1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi mới

17 27K 40
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi mới
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 165,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi mới

Trang 1

Lời nói đầu

Trang 2

1 Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi mới

1.1 Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp

Cơ chế kế hoạch hóa tập trung (kinh tế mệnh lệnh): cơ chế mà theo đó chính quyền trung ương sẽ điều khiển toàn bộ các khu vực kinh tế và đưa ra mọi quyết định

về quá trình sản xuất và phân phối hàng hóa, dịch vụ Nhà chức trách quyết định các loại hàng hóa cần sản xuất, điều hành các cơ quan cấp dưới để sản xuất theo mục tiêu quốc gia và xã hội Các nền kinh tế kế hoạch hóa quan trọng đã từng xuất hiện như Liên bang Xô-viết (cũ), Trung Quốc trước 1978 và Ấn Độ trước 1991… Ở nước ta, kể

từ sau cách mạng và thành lập nhà nước xã hội chủ nghĩa, cả dân tộc trở thành một khối, nhà nước nắm giữ toàn bộ tư liệu sản xuất và đưa ra các kế hoạch lớn cho cả nước như kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980), kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981-1985)

Trước đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế nước ta là cơ chế kế hoạch hóa tập trung với những đặc điểm chủ yếu là:

Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính

dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương…đều do các cấp thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho nhà nước Lỗ thì nhà nước bù, lãi thì nhà nước thu Chẳng hạn sau khi giải phóng Sài Gòn, nhà nước tiếp quản Hãng dệt Tái Thành và đổi tên là Dệt Thành Công Hàng năm, nhà nước sẽ cung cấp nguyên vật liệu và vốn lưu động Dệt Thành Công được giao chỉ tiêu sản xuất 3 triệu m2 vải/ năm Năm 1978, giá thành 1m2 vải calicot sản xuất tại xưởng của công ty Dệt Thành Công là 1,5 đồng/m2 Thế nhưng tất cả lượng sản phẩm có được, công ty đều phải bán cho nhà nước với giá 1,2 đồng/m2 Trong khi đó giá ở thị trường tự do thì cao gấp 10-12 lần

Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh

doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp

lý đối với các quyết định của mình Những thiệt hại do các quyết định không đúng gây

ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu Các doanh nghiệp không có quyền tự chủ

Trang 3

sản xuất, kinh doanh, cũng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với sản xuất, kinh doanh Có thể lấy trường hợp một công ty khai thác than ở Thái Nguyên làm ví dụ Năm 1979, công ty này được giao chỉ tiêu 150000 tấn trong khi các công ty khách hàng đang gặp khó khăn, không cần nhiều đến than Kho bãi công ty không thể chứa hết nhưng vẫn phải hoàn thành chỉ tiêu được giao nên công ty đã chọn giải pháp là vừa khai thác vừa đem than đổ đi Cuối cùng, đơn vị vẫn nhận được bằng khen vì đã hoàn thành chỉ tiêu cấp trên giao

Thứ ba, quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật

là chủ yếu Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát - giao nộp” Vì vậy rất nhiều hàng hóa quan trọng như sức lao động, phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng, không được coi là hàng hóa về mặt pháp lý Một cán bộ hay công nhân vào giai đoạn này 70% thu nhập là tem phiếu, 30% còn lại là lương Khi công ty không có tiền, công nhân được trả lương bằng sản phẩm: sứ tích điện, cao su, mũ cứng…Hoặc một trường hợp khác, vào năm 1978, An Giang thành lập hợp tác xã Hòa Bình Thạnh, toàn bộ hơn 70 cỗ máy cày, bừa, bơm, xới… đều được công hữu hóa Các

xã viên sẽ làm việc cùng nhau Sau mỗi buổi, cán bộ hợp tác xã ghi điểm từng người Điểm này sau đó sẽ được quy ra thóc

Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động

vừa sinh ra đội ngũ kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động Ví dụ các cửa hàng lương thực, hệ thống tem phiếu và quầy hàng tết, cán bộ cao cấp có cửa hàng phục vụ riêng tại phố Tôn Đản, cán bộ trung cấp đến phố Nhà Thờ, Vân Hồ, Đặng Dung và Kim Liên; còn cán bộ, công nhân, viên chức bình thường và nhân dân mua ở các cửa hàng rải rác trong thành phố

Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:

Bao cấp qua giá: nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa

thấp hơn giá trị chúng nhiều lần so với giá thị trường Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức

Bao cấp qua chế độ tem phiếu: nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm

tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ

Trang 4

tem phiếu với mức giá khác xa so với mức giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động

Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách nhưng không có chế tài ràng

buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “ xin -cho”

Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng theo chiều rộng thì cơ chế này có tác dụng nhất định, nó có thể tránh được những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường như chu kì kinh doanh, khủng hoảng thừa, bong bóng bất động sản… và cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng (Liên Xô vào những năm 30 đã giảm GNP của tiêu thụ tư nhân

từ 80% xuống còn 50% để ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Nhờ đó, Liên Xô đã xây dựng được nền công nghiệp nặng trong một nền kinh tế kém phát triển mà không cần phải chờ nhiều năm tích lũy tư bản hay dựa vào hỗ trợ tài chính từ bên ngoài) Tuy nhiên, cơ chế kế hoạch hóa tập trung lại thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học - công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiếu sâu dựa trên cơ sở áp dụng thành tựu cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ khuyết điểm của nó, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có nước

ta, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng

Trang 5

1.2 Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

1.2.1 Nguyên nhân thúc đẩy tiến trình đổi mới

Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta xuất phát từ nhiều lý do trong

đó đáng chú ý nhất là ba cơ sở sau đây:

Một là, đòi hỏi bức xúc của cuộc sống (yêu cầu thoát khỏi khủng hoảng kinh

tế)

Ở trong nước, sau 10 năm tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta đạt được một số thành tựu, song khó khăn còn nhiều và ngày càng găy gắt dẫn đến tình trạng khủng hoảng về kinh tế - xã hội vào những năm 80 (các chỉ tiêu kinh tế không đạt, lạm phát tăng, đời sống nhân dân gặp khó khăn nghiêm trọng…)

Những năm kế tiếp lạm phát tiếp tục ở mức ba con số Đến năm 1989 mới xuống còn hai con số.

Năm Lạm phát

1986 774%

1987 323,1%

1988 393%

1989 34.7%

Từ sự khó khăn và ngày càng trầm trọng nên đã xuất hiện tình trạng “xé rào” ở một số nơi để nhằm xoay chuyển tình hình cả trong nông nghiệp, công nghiệp và ngoại thương

Hai là, bản thân Đảng đã có những nhận thức mới về xây dựng chủ nghĩa xã

hội và phát triển nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy trong nhận thức của Đảng đã có những bước đột phá về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhưng chưa triệt để

Trang 6

Về các chủ trương, chính sách đổi mới từng phần từ năm 1976 đến năm 1986

và nhu cầu phải đổi mới triệt để cơ chế kế hoạch, tập trung, quan liêu, bao cấp cần trung làm nổi rõ mấy mốc sau:

 Hội nghị Trung ương lần 6 tháng 9–1979: Hội nghị đã quyết định phải khắc phục một bước cơ chế kế hoạch hoá tập trung và bao cấp, kết hợp kế hoạch hoá với quan hệ thị trường, duy trì ba thành phần kinh tế ở miền Nam, kết hợp ba lợi ích

là tập thể, cá nhân và xã hội Khuyến khích mọi năng lực sản xuất làm cho sản xuất bung ra Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV là bước đột phá đầu tiên để tìm đường đổi mới

- Cuối cùng Hội nghị đã ra nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 20 tháng 9 năm 1979 với tinh thần chính là:

 Cho phép kết hợp kế hoạch hóa với cơ chế thị trường

 Sử dụng lại kinh tế tư nhân bao gồm cả tư bản tư nhân dưới sự quản lý của Nhà nước

 Sửa lại giá lương thực và giá các nông sản khác theo hướng dựa trên thỏa thuận

 Cho phép địa phương tiến hành xuất nhập khẩu

 Tận dụng đất đai nông nghiệp để khai hoang, phục hoá được trả thù lao thích đáng và được sử dụng toàn bộ sản phẩm được miễn thuế Tháng 10-1979, Hội đồng Chính phủ công bố quyết định xoá bỏ các trạm kiểm soát ngăn sông, cấm chợ, người sản xuất có quyền đưa sản phẩm ra trao đổi ngoài thị trường không phải nộp thuế sau khi làm nghĩa vụ đầy đủ cho Nhà nước

 Chỉ thị 100 CT/TW: Ngày 13 tháng 1 năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100-CT/TW về Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp Chỉ thị này cho phép áp dụng chế độ khoán trong toàn bộ nền nông nghiệp cả nước Chế độ khoán này thường được gọi tắt là Khoán 100 Khoán 100 tạo ra hiệu quả kinh tế lớn trong nông nghiệp

 Quyết định 25/CP (21-1-1981): Triển khai thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6 khóa IV, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 25-CP ngày 21 tháng 1 năm 1981 về Một số chủ trương và biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền

Trang 7

chủ động sản xuất, kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh Quyết định này cho phép áp dụng chế độ 3 kế hoạch

(Chế độ 3 kế hoạch: Ở cấp cơ sở, các cơ sở kinh tế, nhất là trong công nghiệp và giao

thông vận tải, trong khi tìm cách giải quyết khó khăn cho cơ sở mình đã tìm cách liên kết với các cơ sở bạn để tìm nguyên liệu và tìm cách tiêu thụ đầu ra Họ gọi đây là “kế hoạch 2”, trong khi “kế hoạch 1” là kế hoạch do Trung ương giao Một số cơ sở còn tìm cách sản xuất cho thị trường tự do, gọi đây là “kế hoạch 3” Kế hoạch 2 từng bị coi

là móc ngoặc, còn kế hoạch 3 từng bị coi là làm ăn phi pháp)

- Quyết định 25/CP nêu rõ: Cần lấy kế hoạch làm chính, đồng thời sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá, thị trường, kinh doanh có lãi Quyết định còn cho phép các xí nghiệp quốc doanh có nhiều nguồn cân đối và kế hoạch ba phần (phần Nhà nước giao, phần tự làm và phần sản xuất phụ)

- Trong điều kiện vật tư thiếu thốn, Quyết định 25-CP đã giúp các cơ sở khôi phục được khả năng sản xuất, giải quyết thêm công ăn việc làm cho công nhân, viên chức, làm cho hoạt động xí nghiệp trở lại bình thường

 Quyết định 26-CP: Cùng ngày 21-1-1981, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 26-CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước

 Năm 1981, lần đầu tiên sau chiến tranh, sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch, riêng công nghiệp địa phương vượt kế hoạch 7,5% Đây là những kết quả của chủ trương đổi mới từng phần Chỉ thị 100 đến các Quyết định 25 và 26-CP

 Trước và sau Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IV, tỉnh Long An đã được phép thí điểm việc bù giá vào lương, mua và bán theo giá cao một số mặt hàng sát với giá thị trường Long An đã thu được một số thành công trong việc lưu thông hàng hoá nhưng còn rất nhiều vấn đề đòi hỏi phải có chính sách chung của Đảng

và Nhà nước

 Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (6/1985): bàn về cải cách giá-lương-tiền, với nội dung chính như sau:

 Về giá, phải tính toán đầy đủ giá các mặt hàng Nhà nước cung cấp và giá các mặt hàng Nhà nước mua của nông dân, thợ thủ công theo giá sát với chi phí sản

Trang 8

xuất Để tiện cho tính toán, các mức giá trên được quy ra thóc Còn giá thóc được xác định bình quân là 25 đồng/kg, dựa trên tính toán thực tế của các chuyên gia Các địa phương khác nhau thì mức giá thóc quy đổi này có thể cao hoặc thấp hơn Nhà nước ban hành mức giá mới của một số vật tư, như xăng, dầu, xi măng, sắt, theo đó giá sắt 6 tăng 11,5 lần so với mức giá cũ, giá xi măng tăng 12,5 lần

 Về lương, Ban chỉ đạo đề nghị tăng lương thêm 20%

 Về tiền, để đáp ứng giá mới và lương mới, phải in thêm tiền, để tổng tiền trong lưu thống là 120 tỷ đồng Nhưng thời điểm đó, Việt Nam không tự in được tiền

mà phải nhờ nước ngoài in In nhiều tiền sẽ tốn thời gian Vì lẽ đó, để in ít tiền

mà vẫn có sức mua lớn, Ban chỉ đạo đưa ra chủ trương đổi tiền Một đồng mới

sẽ đổi lấy 10 đồng hiện hành Như vậy 12 tỷ đồng in mới và đem đổi sẽ tương đương 120 tỷ đồng hiện hành

Tuy kế hoạch cải cách giá - lương - tiền không diễn ra như kế hoạch do sự chắp vá giữa cải cách với mô hình cũ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong thời gian cuối năm 1985 và năm 1986, song chính sự khủng hoảng này đã làm cho các cấp các ngành nhận ra rằng đã cải cách là phải cải cách triệt để Mô hình cũ phải bị đoạn tuyệt hoàn toàn

 Tất cả những quyết định trên được thể hiện trên cả 4 lĩnh vực kinh tế nước ta: trong nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và trong phân phối lưu thông, tuy vậy những cải cách còn chưa toàn diện và triệt để

Ba là, những tác động cả về lý luận và thực tiễn của công cuộc cải cách, cải tổ ở

Liên Xô và Đông Âu, đặc biệt là sự trở về với chính sách NEP của Lênin

 Như vậy, từ cuối thập kỷ 70 Đảng ta đã tìm tòi những biện pháp để cải thiện tình hình Đó là những tiền đề quan trọng để đến Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ 6 vào tháng 12 năm 1986, Đảng thông qua nội dung đường lối đổi mới một cách toàn diện, trong đó đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là một trong những yêu cầu cấp bách và trọng tâm

Kết luận

Trang 9

Như vậy phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta là một tất yếu

là một nhiệm vụ cần thiết, cấp bách để chuyển từ nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế Đó là con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước để phục vụ nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Kinh tế hàng hoá không những không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mà trái lai thúc đẩy các nhiệm vụ đó phát triển mạnh mẽ hơn

1.2.2 Đại hội đại biểu lần thứ 6 của Đảng (từ ngày 15 đến 18/12/1986 tại

Hà Nội) - đại hội đánh dấu sự đổi mới

Đại hội cho rằng, cơ chế quản lý kinh tế cũ mang nặng tính chất tập trung quan liêu Đặc trưng của cơ chế ấy là cơ quan quản lý hành chính có toàn quyền quyết định những vấn đề kinh tế nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về các quyết định của mình: không tính tới hiệu quả sử dụng tiền vốn, tài sản, vật tư, lao động; không gắn trách nhiệm với lợi ích vật chất, tách rời việc trả công lao động với số lượng và chất lượng lao động; bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều tầng lớp trung gian, cửa quyền, kém năng động, thiếu trách nhiệm

Đại hội VI đã khẳng định: “Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới

cớ chế quản lý kinh tế Cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa,hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác , kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội”

 Việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trở thành nhu cầu cần thiết và cấp bách Như vậy, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàn diện đất nước, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Những chủ trương, chính sách mới đã gợi mở, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, giải phóng năng lực sản xuất của xã hội để mở đường cho phát triển sản xuất

2 Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kì đổi mới

Trang 10

Trong giai đoạn này, tư duy của Đảng về kinh tế thị trường được hình thành và phát triển Đã có sự thay đổi căn bản và sâu sắc trong nhận thức về kinh tế thị trường

so với thời kì trước đổi mới

2.1 Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến Đại hội VIII

Từ Đại hội VI đến hết nhiệm kỳ Đại hội VIII (2001), là thời kỳ đổi mới toàn diện cả về cấu trúc và cơ chế vận hành nền kinh tế với nội dung chính là từ bỏ cơ chế

kế hoạch hoá tập trung, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Qua 10 năm tiến hành đổi mới đất nước, nhất là những đổi mới toàn diện trên lĩnh vực kinh tế, những nhận thức mới, những quan đểm mới về kinh tế thị trường của Đảng từng bước được định hình rõ nét

Một là, kinh tế thị trường không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản mà là

thành tựu phát triển chung của nhân loại

Kinh tế hàng hóa là hình thức tổ chức kinh tế xã hội mà sản phẩm của quá trình dùng để thoả mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi, mua bán Kinh tế thị trường là phương thức tổ chức,vận hành nền kinh tế, là phương tiện điều tiết kinh tế lấy cơ chế thị trường làm cơ sở để phân bổ các nguồn lực kinh tế và điều tiết mối quan

hệ giữa người với người

Kinh tế thị trường đã có mầm mống từ trong xã hội nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến và phát triển cao trong chủ nghĩa tư bản Kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường giống nhau về bản chất (đều chịu sự điều tiết của cơ chế thị trường) và nguồn gốc (xuất phát từ kinh tế tự nhiên và sự phân công lao động xã hội) Tuy nhiên, kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường có sự khác nhau về trình độ phát triển Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa Kinh tế hàng hóa còn ở trình độ thấp, chủ yếu là sản xuất hàng hóa

tư nhân, quy mô nhỏ bé, kỹ thuật thủ công, năng suất thấp Kinh tế thị trường lấy khoa học, công nghệ hiện đại làm cơ sở và nền sản xuất xã hội hóa cao

Kinh tế thị trường có lịch sử phát triển lâu dài, nhưng cho đến nay nó mới biểu hiện rõ rệt nhất trong chủ nghĩa tư bản Nếu trước chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường

Ngày đăng: 08/04/2013, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w