Hiệp định rào cản kỹ thuật - thách thức dối với hàng dệt may Việt Nam
Trang 1Lời nói đầu
Nền kinh tế thế giới ở cuối thập niên cuối của thế kỷ 20 và những năm
đầu của thế kỷ 21, xu hướng toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ Quá trình
toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và sự tác động qua lại về thương mại
giữa các nước đã tạo thêm những xung lực mới cho hội nhập kinh tế quốc
tế Các nước ngày càng ký với nhau những thoả thuận, hiệp định, hiệp
ước về tự do hoá thương mại Khi thị trường được mở rộng thì cạnh tranh
trong hoạt động kinh tế trở nên gay gắt giữa các nước Để bảo vệ những
nhà sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của các công ty nước ngoài và
hàng hóa nhập khẩu rẻ, các nước đặt ra hàng rào thuế quan và phi thuế
quan nhằm giảm bớt sự xâm nhập của hàng hoá nước ngoài.Tuy vậy,
ngày nay những biện pháp thuế quan ngày càng có vai trò giảm dần
Trong khi đó những rào cản phi thuế quan được các nước sử dụng một
cách tinh vi hơn
Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển cao, mức sống được nâng
lên thì yêu cầu cao đặt ra đối với các sản phẩm sản xuất nói chung và các
sản phẩm nhập khẩu nói riêng mang tính tất yếu khách quan Tuy nhiên
nhiều nước đã quá lạm dung hệ thống tiêu chuẩn đặt ra với hàng hoá, coi
nó như là một công cụ, cùng với các công cụ bảo hộ mậu dịch khác để
bảo hộ thị trường nội địa Những biện pháp này gọi là rào cản kỹ thuật
trong thương mại quốc tế
Do đây là một vấn đề khá rộng nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những
sai sót, nhưng chúng em cũng xin góp một phần công sức nhỏ bé trong
việc nghiên cứu đề tài: “Hiệp định rào cản kỹ thuật- thách thức đối với
hàng dệt may Việt Nam trước ngưỡng cửa gia nhập WTO” Chúng
em mong được sự góp ý của các thầy cô để đề tài thêm hoàn thiện Chúng
em
xin chân thành cảm ơn
Trang 24 Nội dung cơ bản
5.Những vấn đề đặt ra đối với hàng dệt may Việt Nam
II Cơ hội và thách thức của hiệp định TBT đối với hàng dệt may Việt
Nam trước ngưỡng cửa WTO
1 Tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam( từ 1994-2000)
1.1.Tình hình kim nghạch xuất nhập khẩu
1.2.Đặc điểm, lợi thế cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam
1.3.Nhận định chung về tình hình xuất khẩu 2006
1.4.Tình hình xuất khẩu sang Hoa Kỳ
1.5.Tình hình xuất khẩu sang EU
2 Những rào cản hàng dệt may gặp phải trên hai thị trường trên
3 Cơ hội và thách thức đối với hàng dệt may Việt Nam trước
ngưỡng cửa gia nhập WTO
3.1 Cơ hội và thách thức từ việc kí kết hiệp định TBT
3.2 Cơ hội và thách thức trên từng thị trường
III Các biện pháp nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu trong việc thực
hiện hiệp định hướng tới WTO
1.Các biện pháp từ phía nhà nước
1.1 Nhiệm vụ
1.2 Các biện pháp
2 Các biện pháp từ phía doanh nghiệp
Trang 32.1 Trên thị trường EU
2.2 Trên thị trường Hoa Kì
Nội dung
I Hiệp định rào cản kỹ thuật( Technical Barriers To Trade - TBT)
1.Khái niệm rào cản kỹ thuật
Đây là hình thức bảo hộ mậu dịch thông qua việc nước nhập khẩu đưa ra
các yêu cầu về tiêu chuẩn đối với hàng hoá nhập khẩu để được thông
quan vào thị trường nội địa
Các chỉ tiêu có thể là những thông số vận hành của máy móc, về vệ sinh
an toàn thực phẩm, về bảo vệ môi trường sinh thái, điều kiện lao
động…Nếu hàng nhập khẩu không đạt một trong các tiêu chuẩn trên đều
không được nhập khẩu vào nội địa
Trang 42.Mục đích của hiệp định
Hiệp định TBT được đưa ra nhằm thúc đẩy các mục tiêu của GATT năm
1994, đó là:đưa ra các điều kiện chống kì thị đối với hàng nhập khẩu về
các tiêu chuẩn kĩ thuật so với hàng hoá cùng loại nhập khẩu từ các nước
khác và hàng sản xuất nội địa nhằm hạn chế thương mại
Hiệp định TBT cũng nhằm tăng cường việc xây dựng các tiêu chuẩn quốc
tế và các hệ thống đánh giá sự phù hợp có thể mang lại trong vấn đề này
Hiệp định đảm bảo các tiêu chuẩn và văn bản pháp quy kĩ thuật bao gồm
cả các yêu cầu về bao gói, ghi dấu, ghi nhãn và các qui trình đánh giá sự
phù hợp với các tiêu chuẩn và văn bản pháp qui kĩ thuật đó không tạo ra
trở ngại không cần thiết đối với thương mại quốc tế
3.Chủ thể và khách thể của hiệp định
Chủ thể của hiệp định là các quốc gia, chính phủ tham gia vào vòng đàm
phán Urugoay về thương mại Đa biên
Tất cả các sản phẩm, bao gồm sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp là
đối tượng thi hành các điều khoản của hiệp định này
4.Nội dung cơ bản của hiệp định
Hiệp định này sẽ mở rộng và làm rõ những điều khoản đã đạt được trong
hiệp định rào cản kĩ thuật tại vòng đàm phán Tokyo Hiệp định đảm bảo
rằng những tiêu chuẩn kĩ thuật cũng như những thủ tục chứng thực và
kiểm tra không tạo ra những cản trở không cần thiết đối với thương mại
Tuy nhiên, hiệp định công nhận các nước có quyền thiết lập sự bảo hộ ở
mức độ phù hợp và có quyền đưa ra những biện pháp cần thiết để đảm
bảo những sự bảo hộ này được thực hiện Vì vậy hiệp định khuyến khích
Trang 5các nước sử dụng những tiêu chuẩn quốc tế phù hợp, nhưng không buộc
các nước thay đổi mức độ bảo hộ do sự tiêu chuẩn hóa Điểm mới của
hiệp định đã sửa lại là nó bao gồm cả quá trình và những phương thức sản
xuất liên quan đến đặc tính của bản thân sản phẩm Những thủ tục đánh
giá sự phù hợp được mở rộng và những quy tắc được quy định chính xác
hơn Những điều khoản áp dụng cho chính quyền địa phương và những
khu vực phi chính phủ được thảo chiết tại vòng đàm phán Tokyo Quy
chế thủ tục đối với việc soạn thảo chấp nhận và áp dụng các tiêu chuẩn
được chấp thuận tự do bởi bất kì có quan tiêu chuẩn hóa nào của một
nước thành viên của WTO, và điều này được nêu lên trong phần phụ lục
của hiệp định
5.Những vấn đề đặt ra đối với ngành dệt may Việt Nam:
Quỏ trỡnh hội nhập kinh tế toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, khi
những rào cản thuế quan dần được xoá bỏ thỡ những quy định khắt khe
về tiêu chuẩn là một trong những rào cản quan trọng nhất đối với thương
mại Với Việt Nam, khi quỏ trỡnh hội nhập đang đến gần thỡ lộ trỡnh cho
việc xõy dựng một hệ thống hành lang về cỏc tiờu chuẩn kỹ thuật vẫn
chưa có được một hướng đi
Theo Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, hiện nay hệ
thống tiêu chuẩn Việt Nam gồm ba cấp: tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn
ngành và tiêu chuẩn cơ sở Với tổng số 7.000 tiêu chuẩn nhưng thực tế
chỉ có 5.800 tiêu chuẩn là áp dụng được Số cũn lại là những tiờu chuẩn
được ban hành theo tiêu chuẩn của Đông Âu và Liên Xô cũ-nhiều tiêu
chuẩn cũn thiếu, lạc hậu, mức độ hài hoà cũn chưa cao Trong 5.800 tiêu
chuẩn chỉ có 1.300 tiêu chuẩn là tương đương và có mức độ hài hoà với
các tiêu chuẩn quốc tế (chiếm 23%) Điều này cũng có nghĩa chúng ta
cũn phải nỗ lực rất nhiều mới cú thể đẩy mạnh việc hài hoà với tiêu chuẩn
thế giới khi chúng ta gia nhập WTO Quy định của WTO là hai năm sau
Trang 6gia nhập phải hoàn thành các điều khoản thực thi hiệp định thương mại
TBT/WTO trong đó có hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật
Hiện nay do có nhiều tiêu chuẩn quốc gia chưa phù hợp với tiêu
chuẩn quốc tế nên doanh nghiệp đang phải cùng lúc áp dụng nhiều tiêu
chuẩn: tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn quốc gia (đối với những danh mục
tiêu chuẩn bắt buộc phải công bố) và tiêu chuẩn của quốc gia có hàng
xuất khẩu Doanh nghiệp đang phải đối mặt với hàng rào kỹ thuật do các
nước lập ra, những tiêu chuẩn không phù hợp sẽ không được chấp nhận
Khi đó để hàng hoá lưu thông, doanh nghiệp sẽ phải chịu thêm rất nhiều
chi phí tốn kém cho các thử nghiệm, chứng nhận, công nhận tại các
nước này
Mặc dù Việt Nam đó tham gia vào nhiều thoả ước thừa nhận lẫn
nhau như: ASEAN EE MRA (về thiết bị điện và điện tử), APEC EE
MRA (thoả ước thừa nhận về đánh giá sự phù hợp thiết bị điện điện tử),
APEC tel MRA (thoả ước về sự thừa nhận lẫn nhau về đánh giỏ sự phự
hợp thiết bị viễn thụng), APLAC thoả thuận thừa nhận lẫn nhau về cụng
nhận phũng thớ nghiệm) nhưng cũng chỉ mang tính song phương và
khu vực Những hội thảo về xây dựng, điều chỉnh hệ thống tiêu chuẩn
quốc gia trước thềm hội nhập được đem ra bàn thảo nhiều lần, nhưng
ngay sự phân cấp trong hệ thống tiêu chuẩn hiện nay, cơ quan ban hành
tiêu chuẩn cũng thừa nhận việc phân định ranh giới giữa tiêu chuẩn ngành
và tiêu chuẩn quốc gia rất khó vỡ yờu cầu tiờu chuẩn kỹ thuật là gần
giống nhau Hàng năm ngân sách Nhà nước đề dành một khoản kinh phí
để các bộ, ngành ban hành ra các tiêu chuẩn ngành, cũn Bộ Khoa học
Cụng nghệ là nơi ban hành tiêu chuẩn quốc gia Bộ Khoa học Công nghệ
khi xây dựng tiêu chuẩn quốc gia đều dựa trên các tiêu chuẩn ngành hoặc
tiêu chuẩn ngành ban hành lấy tiêu chuẩn quốc gia làm căn cứ Như vậy
chúng ta phải mất kinh phí cho hai lần xây dựng tiêu chuẩn và doanh
nghiệp phải chịu thêm những chi phí thử nghiệm, công nhận trong khi
Trang 7quy trỡnh lại hoàn toàn giống nhau Tuy nhiờn vướng mắc lớn nhất của
chúng ta là khó có thể hoà hợp toàn bộ tiêu chuẩn quốc tế thành tiêu
chuẩn quốc gia Do trỡnh độ kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp trong
nước cũn chưa cao, những tiêu chuẩn quá cao được đưa vào làm tiêu
chuẩn quốc gia doanh nghiệp sẽ khú cú thể ỏp dụng Cũn nếu khụng tiến
tới hoà hợp ngang bằng với cỏc hệ thống tiờu chuẩn khu vực và quốc tế
thỡ ngay cả doanh nghiệp trong nước cũng khó mà cạnh tranh được khi
hàng ngoại nhập với những tiêu chuẩn về chất lượng và kỹ thuật cao tràn
vào
Thực thi hiệp định TBT/WTO cũng là để bảo vệ đối với hàng hoá
trong nước Vỡ trong điều 12 (hướng dẫn về thực thi hàng rào kỹ thuật
trong thương mại) WTO đó cú những quy định về ưu đói đặc biệt trong
áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các mặt hàng xuất khẩu từ nước thành
viên đang phát triển Nhưng xây dựng hệ thống này như thế nào để đảm
bảo nguyên tắc về công bằng, không phân biệt đối xử và minh bạch hoá
hoạt động này là vấn đề không đơn giản Quy trỡnh kiểm tra chất lượng
hàng hoá giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu phải không gây cản
trở quá mức cần thiết theo nguyên tắc thương mại
Sẽ khụng cũn là sớm nếu như theo đúng dự kiến chúng ta gia nhập
WTO vào năm 2005, việc hoàn thiện về hệ thống tiêu chuẩn mới có thể
thực thi được quy định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại Việc thiết
lập một diễn đàn để phản ánh ý kiến của cỏc nhà xõy dựng tiờu chuẩn ở
cả ba cấp và doanh nghiệp và rà soỏt lại tất cả những văn bản và quy
phạm pháp luật để xây dựng một lộ trỡnh cụ thể về hoạt động này là rất
cần thiết
Trang 8Sau khi hiệp định về hợp tác sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may
giữa chính phủ Việt Nam và Liên Xô cũ được ký kết ngày
19/05/1987,ngành dệt may cụng nghiệp của Việt Nam cú những thay đổi
đáng kể theo hướng sản xuất hàng xuất khẩu nhưng chủ yếu là xuất khẩu
sang các nước trong khối Hội đồng tương trợ kinh tế.Vỡ vậy,trong những
năm 1990-1991,do tác động của những thay đổi về chính trị xó hội ở
những nước này,xuất khẩu hàng dệt may VN suy giảm nghiêm trọng.Tuy
nhiên,ngành dệt may VN đó cú những nỗ lực đáng kể vượt qua giai đoạn
khó khăn này để bước sang giai đoạn phát triển mới từ năm 1992 – mở
rộng thị trường xuất khẩu sang các nước trong khu vực và thế giới.Đặc
biệt là từ sau Hiệp định hàng dệt may ký với EU ngày 15/12/1992 và cú
hiệu lực từ ngày 1/1/1993 xuất khẩu hàng dệt may của VN đó tăng trưởng
nhanh chóng,đưa dệt may trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất nhập
khẩu đứng thứ hai (sau dầu thô) của VN từ năm 1995 và có kim ngạch
xuất khẩu cao nhất từ năm 1998.Với tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn
43,5%/năm trong những năm 1991-1997 so với tốc độ tăng trưởng bỡnh
quõn 27,5%/năm của kim ngạch xuất khẩu của cả nước,kim ngạch xuất
khẩu hàng may chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu
Tuy nhiờn với trang thiết bị cũn lạc hậu,chủng loại cũn nghốo
nàn,hàng dệt may VN vẫn chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế
giới.Việt Nam mới xuất khẩu được một số loại vải thô,bải cotton,dệt kim
… sang Nhật,Canada và EU với kim ngạch không đáng kể.Sản phẩm dệt
Trang 9xuất khẩu của VN tỏ ra chưa có sự phát triển thích ứng với đũi hỏi về chất
lượng,mẫu mó,chủng loại ngày càng cao của thị trường thế giới
Hàng dệt may VN cũng không đáp ứng được yêu cầu về nguyên
liệu cho may xuất khẩu.Hiện nay chúng ta vẫn phải nhập vải may gia
công để phục vụ cho may xuất khẩu.Chỉ tính riêng giá trị vải nhập khẩu
đó lờn tới trờn dưới 50% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may,chưa kể đến
các loại phụ liệu may khác mà VN cũng phải nhập khẩu phần lớn từ các
nước thuê gia công
Việc gia công cho nước ngoài không những chỉ có giá trị gia tăng
thấp mà cũn khụng ổn định,phụ thuộc vào giá gia công và bị động vào
nguồn cung cấp nguyờn vật liệu.Chớnh vỡ vậy,cuộc khủng hoảng kinh tế
khu vực đó ảnh hưởng nghiêm trọng tới xuất khẩu hàng dệt may của
VN.Vỡ vậy kim ngạch xuất nhập khẩu hàng dệt may năm 1998 chỉ đạt
1,35 tỷ USD so với kế hoạch đặt ra là 1,6-1,7 tỷ hồi đầu năm
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, bốn tháng đầu năm nay xuất
khẩu hàng dệt may đạt 1,744 tỷ USD, tăng 38,7% so với cùng kỳ năm
Trang 10ngoái, là một trong những ngành hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
"nóng"
Trong các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục
dẫn đầu, với tổng giá trị gần 432 triệu USD, tăng 35,7% so với cùng kỳ
năm ngoái, chiếm 54,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Thị
trường EU đạt khoảng 172 triệu USD, Nhật Bản đạt trên 89,5 triệu USD
Hiện, ngành dệt may được xem là ngành công nghiệp có lợi thế của
Việt Nam Theo quy hoạch điều chỉnh ngành dệt may đến năm 2015, tầm
nhỡn 2020 mới được Bộ Công nghiệp xây dựng, thời gian tới dệt may sẽ
được tập trung đầu tư phát triển thành một trong những ngành công
nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu
Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngành dệt may cho giai đoạn từ
nay đến năm 2010 khoảng 3 tỷ USD, trong đó, vốn đầu tư phát triển
nguyên phụ liệu dệt khoảng 180 triệu USD; các dự án dệt nhuộm trên 2,
27 tỷ USD; các dự án may 443 triệu USD; các trung tâm thương mại và
nghiên cứu triển khai đào tạo vào khoảng 200 triệu USD
Số liệu xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang một số nước hết quý
I/2006
Tên nước ĐVT Thỏng 3/2006
Trị giỏ (USD)
3 thỏng/2006 Trị giỏ (USD)
Trang 11Tõy Ban Nha USD 5.443.131 21.212.859
Trung Quốc USD 2.637.829 5.294.074
Tổng cộng USD 489.029.801 1.258.290.160
( Nguồn : Trung tâm thông tin Thương mại )
1.2.Đặc điểm,năng lực của ngành dệt may VN:
Năng lực sản xuất: Theo số liệu của tổng công ty dệt may,năng lực
sản xuất của ngành dệt may được đánh giá như sau:
Năng lực sản xuất một số sản phẩm ngành dệt may VN
Chỉ tiờu Đơn vị tính DN trong
Trang 12Các cơ sở dệt may tập trung chủ yếu vào ở hai khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long và Đông Nam Bộ - chiếm khoảng 50-60% sản
lượng.Vùng đồng bằng Sông Hồng và các tỉnh phụ cận chiếm 30-40%
sản lượng.Cũn lại là Vựng Duyờn hải miền trung – khoảng 10% sản
lượng
Một số sản phẩm chủ yếu: Trong những năm qua tỡnh hỡnh sản
xuất của ngành dệt may đặc biệt là ngành may công nghiệp phục vụ xuất
khẩu đó cú những tiến bộ đáng kể.So với năm 1991,sản lượng sợi dệt
năm 1997 tăng 73,7% và sản lượng hàng may mặc tăng 101,1%.Tuy
không tăng nhanh bằng sản xuất sợi và hàng may mặc vải,sản lượng vải
lụa các loại cũng tăng 7,1% với sự đóng góp đáng kể của các xí nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.Trong khi đó,mặc dù có tiềm năng tiêu thụ nội địa
cũng như xuất khẩu cao,sản xuất các sản phẩm dệt kim không mấy phát
triển do không kịp thời đổi mới về thiết bị và công nghệ phù hợp với yêu
cầu đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm
Tỡnh hỡnh tăng trưởng giá trị sản xuất: Từ năm 1993,sau khi
ngành dệt may chuyển hướng và mở rộng thị trường giá trị sản lượng
ngành đó tăng vọt.Tuy nhiên tốc độ tăng trương ngành dệt vẫn cũn thấp
làm cho giỏ trị tổng sản lượng ngành dệt may thấp hơn tốc độ gia tăng giá
trị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp.Mặt khác sự mất cân đối này
cũng kỡm hóm tục độ phát triển của ngành may mặc do đầu vào của
ngành này phụ thuộc vào ngành dệt
Về cơ cấu sản phẩm:
Trong những năm gần đây,sản phẩm ngành dệt may đó dần được
đa dạng hóa.Trong khâu sản xuất sợi,tỷ trọng các mặt hàng polyeste pha
bông được với nhiều tỷ lệ khác nhau tăng nhanh,các loại sợi polyeste
100% cũng bắt đầu được sản xuất,các loại sản phẩm
cotton/visco,cotton/acrylic, wool/acrylic đó bắt đầu được đưa ra thị
trường.Trong khâu dệt vải,nhiều mặt hàng dệt thoi mới chất lượng cao
Trang 13đáp ứng được yêu cầu phục vụ cho may xuất khẩu sang EU và Nhật
Bản.Cơ cấu những sản phẩm may công nghiệp đó cú những thay đổi đáng
kể,từ chỗ chỉ may được những loại quần áo bảo hộ lao động,quần áo
thường dùng ở nhà,đồng phục học sinh…đến nay ngành may đó cú những
sản phẩm chất lượng cao,đáp ứng được yêu cầu của những nhà nhập khẩu
khó tính:quần áo thể thao,đồ jeans.Sản xuất phụ liệu may cũng có những
tiến bộ nhất định vè cả chủng loại và chất lượng.Những sản phẩm như chỉ
khâu Tootal Phong Phú,khóa kéo Nha Trang,mex Việt Phát,bông thấm
Việt Tiến…đủ tiêu chuẩn chất lượng cho khâu may xuất khẩu tuy sản
lượng cũn thấp
Bên cạnh đó do thiết bị chuyên dùng hiện đại cũn ớt,phải dựng
nhiều thao tác thủ công nên năng suất của ngành may Việt Nam khá thâp
so với các nước.Thêm vào đó,hệ số sử dụng năng lực thiết bị trong ngành
dệt may rất thấp,chỉ đạt 40-60% năng lưc thiết bị hiện có tùy loại sản
phẩm
Thị phần hàng dệt may VN: Theo thống kê của WTO cho năm 2002,
thị phần của Việt Nam cho hàng dệt là 67 triệu đô-la trong Liên hiệp châu
Âu (0,1% kim ngạch nhập khẩu, hạng 35), 4 triệu đô-la tại Canada (0,1%,
hạng 26) và 84 triệu tại Nhật (1,9%, hạng 9) Về hàng may mặc, thị phần
của Việt Nam là 39 triệu tại Canada (1%, hạng 18), 981 triệu tại Mỹ
(1,5%, hạng 23), 645 triệu trong Liên hiệp châu Âu (0,8%, hạng 19), và
471 triệu (2,7%, hạng 3) tại Nhật Thành tích của Việt Nam như thế trội
nhất là ở Nhật, nhất là cho hàng may mặc chỉ sau mỗi Trung Quốc và
Liên hiệp châu Âu, và trước cả Mỹ! Phải nói là Nhật là nước phi hạn
ngạch và một trong những bạn hàng đầu tiên của Việt Nam
Thị trường cho ngành dệt may VN
- Thị trường trong nước: chưa đáp ứng đủ nhu cầu nội địa về số
lượng và chất lượng Trừ sản lượng vải xuất khẩu (giá trị thấp), số cũn lại
Trang 14chưa đủ bỡnh quõn 3m/người/ năm Đến năm 2010 mức tiêu dùng vải sẽ
tăng gấp 6 lần hiện nay
- Thị trường nước ngoài: Công nghiệp dệt thành phố Hồ Chí Minh
đó thõm nhập vào cỏc thị trường sau đây:
+ Thị trường SNG và các nước Đông âu: không cần quota, yêu cầu
chất lượng vừa phải phù hợp với trỡnh độ sản xuất của Việt Nam Mức
tiêu dùng vải ở thị trường này cũn thấp Đây là thị trường cũn tiềm năng,
Việt Nam có nhiều thuận lợi để thõm nhập
+ Thị trường EU: Hiệp định hợp tác thương mại và Hiệp định tránh
đánh thuế 2 lần đó ký giữa Việt Nam - EU đó tạo điều kiện cho hàng hóa
Việt Nam xuất khẩu sang EU Danh mục hàng may mặc xuất khẩu sang
EU rất đa dạng và đang ngày càng mở rộng
+ Thị trường Mỹ : Xuất hiện ngày càng nhiều những khách hàng rất
lớn đang đến VN để chuẩn bị cho thị trường Mỹ trong thời gian sắp đến
Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới với mức nhập
khẩu năm 2000 vừa qua là gần 73 tỉ USD Sau sự kiện 11/09 các đơn
hàng Mỹ ký kết với Trung Đông đó bị huỷ bỏ và chuyển hướng sang thị
trường Việt Nam Đây cũng là cơ hội cho ngành dệt may của Việt Nam
thâm nhập thị trường Mỹ
1.3.Nhận định chung về tỡnh hỡnh xuất khẩu trong quý I/2006:
Trong 3 tháng đầu năm 2006, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
của ta sang tất cả các nước ước đạt 1.244 triệu USD, tăng 31,2% so với
cùng kỳ năm 2005, đạt 23,47% kế hoạch năm 2006, trong đó tháng
3/2006, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 450 triệu USD, tăng 47,5% so với
tháng 2/2006 và tăng 28,2% so với cùng kỳ năm 2005 Như vậy, với nhịp
độ tăng trưởng xuất khẩu như hiện nay, dự báo khả năng thực hiện kế
hoạch xuất khẩu 5,3 tỷ USD hàng dệt may trong năm 2006 có thể là hiện
thực.Trong hai tháng đầu năm 2006, xuất khẩu sang các thị trường chủ
yếu tăng trưởng rất tốt:
Trang 15- Thị trường Hoa Kỳ đạt 431,886 triệu USD, tăng 35,7% so với cùng kỳ
năm 2005, chiếm 54,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang tất
cả các nước
- Thị trường EU đạt khoảng 171,802 triệu USD, tăng 72,3% so với cùng
kỳ năm 2005, chiếm 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu
- Thị trường Nhật Bản đạt khoảng 89,573 triệu USD, tăng khoảng 11,7%
so với năm 2005
1.4.Tỡnh hỡnh xuất khẩu sang Hoa Kỳ:
Thị trường Mỹ được đánh giá là thị trường xuất khẩu hàng dệt may
có nhiều tiềm năng của Việt Nam.Sau quyết định bỏ cấnm vận VN của
Mỹ được thông qua ngày 3/2/1994,mặc dù chưa được hưởng ưu đói thuế
quan phổ cập (GSP) và tối huệ quốc(MFN) nhưng các doanh nghiệp VN
đó bắt đầu tiếp cận được với thị trường Mỹ.Kim ngạch xuất khẩu hàng
dệt may của VN sang Mỹ tuy cũn thấp nhưng có tốc độ tăng trưởng cao
VN chủ yếu xuất sang Mỹ một số mặt hàng dệt thoi- găng tay,sơ
mi trẻ em…(khoảng 8,5% tổng kim ngạch) và hàng dệt kim – sơ mi trẻ
em,sơ mi nam,nữ, găng dệt kim,áo len,…Mặc dù Mỹ có nhu cầu về hàng
Trang 16dệt kim lớn nhưng VN chưa xuất khẩu được nhiều hàng dệt kim sang thị
trường này do mức chênh lệch về thuế suất đối với hàng các nước được
hưởng GSP và MFN cao cũng như sự khác biệt trong tiêu chuẩn về sợi
dệt và qui trỡnh rap sản phẩm
Năm 1998,trong khi nhiều thị trường xuất khẩu phi hạn ngạch ở
VN giảm mạnh thỡ thị trường Mỹ khá ổn định và đạt kim ngạch xuất
khẩu 26,4 triệu USD trong năm 1998
Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của VN sang thị
trường Mỹ cũn rất nhỏ bộ,chỉ đạt 26,4 triệu USD năm 1997 so với tổng
kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ là 44,646 triệu USD,trong
khi ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ là 5998 triệu USD (13,4%)
,Mexico – 5246 triệu USD (9,9%),Hồng Công – 3979 triệu USD
(8,9%)…
Thỏng 4/2003,Mỹ buộc Việt Nam miền cưỡng phải ký một thỏa
thuận về hàng dệt may song phương và hiệp định này bắt đầu có hiệu lực
từ ngày 1/5/2003, trong đó áp đặt hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may từ
Việt Nam sang thị trường Mỹ Điều này đó tỏc động mạnh tới nhiều công
ty dệt may đặt trụ sở tại Việt Nam Theo các điều khỏan trong thỏa thuận,
tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ chỉ giới hạn ở
mức khoảng 1,7 tỉ USD/năm Nếu không có thỏa thuận trên, kim ngạch
xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ có thể sẽ vượt quá hạn
ngạch trần 1,7 tỉ USD
Năm 2002, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
sang Mỹ tăng 1.800% lên 952 triệu USD so với 49 triệu USD năm 2001
và việc Mỹ áp đặt hạn ngạch là do có nhiều đơn kiện từ ngành công
nghiệp may mặc nhỏ ở Mỹ rằng hàng nhập khẩu từ Việt Nam giá rẻ hơn
Chi phí lao động thấp đó khiến cỏc cụng ty dệt may Việt Nam cú được lợi
thế cạnh tranh lớn hơn so với các công ty Mỹ
Trang 17Thỏa thuận song phương về hàng dệt may giữa Mỹ và Việt Nam sẽ
có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2004, nhưng có được thể tiếp tục trên cơ
sở hàng năm cho tới khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO) vỡ đến cuối năm 2004, các nước thành viên WTO sẽ phải bói
bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may giữa các nước khi Thỏa thuận may
mặc và vải sợi 10 năm hết hiệu lực Việt Nam đặt mục tiêu gia nhập
WTO vào năm 2005
Tháng 5 vừa qua, VN và Hoa Kỳ tiếp tục đàm phán về việc VN gia
nhập WTO Một trong những vấn đề đó là Hoa Kỳ sẽ áp dụng biện pháp
tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may sau khi Việt Nam gia nhập WTO như
đó ỏp dụng đối với Trung Quốc Trong phiên đàm phán cuối cùng này,
chúng ta không đạt được thỏa thuận không áp đặt biện pháp tự vệ đặc biệt
thỡ cũng cú nguy cơ hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu tới một chừng
mực nào đó sẽ bị áp đặt hạn ngạch trở lại giống như Trung Quốc
1.5.Tỡnh hỡnh xuất khẩu sang EU:
Các nước EU là thị trương xuất khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch
lớn nhất của Việt Nam.Từ năm 1980,VN đó xuất khẩu hàng dệt may sang
một số nước EU như Đức,Pháp…Xuất khẩu hàng dệt may của VN sang
EU đặc biệt phát triển mạnh từ sau Hiệp định buôn bán hàng dệt may VN
– EU được ký kết ngày 15/12/1992 và được thực hiện từ năm 1993 với
tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn trờn 23%/năm trong 5 năm 1993-1997
Hiệp định buôn bán hàng dệt may VN – EU giai đoạn 1998-2000
được ký kết ngày 17/11/1997 cho phộp nõng kim ngạch xuất khẩu hàng
dệt may từ VN sang EU lờn 40% so với giai đoạn 1993-1997 với mức
tăng trưởng từ 3-6%/năm
Các nước EU nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của VN là Đức
(40-42%),Pháp (13-15%)…Cùng với việc mở rộng quan hệ buôn bán với
các nước EU khác như Phần Lan,Thụy Điển,Đan Mạch…tỷ trọng nhập
Trang 18khẩu của các nước này tăng lên trong khi tỷ trọng của các nước nêu trên
có xu hướng giảm xuống
Tỷ trọng nhập khẩu hàng dệt may của các nước EU
Mặt hàng áo jacket luôn chiếm vị trí chủ yếu trong cơ cấu hàng
xuất khẩu dệt may sang EU.Năm 1997,VN đó xuất khẩu sang EU gần
11,7triệu chiếc, tăng hơn gần 5 triệu chiếc(hay 72%) so với năm
1993,chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU
Trung Quốc là một đối thủ mạnh nhất trong xuất khẩu hàng may
mặc của Việt Nam tại thị trường EU, sau đó là ấn Độ, một số nước khác ở
châu á và các quốc gia vùng Địa Trung Hải Theo các chuyên gia kinh tế
dự báo, xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc sẽ tăng gấp đôi trong
vũng 5 năm tới, giá hàng dệt may của Trung Quốc thấp hơn giá của các
nước EU từ 50-70%, thấp hơn giá của ấn Độ 30% nên đó làm chủ thị
trường này Trung Quốc đó trở thành nhà cung cấp hàng may mặc số 1
cho thị trường EU với số lượng rất lớn, giá thành hạ, chất lượng tốt và đa
dạng hoá sản phẩm Xuất khẩu hàng may mặc của một số quốc gia được
thể hiện ở bảng dưới đây:
Trang 19Bảng: Xuất khẩu hàng may mặc vào thị trường EU(15) năm 2002
Đơn vị : Triệu USD
Quốc gia Giỏ trị Thị phần
(%)
Tốc độ tăng hàng năm (%)
Nguồn :Báo cáo của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2003
Qua bảng trên ta thấy, các quốc gia xuất khẩu hàng may mặc vào
thị trường EU luôn đạt được giá trị và tốc độ tăng hàng năm cao, đứng
đầu là Trung Quốc, tiếp theo là Thổ Nhĩ Kỳ, Banglades, ấn Độ, Pakistan
và Campuchia - một quốc gia mới nổi lên về xuất khẩu hàng may mặc
cũng đạt được tăng trưởng về xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường
EU với tốc độ đáng kinh ngạc Trong khi đó, Việt Nam năm 2001, kim
ngạch xuất khẩu giảm 3%, năm 2002 tiếp tục giảm 6% và năm 2004 hy
vọng có thể có sự cải thiện chút ít nhờ vào Hiệp định hàng dệt may giữa
Việt Nam và EU ký đầu năm 2003 Về thị phần xuất khẩu, đứng đầu là
Trung Quốc chiếm 11,5%, đạt được mức độ ảnh hưởng rộng khắp EU,
Trang 20Thổ Nhĩ Kỳ có lợi thế là có vị trí địa lý gần EU, do thời gian cung cấp
hàng ngắn, chớ phớ giảm, nắm bắt nhanh chúng những cơ hội kinh
doanh, nên dễ dàng đạt được thị phần lớn hơn và đứng vị trí thứ hai; sau
đó đến Banglades, ấn Độ Trong tương lai gần, ấn Độ sẽ vượt lên trên
Banglades do ấn Độ đang đẩy mạnh đầu tư cho ngành Dệt-May của mỡnh
và tập trung xuất khẩu vào hai thị trường chính là thị trường Hoa Kỳ và
thị trường EU Với Việt Nam, thị phần hàng may mặc xuất khẩu rất nhỏ
bé, chỉ chiếm 0,8% thị trường EU và chỉ hơn Campuchia 0,3% Nếu như
trong những năm tới, chúng ta không đạt được sự gia tăng trong kim
ngạch xuất khẩu, thỡ chắc chắn thị phần của hàng may mặc Việt Nam sẽ
thu hẹp lại bằng hoặc nhỏ hơn so với Campuchia
Sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trờn thế giới cũn thấp
ngay cả trong điều kiện được bói bỏ hạn ngạch Trong chớn thỏng đầu
năm, mặc dù đó được dỡ bỏ hạn ngạch nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng
dệt may của Việt Nam vào EU lại giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2004,
trong đó mức tăng trưởng của các nước khác vào EU rất lớn
2.Những rào cản kỹ thuật hàng dệt may gặp phải trên hai thị trường
trên
Hoa Kỳ và EU là hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam
nói chung và ngành dệt may Việt Nam nói riêng.Đây là hai thị trường khá
“khó tính” không chỉ về phía người tiêu dùng mà cũn ở những tiờu chuẩn
kỹ thuật khắt khe từ phớa nhà nhập khẩu.Về nhập khẩu hàng dệt may thỡ
những nước thành viên EU là bạn hàng lớn của Việt Nam đều là những
nước đang phát triển Những yêu cầu về kỹ thuật của những nước này và
Hoa Kỳ có nhiều điểm chung về yêu cầu chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn
về cơ sở hạ tầng sản xuất, yêu cầu về nhón mỏc, …Tất nhiờn mỗi thị
trường cũng đặt ra những tiêu chuẩn riêng tuy nhiên đó không là những
yếu tố chính ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu Dưới đây em chỉ trỡnh
bày những tiờu chuẩn phổ biến nhất trờn cả hai thị trường Hoa Kỳ và EU
Trang 21 Yêu cầu về chất lượng sản phẩm:
- Tính đồng nhất: Nhà nhập khẩu Hoa Kỳ yêu cầu chất lượng sản phẩm
phải đồng nhất 100% về chất lượng theo đúng sản phẩm mẫu đó được
duyệt trên hợp đồng thương mại.Nhà nhập khẩu Mỹ sẽ không thanh toán
cho các phế phẩm.Chất lượng sản phẩm không đồng nhất có thể dẫn tới
hủy bỏ hợp đồng
- Tính đổi mới thích nghi:Nhu cầu về mẫu mó của thị trường Hoa Kỹ
thay đổi nhanh chóng.Trong các đơn hàng các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ có
thể yêu cầu những thay đỏi nhỏ trong sản phẩm và yêu cầu đối tác phải có
thay đổi thích nghi nhanh chóng để cho ra những sản phẩm đồng nhất
- Cụng nghệ phự hợp: Nhà nhập khẩu Hoa Kỳ mong muốn ỏp dụng cụng
nghệ mới trong quỏ trỡnh sản xuất từ thụng tin cơ bản,xử lý đơn
hàng,quản lý thời gian Những nhà mỏy cú cụng nghệ cũ sẽ khụng được
ưa thích
- Đóng gói toàn bộ: Một số nhà nhập khẩu Hoa Kỳ mong muốn các sản
phẩm “đóng gói toàn bộ”.Chỉ những nhà máy có liên kết dọc hoặc những
nhà máy có quan hệ lịch sử với các nhà cung cấp vải và nguyên liệu mới
tập trung vào những đơn hàng này
Yêu cầu về tính đạo đức của sản phẩm:
- Đây là một yêu câu hết sức quan trọng của nhà nhập khẩu Hoa
Kỳ.Những sản phẩm được sản xuất ra bởi các hành vi bóc lột sức lao
động trẻ em,vi phạm nhân quyền đều bị cấm ở Hoa Kỳ.Thông thường khi
đi tỡm hiểu đối tác,các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ thường rất quan tâm đến
cơ sở vật chất ,môi trường sản xuất
- Ngoài những cơ sơ thông thường như phân xưởng,phũng làm việc họ
cũn tỡm hiểu nơi vệ sinh,nơi ăn uống,thức ăn uống ,điều kiện làm việc
giờ giấc nghỉ ngơi của người lao động…Các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ đánh
giá cao các nhà sản xuất có được các chứng nhận về tiêu chuẩn lao động
như SA8000,WRAP
Trang 22 Yờu cầu về dỏn nhón chớnh xỏc:
- Những văn bản pháp luật và quy định kiểm soát hoạt động sản xuất và
dán nhón cỏc sản phẩm dệt may gồm cú: quy định về nước xuất xứ,đạo
luật dệt FTC,đạo luật về nhận dạng các sản phẩm len sợi TFPIA,đạo luật
về dán nhón cỏc sản phẩm len WPLA, đạo luật về dán nhón cỏc sản phẩm
FPLA,dỏn nhón cẩn thận cỏc sản phẩm quần ỏo dệt và một số loại sản
phẩm nhất định
- Yêu cầu đối với nhón hiệu:phải được làm bằng vải và đính kèm sản
phẩm cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng,phải được
ghi bằng ngôn ngữ tiếng Anh
- Dỏn nhón nước xuất xứ
- Tên sợi, phải là loại sợi được công nhận bởi Ủy Ban TM liên bang hoặc
tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế(ISO)
- Yờu cầu về tỷ lệ sợi
- Yờu cầu về tờn:tờn đầy đủ mà công ty sử dung trong kinh doanh.Số
hiệu đăng ký nhận dạng hoặc số hiệu đăng ký nhận dangh RN do FTC
cấp
- Yêu cầu về hướng dẫn sử dụng
3.Cơ hội và thách thức đối với hàng dệt may VN trước ngưỡng cửa
gia nhập WTO:
3.1.Cơ hội và thách thức từ việc ký và thực hiện hiệp định TBT:
Cửa vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đang rộng mở, hàng
may mặc VN cũng đứng trước cơ hội được xuất tự do sang Mỹ Song, tận
dụng được cơ hội này không phải đơn giản bởi doanh nghiệp VN thiếu
những nhà quản trị giỏi, thiếu kỹ năng tiếp cận thị trường, trong khi năng
suất lao động cũn thấp.Vào WTO đồng nghĩa với việc VN sẽ phải thực
hiện các cam kết,trong đó có hiệp định TBT về rào cản kỹ thuật trong
thương mại.Những quy định của TBT vừa mở ra những cơ hội cho VN