm dần chỉ còn khoảng 20%và khu vực dịch vụ thì đặc biệt phát triển, nhất
là lĩnh vực thông tin Nhìn chung trong nền kinh tế của Việt Nam trong công
Trang 16nghệ hiện nay vô cùng lạc hậu, so với thế giới chậm từ 50-100 năm Hệ thống
thiết bị kỹ thuật ở hầu hết các doanh nghiệp lạc hầu so với mức trung bình
hiện nay của thế giới từ 2-3thế hệ, thậm chí có lĩnh vực 4-5 thế hệ Chính vì
vậy năng suất lao động của ta thấp, sản phẩm làm ra giá thành cao, không có
sức cạnh tranh ví dụ đường RS của Việt Nam giá xuất xưởng năm 1999 là
340-400 USD/tấn nhưng giá nhập khẩu lại rẻ hơn từ 20-30%, tức ở mức
260-300USD/tấn, giá sắt thép trong nước sản xuất bình quan 300 USD/tấn, nhưng
giá nhập khẩu chỉ 285 USD/tấn, giá xi măng Việt Nam tự sản xuất 840 ngàn
đồng/tấn trong khi nhập khẩu chỉ 630 ngàn đồng/tấn v.v
sự yếu kém của họ không chỉ ở chất lượng và giá cả mà còn ở cơ cấu
mặt hàng xuất khẩu cũng không có tính ở cạnh tranh cao Hiện nay Việt Nam
chủ yếu xuất khẩu nguyên nhiên liệu và sản phẩm sơ chế như dầu thô, gạo,
cao su, chè, cà phê v v Các sản phẩm công nghiệp, nhất là những sản phẩm
có hàm lượng khoa học cao còn ít, sức cạnh tranh yếu
Việt Nam biết rằng chủ thể tham gia thực sự vào hội nhập là các doanh
nghiệp Trong khi đó các doanh nghiệp của Việt Nam doang nghiệp của Việt
Nam còn nhỏ, yếu, yếu cả về khả năng quản lý kinh doanh lẫn khả năng, năng
lực sản xuất Các doanh nghiệp của Việt Nam sau một thời gian dài hoạt động
theo cơ chế kế hoạch chuyển sang phương thức kinh doanh mới còn lúng
túng, nhất là trong tham gia cạnh tranh quốc tế Hiện nay trong 6000 doanh
nghiệp nhà nước chỉ có khoảng 5% làm ăn thực sự có hiệu quả Rất nhiều xí
nghiệp không có một chiến lược phát triển dài hạn, công tác đầu tư nghiên
cứu thị trưừng, sáng tạo mẫu mã mới theo yêu cầu người tiêu dùng chưa được
đặt ra đúng mức
Các doanh nghiệp tư nhân làm ăn có hiệu quả hơn, nhưng phần tuyệt
đại bộ phần cũng là những doanh nghiệp vừa và nhỏ khả năng vốn và công
nghệ cũng còn rất hạn chế, trong khi đó cơ chế chính sách khuyến khích bộ
phần kinh tế này phát triển cũng chưa phải đã tạo ra cho họ mọi trường nhận
lời Đó là chưa kể hệ thống thuế của Việt Nam, nhiều doanh nghiệp còn kêu
Trang 17quá cao Điều này cũng làm cho giá thành của Việt Nam tăng, giảm năng lực
cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh yếu kém của nền kinh tế là nguy cơ lớn khi đẩy
nhanh nhịp độ hội nhập để hội nhập có hiệu quả vấn đề làm sao phải nâng
cao được sức cạnh tranh thì các doanh nghiệp mơí có thể đứng vững trứơc sự
xâm nhập của hàng hoá bên ngoài và từ đó mới có thể vươn mạnh ra thị
trường thế giới Vì vậy Nhà nước cũng như doanh nghiệp cần có chính sách
để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng năng lực cạnh tranh xem đó là nhiệm
vụ hàng đầu hiện nay nếu không sẽ không chạy kịp với lịch trình hội nhập vào
AFTA đã xác định không còn bao lâu
Thứ hai, nền kinh tế thị trường thế giới hiện nay đã phát triển trong khi
đó nước Việt Nam mới chuyển sang kinh tế thị trường, vì vậy các yếu tố của
thị trường cũng chỉ mới hình thành ở bước đầu, chưa phát triển Hơn nữa nền
kinh tế thị trường thế giới hiện nay đang nằm dưới sự chi phối của các công ty
xuyên quốc gia Hội nhập Việt Nam phải tham gia vào các định chế kinh tế
khu vực và toàn cầu Các luật chơi Việt Nam chưa thông thảo, thậm chí kiến
thức kinh tế thị trường còn bấp cập Đó là chưa kể Việt Nam hội nhập để xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tất yếu vấp phải sự chống đối
thù địch chứ không phải chỉ là sự cạnh tranh kinh tế đơn thuần
Thách thức này bộc lộ khá rõ trong quá trình hội nhập vừa qua Do mới
chuyển sang kinh tế thị trường trình độ cán bộ quản lý, nhất là cán bộ làm
công tác hội nhập còn mỏng và yếu vì vậy trong thực thi nhiệm vụ không
tránh khỏi những sai lệch làm ảnh hưởng đến tiến trình chung
Hội nhập đặt ra yêu cầu cao đối với các nhà quản lý doanh nghiệp, bên
cạnh kiến thức, năng lực kinh doanh phải hiểu biết về kinh tế quốc tế, nhất là
kinh tế quốc tế, các cam kết mà Việt Nam và các quốc gia khác đã thoả thuận
.v v Có thể nói nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được
điều nay Vì vậy trên thực tế đã có doanh nghiệp tuỳ tiện phá bỏ hợp đồng
Trang 18gây mất lòng tin với khách hàng quốc tế, tạo tâm lý e ngại khi làm ăn ỏ Việt
Nam
Cũng do mới phát triển theo kinh tế thị trường do vậy nhiều công cụ,
phương tiện trong giao dịch thanh toán quốc tế Việt Nam cũng áp dụng hoặc
chưa quen Trong xu thế gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hoá thị trường tài
chính thì đây là hạn chế không nhỏ cho phép Việt Nam tham gia có hiệu quả
vào thị trường tài chính quốc tế Một trong những vấn đề trọng điểm là hình
thành thị trường chứng khoán của Việt Nam chậm trễ, hoạt động của các cơ
quan chuyên môn như ngân hàng, thuế vụ v v thực sự chưa theo kịp tiến
trình mở cửa Ví dụ cụ thể là việc ban hành thuế giá trị gia tăng và quy định
áp dụng nó trong khu vực liên doanh không cụ thể đã gây ra phản ứng từ phía
các nhà đầu tư Về điểm này nó còn phản ánh thiếu sự phối hợp chặt chẽ của
các cơ quan chuyên môn, nhất là Bộ kế hoạch đầu tư và Bộ tài chính
Thứ ba, muốn hội nhập trong những điều kiện quan trọng là có bộ may
điều hành có hiệu quả Tình trạng tham trong xã hội hiện nay đang trở thành
quốc nạn, thực sự đang là vẫn đề nan giải, nguy cơ lớn không những đối với
thúc đẩy hội nhập nói riêng mà còn đối với sự phát triển kinh tế nói chung
Nếu không cải cách bộ máy điều hành càng hội nhập Việt Nam càng thua
thiệt riêng trong lĩnh vực nhập khẩu công nghệ, theo Bộ khoa học công nghệ
và môi trường, qua kiểm tra thử ở 42 cơ sở công nghệ cho thấy số công nghệ
nhập về có tới 60-70% tân trang lại
Theo đánh giá chung của các nhà nghiên cứu thì sự phối kết hợp giữa
các bộ phận ban hành, địa phương và các doanh nghiệp trong quá trình hội
nhập, chưa thực sự chặt chẽ, nhịp nhàng và đồng bộ Chính phủ đã có chủ
trương và chỉ đạo tích cực hội nhập, nhưng các doanh nghiệp còn chần chừ,
thậm chí thờ ơ do quen với cách làm, cách kinh doanh cũ Việc phối hợp giữa
các bộ phận trong các loại hình đàm phán quốc tế hoặc tham gia vào các hoạt
động cụ thể ở các cấp hội nghị khác nhau chưa gắn bó, thậm chí còn hiện
tượng ganh đua gây ra chồng chéo Thực tế nói không qua Uỷ ban quốc gia về
Trang 19hợp tác kinh tế quốc tế chưa tạo thành bộ máy vận hành đồng bộ Rõ ràng để
đẩy nhanh hội nhập cần hoàn thiện khâu tổ chức điều hành, tạo ra cơ chế phối
hợp tốt giữa các cơ quan, các ngành cả trong hoạt động nghiệp vụ lẫn trong
lĩnh vực thông tin tuyên truyền
Tình trạng tham những, không hiệu quả bộ máy điều hành trên thực tế
đã làm nản lòng các nhà kinh doanh nước ngoài Riêng trong các lĩnh vực tiếp
nhận đầu tư nước ngoài theo ông Shunzo osawa thuộc công ty Vinakyoei
Steel đã phải chờ 3 năm mới nhận được giấy phép đầu tư ông E ri Habu
giám đốc tư vấn đầu tư quốc tế thuộc công ty Tomatsu nhận xét “Mặc dù luật
đầu tư ở đây (Việt Nam ) là tự do hơn ở nhiều nước châu á khác nhưng Việt
Nam thiếu một hệ thống hành chíng hoàn chỉnh để thực hiện luật này” Rõ
ràng để hội nhập có hiệu quả, bộ máy hành chính của nhà nước Việt Nam cần
cải cách tích cực
Thứ tư, cùng với cải cách bộ máy hành chính, nước Việt Nam cần phải
có hệ thống luật lệ, chíng sách thống nhất phù hợp với thống lệ quốc tế mà
vẫn đảm bảo được chủ quyền quốc gia Đây cũng là cái khó của Việt Nam
trong việc tham gia toàn cầu hoá
Có thể nói rằng cho đến nay tuy họ đã có rất nhiều cố gắng trong công
tác soạn thảo xây dựng ban hành pháp luật, nhưng hệ thống luật lệ, chính sách
của Việt Nam liên quan đến hội nhập kinh tế vẫn chưa hoàn chỉnh, còn nhiều
bấp cập so với các qui chuẩn quốc tế Trong lĩnh vực thương mại hệ thống các
qui định về thuế quan và phi thuế quan của Việt Nam quá phức tạp lại hay
điều chỉnh bổ sung thậm chí thay đổi làm cho các đối tác giảm nhiệt tình kinh
doanh Việt Nam vẫn còn áp dụng nhiều qui định riêng trong hợp tác kinh tế
quốc tế và ngược lại cũng còn không ít kẽ hở về pháp luật, về các chính sách,
qui định để phía đối tác lợi dụng gây thiệt hại cho phía Việt Nam cũng như
thất thoát nguồn thu của nhà nước
Trong lĩnh vực liên quan đến đầu tư nước ngoài cũng có nhiều ý kiến
phàn nàn về hệ thống luật, tựu chung lại ở ba điểm sau: