Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
Trang 1MỤC LỤC
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
1 Khái quát về vấn đề mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
1.1 Vai trò của kinh tế đối ngoại
1.2 Quan hệ kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay
2 Nhiệm vụ cho việc mở rộng quan hệ, hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta
hiện nay
2.1 Các nhiệm vụ chính
2.2 Các biện pháp bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình hội nhập
2.2.1 Tăng cường đổi mới kinh tế trong nước và vai trò quản lý kinh tế của Nhà
nước
2.2.2 Cải thiện chính sách đầu tư gắn với điều chỉnh cơ cấu kinh tế
2.2.3 Đẩy mạnh cải cách các doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao tính
chủ động, hiệu quả và khả năng cạnh tranh
2.2.4 Giải quyết vấn đề mất việc làm và thay đổi ngành nghề của người lao động
2.2.5 Tăng cường cải cách hành chính
Trang 2Phần 1: Mở đầu
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam giai đoạn hiện nay thì
nhiệm vụ hàng đầu là phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong
đó thì nhiệm vụ mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế là rất quan trọng Bởi vì, trong xu
thế toàn cầu hoá thì quan hệ kinh tế đối ngoại sẽ thu hút vốn đầu tư, công nghệ, và
mở rộng thị trường phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước
cùng với việc tạo ra nhiều việc làm cho người lao động
Là một sinh viên chuyên nghành kinh tế đối ngoại, thì em rất muốn biết
những kiến thức chuyên nghành, những kiến thức về quan hệ kinh tế quốc tế để từ
đó nhận thức đúng đắn hơn về kinh tế của đất nước và thế giới, để tự xác định cho
mình nhiệm vụ và mục tiêu trong tương lai Đó chính là lý do em chọn đề tài: “Vấn
đề mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam”
Đây là lần đầu em viết tiểu luận nên em rất mong được sự đóng góp ý kiến
của các thầy, cô để rút kinh nghiệm trong lần sau, em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Phần 2: Nội dung
1 Khái quát về vấn đề mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế ở Việt Nam
Vai trò của kinh tế đối ngoại Kinh tế đối ngoại là một bộ phận của kinh tế quôc tế, nó là tổng thể các quan
hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một quốc gia với một nước khác hay
với các tổ chức kinh tế quốc tế khác Hoạt động kinh tế đối ngoại có những vai trò
sau:
- Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao đổi
quốc tế; nối liền thị trường trong nước với thị trường thế giới và khu vực
- Góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp FDI và vốn viện trợ chính thức từ các
chính phủ và tổ chức tiền tệ quốc tế ODA; thu hút khoa học kỹ thuật, công nghệ ;
khai thác và ứng dụng những kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại
vào nước ta
- Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm
tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập ổi đình và cải thiện đời sống nhân dân theo mục
tiêu dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.2 Quan hệ kinh tế quốc tế nước ta hiện nay:
Gần mười sáu năm thực hiện đường lối đổi mới của cả nước đã có nhiều
chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu to lớn GDP tăng bình quân hơn
7%/năm, năm 2007 đạt 8,17% Cơ cấu kinh tế đã có thay đổi lớn : tỷ trọng nông
nghiệp giảm từ 38,7% (năm 1990) xuống còn khoảng 20% ; các con số tương ứng
về tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 22,7% lên 38,55% ; tỷ trọng dịch vụ là
38,6% và 38,46% Đặc biệt, chúng ta đã đẩy lùi được chính sách bao vây cô lập,
cấm vận của các thế lực thù địch ; khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị
trường do Liên Xô và các nước Đông Âu bị tan rã Việt Nam đã thực hiện quá trình
hội nhập có kết quả, chính thức là thành viên của ASEAN và APEC, ký Hiệp định
Trang 4khung với EU, Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ, khai thông quan hệ với các tổ
chức tài chính, tiền tệ quốc tế như IMF, WB, ADB Kinh tế trong nước phát triển,
quan hệ quốc tế rộng mở đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Kết quả, Việt Nam đã thu hút được một lượng FDI ngày càng lớn: hầu như
từ con số không vào năm 1986, đã tăng lên tới 3,2 tỷ USD năm 1997, sau đó do bị
ảnh hưởng tiêu cực bởi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đã giảm
xuống trong các năm 1998-2000 (có năm chỉ thu hút được 1,58 tỷ USD như năm
1999) Những năm gần đây, FDI vào Việt Nam đã được phục hồi và có xu hướng
tăng trở lại, từ 2,6 tỷ USD năm 2001 đã tăng lên 5,8 tỷ USD năm 2005 FDI tăng
lên không chỉ hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư nước ngoài, mà
còn đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn, chuyển giao công nghệ
và phương thức kinh doanh hiện đại, khai thác các tiềm năng của đất nước, đào tạo
tay nghề và giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động Việt Nam Dưới đây là
tổng hợp tình hình đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam, tính
đến những năm gần đây:
Tình hình đầu tư nước ngoài(ĐTNN) từ 1988 đến 6/2006:
Tính từ 1988 đến hết 6 tháng đầu 2006, cả nước đã cấp giấy phép đầu tư cho trên 7.550 dự án ĐTNN với tổng vốn cấp mới 68,9 tỷ USD, trong đó có 6.390
dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 53,9 tỷ USD, vốn thực hiện (của
các dự án còn hoạt động) đạt trên 28 tỷ USD (Nếu tính cả các dự án đã hết hiệu lực
thì vốn thực hiện đạt 36 tỷ USD)
Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 67,7% về
số dự án và 61,1% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ chiếm
Trang 519,7% về số dự án và 31,7% về số vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực nông, lâm, ngư
nghiệp chiếm 12,5% về số dự án và 7,1% về vốn đầu tư đăng ký
b) Phân theo hình thức đầu tư:
- Hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 75,4% về số dự án và 53,1% về
tổng vốn đăng ký
- Liên doanh chiếm 21,4% về số dự án và 36,0% về tổng vốn đăng ký;
- Số còn còn lại thuộc lĩnh vực hợp doanh, BOT, Công ty cổ phần và Công ty
quản lý vốn
Đã có 74 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, trong đó
các nước châu Á chiếm 76,5% về số dự án và 69,8% vốn đăng ký; các nước châu
Âu chiếm 10% về số dự án và 16,7% vốn đăng ký; các nước châu Mỹ chiếm 6% về
số dự án và 6% vốn đăng ký, riêng Hoa Kỳ chiếm 4,5% về số dự án và 3,7% vốn
đăng ký; số còn lại là các nước ở khu vực khác
Riêng 5 nền kinh tế đứng đầu trong đầu tư vào Việt Nam là Đài Loan,
Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hồng Kông đã chiếm 58,3% về số dự án và
60,6% tổng vốn đăng ký
Việt kiều từ 21 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau chủ yếu là từ CHLB
Đức, Liên bang Nga và Pháp đã đầu tư 147 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký
513,88 triệu USD, hiện còn 108 dự án đang hoạt động với tổng vốn đầu tư đăng ký
382,8 triệu USD chỉ bằng 0,7% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước
d) Phân theo địa phương:
Các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi thuộc các vùng kinh
tế trọng điểm vẫn là những địa phương dẫn đầu thu hút ĐTNN theo thứ tự như sau:
1 TP Hồ Chí Minh chiếm 31,28% về số dự án; 24,35% tổng vốn đăng ký và
21,7% tổng vốn thực hiện;
2 Hà Nội chiếm 10,83% về số dự án; 18,36% tổng vốn đăng ký và 12,1%
tổng vốn thực hiện;
Trang 63 Đồng Nai chiếm 11,47% về số dự án; 16,3% tổng vốn đăng ký và 14,1%
tổng vốn thực hiện;
4 Bình Dương chiếm 17,87% về số dự án; 9,77% tổng vốn đăng ký và 6,6%
tổng vốn thực hiện;
Riêng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình
Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Phước, Long An) chiếm 58,2% tổng
vốn ĐTNN đăng ký và 49,6% vốn thực hiện của cả nước
Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh
Phúc, Quảng Ninh, Hưng Yên, Hà Tây, Bắc Ninh) chiếm khoảng 26% tổng vốn
ĐTNN đăng ký và 28,7% vốn thực hiện của cả nước
Cho tới nay, các dự án ĐTNN đầu tư vào các KCN, KCX (không kể các dự
án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN) còn hiệu lực, chiếm 33,8% về số dự án và 35,5%
tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước
Tuy vậy tình hình đầu tư ra nước ngoài mấy năm gần đây cũng có nhiều
diểm chú ý:
Trong 11 tháng năm 2005, có 34 dự án do doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra
nước ngoài (ĐTRNN) với tổng vốn đăng ký 365,5 triệu USD Đặc biệt, trong đó có
dự án xây dựng thủy điện Xekaman 3 tại Lào có vốn đầu tư đăng ký 273 triệu
USD Đây là dự án đầu tư ra nước ngoài lớn nhất từ trước đến nay Lũy kế tới hết
năm 2005, có 151 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký 617,8 triệu USD
Bước sang năm 2006: Đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam
tiếp tục tăng nhằm mở rộng thị trường, giảm thiểu chi phí sản xuất, vận chuyển
Ngoài việc tiếp tục tăng đầu tư vào các nước quen thuộc tại châu Á (Lào,
Campuchia.v.v.) và châu Âu (Nga, Ukraina,v.v.) đã khuyến khích, thúc đẩy và hỗ
trợ các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang các nước châu Phi và châu Mỹ-Latinh
gia tăng
2 Nhiệm vụ cho việc mở rộng quan hệ kinh tế và hội nhập quốc tế:
Trang 72.1 Nhiệm vụ chính: Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị đã đề ra các nhiệm
vụ quan trọng cần được thực hiện trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:
2.1.1 Tiến hành rộng rãi công tác tư tưởng, tuyên truyền, giải thích trong
các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, trong các doanh nghiệp và các tầng lớp
nhân dân để đạt được nhận thức và hành động thống nhất và nhất quán về hội nhập
kinh tế quốc tế, coi đó là nhu cầu vừa bức xúc, vừa cơ bản và lâu dài của nền kinh
tế nước ta, nâng cao niềm tin vào khả năng và quyết tâm của nhân dân ta chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.2 Căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội IX, chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2001-2010 cũng như các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước
ta tham gia, xây dựng chiến lược tổng thể về hội nhập với một lộ trình cụ thể để các
ngành, các địa phương, các doanh nghiệp khẩn trương sắp xếp lại và nâng cao hiệu
quả và khả năng cạnh tranh, bảo đảm cho hội nhập có hiệu quả Trong khi hình
thành chiến lược hội nhập, cần đặc biệt quan tâm đảm bảo sự phát triển của các
ngành dịch vụ như tài chính, ngân hàng, viễn thông là những lĩnh vực quan trọng
mà ta còn yếu kém
2.1.3 Chủ động và khẩn trương trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế , đổi mới
công nghệ và trình độ quản lý để nâng cao khả năng cạnh tranh, phát huy tối đa lợi
thế so sánh của nước ta, ra sức phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng, hạ giá
thành sản phẩm và dịch vụ, bắt kịp sự thay đổi nhanh chóng trên thị trường thế
giới, tạo ra những ngành, những sản phẩm mũi nhọn để hàng hóa và dịch vụ của ta
chiếm lĩnh thị phần ngày càng lớn ở trong nước cũng như trên thế giới, đáp ứng
nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tiến trình điều tra, phân loại, đánh giá khả năng cạnh tranh của từng sản
phẩm, từng dịch vụ, từng doanh nghiệp, từng địa phương để có biện pháp thiết thực
nhằm nâng cao hiệu quả và tăng cường khả năng cạnh tranh Gắn quá trình thực
hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ ba khóa IX về tiếp tục, sắp xếp, đổi
Trang 8mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước với quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế
Trong quá trình hội nhập cần quan tâm tranh thủ những tiến bộ mới của khoa
học, công nghệ; không nhập khẩu những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi
trường
Đi đôi với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ
của các doanh nghiệp, cần ra sức cải thiện môi trường kinh doanh, khả năng cạnh
tranh quốc gia thông qua việc khẩn trương đổi mới và xây dựng đồng bộ hệ thống
pháp luật phù hợp với đường lối của Đảng, với thông lệ quốc tế, phát triển mạnh
kết cấu hạ tầng; đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính nhằm xây dựng bộ máy
nhà nước trong sạch về phẩm chất, vững mạnh về chuyên môn
2.1.4 Tích cực tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ; thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn
thiện các loại hình thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động, khoa học - công nghệ,
vốn, bất động sản ; tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng cho mọi
thành phần kinh tế, tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước đối
với nền kinh tế, đặc biệt chú trọng đổi mới và củng cố hệ thống tài chính, ngân
hàng
2.1.5 Có kế hoạch cụ thể đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực , vững
vàng về chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo
đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ và ngoại ngữ, có tác phong công nghiệp và
tinh thần kỷ luật cao Trong phát triển nguồn nhân lực theo những tiêu chuẩn chung
nói trên, cần chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh hiểu biết sâu
về luật pháp quốc tế và nghiệp vụ chuyên môn, nắm bắt nhanh những chuyển biến
trên thương trường quốc tế để ứng xử kịp thời, nắm được kỹ năng thương thuyết và
có trình độ ngoại ngữ tốt Bên cạnh đó, cần hết sức coi trọng việc đào tạo đội ngũ
công nhân có trình độ tay nghề cao
Trang 9Cùng với việc đào tạo nguồn nhân lực, cần có chính sách thu hút, bảo vệ và
sử dụng nhân tài; bố trí, sử dụng cán bộ đúng với ngành nghề được đào tạo và với
sở trường năng lực từng người
2.1.6 Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại
Cũng như trong lĩnh vực chính trị đối ngoại, trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội
nhập kinh tế quốc tế cần giữ vững đường lối độc lập tự chủ, thực hiện đa phương
hóa, đa dạng hóa thị trường và đối tác, tham gia rộng rãi các tổ chức quốc tế Các
hoạt động đối ngoại song phương và đa phương cần hướng mạnh vào việc phục vụ
đắc lực nhiệm vụ mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế Tích cực tham gia đấu tranh vì một hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế bình
đẳng, công bằng, cùng có lợi, bảo đảm lợi ích của các nước đang phát triển và
chậm phát triển
Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài cần coi việc phục vụ công
cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước là một nhiệm vụ hàng đầu
2.1.7 Gắn kết chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế với nhiệm vụ củng cố an
ninh quốc phòng ngay từ khâu hình thành kế hoạch, xây dựng lộ trình cũng như
trong quá trình thực hiện, nhằm làm cho hội nhập không ảnh hưởng tiêu cực tới
nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và an toàn xã hội; mặt khác, các cơ quan quốc
phòng và an ninh cần có kế hoạch chủ động hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi cho quá
trình hội nhập
2.1.8 Kiện toàn ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế đủ năng lực và
thẩm quyền giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức, chỉ đạo các hoạt động về hội nhập
kinh tế quốc tế ủy ban gồm hai bộ phận: một bộ phận chuyên trách, một bộ phận
kiêm nhiệm bao gồm đại diện có thẩm quyền của các Bộ, Ban, ngành hữu quan
2.2.Bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ trên, chúng ta cũng cần tiến hành
các biện pháp bổ trợ sau đây nhằm tạo khả năng tốt nhất cho việc thực hiện các
Trang 10cam kết hội nhập của ta và bảo đảm quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thực sự đưa
lại kết quả tích cực đối với sự phát triển của đất nước:
2.2.1 Tăng cường đổi mới kinh tế trong nước và vai trò quản lý kinh tế
Đổi mới bên trong và hội nhập là hai quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau, hỗ
trợ và thúc đẩy lẫn nhau Đổi mới bên trong tạo tiền đề và điều kiện thúc đẩy hội
nhập kinh tế quốc tế Ngược lại, hội nhập một mặt đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh
đổi mới, cải cách bên trong, mặt khác cũng tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá
trình đổi mới đó Để hội nhập đạt được kết quả tích cực, cần tiếp tục đẩy mạnh quá
trình đổi mới, cải cách thị trường theo những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại
thị trường
Thứ hai, hình thành đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục những yếu kém hiện nay, gỡ bỏ những vướng
mắc cản trở sự phát triển
Thứ ba, tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với
nền kinh tế Cơ chế thị trường kết hợp với cơ chế kế hoạch, quy hoạch; tăng cường
công tác thông tin kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế, công tác thống kê; ứng
dụng các thành tựu khoa học - công nghệ trong công tác dự báo; kiểm tra tình hình
thực hiện ở cả cấp vĩ mô và doanh nghiệp
Về lâu dài, đầu tư và tích tụ vốn có ý nghĩa quyết định đối với đối với sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế Đối với một nước có trình độ phát triển thấp, đầu
tư tư nhân còn yếu và cơ cấu sản xuất chưa phát triển đa dạng như Việt Nam, theo
kinh nghiệm quốc tế, mức đầu tư trong nước phải cao hơn mức tích lũy nội bộ 25%
GDP của ta hiện nay Mở cửa hội nhập có tác động thúc đẩy đầu tư, nhưng một
mình nó không quyết định được mức đầu tư và tích tụ vốn Do đó, cần phải bổ trợ