Sự phát triển đúng hướng của ngành công nghiệp hỗ trợ là tiền đềquan trọng đóng góp vào quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển côngnghiệp hỗ trợ là nhân tố đóng vai trò qu
Trang 2HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi – Hoàng Thị Duyên - xin cam đoan:
1 Những nội dung trong chuyên đề thực tập này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của:
Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn
Khoa Kế hoạch & Phát triển
Ths Trần Thị Thu Hương
Ban Thể chế kinh tế - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
2 Mọi tham khảo dùng trong chuyên đề này đều được trích dẫn rõ ràng tên nguồn
3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy định của khoa tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Người cam đoan
Hoàng Thị Duyên
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu chọn chủ đề, hình thành ý trong đề cương sơ bộ, đề cương chi tiết, bản thảo và cuối cùng triển khai thành một chuyên đề hoàn chỉnh như ngày hôm nay, em xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ, hướng dẫn tận tình của:
Giảng viên hướng dẫn là PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn – Khoa Kế hoạch & Phát triển đã hướng dẫn em trong việc đưa ra và lựa chọn chủ đề chính, đưa ra hướng nội dung chính phù hợp với chủ đề của chuyên đề thực tập.
Ths Trần Thị Thu Hương – Ban Thể chế Kinh tế, Viện Nghiên cứu quản
lý kinh tế Trung ương đã giúp đỡ em trong suốt quá trình làm bản thảo, chỉnh sửa góp ý về nội dung bản thảo, giúp bản thảo hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thàh cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô!
Sinh viên
Hoàng Thị Duyên
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY 5
1.1 Khái quát chung công nghiệp hỗ trợ 5
1.1.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ ( CNHT ) 5
1.1.2 Phân loại công nghiệp hỗ trợ 7
1.1.3 Vai trò của phát triển công nghiệp hỗ trợ 8
1.2 Công nghiệp hỗ trợ dệt may 11
1.2.1 Khái niệm ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may 11
1.2.2 Các ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may 13
1.2.3 Các điều kiện để phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may 14
1.3 Các nhân tố tác động đến phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may 17 1.3.1 Thị trường 17
1.3.2 Vốn 17
1.3.3 Khoa học kỹ thuật và công nghệ 18
1.3.4 Các chính sách của nhà nước với phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may18 1.3.5 Các quan hệ liên kết khu vực và toàn cầu 19
1.4 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may ở các nước 19
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may của Trung Quốc.19 1.4.2 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may tại Nhật Bản 21
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 22
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 24
2.1 Thực trạng phát triển công nghiệp dệt may Việt Nam 24
2.1.1 Lịch sử hình thành ngành công nghiệp dệt may Việt Nam 24
2.1.2 Thực trạng phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam 26
2.2 Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam 34
Trang 62.2.1 Ngành nguyên liệu đầu vào 34
2.2.2 Ngành kéo sợi 46
2.2.3 Công nghiệp dệt 49
2.2.4 Công nghiệp nhuộm in 51
2.3 Đánh giá chung về kết quả đã đạt được 52
2.3.1 Thành tựu đạt được 52
2.3.2 Các vấn đề còn tồn tại 55
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 58
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN NĂM 2020 61
3.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế về phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam trong thời gian tới 61
3.1.1 Yếu tố bên trong 61
3.1.2 Yếu tố bên ngoài 65
3.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế 71
3.2.1 Quan điểm phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam 72
3.2.2 Mục tiêu phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam 72
3.2.3 Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam hiện nay 74
3.3 Giải pháp nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam 78
3.3.1 Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển cụm công nghiệp hỗ trợ dệt may 78
3.3.2 Phát triển khoa học công nghệ trong công nghiệp hỗ trợ dệt may 79
3.3.3 Phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp hỗ trợ dệt may 79
3.3.4 Tăng cường liên kết của doanh nghiệp trong và ngoài nước trong công nghiệp hỗ trợ dệt may 81
3.3.5 Hỗ trợ tài chính trong công nghiệp hỗ trợ dệt may 82
KẾT LUẬN 84
Trang 7DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Sơ đồ 1.1 Mô tả các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ 6
Sơ đồ 1.2 Chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam 11
Sơ đồ 1.3 Quy trình sản xuất hoàn tất sản phẩm dệt may Việt Nam 12
Sơ đồ 1.4 Các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh ngành công nghiệp 14
Biểu đồ 2.1: Thứ hạng và tỷ trọng một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam năm 2014 26
Biểu đồ 2.2 Tốc độ tăng trưởng giá trị xuất khẩu các mặt hàng chính 9 tháng năm 2014 27
Biểu đồ 2.3 Giá trị xuất khẩu dệt may các năm 2010-2014 28
Biểu đồ 2.4 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may theo tháng của Việt Nam năm 2014 29
Biểu đồ 2.5 Thị trường xuất khẩu chính của dệt may Việt Nam năm 2014 30
Biểu đồ 2.6: Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam năm 2013 33
Biểu đồ 2.7 Cơ cấu nguyên liệu nhập khẩu năm 2014 35
Biểu đồ 2.8: Sản lượng nhập khẩu bông của Việt Nam giai đoạn 2010-10/2015 36
Biểu đồ 2.9 Thị phần nhập khẩu bông của Việt Nam năm 2014 38
Biểu đồ 2.10 Giá nhập khẩu bông trung bình của Việt Nam giai đoạn 2011-2015 41
Biểu đồ 2.11 Kim ngạch nhập khẩu vải của Việt Nam 43
Biểu đồ 2.12 Cơ cấu thị trường nhập khẩu vải của Việt Nam năm 2014 46
Biểu đồ 2.13 Cơ cấu thị trường nhập khẩu xơ, sợi dệt của Việt Nam năm 2014 47
Biểu đồ 2.14 Lượng vải xuất khẩu của Việt Nam năm 2013-2015 50
Biểu đồ 3.1 Tháp dân số Việt Nam 2014 62
Trang 8Biểu đồ 3.2 Dự báo kim ngạch xuất khẩu của dệt may Việt Nam trước và sau khi gia nhập TPP 67
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thị phần nhập khẩu hàng may mặc của Hoa Kỳ và mức tăng trưởng hàng năm 32 Bảng 2.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may và kim ngạch nhập khẩu
nguyên liệu cho ngành dệt may giai đoạn 2010-2014 34 Bảng 2.3 Thị phần nhập khẩu bông của Việt Nam theo các nước 2012-2014 37 Bảng 2.4 Nhập khẩu bông của Việt Nam từ Hoa Kỳ 38 Bảng 2.5Xuất khẩu bông từ Hoa Kỳ sang Việt Nam theo niên vụ 39 Bảng 2.6 Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu xơ, sợi dệt các loại 5 tháng 2015 42 Bảng 2.7 Kim ngạch nhập khẩu vải của Việt Nam 2014-2015 45 Bảng 2.8 Khối lượng sợi Việt Nam giai đoạn 2010-2012 48 Bảng 2.9 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may và kim ngạch nhập khẩu
nguyên liệu cho ngành dệt may giai đoạn 2010-2012 55 Bảng 3.1 Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho lao động 63 dệt may giai đoạn 2008 – 2020 63 Bảng 3.2 Phân tích ma trận SWOT công nghiệp hỗ trọ ngành dệt may
Việt Nam 71 Bảng 3.3 : Các mục tiêu cụ thể của ngành dệt may đến năm 2030 73
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học –công nghệ
và quá trình toàn cầu hóa kinh tế mở rộng hiện nay, các nền kinh tế quốc gia, khuvực đang có xu hướng hợp nhất và trở thành một bộ phận thống nhất chung ViệtNam cũng là một trong số đó, là một nước đang trên đà phát triển , tham gia hộinhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực khác nhau Phát triển kinh tế luôn là một trongnhững mục tiêu quan trọng của các nước trên thế giới nói chung và của Việt Namnói riêng Và trong đó, phát triển công nghiệp luôn lĩnh vực được các nhà hoạchđịnh chính sách cũng như các nhà đầu tư quan tâm chú trọng rất nhiều Đặc biệt,muốn phát triển công nghiệp chủ đạo thì việc phát triển công nghiệp hỗ trợ là vôcùng cần thiết Sự phát triển đúng hướng của ngành công nghiệp hỗ trợ là tiền đềquan trọng đóng góp vào quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển côngnghiệp hỗ trợ là nhân tố đóng vai trò quyết định sự phát triển của các ngành côngnghiệp.Công nghiệp hỗ trợ phát triển góp phần làm tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảmnhập khẩu, giảm giá thành sản phẩm, giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài, góp phầnđẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như tận dụngđược tối đa cơ hội khi tham gia hội nhập quốc tế
Nhận thức được sự quan trọng của phát triển công nghiệp hỗ trợ, trong nhữngnăm gần đây Nhà nước đã quan tâm chú trọng và ban hành các văn bản pháp luậtnhư gần đây là quyết định 9028/QĐ-BCT của Bộ Công Thương phê duyệt vào ngày08/10/2014 về Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2020, tầmnhìn đến năm 2030 đã thể hiện rõ tính chất cần thiết, vai trò quan trọng của pháttriển công nghiệp hỗ trợ các ngành nói chung và đặc biệt nhấn mạnh đến côngnghiệp hỗ trợ dệt may
Những năm trở lại đây, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam ngày càng nângcao vị thế cả ở thị trường trong nước lẫn thị trường thế giới Xét riêng đối với toànnền kinh tế nước nhà, không chỉ cung cấp các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhucầu trong nước mà Việt Nam hiện đang nằm trong top 3 ngành có kim ngạch xuấtkhẩu cao nhất cả nước chỉ sau điện thoại các loại và linh kiện,đóng góp một nguồnthu lớn cho ngân sách nhà nước, đặc biệt là đã tạo ra được khối lượng việc làm lớncho xã hội, tính riêng 700 doanh nghiệp lớn làm xuất khẩu đã giải quyết được việc
Trang 10làm cho hơn 2 triệu người góp phần giảm thiểu tình trạng thất nghiệp của xã hội,đặc biệt khu vực nông thôn Tuy nhiên, nhìn vào vai trò và các thành tựu mà ngànhdệt may đã đạt được thì ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đã và đang gặp phảinhiều vấn đề cần khắc phục, có thể kể đến như: năng suất lao động còn thấp, vốnđầu tư xây dựng không hiệu quả, mất cân đối giữa sự cung cấp và nhu cầu vềnguyên liệu đầu vào cho ngành nhưng trở ngại lớn nhất đối với sự phát triển củangành dệt may hiện nay chính là tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, điều này đồng nghĩa vớiviệc nguyên liệu đầu vào cho ngành dệt may phụ thuộc nhiều vào sự nhập khẩu từbên ngoài Điều này là do ngành công nghiệp hỗ trợ cho dệt may Việt Nam chưathực sự phát triển theo như đúng tiềm năng của nó.
Để giải quyết được vấn đề này, Việt Nam cần nhìn lại xem xét nguyên nhân vìsao để từng bước giải quyết từng vấn đề Nhìn tổng thể có thể thấy nguyên nhân bởihai lý do lớn: một là, do sức sản xuất nguyên liệu đầu vào trong nước chưa đủ đápứng cho các doanh nghiệp cả về chất lượng lẫn số lượng, chính điều này dẫn tới mộtthực trạng trái ngược là doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu vẫn phải đi tìm các thịtrường nước ngoài để tiêu thụ, còn doanh nghiệp dệt may trong nước vẫn phải đinhập khẩu nguyên liệu từ bên ngoài Nguyên nhân thứ 2 là do sức ép từ hội nhậpquốc tế Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam đã vàđang gia nhập vào nhiều tổ chức để được giao thương kinh tế đồng thời được hưởngnhững ưu đãi từ tổ chức đó, tuy nhiên việc tham gia vào các tổ chức khiến ViệtNam cũng gặp phải không ít khó khăn, sức ép từ các yêu cầu, điều kiện do các tổchức đặt ra Đặc biệt, 01/01/2016 sắp tới khi Hiệp định thương mại xuyên TháiBình Dương(TPP) đi vào hoạt động thì những điều kiện đặt ra đối với công nghiệpdệt may nói chung và trực tiếp đánh vào công nghiệp hỗ trợ dệt may sẽ bắt đầu cóhiệu lực
Do đó, để được hưởng mức ưu đãi từ Hiệp định đưa ra từ đó hướng tới đạtđược mục tiêu đã định là tới năm 2020 công nghiệp dệt may sẽ trở thành một trongnhững ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, hội nhập vững chắckinh tế khu vực và thế giới thì công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam cần phải chútrọng phát triển hơn nữa cả về mặt số lượng và chất lượng
Từ yêu cầu thực tế đó và mục đích muốn tìm hiểu chuyên sâu về ngành, để từ
đó đề xuất ra những giải pháp, hướng đi mới cho ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam, sau khi kham khảo tài liệu trên thư viện của Viện Nghiên cứu và quản lý
Trang 11Kinh tế Trung ương cùng với sự hướng dẫn, gợi ý của giáo viên hướng dẫn, em quyết định lựa chọn chuyên sâu về ngành với đề tài:
“ Phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế.”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về công nghiệp hỗ trợ nói chung vàcông nghiệp hỗ trợ dệt may nói riêng, phân tích thực trạng phát triển của ngànhcông nghiệp hỗ trợ dệt may; từ đó phân tích, đánh giá những thành tựu đạt đượccũng như phát hiện các bất cập trong ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may Và từ cácbất cập phát hiện ra, phân tích nguyên nhân, tác động và đề xuất một số chính sáchcũng như giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam trong điều kiệntoàn cầu hóa và hội nhập quốc tế giai đoạn 2016-2020
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích thực trạng của ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam giaiđoạn 2010 – 2015 Từ đó đưa ra đánh giá chung về các kết quả đã đạt được, hạn chế
và các khó khăn cần giải quyết trong các năm tới
- Đưa ra đồng thời phân tích các chính sách Nhà nước đề ra nhằm mục đíchtìm hiểu sâu, xem xét những điểm phù hợp với điều kiện cả nước hay những bất cậpchưa thực sự phù hợp với điều kiện thực tế
- Đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợdệt may Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Không gian: Đề tài nghiên cứu công nghiệp hỗ trợ dệt may trên phạm vi cảnước
+ Thời gian: Đề tài nghiên cứu công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam giai đoạn2010-2015 và đưa ra định hướng đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 12- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp tài liệu thứ cấp: thu thập và tổnghợp các tài liệu phân tích thống kê, các tài liệu có sẵn tại Viện nghiên cứu và Quản
lý kinh tế Trung ương về cở sở lý luận và thực trạng công nghiệp hỗ trợ dệt may
- Phương pháp chuyên gia: Gặp gỡ, thảo luận để lấy sự góp ý chỉnh sửa bàiluận của các chuyên viên hướng dẫn tại Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trungương
- Phương pháp phân tích SWOT: phân tích đánh giá Hiệp định thương mạixuyên Thái Bình Dương(TPP) ( phân tích cơ hội, thách thức khi Việt Nam ký kết) ;phân tích các quy định chính sách về phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may ViệtNam do Nhà nước ban hành ( điểm phù hợp, chưa phù hợp với thực tế)
6 Bố cục chuyên đề
Chuyên đề được bố cục gồm 3 chương:
Chương I Cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may
Chương II Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam giaiđoạn 2010- 2015
Chương III Gỉải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam trongđiều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đến năm 2020
Trang 13CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY
1.1 Khái quát chung công nghiệp hỗ trợ
1.1.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ ( CNHT )
1.1.1.1 Trên thế giới
Cho đến nay, thuật ngữ công nghiệpahỗ trợ đã được sử dụng rộng rãi trên thếgiới,aở hầu hết các quốc gia tuy nhiên khái niệmachắc chắn về công nghiệp hỗ trợvẫn còn khá mơ hồavà chưa có một địnhanghĩa thống nhất
Công nghiệp hỗ trợ theo tiếng anhalà Support Industry – SI, còn được gọi làcông nghiệp hỗ trợ hayacông nghiệp phụ trợ Theo từng quan điểm, hoàn cảnh, mụcđích mà mỗi quốc gia đều có cách định nghĩaariêng về công nghiệp hỗ trợ Cụ thể:
Ở Nhật Bản, năm 1985,alần đầu tiên MITI (sau đổi tên thành METI – Bộ Kinh
tế Công nghiệp và Thương Mại) sử dụngathuật ngữ này trong “Sách trắng về hợptác kinh tế” năm 1985, và được dùng để chỉ “các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs)góp phần tăng cường cơ sở hạatầng công nghiệp ở các nước Châu Á trong trung vàdài hạn hay là các SMEs sản xuấtaphụ tùng và linh kiện” Sau đó, định nghĩa chínhthức của quốc gia về công nghiệpahỗ trợ được Bộ Kinh tế, Thương mại và Côngnghiệp Nhật Bản (METI) đưa ra năma1993: “Công nghiệp hỗ trợ là các ngành côngnghiệp cungacấp các yếu tố cần thiết như nguyên vậtaliệu thô, linh kiện và vốn…cho các ngành công nghiệpalắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử)”
Một số tổ chức của các nước cũng cóacách định nghĩa riêng về công nghiệp hỗtrợ Theo văn phòng phát triển công nghiệp hỗ trợ Thái Lan (Bureau of Supporting
Industries Development – BSID): “Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp
cung cấp linh kiện, phụ kiện và máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản (công nghiệp điện tử, máy móc, ô tô, )
Trong ấn phẩm năm 2004 với tên gọi “Các công nghiệp hỗ trợ: công nghiệpcủa tương lai”, phòng Năng lượng Hoa Kỳ đã định nghĩaacông nghiệp hỗ trợ là
“những ngành sử dụng nguyên vật liệu và các quy trình cần thiết để định hình và chế tạo ra sản phẩm trước khi chúng được lưu thông đến ngành công nghiệp sử
Trang 14dụng cuối cùng (end-use industries)” Tuynnkhái niệm của Phòng Năng lượng Hoa
Kỳ đưa ra rất tổng quát nhưng cơmquan này, trong phạm vi chức năng của mình,tập trung chủ yếu vào mục tiêu tiết kiệm năng lượng như than, luyện kim, thiết bịnhiệt, hàn, đúc…
Tùy vào trìnhmđộ phát triển, mục tiêu chính sách mà mỗi quốc gia đều cónhững cách hiểu riêng vềmCNPT Có thể nói chính sách quyết định phạm vi củaCNPT, tức là bao gồm những ngành nàomvà những sản phẩm nào.mPhạm vi củaCNPT được chia như sau:
Phạm vi chính: nhữngmngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện vàcông cụ để sản xuất các phụ tùng, linh kiện này
Phạm vi mở rộng 1: những ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện
vàacông cụ để sản xuất các phụ tùng,alinh kiện này và các dịch vụ sản xuất như hậucần, kho bãi, phân phối và bảo hiểm
Phạm vi mở rộng 2: những ngành công nghiệpacung cấpatoàn bộ hàng hóađầu vào gồm phụ tùng, linh kiện, công cụ máy móc và cả các nguyên vật liệu nhưthép, hóa chất cho ngànhacông nghiệp lắp ráp
Sơ đồ 1.1 Mô tả các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ
Nguồn: VDF, 2007, Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, NXB Lao động xã hội.
Trang 151.1.1.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, thuật ngữ công nghiệpahỗ trợ được sử dụng một cách chính thứckhá muộn, từ năm 2003 khi chúng ta đang chuẩn bịatiến tới ký kết “Sáng kiếnchung Việt Nam – Nhật Bản” giai đoạn I (2003 – 2005), thuật ngữ này mới đượcxuất hiện
Cho đến nayavẫn còn nhiều tranh cãiavề khái niệmacông nghiệp hỗ trợ tại ViệtNam Tuy nhiên về bản chất, công nghiệp hỗ trợ ( CNHT) (supporting industries –SI) đã được định nghĩaatại Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24/02/2011 củaThủ tướng Chính phủ về chính sách phát triểnamột số ngành công nghiệp hỗ trợ,theo đó
- “Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu,
phụ kiện, phụ tùng, linh kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”
- Sản xuất công nghiệp hỗ trợ: là sản phẩm của cácangành quy định tại khoản
1 Điều 1 gồm: vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm sản xuất tạiViệt Nam để cung cấpacho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh
1.1.2 Phân loại công nghiệp hỗ trợ
1.1.2.1 Theo cách a tiếp cận về công nghiệp hỗ trợ là một hệ thống bao trùm chuỗi giá trị sản xuất ra một sản phẩm, một chủng loại sản phẩm cụ thể
Công nghiệp hỗ trợ có thể phân thành các ngành phù hợp với các sản phẩmcuối cùng như:
Công nghiệp hỗ trợ ngành giày da, may mặc
Công nghiệp hỗ trợ các ngành cơ khí, có thể chia nhỏ thành:
- Công nghiệp hỗ trợ ngành đóng tàu
- Công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô
- Công nghiệp hỗatrợ ngành xe máy
- Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí gia dụng
Công nghiệp hỗ trợ ngành điện
Công nghiệp hỗ trợangành điện tử (điện tử dân dụng, điện tử văn phòng)
Trang 16 Công nghiệpahỗ trợ ngành điện tử tin học( máy tính, )
Cách phân loại công nghiệp hỗ trợ này được sử dụngakhá phổ biến cả trongthực tế và trong nghiên cứu, nhất là nghiên cứu từng ngành sản xuất riêng lẻ
Ưu điểm: xác định rõ ràngacác đối tượng tham gia một hệ thống ngành côngnghiệp, đóng góp vào chuỗi giá trị để sản xuấtara sản phẩm cuối cùng
Tuy nhiên, bên cạnh đó, cách phân loạianày cũng gặp phải một số khó khănnhất định khi một doanh nghiệpahỗ trợ tham gia vào nhiều ngành sản xuất khácnhau Ví dụ như một doanh nghiệp sản xuất linh kiện rèn dập, đinh, ốc vít như vậy
nó có thể là linh kiện cho ô tô,axe máy,máy mócmm phụ tùng công nông nghiệp.Các doanh nghiệp kéo sợi, dệt vải là nơi sản xuất phụ liệu cho công nghiệp dệt may
1.1.2.2 Phân loại theo theo ngành/công nghệ sản xuất linh kiện
Theo cách tiếp cận này, công nghiệp hỗ trợ là ngành sử dụng chung chonhiều ngành sản xuất khác nhau,mcăn cứ vào chủng loại sản phẩm doanhnghiệp sản xuất ra hoặc công nghệ mà doanh nghiệp đó sản xuất Như vậy, theocách tiếp cận trên chúng ta có thể kể đến 1 vài ngành công nghiệp hỗ trợ chínhnhư:
Ngành sản xuất linh kiện nhựa
Các ngành sản xuất gia công kim khí như: rèn, đúc, mạ
Ngành sản xuất linh kiện cao su
Ngành sản xuấtalinh kiện thủy tinh
Ngành sản xuấtahóa chất
Các ngành sản xuất nguyênaliệu thô
1.1.3 Vai trò của phát triển công nghiệp hỗ trợ
Phát triển công nghiệp hỗ trợ đem lại nhữngathành tựu lớn cho nền kinh tế nóichung và nền công nghiệp nói riêng Điều này được thể hiện ở:
- Phát triển công nghiệp hỗ trợ là cơ sở quan trọng thực hiện hiệu quả quá
trình xây dựng và phát triển kinh tế thị trường Các sản phẩmacủa ngành côngnghiệp chính muốn phát triểnmcần dựa vào sự phát triển của ngành công nghiệp hỗtrợ và công nghiệp hỗ trợ sẽ là nguồnmthúc đẩy nền kinh tế hoạt động lành mạnh,tăng khả năng cạnh tranh, hướng đến xây dựng và phát triển kinh tế thị trường Khi
Trang 17công nghiệp hỗ trợ không phát triển, các ngành công nghiệp chính sẽ kém pháttriển, phụ thuộc rất lớn vào nguồn nhập khẩu, chi phí cao, giá trị gia tăng thấp vàlàm giảm sức cạnh tranhmtrong hội nhập kinh tế quốc tế Chính vì thế, công nghiệp
hỗ trợ cần phải được ưu tiên phát triểnmtrước, tạo cơ sở, động lực cho ngành côngnghiệp chính phát triển Những lợi thế vốn có từ trước (giá nhân công rẻ, tàinguyên dồi dào, ) sẽ dần khôngmcòn phù hợp tạo nên sức cạnh tranh lớn trong điềukiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, cần phải tạo được lợi thế chủđộng trong việc khai thác và sáng tạo, phátmtriển thị trường công nghiệp hỗ trợ đểtích cực tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế và đặc biệt là tham gia được vàomạng lưới sản xuất toàn cầu
- Phát triển công nghiệp hỗ trợ góp phần hình thành cơ cấu kinh tế Quốc dân
theo hướng hợp lý, hiện đại Các quốc gia trên thế giới đều chọn cơ cấu kinh tế “ hai
tầng”, tầng trên là các tập đoànmkinh tế lớn đảm nhiệm việc nghiên cứu, phát minhcác sản phẩm mới, tầng dưới là hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò
là khu chế tạo, gia công cho toàn nền kinh tế Ưu thế của việc phát triển các doanhnghiệp vừamvà nhỏ là ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh và pháttriển doanh nghiệp trong nước, giảm bớt sự chịu tácađộng bởi thay đổi của nền kinh
tế như khủng hoảng,atừ đó cũng tận dụng tối đa và có hiệu quả các nguồn lực trongnước cho phát triển kinh tế
- Phát triển công nghiệp hỗ trợ góp phần đảm bảo tính chủ động cho nền kinh
tế Việc cung ứng nguyên vật liệu,mlinh kiện, các bán thành phẩm ngay trong nộiđịa làm cho nền công nghiệpmchủ động, không bị lệ thuộc nhiều vào nước ngoài vàcác biến động của nền kinh tế toàn cầu Công nghiệp hỗ trợakhông phát triển làmcho các ngành công nghiệp chínhathiếu sức cạnh tranh và phạm vi phát triển cũnggiới hạn trong một số ít các ngành
- Phát triển công nghiệp hỗ trợ góp phần hạn chế nhập siêu Do luôn luôn
phải nhập khẩu nguyên liệu và các bán thành phẩm cho sản xuất lắp ráp trong nước,hầu hết các nước đang phát triển lâm vào tình trạng nhập siêu.Phát triển côngnghiệp hỗ trợ sẽ giải quyết căn bản tình trạng nhập siêu của nền kinh tế các quốc giađang phát triển, góp phần đảm bảo cân bằng cán cân xuất nhập khẩu
- Tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính Phát triển công
nghiệp hỗ trợ, hình thành sự phân công laoađộng, liên kết, hợp tác, tiếp cận công
Trang 18nghệ, thiết bịahiện đại, cải tiến quy trình sản xuất, sẽ giúp các doanh nghiệpacôngnghiệp hỗ trợ nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm lượng hàng lỗi, nâng cao dịch vụnhằm cung cấp sản phẩm chất lượngađúng hạn, hợp đồng hoặc kế hoạch sản xuấtsản phẩm chính.Cùng với việcachủ động trong nguồn cung ứng, chi phí sản phẩmcông nghiệp cũng giảm đáng kể do cắt giảm chi phí vận chuyển, lưu kho, tận dụngnhân công rẻ và nguồn nguyên liệu ngay tại nội địa.mViệc phát triển các ngànhcông nghiệp hỗ trợ một cách hợp lý,mcân đối trong bối cảnh “thế giới phẳng” ngàynay sẽ tạo ra các sản phẩm có đặc thù riêngacủa quốc gia, có sức cạnh tranh hơn hẳncác sản phẩm chỉ được lắp ráp bởi các linh kiện, phụ kiện từ nguồn cung ứng toàncầu Công nghiệp hỗ trợ thuộc các bên marketing,mbán hàng gia tăng giá trị chocác sản phẩm công nghiệp,mđây chính là điểm quan trọng làm cho hàng hóa nội địa
có sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu
- Phát triển công nghiệp hỗ trợ giúp tiếp thu chuyển giao công nghệ và là con
đường nhanh nhất biến ngoại lưc thành nội lực.mCông nghiệpahỗ trợ phát triểntrước hết sẽ tạo ra nguồn đầu vào, hỗ trợaquá trình sản xuất, tạo tiền đềathu hút FDI
và FDI chính là một kênh chuyển giao khoa học – công nghệ hữu hiệu,mlà mộttrong những phương thức để kéo dài vòng đời công nghệ, thu hẹp khoảng cách giữanước chuyển giao và tiếp nhận chuyển giao.mSự phát triển của công nghiệp hỗ trợcũng là nhân tố đưa nền công nghiệp nói riêng, nền kinh tế quốc gia nói chung thamgia vào quáatrình phân côngalao động, hợp tác quốc tế.mSản xuất ra những sảnphẩm đa dạng về chủng loại, kiểu dáng và mẫu mã, thông qua đó, trình độakhoa học– công nghệ được nâng cao, tạo ra nhữngađiều kiện mới để thu hút FDI và tiếpnhận sự chuyển giao công nghệ mới, hiện đại hơn
Phát triển công nghiệp hỗ trợ làm gia tăng khả năng thu hút nguồn vốn FDI,các quốc gia tận dụng được nguồn vốn, kinh nghiệm quản lý, những tiến bộ khoahọc – kỹ thuật của các chủ thể kinh tế thế giới, phục vụ cho công cuộc phát triển đấtnước Như vậy công nghiệp hỗ trợ là cầu nối vững chắc giữa nội lực và ngoại lực.Phát triển công nghiệp hỗ trợ là con đường ngắn nhất,mnhanh nhất để tranh thủ, tậndụng và sử dụngmcó hiệu quả nguồn ngoại lực, phát huy nội lực, phát triển kinh tếđất nước theo hướng bền vững,mtích cực và chủ động trong hội nhập kinh tế khuvực cũng như trên thế giới
Trang 191.2 Công nghiệp hỗ trợ dệt may
1.2.1 Khái niệm ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may
Ngành công nghiệp dệt may là1một ngành có truyền thống từ lâu ở Việt Nam.Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầuthiết yếu của con người, là ngành giải quyếtađược nhiều việc làm cho xã hội và đặcbiệt nó là ngành có thếamạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển,góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước Nó đáp ứng nhu cầu vềsản phẩm tiêu dùng bao gồm các loại quần áo, chăn ga, gối đệm, các loại đồ dùngsinh hoạt trong gia đình như: rèm cửa,mvải bọc đồ dùng, khăn các loại, Mặtakhác,sản phẩm của ngành dệt may không chỉ là quần áo váy vóc mà còn là các vật liệu vôcùng quen thuộcanhư lều, buồm, lưới cá, cần câu, dây thừng,mcác dụng cụ dùngtrong y tế như chỉ khâuvvà bông băng y tế
Bất cứ ngành công nghiệp nàommuốn phát triển mạnh mẽ đều phải dựa trênmột nền tảng vững chắc,bcũng như có một mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhaugiữa các ngành công nghiệp cả theo chiều dọcmlẫn chiều ngang Giữa các ngànhluôn có mộtamối liên kết mật thiết với nhau, chúng hỗ trợ và làm tiền đề cho sựphát triển của nhau.mĐốicvới ngành dệt may cũng vậy, mối quan hệ hỗ trợ lẫnnhau giữa các ngànhacũng được thể hiện rất rõ dưới dạng chuỗi giá trị được biểudiễn dưới đây:
Phânphốihàngmay
Sơ đồ 1.2 Chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam.
Nguồn:Theo Báo cáo ngành Dệt may Việt Nam
Trong chuỗi giá trị trên, các giai đoạn sản xuất nguyên liệu, kéo sợi, dệt vải,nhuộm, in vải được gọi là khu vực thượng nguồn, hay đây cũng chính là các ngànhcông nghiệp hỗ trợ vàmcó liên quan chặt chẽ tới ngành dệt may Còn các giai đoạncắt may, phân phối hàng may được gọi là khu vực hạ nguồn và là “động lực” thúcđẩy khu vực thượng nguồn phát triển.m Để có được một sản phẩm dệt may cuốicùng hoàn hảo nhất cần phải trải qua rất nhiều công đoạn trong sản xuất tạo nênthành một chuỗi giá trị của ngành.mChuỗi giá trị của ngành dệt may bao gồm rất
Trang 20nhiều công đoạn khác nhau từmsản xuất xơ đến kéo sợi dệt vải nhuộm, in hoa, vàhoàn tất cắt và may
Theo như quy hoạch phát triểnangành dệt may Việt Nam đến năm 2020, có quytrình sản xuất hoàn tất sản phẩm dệt mayaViệt Nam như sau:
Sơ đồ 1.3 Quy trình sản xuất hoàn tất sản phẩm dệt may Việt Nam
Trang 21Như vậy, chúng ta có được khái niệm ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may là
“ngành chuyên sản xuất các sản phẩm hỗ trợ cho ngành công nghiệp dệt may Công nghiệp hỗ trợ dệt may bao gồm 2 nhóm sản phẩm chính: máy móc trang thiết
bị sử dụng trong công nghiệp dệt may và nguyên liệu, phụ kiện phục vụ quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng của dệt may”.
1.2.2 Các ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may
1.2.2.1 Ngành sản xuất nguyên liệu
Ngành sản xuấtsnguyên liệu cung cấp các nguyên liệu tự nhiên như bông len,
tơ sợi để xe sợi, chỉ Ngành nàymthường là lợi thế của các nước có điều kiện khíhậu thích hợp với sự phát triển của cây bông, đay vàmnhững ngành trồng dâu nuôitằm Ngày nay các nước có ngành sản xuất nguyên liệu dệt may phát triển chủ yếu
là các nước Mỹ la tinh, Trung Quốc, Ấn Độ.mTrong các loại nguyên liệu tự nhiên,bông và lông cừu là những nguyên liệu quan trọng và được sử dụng nhiều nhất chongành dệt máy dân dụng Tuy nhiên,m một đặc trưng của hoạt động sản xuấtnguyên liệu tự nhiên như trồng bông chính là sự phụ thuộc vàachịu ảnh hưởng rấtlớn bởi các điều kiện tự mnhiên như khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa,
1.2.2.2 Ngành cơ khí
Ngành cơ khí cung cấp các trang thiết bị máy móc cho ngành dệt may Nhómmáy móc trang thiết bị sử dụng trong công nghiệp dệt may bao gồm những sảnphẩm chính như : máy may, máy kéo sợi, máy sợi con, máy dệt, thiết bị làm lạnh,bàn ủi,… hiện nay, trong điều kiện toànmcầu hóa và hội nhập quốc tế, việc cơ khíhóa ngành dệt may với các máy móc hiện đạimsẽ làm cho năng suất lao động tănglên, chất lượng sản phẩmmdệt may được nâng cao, tiết kiệm lao động và chuyênmôn hóa quá trình sản xuất sản phẩm dệt may Đặc biệt, ngànhmdệt đang có nhữngđịnh hướng mới trong việc áp dụng những sản phẩm vải, nhưng không phải quần
áo, được gọi là vải kỹ thuật Quá trìnhmsản xuất các sản phẩm vải kỹ thuật đòi hỏimáy móc hiện đại đắt tiền và công nhân có trình độ cao Hiện tại lĩnh vực này tậptrung ở những nước phát triển với trình độ công nghệ và máy móc hiện đại, tiên tiến
1.2.2.3 Kéo sợi
Đây là giai đoạn từmcác nguyên liệu thô ban đầu bằng các phương pháp banđầu để tạo thành các sản phẩm nguyên vật liệu phục vụ cho dệt may như chỉ, sợi vải
mà nhiều nhất là tơ sợi tổng hợp.mCông đoạn này do các công ty may đảm nhiệm
Có nhiều loại tơ sợi khác nhau: tơ sợi có nguồn gốc từ thực vật hoặc động vật được
Trang 22gọi là tơ sợi tự nhiên.mTơ sợi được làm ra từ chất dẻo như các loại ni lông được gọi
là tơ nhân tạo
1.2.2.4 Ngành nhuộm in
Ngoài ra còn có ngành nhuộm, in vải, ngày nay nhu cầu thị hiếu của ngườimdâncàng cao,yêu cầu không chỉmtốt về chất liệu mà còn bền đẹp về mẫu mã, màu sắc.Chính vì thế đòi hỏi ngành này cần phong phú, đa dạng, bền đep về thuốc nhuộm cũngnhư nghệ thuật trong công tác nhuộm vải Tuy nhiên ngành nhuộm hiện nay vẫn còn gặpnhiều khó khăn trong sự xây dựng và phát triển vì vấn đề về môi trường
1.2.3 Các điều kiện để phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
Để phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may, luôn cần những yếu tố quantrọng để tạo nên sự cạnh tranh của ngànhmcông nghiệp hỗ trợ dệt may TheoMichael Porter, ông coi khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụmthuộc vào khảnăng cạnh tranh của ngành, cụ thể hơn làmcủa các doanh nghiệp trong ngành Theo ông, khả năngmcạnh tranh quốc gia được thể hiệnaở sự liên kết của 4 nhómyếu tố, mối liên hệ này tạo thành môahình có tên là mô hình kim cương Porter Cácnhóm yếu tố điều kiện đó bao gồm: một là điều kiện về các yếu tố đầu vào sản xuất; hai
là điều kiện về cầu; ba là các ngành công nghiệp có liên quan; bốn là chiến lược, cơ cấu
và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành Cả bốnssyếu tố này tác động qua lại với nhau vàhình thành nên khả năng cạnh tranhmcủa một quốc gia Ngoài 4 yếu tố chính trên còn 2yếu tố nữa là vai trò của Chính phủ vàacơ hội kinh doanh
Sơ đồ 1.4 Các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh ngành công nghiệp
Nguồn: Trung tâm thông tin kinh doanh và thương mại
Trang 231.2.3.1 Điều kiện về cầu và các yếu tố đầu vào sản xuất
Điều kiện về cầu được thểmhiện trực tiếp ở tiềm năng của thị trường Thịtrường là nơi quyết định cao nhất năng lực cạnh tranh của một quốc gia Thị trườngtrong nước có những đòi hỏi caomvề sản phẩm sẽ là động lực thúc đẩy các công tythường xuyên cải tiến và đổi mới sản phẩm nếu các công ty muốn tồn tại và pháttriển Việt Nam hiện naymcó dân số đông, trên 90 triệu dân và tương lai sẽ tiếp tụctăng lên nữa Khi điều kiện kinh tếmngày càng phát triển thì nhu cầu may mặc ngàycàng tăng, cho thấy thị trường nội địa đầy tiềm năng với sức tiêu thụ lớn Thêm vào
đó, hiện nay, thị trường trong nước đang ngày càng yêu cầu cao về chất lượng, dịch
vụ đối với hàng dệt may, đây sẽ làmđộng lực lớn thúc đẩy các doanh nghiệp thườngxuyên cải tiến và đổi mới sản mphẩm
Đối với thị trường nước ngoài, sự tham gia vào các tổ chức và ký kết các Hiệpđịnh với những sự dỡ bỏ hạn ngạch, thuế suất, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sảnxuất hàng xuất khẩu Tuy nhiên,m song song với đó là thị trường nước ngoài đangđặt ra những tiêu chuẩn cao đối với các sản phẩm không chỉ về mẫu mã, chất lượng
mà còn cả dịch vụ đi kèm.m Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam nếumuốn tồn tại và phát triển thì phải không ngừng nâng cao hơn nữa khả năng cạnhtranh, đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng
Các yếu tố sản xuất bao gồm các yếu tố cơ bản và yếu tố tiên tiến, ngành dệtmay Việt Nam được coi là có ưu thế:m lao động dồi dào, ngành may có truyềnthống lâu đời, vị trí địa lý thuận lợi,… đã tạo cho Việt Nam có điều kiện cơ bản kháđầy đủ Tuy nhiên nếu xét kỹ từng yếu tố thì trong điều kiện khoa học- kỹ thuật pháttriển nguồn lao động dồi dào dần dần sẽ không còn làmlợi thế cạnh tranh của dệtmay Việt Nam.mVì thế nâng cao trình độ tay nghề cho đội ngũ công nhân viên sẽtạo điều kiện, bước đệm lớn cho phát triển công nghiệpmdệt may cũng như côngnghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam
Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh mtế quốc tế hiện nay thì cơ sở
hạ tầng, thông tin liên lạc,mviễn thông ngày càng khẳng định được vai trò của mình.Đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chungmvà doanh nghiệp hỗ trợ dệt may nóiriêng, việc xây dựng các nhà máy, hình thànhmcác khu công nghiệp với hệ thốngmáy móc hiện đại đã từng bước đưa dệt may phát triến, tăngmkhả năng cạnh tranhvới thị trường dệt may thế giới Mặc dù phát triển song sự khởi điểm muộn hơn so
Trang 24với các nước khác nên muốn tồn tại và phát triển hơn nữa, Việt Nam cần bao quátchủ động hơn trong khâu nguyên liệu sản xuất.
1.2.3.2 Điều kiện về chiến lược, chính sách phát triển và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành
Chiến lược của công ty cómảnh hưởng lâu dài đến khả năng cạnh tranh củachính công ty đó trong tương lai bởi vì các muc tiêu, chiến lược và cách tổ chức cácdoanh nghiệp trong ngành công nghiệp cóasự khác nhau rất lớn giữa các quốc gia.Yếu tố này chi phối rất lớn đến hoạt động đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, đổi mớicông nghệ, phát triển sản phẩm vàmthị trường của từng công tymvà cả ngành.Chính vì thế điều kiện để phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may chính là yêucầu về sự kết hợp hợp lý giữa các lựa chọnmnày với các nguồn lực của lợi thế cạnhtranh trong công nghiệp hỗ trợ dệt may
Xác định được rõ vai trò là ngành công nghiệp chủ đạo trong quá trình toàncầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách nhằmđịnh hướng rõ từng bước đi cho phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may Việt Nam.Dựa vào đây các doanh nghiệp,mnhà đầu tư trong và ngoài nước dễ dàng hơn trongxác định hướng đi, những quyền lợi cũng như những yêu cầu khi phát triển doanhnghiệp với hướng đi tốt và hiệumquả nhất
Cơ cấu của các ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may sẽ tác động lớn tới sự pháttriển của ngành công nghiệp dệt may Bên cạnh đó,mcạnh tranh trong nội bộ ngành
và giữa các các công ty trong một nước ngày càng gay gắt thì năng lực cạnh tranhtrên thị trường quốc tế của công ty sẽ tăng cao
1.2.3.3 Mối liên hệ giữa các nhóm ngành công nghiệp hỗ trợ và công
Trang 251.3 Các nhân tố tác động đến phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may 1.3.1 Thị trường
Ngành công nghiệp hỗ trợ có vai trò sản xuất các sản phẩm hỗ trợ cho việc sảnxuất một sản phẩm cuối cùng Như vậy nếu có sự tương thích đủ lớn thì sự pháttriển của ngành công nghiệp chính sẽ tạo ra thị trường ổn định phát triển có hiệuquả của các ngành hỗ trợ
Nếu như ngành may có quy mô nhỏ, sản xuất nhưng sản phẩm có chủng loại
đa dạng và sản lượng không lớn thì khối lượng sản xuất bông, vải, sợi … sẽ nhỏ, giáthành sẽ tăng cao.mĐiều này dần dẫn đến việc khó tiêu thụ sản phẩm của ngành hỗtrợ Làm cho các ngành hỗ trợ kém phát triển, gây ảnh hưởng trực tiếp đến ngànhdệt may, đặc biệt là dệt may xuất khẩu Do đó,mđể ngành hỗ trợ phát triển tươngxứng, đáp ứng được nhu cầu của dệt may trong nước thì cần một chính sách đầu tưđồng bộ, liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiêp hỗ trợ và doanh nghiệp hoàn tấtsản phẩm, như vậy có thể đảm bảo được chất lượng vàmthị trường tiêu thụ sảnphẩm hỗ trợ
1.3.2 Vốn
Việc đầu tư vốn vào khu vựcmhỗ trợ dệt may gặp nhiều vấn đề phức tạp hơn
so với khu vực hạ nguồn domkhối lượng vốn đầu tư lớn, công nghệ phức tạp, thờihạn đầu tư và hoàn vốn dài, mức độ rủi ro cao Do đó việc cân đối vốn nguồn lực tàichính cho đầu tư phát triển các ngành dệt may và chính sách huy động phát triển cácnguồn lực ấy có vai trò rất lớn soavới việc đảm bảo các ngành công nghiệp hỗ trợngành dệt may phát triển có hiệu quả và bền vững,mđáp ứng được nhu cầu nguyênnhiên liệu của ngành dệt may
Ngoài ra, phải kể đến việcmthu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành
hỗ trợ Đây là một vấn đề quan trọng đòi hỏi phải được xem xét một cách toàn diện:
sự gia tăng của vốn FDI và ngành công nghiệp dệt may,mđồng thời nhiều doanhnghiệp hỗ trợ cũng ra đời và phát triển chủ yếu phục vụ cho hoạt động chính củangành dệt may, cung cấp nguyên liệu cho ngành dệt may phát triển Nếu lượng vốnthu hút từ nước ngoài nhiều, tạo tiền đề tốt chomsự phát triển của các bước pháttriển công nghiệp hỗ trợ dệ may như: bông., sợi, từ đó thúc đẩy sự phát triển củadệt may Việt Nam
Trang 261.3.3 Khoa học kỹ thuật và công nghệ
Đây là một nhân tố vô cùng quan trọng không chỉ đối với ngành dệt may chính
mà còn cả với công nghiệp hỗ trợ của ngành.mĐặc biệt trong thời đại ngày nay, khikhoa học công nghệ thường xuyên thay đổi và phát triển không ngừng, để theo kịpvới những xu hướng phát triển của thế giới, thì việc chú trọng đến phát triển khoahọc kỹ thuật lại càng được nâng cao.mVì vậy việc áp dụng thành tựu mới của khoahọc công nghệ và các ngành hỗ trợ cho ngành dệt may có tính chất dẫn dắt sự pháttriển của ngành dệt may, nhờ việc tạo ra những chất liệu vải mới, bền đẹp hơn, đadạng hóa các sản phẩm dệt may, sẽ làm thaymđổi căn bản trong thiết kế và tạo sảnphẩm mới ở ngành dệt may với những đặc tính khác nhau, mang nét đặc biệt riêng.Ngược lại, sự phát triển của ngành may mặc đòi hỏi ngành hỗ trợ phải không ngừngphát triển để tạo ra những nguyên nhiên liệu mới,mđáp ứng nhu cầu của ngành Sựphát triển của công nghệ thông tin vàmthương mại điện tử làm cho mối liên hệ giữangành công nghiệp dệt may và ngành công nghiệp hỗ trợ trở nên khăng khít hơn,giảm thiểu thời gian giao dịch, tiết kiệm chi phí,mthúc đẩy được sự phát triển của cảngành dệt may lẫn ngành hỗ trợ
1.3.4 Các chính sách của nhà nước với phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may
Các quan điểm của nhà nước về phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may trongđịnh hướng phát triển chung của ngành dệt may cả nước cũng như trong định hướnglâu dài cho phát triển công nghiệp hỗ trợ chung tác động trực tiếp đến quy mô, cơcấu của ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may mNếu Nhà nước quan tâm chú trọng,đưa ra và thực hiện được nhiều chính sách sẽ góp phần khuyến khích phát triển cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ phục vụ sản xuất nguyên phụ liệu, tạo động lực cho sựphát triển sản xuất công nghiệp chính Nếu các chính sách được đưa ra song chưađược thực hiện 1 cách tối ưu các nguồn lực cũng sẽ tác động tới sự hoạt động cũngnhư phát triển các ngành hỗ trợ Mặt khác các chính sách hỗ trợ phát triển khu vựccông nghiệp hỗ trợ như chính sách nội địa hóa, chính sách đầu tư phát triển ngànhnguyên liệu, cơ khí , phục vụ ngành dệt may, chính sách thuế đánh vào nhập khẩu
và xuất khẩu các sản phẩm hỗ trợ như bông, tơ sợi, … và mức độ đầu tư các nguồnlực của Nhà nước vào nghiên cứu khoa học công nghệ, tất cả quyết định sự pháttriển của ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may
Trang 271.3.5 Các quan hệ liên kết khu vực và toàn cầu
Công nghiệp dệt may vốn từ mtrước đã là một trong những ngành có kimngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam Cùng với sự hội nhập kinh tế quốc tế thế giới,mối liên hệ kinh tế giữa các quốc gia ngày càng trở nên mật thiết Việc đảm bảoquan hệ giữa ngành dệt may và các ngành hỗ trợ không chỉ bó hẹp trong phạm vimột quốc gia mà cần thực hiện trong phạm vi khu vực và thế giới Điều đó buộcmỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp cần phải cân nhắc mức độ đầu tư sản xuất mỗinguyên phụ liệu bổ trợ khác nhau, việc sản xuất không chỉ phục vụ cho nhu cầutrong nước mà còn là xuất khẩu ra nước ngoài Việc tham gia vào các tổ chức trongkhu vực và thế giới, với các chính sách ưu đãi về mức thuế, rào cản thương mại tạođiều kiện cho các doanh nghiệp trong việc gỉam chi phí xuất nhập khẩu vào cácnước trong cùng khu vực, gia tăngagiá trị cho hàng may mặc Cần mở rộng xuấtkhẩu các sản phẩm hỗ trợ ngành dệt may, và tăng cường tỷ lệ nội địa hóa các sảnphẩm hỗ trợ dệt may để tạo lợi thế cho mặt hàng dệt may xuất khẩu
1.4 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may ở các nước
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may của Trung Quốc.
Công nghiệp dệt may của Trung Quốc đã và đang phát triển mạnh trong haithập kỷ vừa qua Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia lớn nhất thế giới về sản xuấtmột số loại sản phẩm dệt may,mđồng thời cũng là quốc gia xuất khẩu hàng dệt maylớn nhất thế giới
Còn đối với thành công của ngành dệt may và công nghiệp hỗ trợ dệt may củaTrung Quốc thì những nỗ lực mà Chính phủ đã làm mthực sự có ý nghĩa quan trọng
Kể từ cuối thập kỷ 70 cho đến trước năm 1998, cũng giống các quốc gia đang pháttriển khác, ngành dệt may của Trung Quốc đặc trưng với trang thiết bị lạc hậu, cơ
sở sản xuất nhỏ, phân tán, hiệu quả sản xuất thấp Thêm vào đó, cuộc khủng hoảngtài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 đã gây ra sự mất giá của một loạt các đồng tiềntrong khu vực và tác động mạnh đến sức cạnh tranh của hàng dệt may TrungQuốc Đứng trước những khó khăn này, vào năm 1998, chính phủ Trung Quốcthông qua kế hoạch cải tổ, hiện đại hóa các xí nghiệp dệt may, đặc biệt là ưu tiênphát triển hoạt động sản xuất nguyên liệu thượng nguồn
- Khuyến khích loại bỏ các máy móc cũ và lạc hậu: Để khuyến khích việcloại bỏ máy móc cũ, thay thế máy móc mới cũng như giải quyết các khó khăn về tài
Trang 28chính của doanh nghiệp, Chính phủ Trung Quốc thực hiện trợ cấp cho ngành dệtthông qua hình thức cấp tiền trợ cấp và cho vay ưu đãi cho các doanh nghiệp để loại
bỏ số cọc sợi cũ (trợ cấp 3 triệu Nhân dân Tệ và cho vay ưu đãi 2 triệu Nhân dân
Tệ với mỗi 10.000 cọc sợi cũ bị loại bỏ) Chính sách này đi kèm với việc TrungQuốc tăng các mức thuế khác để bù đắp chi phí khi xuất khẩu hàng dệt may Nhờ
đó, riêng năm 1998, Trung Quốc bỏ 5,12 triệu cọc sợi cũ, mmchấp nhận cắt giảm60.000 việc làm trong ngành dệt
- Quy hoạch tập trung ngành dệt may: Chính phủ Trung Quốc đã quy hoạchtập trung sản xuất dệt may vào các khu vực duyên hải có truyền thống lâu năm vềngành sản xuất nguyên phụ liệu và may mặc nhằm tận mdụng kinh nghiệm sảnxuất, điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng và lực lượng lao động dồi dào có tay nghềcao tại các khu vực này Việc quy hoạch tập trung cũng nhằm phát huy lợi thế vềquy mô sản xuất để hạ giá thành sản phẩm
- Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất dệt may, nguyên phụliệu dệt may: Chính phủ Trung quốc đã xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại,đồng bộ và có những chính sách ưu đãi đặc biệt với các nhà đầu tư nước ngoài
Cụ thể, ngày 11/10/1996 “qui định về khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài” đãgiảm mức thuế thu nhập từ 30% xuống còn 15% và cho các doanh nghiệp ở đặckhu kinh tế chỉ còn 10%, miễn thuế 5 năm đầu cho các doanh nghiệp mới thành lập
ở đặc khu, miễn thuế thu nhập khi chuyển lãi ra nước ngoài, hoàn trả thuế thunhập cho phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư, v.v Đầu tư nước ngoài vào ngành dệtmay còn giúp phát triển công nghệ và các chiến lược thị trường, thông qua đónâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm
- Hỗ trợ xuất khẩu: Năm 1986, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện hoàn trảthuế trung gian và VAT Năm 1988, Trung Quốc đã hoàn trả thuế gián tiếp luỹ tiến
ở các khâu, hình thành các quĩ hỗ trợ tín dụng nhằm cấp tín dụng xuất khẩu, tíndụng cải tiến kỹ thuật, v.v Những chính sách hỗ trợ xuất khẩu này đã khuyếnkhích các doanh nghiệp dệt may đổi mới năng lực và hiện đại hoá công nghệ, thiết
bị, dây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm
- Về phía các doanh nghiệp Trung Quốc, nhận thức được yêu cầu ngày càngcao về sản phẩm may mặc cả về số lượng lẫn chất lượng vải, sợi, đường chỉ, mẫuhọa tiết, thiết kế, các doanh nghiệp có kế hoạch kiểm tra định kỳ công suất hoạtđộng của máy móc, thay các máy móc lạc hậu, cũ kỹ, không phù hợp với yêu cầusản xuất Mạnh dạn đầu tư, tham gia chuyển giao công nghệ để học hỏi kinh nghiệm
Trang 29và dây chuyền công nghệ tiên tiến từ các nước khác Bên cạnh đó, xác định đượcvai trò quan trọng của nguồn nhân lực, các doanh nghiệp tăng cường mở lớp đào tạonâng cao trình độ quản lý, vận hành máy móc của các kỹ sư, đồng thời đào tạonâng cao tay nghề cho người lao động Ngoài ra, các doanh nghiệp luôn đưa racác chính sách bảo hiểm, trợ cấp, thu hút đối với cán bộ, công nhân và kỹ sư
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may tại Nhật Bản
Nhật Bản là một trong số các quốc gia có nền công nghiệp dệt may phát triểnnhất châu Á và trên thế giới với hàng nghìn các doanh nghiệp vệ tinh khác sản xuấtcác loại nguyên phụ liệu hỗ trợ
- Vào những năm 1930, Chính phủ Nhật Bản đã can thiệp vào lĩnh vực sảnxuất tơ tằm bằng cách thiết lập sự kiểm tra, kiểm soát về chất lượng ở một số khâuquan trọng, hình thành các trạm kiểm tra chất lượng ở các hải cảng nhằm đảm bảochất lượng trước khi xuất khẩu, ban hành luật kiểm tra trứng tằm, theo đó quyđịnh các nhà nuôi tằm chỉ được mua trứng tằm của các nhà buôn có giấy phép.Nhờ sự can thiệp trên mà chất lượng tơ của Nhật Bản đã được thế giới đánh giá rấtcao, Nhật Bản đã thắng thếmtrong cạnh tranh với tơ của Trung Quốc trên thị trườngthế giới Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản còn thực hiện hỗ trợ các gia đình nông dânthông quamviệc thành lập các hộ tín dụng để cho nông dân vay vốn, thực hiện cácbiện pháp giúp đỡ về kỹ thuật Ngoài ra, Nhật Bản còn thực hiện chính sách bảo hộqua thuế,mhầu hết các mặt hàng dệt may nhập khẩu vào Nhật đều có mức thuế suấtcao hơn rất nhiều so với các nước phương Tây
Hiện ở Nhật Bảnmcó nhiều tên tuổi tầm cỡ thế giới nhưng các công ty này chỉchiếm 1% số lượng doanh nghiệp vàmcông việc chủ yếu của họ là sản xuất các sảnphẩm may mặc cuối cùng, còn trên 95% doanh nghiệp cấp thấp hơn sản xuất cácnguyên phụ liệu cho các công ty này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Chính phủNhật Bản có nhiều chính sách tích cực nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong công nghiệp hỗ trợ dệt may, luôn quan tâm đến những doanh nghiệpnày và đánh giá rất cao vai trò của họ trong việc thúc đẩy ngành công nghiệp hỗtrợ dệt may phát triển Vào những năm 1940, Chính phủ Nhật đã ban hành Luậthợp tác giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ mvới các thành phần khác, có hiệu lựcnăm 1949, nhằm tăng cường vị thế của các mdoanh nghiệp vừa và nhỏ trên thịtrường cũng như tạo điều kiện để họ tiếp cận những công nghệ mới và nguồn vốnvay ưu đãi Từ năm 1936, Nhật Bản đãmcó ngân hàng Shoko Chukin đầu tư vốn
Trang 30cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, và mđến năm 1949 đã có quỹ đầu tư vốn cho doanhnghiệp loại này Chỉ mất 3 ngày, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể vay được vốn từChính phủ Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bảnmcòn thành lập những đơn vị bảo lãnh tíndụng có khả năng bảo lãnh cho doanh nghiệp vừaavà nhỏ khi họ vay vốn từ cácdoanh nghiệp tư nhân khác (Ratana, 1999).
- Trong môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ngànhdệt may đã không ngừng cải tiến trang thiết bị,mtìm tòi chuyển giao các công nghệbậc nhất để nâng cao năng suất Có thể thấy công nghệ dây chuyền sản xuất củaNhật Bản luôn được xếp vào loại hiện đại Cụ thể,mmấy năm trước các doanhnghiệp dệt may Nhật Bản đã mạnh dạn bỏ đi hàng loạt máy móc cũ, đầu tư và thaythế bằng một loạt máy móc hiện mđại khiến con số chi phí lên tới hàng chục tỷđồng, đồng thời xác định rõ mục đích sản phẩm hướng tới, tập trung chuyên mônhóa vào một sản phẩm để nâng cao chất lượng sản phẩm Ngoài ra, các doanhnghiệp luôn có chính sách trợ cấp đối với cán bộ, công nhân viên thúc đẩy sự làmviệc của họ Do thiếu nhân công trong nước, Nhật Bản đã thu hút lao động nướcngoài bằng các chính sách ưu đãi, đặc biệt với các nước có lợi thế nguồn lao độngdồi dào như Việt Nam, các laomđộng được cung cấp chỗ ở, được khám bảo hiểmđịnh kỳ một cách miễn phí, mức mlương cơ bản cho 1 lao động trong ngành dệtmay tại Nhật Bản từ 80.000-110.000 yên/tháng, chưa kể làm thêm giờ Chính vìthế, Nhật Bản đã thu hút rất nhiều lao động vào mlàm việc trong ngành hỗ trợ dệtmay như cắt may, dệt
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Nhìn vào hai nước điển hình trong lĩnh vực phát triển công nghiệp hỗ trợ dệtmay trên, Việt Nam có nhiều điểm có thể học hỏi và áp dụng các chính sách đo mộtcách linh hoạt và hợp lý, phù hợp với điều kiện của đất nước Có thể nêu đến:
- Đầu tư có trọng điểm và đầu tư theo hướng hiện đại Điều này Việt Nam cóthể học hỏi từ phía Trung Quốc, Việt Nam cần thực hiện các giải pháp hỗ trợ kinhphí đế giúp các doanh nghiệp thay thế, đổi mới, hiện đại hóa công nghiệp dệt ViệtNam cần cố gắng để tự chủ động trong cung ứng các nguyên liệu cho may mặc,kéo sợi, sản xuất vải cúc, chỉ khóa, Tuy nhiên không hẳn ngành công nghiệp hỗtrợ nào cũng được đưa vào quy hoạch phát triển, bởi có những nguyên liệu phụ kiệnnhập từ nước ngoài về có giá thành rẻ hơn so với thị trường trong nước, chính vì
Trang 31vậy nên cần lựa chọn đúng ngành trọng điểm để phát huy đúng tiềm năng của nócũng như tận dụng tối đa lợi thế của quốc gia.
- Xây dựng các quan hệ liên kết kinh tế chặt chẽ Theo như kinh nghiệmcủa Nhật Bản, Nhà nước đánh giá vai trò quan trọng trong phát triển liên kết giữacác nhà thầu phụ mà chủ yếu là các doanh nghiệp hỗ trợ dệt may vừa và nhỏ vớicác doanh nghiệp dệt may lớn Các doanh nghiệp lớn rất cần các nhà thầu phụ cókhả năng nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí để giúp cho họ tăng sức cạnhtranh cho sản phẩm của mình Tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp sảnxuất sản phẩm hỗ trợ dệt may nội địa với các doanh nghiệp có vốn FDI Việc liênkết giữa các doanh nghiệp như vậy sẽ giúp khai thác công nghệ, kinh nghiệmquản lý của các doanh nghiệp với nhau Liên kết giữa các nhà cung cấp nội địavới doanh nghiệp dệt may nước ngoài, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia và xuyênquốc gia tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước chen chân được vào hệthống sản xuất của các tập đoàn này
- Nhà nước cần có chính sách, biện pháp khuyến khích phát triển các doanhnghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm vị trí khá quan trọng trongnền kinh tế hiện đại ở rất nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và điều kiện ViệtNam nói riêng Nhờ quy mô vốn và lao động không quá lớn, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ có được khả năng linh hoạt trong việc bố trí sản xuất, lựa chọn và thay đổichủng loại và mẫu mã sản phẩm Đặc biệt, người lao động Việt Nam có lợi thế khéoléo, khả năng học hỏi bắt chước cao, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo điều kiệnxuất hiện những phát kiến cải tiến kỹ thuật đa dạng và hợp lý để tận dụng tối đa
và nâng cao hiệu quả của các loại công nghệ, phù hợp với điều kiện của doanhnghiệp mình
- Đối với các doanh nghiệp mỗi doanh nghiệp cần xác định rõ kế hoạchtừng giai đoạn, từng kỳ ngắn hạn, trong đó đưa ra rõ định hướng, mục tiêu phát triển
và đặc biệt cần xác định rõ sản phẩm mà doanh nghiệp hướng tới Mỗi doanhnghiệp nên chuyên môn hóa về một sản phẩm phụ trợ (hoặc hướng về trồng, cungcấp bông, tơ sợi, hoặc chuyên môn hóa lĩnh vực nhuộm in, ), như vậy cácdoanh nghiệp có thể nâng cao chuyên môn sâu về một lĩnh vực, tránh sự trùng lặpgiữa sản phẩm của các doanh nghiệp, đảm bảo cân đối lượng cung của các sảnphẩm hỗ trợ
Trang 32CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
2.1 Thực trạng phát triển công nghiệp dệt may Việt Nam.
2.1.1 Lịch sử hình thành ngành công nghiệp dệt may Việt Nam.
Theo một số tài liệu ghi chép thì sự phát triển chính thức của ngành côngnghiệp này bắt đầu từ khi Khu công nghiệp dệt Nam Định được thành lập vào năm
1889 Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, ngành công nghiệp này phát triển nhanhhơn, đặc biệt là ở miền Nam, tại đây các hãng dệt có máy móc hiện đại của Châu
Âu được thành lập Trong thời kỳ này, tại miền Bắc, các doanh nghiệp Nhà nước
sử dụng thiết bị của Trung Quốc, Liên Xô cũ và Đông Âu cũng đã được thànhlập
Những năm đầu của thế kỷ XX, đội ngũ công nhân nhà máy Dệt Nam Định
đã liên tục đấu tranh giành quyền sống và không ngừng trưởng thành về nhậnthức, ý thức gia cấp Năm 1929 tổ chức Việt Nam Cách Mạng thanh niên trong nhàmáy được thành lập có 29 hội viên trong tổng số 168 hội viên toàn tỉnh, chiếmgần 18%, trên cơ sở đó sớm hình thành Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Nam Định,trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh Tiêu biểu là cuộc đấu tranh ngày 25 tháng
03 năm 1930 của hơn 4.000 công nhân nhà máy Sợi Nam Định đã diễn ra trong 21ngày liên tục Cuộc đấu tranh đã giành thắng lợi to lớn Sau ngày hòa bình vàotháng 10/1954, Đảng và Chính phủ đã quyết định khôi phục các nhà máy sợi, dệt,nhuộm-đặc biệt là các Xưởng máy tại thành phố Nam Định và xây dựng nhiều cơ
sở sản xuất mới trên miền Bắc như Dệt 8/3, Dệt kim Đông Xuân, Dệt vĩnh Phú,Dệt vải công nghiệp, Dệt len Hải Phòng.v.v
Tiếp sau ngành công nghiệp dệt, ngành may công nghiệp nước ta hìnhthành muộn hơn vào những năm cuối của thập kỷ 50 Những năm 1956-1958, ởphía Bắc có 2 xí nghiệp may với sản lượng hàng năm chỉ khoảng vài trăm ngànsản phẩm, chủ yếu là hàng may sẵn phục vụ nhu cầu nội địa Tại miền Nam,
Trang 33ngành may công nghiệp hình thành từ năm 1971 với 6 xí nghiệp may phục vụ choxuất khẩu.
Trong những năm từ 1955-1975 khi đất nước còn bị chia cắt thì ngành Dệtphía Bắc được phát triển tập trung ở thành phố Nam Định, Hà Nội, Hà Tây,Hải Phòng, Vĩnh Phú Còn ở phía Nam được phát triển tập trung ở Sài Gòn (cũ)trong các quận huyện Chợ Lớn, Tân Bình, Thủ Đức, Biên Hòa và các tỉnh miềnTrung (Đà Nẵng, Quảng Nam), các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Nai,Long An, Tiền Giang, Minh Hải) v.v
Sau ngày thống nhất nước nhà (30.4.1975), ngành công nghiệp dệt mayViệt Nam có những thuận lợi mới để phát triển về qui mô, chủng loại mặt hàng vàchất lượng sản phẩm Ngành được tiếp quản toàn bộ các cơ sở sản xuất dệt, mayvới công nghệ tương đối hiện đại ở các tỉnh phía Nam và đầu tư xây dựng nhiều nhàmáy mới với qui mô lớn trên phạm vi cả nước nhằm bảo đảm các chương trìnhhợp tác sản xuất giữa các nước trong hội đồng tương trợ kinh tế (CAEM) như : sợi
Hà Nội, sợi Vinh, sợi Huế, sợi Nha Trang, dệt Minh Khai, dệt kim Hoàng ThịLoan v.v và nhiều cơ sở may ra đời theo Hiệp định 19/5 v.v
Chính nhờ vậy, mặc dù vào những năm 80 đất nước bị khủng hoảng nhưngngành Công nghiệp dệt may vẫn phát triển ổn định, duy trì sản xuất và thực hiệnthắng lợi ba kế hoạch 5 năm ( 1976-1980, 1981-1985 và 1986-1990), bảo đảmđược các cân đối lớn của Nhà nước như nguyên liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra vànhu cầu thiết yếu của nhân dân và quốc phòng
Sau 15 năm đổi mới và phát triển với tốc độ lớn, ngành dệt may đã cónhững bước chuyển mình ấn tượng, khẳng định vị trí của mình trong sự phát triểncủa nền kinh tế đất nước Đặc biệt là năm 2009, dệt may đã trở thành ngành xuấtkhẩu lớn nhất cả nước với kim ngạch xuất khẩu đạt 9,1 tỉ Có thể nói, vào lúc này,điều kiện kinh tế cũng như qui mô của ngành đã đủ lớn để có thể tổ chức xây dựngmột bảo tàng cho toàn ngành dệt may Đây là nơi lưu giữ các hiện vật, hình ảnh,những kỷ vật thiêng liêng về quá trình chiến đấu, hy sinh, xây dựng, phát triểnkinh tế của các thế hệ cán bộ, công nhân viên đi trước của ngành dệt may
9 tháng đầu năm 2014, ngành dệt may tiếp tục ghi dấu ấn và khẳng địnhđược vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn về xuất khẩu Tổng kim ngạch xuất khẩutoàn ngành đạt 18,2 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó xuất
Trang 34khẩu may mặc đạt 15,5 tỷ USD, xơ sợi dệt đạt 1,9 tỷ USD, vải kỹ thuật 340 triệuUSD và nguyên phụ liệu 520 triệu USD Dự kiến, theo đà này năm 2014 dệt mayViệt Nam sẽ đạt KNXK khoảng 25,4 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2013.
2.1.2 Thực trạng phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam
Ngành dệt may Việt Nam có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Quốc dân Làngành cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho xã hội, giải quyết việc làm cho mộtlực lượng lớn lao động, đồng thời đã mang lại nguồn ngoại tệ lớn từ xuất khẩu vàđóng góp một nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Những năm gần đây, ngành dệtmay có tốc độ tăng trưởng mạnh và có đóng góp lớn vào giá trị sản xuất ngành côngnghiêp chế biến
Giá trị và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
oXuất khẩu chung của cả nước
Giai đoạn 2010-2015, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt mức cao sovới giai đoạn 2006-2010, riêng năm 2012 kim ngạch xuất khẩu vượt xa so với năm
2011, cao gấp nhiều lần mức bình quân trong các thời kỳ trước, đạt 114,6 tỷ USD,
so với năm 2011 tăng 18,3 % (mục tiêu 13%) Kết quả xuất khẩu của 2012 tạo nênnhiều ấn tượng, lần đầu tiên xuất khẩu vượt mốc 100 tỷ USD Việt Nam đã chuyển
từ vị thế nhập siêu lớn trong các năm trước, lần đầu tiên sau 20 năm trở lại vị thếxuất siêu
Trang 35Biểu đồ 2.1: Thứ hạng và tỷ trọng một số mặt hàng xuất khẩu chính
của Việt Nam năm 2014
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Như vậy, nhìn vào biểu đồ kim ngạch xuất khẩu năm gần nhất (2014), 10tháng đầu giá trị xuất khẩu lớn nhất thuộc về mặt hàng điện thoại các loại và linhkiện là 24,08 tỷ USD, mặt hàng dệt may đạt giá trị 20,77 tỷ USD xếp vị trí thứ 2các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu nhiều nhất cả nước Tuy nhiên, khoảng cáchgiữa giá trị xuất khẩu ngành dệt may với ngành sản xuất điện thoại các loại và linhkiện là khoảng 2,5 tỷ USD, một khoảng cách không quá lớn, đặc biệt nếu sản xuấthàng dệt may tận dụng được cơ hội từ Hiệp định TPP mang lại để nâng cao tốc
độ, giá trị sản xuất thì mặt hàng dệt may sẽ nhanh chóng đuổi kịp mặt hàngđiện thoại linh kiện về kim ngạch xuất khẩu
Biểu đồ 2.2 Tốc độ tăng trưởng giá trị xuất khẩu các mặt hàng chính
9 tháng năm 2014
Nguồn Tổng cục Hải quan
Số liệu thống kê của Tổng cục hải quan cho thấy, nếu như xét về giá trị kimngạch xuất khấu thì tính chung từ đầu năm 2014 đến ngày 15/9/2014, giá trị xuấtkhẩu hàng dệt may Việt Nam đạt gần 14,5 tỷ USD (chiếm 14,1% tổng kim ngạchxuất khẩu); giá trị xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện đạt 16 tỷ USD (chiếm
Trang 3615,6% tổng kim ngạch) còn xét về tốc độ tăng trưởng có thể thấy hàng dệt may cótốc độ tăng là 19 % khá cao so với hàng điện thoại và linh kiện là 13,2% ( nhưvậy gấp 1,5 lần); với tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định như hiện nay, đặc biệtsang năm 2016 có nhiều điều kiện thuận lợi đầu tư cho sự phát triển thì hàng dệtmay có thể đuổi kịp ngành hàng điện thoại về giá trị xuất khẩu và hứa hẹn sẽ làngành đóng góp tỷ trọng lớn nhất vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
o Xuất khẩu hàng dệt may
Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam
Biểu đồ 2.3 Giá trị xuất khẩu dệt may các năm 2010-2014
Nguồn: Tổng cục Hải Quan
Giai đoạn 2010-2015, ngành Dệt may Việt Nam tăng trưởng nhanh với tốc độbình quân 22%/năm Kết thúc năm 2014, giá trị xuất khẩu ngành dệt may ViệtNam năm 2010 đang chỉ dừng ở mức 11,875 tỷ USD thì năm 2014 đạt 24,5 tỷ USD(tăng xấp xỉ 19% so với năm 2013), tính riêng 10 tháng đầu năm 2015, giá trị kimngạch xuất khẩu đã lên tới 19,19 tỷ USD, cao hơn so với cả năm 2013, có thểthấy tốc độ tăng trưởng nhanh trong xuất khẩu dệt may Việt Nam Trong tháng12/2015 Việt Nam đang cố hết mình để thực hiện mục tiêu xuất khẩu cả năm 2015lên 28,5 tỷ USD Vị thế của xuất khẩu dệt may Việt Nam trên các thị trườngchính đang mở rộng, trong đó hiện đứng vị trí thứ hai xuất khẩu vào thị trường
Mỹ, Nhật Bản Với tốc độ tăng nhanh vượt hơn so với các ngành khác như vậy,
Trang 37mà dệt may Việt Nam đã và đang được kỳ vọng lớn cho sự phát triển hơn nữa saukhi Hiệp định TPP chính thức có hiệu lực.
Biểu đồ 2.4 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may theo tháng của Việt Nam
năm 2014
Nguồn: Báo cáo ngành dệt may
Nhìn chi tiết kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam theo từng tháng có sựbiến động lên xuống Dệt may Việt Nam xuất khẩu chủ yếu vào các tháng từ 7đến 10 đạt giá trị cao, giai đoạn tháng 2 đến 5 thấp xuống nhiều so với cáctháng khác Nguyên nhân có thể kể đến hai lý do là tháng 2 vào dịp Tết, hầunhư việc sản xuất sẽ đi vào tổng kết và là tháng có lượng thời gian làm việc ít,tiếp sau đó các giai đoạn tháng 3, 4 , 5 và tháng 11 là giai đoạn chuyển mùa ,nhu cầu về hàng may mặc có sự thay đổi nhiều , thời gian này tập trung chocông việc nghiên cứu, thiết kế cho các mẫu mã hàng may mặc mới, thay đổitheo thị hiếu người tiêu dùng
Trang 38 Thị trường xuất khẩu
Biểu đồ 2.5 Thị trường xuất khẩu chính của dệt may Việt Nam năm 2014
Nguồn: Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam
Có thế thấy, Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc là 4 đối tác lớn nhất nhậpkhẩu hàng dệt may của Việt Nam Không chỉ trong năm 2014 mà xét riêng năm
2012 Tổng kim ngạch hàng dệt may xuất sang 4 thị trường này đạt 12,96 tỷ USD,chiếm tới 86% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước Thị phầnhàng dệt may của Việt Nam trên thị trường EU tăng từ 1% (trong năm 2013) lên1,98% (trong năm 2014) Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của ViệtNam với kim ngạch đạt 2,7 tỷ USD tăng 9%, thị phần tăng từ 6,01% lên 6,61%.Thị trường Hàn Quốc tăng tới 27% trong năm 2014 với kim ngạch 2,4 tỷ USD,trong đó tăng trưởng mạnh nhất là các nhóm hàng áo khoác, áo jacket, hàng suite,quần nam nữ Tuy nhiên, xuất khẩu dệt may Việt Nam sang Mỹ vẫn tăng 12,5%,sang Châu Âu tăng 17% và sang Nhật vẫn duy trì ở mức tăng 9% Nhìn chung, thịphần của dệt may Việt Nam tại các thị trường chính đều có sự tăng trưởng tốt, nhất
Trang 39là tại thị trường Mỹ năm nay chỉ có 3 quốc gia có tăng trưởng dương, trong đó cóViệt Nam, các đối thủ cạnh tranh còn lại như Trung Quốc, Bangladesh, Campuchia
và Myanmar đều giảm so với năm trước Đặc biệt, bên cạnh vị trí thứ 2 tại thịtrường Mỹ trong nhiều năm, năm 2014 đánh dấu việc Việt Nam vươn lên vị trí thứ
2, chỉ đứng sau Trung Quốc tại thị trường Nhật Bản Điều này cho thấy dệt mayViệt Nam không chỉ cạnh tranh tốt mà còn có sức hấp dẫn rất lớn đối với kháchhàng nước ngoài
Trong đó có thể thấy rõ , Hoa Kỳ là đối tác có lượng nhập khẩu lớn nhấthàng dệt may Việt Nam, chính vì thế Việt Nam cần tận dụng tốt hơn các lợi thếđồng thời nghiên cứu thiết kế những mẫu mã hàng hóa đẹp, phù hợp với thị hiếutiêu dùng của Hoa Kỳ
Tuy nhiên nhìn vào biểu đồ kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam phía trên
có thế thấy đường biểu diễn tốc độ tăng trưởng có hình dạng đường đi lên xuốngkhông đồng đều theo một xu hướng nhất định Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đạtgiá trị cao nhất vào những năm 2010-2011 với mức tăng trưởng lên đến 26%, mộttrong những năm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất từ trước đến nay Song đến năm
2012, tốc độ tăng đã có sự giảm sút rõ rệt, từ 26% xuống còn chưa tới 10%, có thểnói đây là sự sụt giảm vô cùng lớn trong lịch sử phát triển của dệt may Việt Nam.Nguyên nhân nào dẫn tới sự sụt giảm lớn như vậy? Nhìn tổng quan nền kinh tế thếgiới có thể thấy năm 2012 được coi là một trong những năm kinh tế thế giới gặpnhiều khó khăn Cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu tiếp tục sa lầy mà lối thoátchưa thực sự rõ ràng, kinh tế Mỹ, Nhật Bản đều không mấy khả quan Nhìn chung
là tăng trưởng kinh tế chậm lại, thất nghiệp tăng cao, sức mua hạn chế, mà vốn Hoa
Kỳ và Nhật Bản vốn là những đối tác thị trường tiêu thụ lớn của hàng may mặc ViệtNam Chính vì thế, điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức mua của hàng maymặc Việt Nam, dẫn tới sự sụt giảm mạnh mẽ trong tốc độ tăng trưởng kim ngạchxuất khẩu dệt may Việt Nam Sang đến năm 2013, các nền kinh tế châu Âu và
Mỹ đang trên đà khôi phục, bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu hànghóa nói chung và xuất khẩu dệt may của Việt Nam nói riêng Thêm vào đó, sự sụtgiảm tăng trưởng của hai nền kinh tế Ấn Độ và Trung Quốc cũng tạo ra một lợi thếcạnh tranh cho Việt Nam khi nhân công và chi phí đầu vào của Việt Nam đượcđánh giá thấp hơn từ 2-2,5 lần so với hai quốc gia này Tận dụng được lợi thếđó,Việt Nam đã nhanh chóng đẩy mạnh được mức tăng kim ngạch xuất khẩu lên
Trang 40cao mặc dù chưa đạt được mức tăng trưởng như cũ Song từ giai đoạn 2013-2014,tốc độ tăng trưởng xuất khẩu có sự chuyển biến sụt giảm nhẹ, chính vì thế dệt mayViệt Nam cần nhìn nhận lại để đưa ra những phương án tối ưu tránh những sự tácđộng từ khủng hoảng bên ngoài
Xét riêng với thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.1 Thị phần nhập khẩu hàng may mặc của Hoa Kỳ và mức tăng trưởng
số, trong khi các quốc gia khác tăng nhẹ hoặc thậm chí còn tăng trưởng âm (TrungQuốc tăng chưa tới 1%, Ấn Độ tăng 6%, Indonesia, Bangladesh Campuchia tăngtrưởng âm) Đến năm 2014 trong khi thị phần nhập khẩu hàng may mặc từ TrungQuốc của Hoa Kỳ đang dẫn đầu với thị phần 0,368 _ mức thị phần cao hơn nhiều sovới Việt Nam_ tuy nhiên nhìn vào mức tăng trưởng hàng năm, có thể nhận thấy rõ
sự khác biệt lớn, mức tăng trưởng năm 2013 của thị phần may mặc Việt Nam lên tới17%, gấp 6 lần so với Trung Quốc Như vậy, nếu với mức tăng trưởng hàng nămnhư vậy, thì Việt Nam sẽ nhanh chóng đạt được một vị trí cao hơn trong lĩnh vựcxuất khẩu hàng may mặc ra thị trường các nước trên thế giới