1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệp định rào cản kỹ thuật - thách thức dối với hàng dệt may Việt Nam

45 1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệp định rào cản kỹ thuật - thách thức đối với hàng dệt may Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 556,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệp định rào cản kỹ thuật - thách thức dối với hàng dệt may Việt Nam

Trang 1

Lời nói đầu

Nền kinh tế thế giới ở cuối thập niên cuối của thế kỷ 20 và những năm

đầu của thế kỷ 21, xu hướng toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ Quá trình

toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và sự tác động qua lại về thương mại

giữa các nước đã tạo thêm những xung lực mới cho hội nhập kinh tế quốc

tế Các nước ngày càng ký với nhau những thoả thuận, hiệp định, hiệp

ước về tự do hoá thương mại Khi thị trường được mở rộng thì cạnh tranh

trong hoạt động kinh tế trở nên gay gắt giữa các nước Để bảo vệ những

nhà sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của các công ty nước ngoài và

hàng hóa nhập khẩu rẻ, các nước đặt ra hàng rào thuế quan và phi thuế

quan nhằm giảm bớt sự xâm nhập của hàng hoá nước ngoài.Tuy vậy,

ngày nay những biện pháp thuế quan ngày càng có vai trò giảm dần

Trong khi đó những rào cản phi thuế quan được các nước sử dụng một

cách tinh vi hơn

Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển cao, mức sống được nâng

lên thì yêu cầu cao đặt ra đối với các sản phẩm sản xuất nói chung và các

sản phẩm nhập khẩu nói riêng mang tính tất yếu khách quan Tuy nhiên

nhiều nước đã quá lạm dung hệ thống tiêu chuẩn đặt ra với hàng hoá, coi

nó như là một công cụ, cùng với các công cụ bảo hộ mậu dịch khác để

bảo hộ thị trường nội địa Những biện pháp này gọi là rào cản kỹ thuật

trong thương mại quốc tế

Do đây là một vấn đề khá rộng nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những

sai sót, nhưng chúng em cũng xin góp một phần công sức nhỏ bé trong

việc nghiên cứu đề tài: “Hiệp định rào cản kỹ thuật- thách thức đối với

hàng dệt may Việt Nam trước ngưỡng cửa gia nhập WTO” Chúng

em mong được sự góp ý của các thầy cô để đề tài thêm hoàn thiện Chúng

em

xin chân thành cảm ơn

Trang 2

4 Nội dung cơ bản

5.Những vấn đề đặt ra đối với hàng dệt may Việt Nam

II Cơ hội và thách thức của hiệp định TBT đối với hàng dệt may Việt

Nam trước ngưỡng cửa WTO

1 Tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam( từ 1994-2000)

1.1.Tình hình kim nghạch xuất nhập khẩu

1.2.Đặc điểm, lợi thế cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam

1.3.Nhận định chung về tình hình xuất khẩu 2006

1.4.Tình hình xuất khẩu sang Hoa Kỳ

1.5.Tình hình xuất khẩu sang EU

2 Những rào cản hàng dệt may gặp phải trên hai thị trường trên

3 Cơ hội và thách thức đối với hàng dệt may Việt Nam trước

ngưỡng cửa gia nhập WTO

3.1 Cơ hội và thách thức từ việc kí kết hiệp định TBT

3.2 Cơ hội và thách thức trên từng thị trường

III Các biện pháp nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu trong việc thực

hiện hiệp định hướng tới WTO

1.Các biện pháp từ phía nhà nước

1.1 Nhiệm vụ

1.2 Các biện pháp

2 Các biện pháp từ phía doanh nghiệp

Trang 3

2.1 Trên thị trường EU

2.2 Trên thị trường Hoa Kì

Nội dung

I Hiệp định rào cản kỹ thuật( Technical Barriers To Trade - TBT)

1.Khái niệm rào cản kỹ thuật

Đây là hình thức bảo hộ mậu dịch thông qua việc nước nhập khẩu đưa ra

các yêu cầu về tiêu chuẩn đối với hàng hoá nhập khẩu để được thông

quan vào thị trường nội địa

Các chỉ tiêu có thể là những thông số vận hành của máy móc, về vệ sinh

an toàn thực phẩm, về bảo vệ môi trường sinh thái, điều kiện lao

động…Nếu hàng nhập khẩu không đạt một trong các tiêu chuẩn trên đều

không được nhập khẩu vào nội địa

Trang 4

2.Mục đích của hiệp định

Hiệp định TBT được đưa ra nhằm thúc đẩy các mục tiêu của GATT năm

1994, đó là:đưa ra các điều kiện chống kì thị đối với hàng nhập khẩu về

các tiêu chuẩn kĩ thuật so với hàng hoá cùng loại nhập khẩu từ các nước

khác và hàng sản xuất nội địa nhằm hạn chế thương mại

Hiệp định TBT cũng nhằm tăng cường việc xây dựng các tiêu chuẩn quốc

tế và các hệ thống đánh giá sự phù hợp có thể mang lại trong vấn đề này

Hiệp định đảm bảo các tiêu chuẩn và văn bản pháp quy kĩ thuật bao gồm

cả các yêu cầu về bao gói, ghi dấu, ghi nhãn và các qui trình đánh giá sự

phù hợp với các tiêu chuẩn và văn bản pháp qui kĩ thuật đó không tạo ra

trở ngại không cần thiết đối với thương mại quốc tế

3.Chủ thể và khách thể của hiệp định

Chủ thể của hiệp định là các quốc gia, chính phủ tham gia vào vòng đàm

phán Urugoay về thương mại Đa biên

Tất cả các sản phẩm, bao gồm sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp là

đối tượng thi hành các điều khoản của hiệp định này

4.Nội dung cơ bản của hiệp định

Hiệp định này sẽ mở rộng và làm rõ những điều khoản đã đạt được trong

hiệp định rào cản kĩ thuật tại vòng đàm phán Tokyo Hiệp định đảm bảo

rằng những tiêu chuẩn kĩ thuật cũng như những thủ tục chứng thực và

kiểm tra không tạo ra những cản trở không cần thiết đối với thương mại

Tuy nhiên, hiệp định công nhận các nước có quyền thiết lập sự bảo hộ ở

mức độ phù hợp và có quyền đưa ra những biện pháp cần thiết để đảm

bảo những sự bảo hộ này được thực hiện Vì vậy hiệp định khuyến khích

Trang 5

các nước sử dụng những tiêu chuẩn quốc tế phù hợp, nhưng không buộc

các nước thay đổi mức độ bảo hộ do sự tiêu chuẩn hóa Điểm mới của

hiệp định đã sửa lại là nó bao gồm cả quá trình và những phương thức sản

xuất liên quan đến đặc tính của bản thân sản phẩm Những thủ tục đánh

giá sự phù hợp được mở rộng và những quy tắc được quy định chính xác

hơn Những điều khoản áp dụng cho chính quyền địa phương và những

khu vực phi chính phủ được thảo chiết tại vòng đàm phán Tokyo Quy

chế thủ tục đối với việc soạn thảo chấp nhận và áp dụng các tiêu chuẩn

được chấp thuận tự do bởi bất kì có quan tiêu chuẩn hóa nào của một

nước thành viên của WTO, và điều này được nêu lên trong phần phụ lục

của hiệp định

5.Những vấn đề đặt ra đối với ngành dệt may Việt Nam:

Quỏ trỡnh hội nhập kinh tế toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, khi

những rào cản thuế quan dần được xoá bỏ thỡ những quy định khắt khe

về tiêu chuẩn là một trong những rào cản quan trọng nhất đối với thương

mại Với Việt Nam, khi quỏ trỡnh hội nhập đang đến gần thỡ lộ trỡnh cho

việc xõy dựng một hệ thống hành lang về cỏc tiờu chuẩn kỹ thuật vẫn

chưa có được một hướng đi

Theo Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, hiện nay hệ

thống tiêu chuẩn Việt Nam gồm ba cấp: tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn

ngành và tiêu chuẩn cơ sở Với tổng số 7.000 tiêu chuẩn nhưng thực tế

chỉ có 5.800 tiêu chuẩn là áp dụng được Số cũn lại là những tiờu chuẩn

được ban hành theo tiêu chuẩn của Đông Âu và Liên Xô cũ-nhiều tiêu

chuẩn cũn thiếu, lạc hậu, mức độ hài hoà cũn chưa cao Trong 5.800 tiêu

chuẩn chỉ có 1.300 tiêu chuẩn là tương đương và có mức độ hài hoà với

các tiêu chuẩn quốc tế (chiếm 23%) Điều này cũng có nghĩa chúng ta

cũn phải nỗ lực rất nhiều mới cú thể đẩy mạnh việc hài hoà với tiêu chuẩn

thế giới khi chúng ta gia nhập WTO Quy định của WTO là hai năm sau

Trang 6

gia nhập phải hoàn thành các điều khoản thực thi hiệp định thương mại

TBT/WTO trong đó có hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật

Hiện nay do có nhiều tiêu chuẩn quốc gia chưa phù hợp với tiêu

chuẩn quốc tế nên doanh nghiệp đang phải cùng lúc áp dụng nhiều tiêu

chuẩn: tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn quốc gia (đối với những danh mục

tiêu chuẩn bắt buộc phải công bố) và tiêu chuẩn của quốc gia có hàng

xuất khẩu Doanh nghiệp đang phải đối mặt với hàng rào kỹ thuật do các

nước lập ra, những tiêu chuẩn không phù hợp sẽ không được chấp nhận

Khi đó để hàng hoá lưu thông, doanh nghiệp sẽ phải chịu thêm rất nhiều

chi phí tốn kém cho các thử nghiệm, chứng nhận, công nhận tại các

nước này

Mặc dù Việt Nam đó tham gia vào nhiều thoả ước thừa nhận lẫn

nhau như: ASEAN EE MRA (về thiết bị điện và điện tử), APEC EE

MRA (thoả ước thừa nhận về đánh giá sự phù hợp thiết bị điện điện tử),

APEC tel MRA (thoả ước về sự thừa nhận lẫn nhau về đánh giỏ sự phự

hợp thiết bị viễn thụng), APLAC thoả thuận thừa nhận lẫn nhau về cụng

nhận phũng thớ nghiệm) nhưng cũng chỉ mang tính song phương và

khu vực Những hội thảo về xây dựng, điều chỉnh hệ thống tiêu chuẩn

quốc gia trước thềm hội nhập được đem ra bàn thảo nhiều lần, nhưng

ngay sự phân cấp trong hệ thống tiêu chuẩn hiện nay, cơ quan ban hành

tiêu chuẩn cũng thừa nhận việc phân định ranh giới giữa tiêu chuẩn ngành

và tiêu chuẩn quốc gia rất khó vỡ yờu cầu tiờu chuẩn kỹ thuật là gần

giống nhau Hàng năm ngân sách Nhà nước đề dành một khoản kinh phí

để các bộ, ngành ban hành ra các tiêu chuẩn ngành, cũn Bộ Khoa học

Cụng nghệ là nơi ban hành tiêu chuẩn quốc gia Bộ Khoa học Công nghệ

khi xây dựng tiêu chuẩn quốc gia đều dựa trên các tiêu chuẩn ngành hoặc

tiêu chuẩn ngành ban hành lấy tiêu chuẩn quốc gia làm căn cứ Như vậy

chúng ta phải mất kinh phí cho hai lần xây dựng tiêu chuẩn và doanh

nghiệp phải chịu thêm những chi phí thử nghiệm, công nhận trong khi

Trang 7

quy trỡnh lại hoàn toàn giống nhau Tuy nhiờn vướng mắc lớn nhất của

chúng ta là khó có thể hoà hợp toàn bộ tiêu chuẩn quốc tế thành tiêu

chuẩn quốc gia Do trỡnh độ kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp trong

nước cũn chưa cao, những tiêu chuẩn quá cao được đưa vào làm tiêu

chuẩn quốc gia doanh nghiệp sẽ khú cú thể ỏp dụng Cũn nếu khụng tiến

tới hoà hợp ngang bằng với cỏc hệ thống tiờu chuẩn khu vực và quốc tế

thỡ ngay cả doanh nghiệp trong nước cũng khó mà cạnh tranh được khi

hàng ngoại nhập với những tiêu chuẩn về chất lượng và kỹ thuật cao tràn

vào

Thực thi hiệp định TBT/WTO cũng là để bảo vệ đối với hàng hoá

trong nước Vỡ trong điều 12 (hướng dẫn về thực thi hàng rào kỹ thuật

trong thương mại) WTO đó cú những quy định về ưu đói đặc biệt trong

áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các mặt hàng xuất khẩu từ nước thành

viên đang phát triển Nhưng xây dựng hệ thống này như thế nào để đảm

bảo nguyên tắc về công bằng, không phân biệt đối xử và minh bạch hoá

hoạt động này là vấn đề không đơn giản Quy trỡnh kiểm tra chất lượng

hàng hoá giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu phải không gây cản

trở quá mức cần thiết theo nguyên tắc thương mại

Sẽ khụng cũn là sớm nếu như theo đúng dự kiến chúng ta gia nhập

WTO vào năm 2005, việc hoàn thiện về hệ thống tiêu chuẩn mới có thể

thực thi được quy định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại Việc thiết

lập một diễn đàn để phản ánh ý kiến của cỏc nhà xõy dựng tiờu chuẩn ở

cả ba cấp và doanh nghiệp và rà soỏt lại tất cả những văn bản và quy

phạm pháp luật để xây dựng một lộ trỡnh cụ thể về hoạt động này là rất

cần thiết

Trang 8

Sau khi hiệp định về hợp tác sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may

giữa chính phủ Việt Nam và Liên Xô cũ được ký kết ngày

19/05/1987,ngành dệt may cụng nghiệp của Việt Nam cú những thay đổi

đáng kể theo hướng sản xuất hàng xuất khẩu nhưng chủ yếu là xuất khẩu

sang các nước trong khối Hội đồng tương trợ kinh tế.Vỡ vậy,trong những

năm 1990-1991,do tác động của những thay đổi về chính trị xó hội ở

những nước này,xuất khẩu hàng dệt may VN suy giảm nghiêm trọng.Tuy

nhiên,ngành dệt may VN đó cú những nỗ lực đáng kể vượt qua giai đoạn

khó khăn này để bước sang giai đoạn phát triển mới từ năm 1992 – mở

rộng thị trường xuất khẩu sang các nước trong khu vực và thế giới.Đặc

biệt là từ sau Hiệp định hàng dệt may ký với EU ngày 15/12/1992 và cú

hiệu lực từ ngày 1/1/1993 xuất khẩu hàng dệt may của VN đó tăng trưởng

nhanh chóng,đưa dệt may trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất nhập

khẩu đứng thứ hai (sau dầu thô) của VN từ năm 1995 và có kim ngạch

xuất khẩu cao nhất từ năm 1998.Với tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn

43,5%/năm trong những năm 1991-1997 so với tốc độ tăng trưởng bỡnh

quõn 27,5%/năm của kim ngạch xuất khẩu của cả nước,kim ngạch xuất

khẩu hàng may chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất

nhập khẩu

Tuy nhiờn với trang thiết bị cũn lạc hậu,chủng loại cũn nghốo

nàn,hàng dệt may VN vẫn chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế

giới.Việt Nam mới xuất khẩu được một số loại vải thô,bải cotton,dệt kim

… sang Nhật,Canada và EU với kim ngạch không đáng kể.Sản phẩm dệt

Trang 9

xuất khẩu của VN tỏ ra chưa có sự phát triển thích ứng với đũi hỏi về chất

lượng,mẫu mó,chủng loại ngày càng cao của thị trường thế giới

Hàng dệt may VN cũng không đáp ứng được yêu cầu về nguyên

liệu cho may xuất khẩu.Hiện nay chúng ta vẫn phải nhập vải may gia

công để phục vụ cho may xuất khẩu.Chỉ tính riêng giá trị vải nhập khẩu

đó lờn tới trờn dưới 50% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may,chưa kể đến

các loại phụ liệu may khác mà VN cũng phải nhập khẩu phần lớn từ các

nước thuê gia công

Việc gia công cho nước ngoài không những chỉ có giá trị gia tăng

thấp mà cũn khụng ổn định,phụ thuộc vào giá gia công và bị động vào

nguồn cung cấp nguyờn vật liệu.Chớnh vỡ vậy,cuộc khủng hoảng kinh tế

khu vực đó ảnh hưởng nghiêm trọng tới xuất khẩu hàng dệt may của

VN.Vỡ vậy kim ngạch xuất nhập khẩu hàng dệt may năm 1998 chỉ đạt

1,35 tỷ USD so với kế hoạch đặt ra là 1,6-1,7 tỷ hồi đầu năm

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, bốn tháng đầu năm nay xuất

khẩu hàng dệt may đạt 1,744 tỷ USD, tăng 38,7% so với cùng kỳ năm

Trang 10

ngoái, là một trong những ngành hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu

"nóng"

Trong các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục

dẫn đầu, với tổng giá trị gần 432 triệu USD, tăng 35,7% so với cùng kỳ

năm ngoái, chiếm 54,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Thị

trường EU đạt khoảng 172 triệu USD, Nhật Bản đạt trên 89,5 triệu USD

Hiện, ngành dệt may được xem là ngành công nghiệp có lợi thế của

Việt Nam Theo quy hoạch điều chỉnh ngành dệt may đến năm 2015, tầm

nhỡn 2020 mới được Bộ Công nghiệp xây dựng, thời gian tới dệt may sẽ

được tập trung đầu tư phát triển thành một trong những ngành công

nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu

Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngành dệt may cho giai đoạn từ

nay đến năm 2010 khoảng 3 tỷ USD, trong đó, vốn đầu tư phát triển

nguyên phụ liệu dệt khoảng 180 triệu USD; các dự án dệt nhuộm trên 2,

27 tỷ USD; các dự án may 443 triệu USD; các trung tâm thương mại và

nghiên cứu triển khai đào tạo vào khoảng 200 triệu USD

Số liệu xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang một số nước hết quý

I/2006

Tên nước ĐVT Thỏng 3/2006

Trị giỏ (USD)

3 thỏng/2006 Trị giỏ (USD)

Trang 11

Tõy Ban Nha USD 5.443.131 21.212.859

Trung Quốc USD 2.637.829 5.294.074

Tổng cộng USD 489.029.801 1.258.290.160

( Nguồn : Trung tâm thông tin Thương mại )

1.2.Đặc điểm,năng lực của ngành dệt may VN:

Năng lực sản xuất: Theo số liệu của tổng công ty dệt may,năng lực

sản xuất của ngành dệt may được đánh giá như sau:

Năng lực sản xuất một số sản phẩm ngành dệt may VN

Chỉ tiờu Đơn vị tính DN trong

Trang 12

Các cơ sở dệt may tập trung chủ yếu vào ở hai khu vực Đồng bằng

sông Cửu Long và Đông Nam Bộ - chiếm khoảng 50-60% sản

lượng.Vùng đồng bằng Sông Hồng và các tỉnh phụ cận chiếm 30-40%

sản lượng.Cũn lại là Vựng Duyờn hải miền trung – khoảng 10% sản

lượng

Một số sản phẩm chủ yếu: Trong những năm qua tỡnh hỡnh sản

xuất của ngành dệt may đặc biệt là ngành may công nghiệp phục vụ xuất

khẩu đó cú những tiến bộ đáng kể.So với năm 1991,sản lượng sợi dệt

năm 1997 tăng 73,7% và sản lượng hàng may mặc tăng 101,1%.Tuy

không tăng nhanh bằng sản xuất sợi và hàng may mặc vải,sản lượng vải

lụa các loại cũng tăng 7,1% với sự đóng góp đáng kể của các xí nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài.Trong khi đó,mặc dù có tiềm năng tiêu thụ nội địa

cũng như xuất khẩu cao,sản xuất các sản phẩm dệt kim không mấy phát

triển do không kịp thời đổi mới về thiết bị và công nghệ phù hợp với yêu

cầu đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm

Tỡnh hỡnh tăng trưởng giá trị sản xuất: Từ năm 1993,sau khi

ngành dệt may chuyển hướng và mở rộng thị trường giá trị sản lượng

ngành đó tăng vọt.Tuy nhiên tốc độ tăng trương ngành dệt vẫn cũn thấp

làm cho giỏ trị tổng sản lượng ngành dệt may thấp hơn tốc độ gia tăng giá

trị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp.Mặt khác sự mất cân đối này

cũng kỡm hóm tục độ phát triển của ngành may mặc do đầu vào của

ngành này phụ thuộc vào ngành dệt

Về cơ cấu sản phẩm:

Trong những năm gần đây,sản phẩm ngành dệt may đó dần được

đa dạng hóa.Trong khâu sản xuất sợi,tỷ trọng các mặt hàng polyeste pha

bông được với nhiều tỷ lệ khác nhau tăng nhanh,các loại sợi polyeste

100% cũng bắt đầu được sản xuất,các loại sản phẩm

cotton/visco,cotton/acrylic, wool/acrylic đó bắt đầu được đưa ra thị

trường.Trong khâu dệt vải,nhiều mặt hàng dệt thoi mới chất lượng cao

Trang 13

đáp ứng được yêu cầu phục vụ cho may xuất khẩu sang EU và Nhật

Bản.Cơ cấu những sản phẩm may công nghiệp đó cú những thay đổi đáng

kể,từ chỗ chỉ may được những loại quần áo bảo hộ lao động,quần áo

thường dùng ở nhà,đồng phục học sinh…đến nay ngành may đó cú những

sản phẩm chất lượng cao,đáp ứng được yêu cầu của những nhà nhập khẩu

khó tính:quần áo thể thao,đồ jeans.Sản xuất phụ liệu may cũng có những

tiến bộ nhất định vè cả chủng loại và chất lượng.Những sản phẩm như chỉ

khâu Tootal Phong Phú,khóa kéo Nha Trang,mex Việt Phát,bông thấm

Việt Tiến…đủ tiêu chuẩn chất lượng cho khâu may xuất khẩu tuy sản

lượng cũn thấp

Bên cạnh đó do thiết bị chuyên dùng hiện đại cũn ớt,phải dựng

nhiều thao tác thủ công nên năng suất của ngành may Việt Nam khá thâp

so với các nước.Thêm vào đó,hệ số sử dụng năng lực thiết bị trong ngành

dệt may rất thấp,chỉ đạt 40-60% năng lưc thiết bị hiện có tùy loại sản

phẩm

Thị phần hàng dệt may VN: Theo thống kê của WTO cho năm 2002,

thị phần của Việt Nam cho hàng dệt là 67 triệu đô-la trong Liên hiệp châu

Âu (0,1% kim ngạch nhập khẩu, hạng 35), 4 triệu đô-la tại Canada (0,1%,

hạng 26) và 84 triệu tại Nhật (1,9%, hạng 9) Về hàng may mặc, thị phần

của Việt Nam là 39 triệu tại Canada (1%, hạng 18), 981 triệu tại Mỹ

(1,5%, hạng 23), 645 triệu trong Liên hiệp châu Âu (0,8%, hạng 19), và

471 triệu (2,7%, hạng 3) tại Nhật Thành tích của Việt Nam như thế trội

nhất là ở Nhật, nhất là cho hàng may mặc chỉ sau mỗi Trung Quốc và

Liên hiệp châu Âu, và trước cả Mỹ! Phải nói là Nhật là nước phi hạn

ngạch và một trong những bạn hàng đầu tiên của Việt Nam

Thị trường cho ngành dệt may VN

- Thị trường trong nước: chưa đáp ứng đủ nhu cầu nội địa về số

lượng và chất lượng Trừ sản lượng vải xuất khẩu (giá trị thấp), số cũn lại

Trang 14

chưa đủ bỡnh quõn 3m/người/ năm Đến năm 2010 mức tiêu dùng vải sẽ

tăng gấp 6 lần hiện nay

- Thị trường nước ngoài: Công nghiệp dệt thành phố Hồ Chí Minh

đó thõm nhập vào cỏc thị trường sau đây:

+ Thị trường SNG và các nước Đông âu: không cần quota, yêu cầu

chất lượng vừa phải phù hợp với trỡnh độ sản xuất của Việt Nam Mức

tiêu dùng vải ở thị trường này cũn thấp Đây là thị trường cũn tiềm năng,

Việt Nam có nhiều thuận lợi để thõm nhập

+ Thị trường EU: Hiệp định hợp tác thương mại và Hiệp định tránh

đánh thuế 2 lần đó ký giữa Việt Nam - EU đó tạo điều kiện cho hàng hóa

Việt Nam xuất khẩu sang EU Danh mục hàng may mặc xuất khẩu sang

EU rất đa dạng và đang ngày càng mở rộng

+ Thị trường Mỹ : Xuất hiện ngày càng nhiều những khách hàng rất

lớn đang đến VN để chuẩn bị cho thị trường Mỹ trong thời gian sắp đến

Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới với mức nhập

khẩu năm 2000 vừa qua là gần 73 tỉ USD Sau sự kiện 11/09 các đơn

hàng Mỹ ký kết với Trung Đông đó bị huỷ bỏ và chuyển hướng sang thị

trường Việt Nam Đây cũng là cơ hội cho ngành dệt may của Việt Nam

thâm nhập thị trường Mỹ

1.3.Nhận định chung về tỡnh hỡnh xuất khẩu trong quý I/2006:

Trong 3 tháng đầu năm 2006, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may

của ta sang tất cả các nước ước đạt 1.244 triệu USD, tăng 31,2% so với

cùng kỳ năm 2005, đạt 23,47% kế hoạch năm 2006, trong đó tháng

3/2006, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 450 triệu USD, tăng 47,5% so với

tháng 2/2006 và tăng 28,2% so với cùng kỳ năm 2005 Như vậy, với nhịp

độ tăng trưởng xuất khẩu như hiện nay, dự báo khả năng thực hiện kế

hoạch xuất khẩu 5,3 tỷ USD hàng dệt may trong năm 2006 có thể là hiện

thực.Trong hai tháng đầu năm 2006, xuất khẩu sang các thị trường chủ

yếu tăng trưởng rất tốt:

Trang 15

- Thị trường Hoa Kỳ đạt 431,886 triệu USD, tăng 35,7% so với cùng kỳ

năm 2005, chiếm 54,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang tất

cả các nước

- Thị trường EU đạt khoảng 171,802 triệu USD, tăng 72,3% so với cùng

kỳ năm 2005, chiếm 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu

- Thị trường Nhật Bản đạt khoảng 89,573 triệu USD, tăng khoảng 11,7%

so với năm 2005

1.4.Tỡnh hỡnh xuất khẩu sang Hoa Kỳ:

Thị trường Mỹ được đánh giá là thị trường xuất khẩu hàng dệt may

có nhiều tiềm năng của Việt Nam.Sau quyết định bỏ cấnm vận VN của

Mỹ được thông qua ngày 3/2/1994,mặc dù chưa được hưởng ưu đói thuế

quan phổ cập (GSP) và tối huệ quốc(MFN) nhưng các doanh nghiệp VN

đó bắt đầu tiếp cận được với thị trường Mỹ.Kim ngạch xuất khẩu hàng

dệt may của VN sang Mỹ tuy cũn thấp nhưng có tốc độ tăng trưởng cao

VN chủ yếu xuất sang Mỹ một số mặt hàng dệt thoi- găng tay,sơ

mi trẻ em…(khoảng 8,5% tổng kim ngạch) và hàng dệt kim – sơ mi trẻ

em,sơ mi nam,nữ, găng dệt kim,áo len,…Mặc dù Mỹ có nhu cầu về hàng

Trang 16

dệt kim lớn nhưng VN chưa xuất khẩu được nhiều hàng dệt kim sang thị

trường này do mức chênh lệch về thuế suất đối với hàng các nước được

hưởng GSP và MFN cao cũng như sự khác biệt trong tiêu chuẩn về sợi

dệt và qui trỡnh rap sản phẩm

Năm 1998,trong khi nhiều thị trường xuất khẩu phi hạn ngạch ở

VN giảm mạnh thỡ thị trường Mỹ khá ổn định và đạt kim ngạch xuất

khẩu 26,4 triệu USD trong năm 1998

Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của VN sang thị

trường Mỹ cũn rất nhỏ bộ,chỉ đạt 26,4 triệu USD năm 1997 so với tổng

kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ là 44,646 triệu USD,trong

khi ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ là 5998 triệu USD (13,4%)

,Mexico – 5246 triệu USD (9,9%),Hồng Công – 3979 triệu USD

(8,9%)…

Thỏng 4/2003,Mỹ buộc Việt Nam miền cưỡng phải ký một thỏa

thuận về hàng dệt may song phương và hiệp định này bắt đầu có hiệu lực

từ ngày 1/5/2003, trong đó áp đặt hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may từ

Việt Nam sang thị trường Mỹ Điều này đó tỏc động mạnh tới nhiều công

ty dệt may đặt trụ sở tại Việt Nam Theo các điều khỏan trong thỏa thuận,

tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ chỉ giới hạn ở

mức khoảng 1,7 tỉ USD/năm Nếu không có thỏa thuận trên, kim ngạch

xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ có thể sẽ vượt quá hạn

ngạch trần 1,7 tỉ USD

Năm 2002, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam

sang Mỹ tăng 1.800% lên 952 triệu USD so với 49 triệu USD năm 2001

và việc Mỹ áp đặt hạn ngạch là do có nhiều đơn kiện từ ngành công

nghiệp may mặc nhỏ ở Mỹ rằng hàng nhập khẩu từ Việt Nam giá rẻ hơn

Chi phí lao động thấp đó khiến cỏc cụng ty dệt may Việt Nam cú được lợi

thế cạnh tranh lớn hơn so với các công ty Mỹ

Trang 17

Thỏa thuận song phương về hàng dệt may giữa Mỹ và Việt Nam sẽ

có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2004, nhưng có được thể tiếp tục trên cơ

sở hàng năm cho tới khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế

giới (WTO) vỡ đến cuối năm 2004, các nước thành viên WTO sẽ phải bói

bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may giữa các nước khi Thỏa thuận may

mặc và vải sợi 10 năm hết hiệu lực Việt Nam đặt mục tiêu gia nhập

WTO vào năm 2005

Tháng 5 vừa qua, VN và Hoa Kỳ tiếp tục đàm phán về việc VN gia

nhập WTO Một trong những vấn đề đó là Hoa Kỳ sẽ áp dụng biện pháp

tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may sau khi Việt Nam gia nhập WTO như

đó ỏp dụng đối với Trung Quốc Trong phiên đàm phán cuối cùng này,

chúng ta không đạt được thỏa thuận không áp đặt biện pháp tự vệ đặc biệt

thỡ cũng cú nguy cơ hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu tới một chừng

mực nào đó sẽ bị áp đặt hạn ngạch trở lại giống như Trung Quốc

1.5.Tỡnh hỡnh xuất khẩu sang EU:

Các nước EU là thị trương xuất khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch

lớn nhất của Việt Nam.Từ năm 1980,VN đó xuất khẩu hàng dệt may sang

một số nước EU như Đức,Pháp…Xuất khẩu hàng dệt may của VN sang

EU đặc biệt phát triển mạnh từ sau Hiệp định buôn bán hàng dệt may VN

– EU được ký kết ngày 15/12/1992 và được thực hiện từ năm 1993 với

tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn trờn 23%/năm trong 5 năm 1993-1997

Hiệp định buôn bán hàng dệt may VN – EU giai đoạn 1998-2000

được ký kết ngày 17/11/1997 cho phộp nõng kim ngạch xuất khẩu hàng

dệt may từ VN sang EU lờn 40% so với giai đoạn 1993-1997 với mức

tăng trưởng từ 3-6%/năm

Các nước EU nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của VN là Đức

(40-42%),Pháp (13-15%)…Cùng với việc mở rộng quan hệ buôn bán với

các nước EU khác như Phần Lan,Thụy Điển,Đan Mạch…tỷ trọng nhập

Trang 18

khẩu của các nước này tăng lên trong khi tỷ trọng của các nước nêu trên

có xu hướng giảm xuống

Tỷ trọng nhập khẩu hàng dệt may của các nước EU

Mặt hàng áo jacket luôn chiếm vị trí chủ yếu trong cơ cấu hàng

xuất khẩu dệt may sang EU.Năm 1997,VN đó xuất khẩu sang EU gần

11,7triệu chiếc, tăng hơn gần 5 triệu chiếc(hay 72%) so với năm

1993,chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU

Trung Quốc là một đối thủ mạnh nhất trong xuất khẩu hàng may

mặc của Việt Nam tại thị trường EU, sau đó là ấn Độ, một số nước khác ở

châu á và các quốc gia vùng Địa Trung Hải Theo các chuyên gia kinh tế

dự báo, xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc sẽ tăng gấp đôi trong

vũng 5 năm tới, giá hàng dệt may của Trung Quốc thấp hơn giá của các

nước EU từ 50-70%, thấp hơn giá của ấn Độ 30% nên đó làm chủ thị

trường này Trung Quốc đó trở thành nhà cung cấp hàng may mặc số 1

cho thị trường EU với số lượng rất lớn, giá thành hạ, chất lượng tốt và đa

dạng hoá sản phẩm Xuất khẩu hàng may mặc của một số quốc gia được

thể hiện ở bảng dưới đây:

Trang 19

Bảng: Xuất khẩu hàng may mặc vào thị trường EU(15) năm 2002

Đơn vị : Triệu USD

Quốc gia Giỏ trị Thị phần

(%)

Tốc độ tăng hàng năm (%)

Nguồn :Báo cáo của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2003

Qua bảng trên ta thấy, các quốc gia xuất khẩu hàng may mặc vào

thị trường EU luôn đạt được giá trị và tốc độ tăng hàng năm cao, đứng

đầu là Trung Quốc, tiếp theo là Thổ Nhĩ Kỳ, Banglades, ấn Độ, Pakistan

và Campuchia - một quốc gia mới nổi lên về xuất khẩu hàng may mặc

cũng đạt được tăng trưởng về xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường

EU với tốc độ đáng kinh ngạc Trong khi đó, Việt Nam năm 2001, kim

ngạch xuất khẩu giảm 3%, năm 2002 tiếp tục giảm 6% và năm 2004 hy

vọng có thể có sự cải thiện chút ít nhờ vào Hiệp định hàng dệt may giữa

Việt Nam và EU ký đầu năm 2003 Về thị phần xuất khẩu, đứng đầu là

Trung Quốc chiếm 11,5%, đạt được mức độ ảnh hưởng rộng khắp EU,

Trang 20

Thổ Nhĩ Kỳ có lợi thế là có vị trí địa lý gần EU, do thời gian cung cấp

hàng ngắn, chớ phớ giảm, nắm bắt nhanh chúng những cơ hội kinh

doanh, nên dễ dàng đạt được thị phần lớn hơn và đứng vị trí thứ hai; sau

đó đến Banglades, ấn Độ Trong tương lai gần, ấn Độ sẽ vượt lên trên

Banglades do ấn Độ đang đẩy mạnh đầu tư cho ngành Dệt-May của mỡnh

và tập trung xuất khẩu vào hai thị trường chính là thị trường Hoa Kỳ và

thị trường EU Với Việt Nam, thị phần hàng may mặc xuất khẩu rất nhỏ

bé, chỉ chiếm 0,8% thị trường EU và chỉ hơn Campuchia 0,3% Nếu như

trong những năm tới, chúng ta không đạt được sự gia tăng trong kim

ngạch xuất khẩu, thỡ chắc chắn thị phần của hàng may mặc Việt Nam sẽ

thu hẹp lại bằng hoặc nhỏ hơn so với Campuchia

Sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trờn thế giới cũn thấp

ngay cả trong điều kiện được bói bỏ hạn ngạch Trong chớn thỏng đầu

năm, mặc dù đó được dỡ bỏ hạn ngạch nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng

dệt may của Việt Nam vào EU lại giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2004,

trong đó mức tăng trưởng của các nước khác vào EU rất lớn

2.Những rào cản kỹ thuật hàng dệt may gặp phải trên hai thị trường

trên

Hoa Kỳ và EU là hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam

nói chung và ngành dệt may Việt Nam nói riêng.Đây là hai thị trường khá

“khó tính” không chỉ về phía người tiêu dùng mà cũn ở những tiờu chuẩn

kỹ thuật khắt khe từ phớa nhà nhập khẩu.Về nhập khẩu hàng dệt may thỡ

những nước thành viên EU là bạn hàng lớn của Việt Nam đều là những

nước đang phát triển Những yêu cầu về kỹ thuật của những nước này và

Hoa Kỳ có nhiều điểm chung về yêu cầu chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn

về cơ sở hạ tầng sản xuất, yêu cầu về nhón mỏc, …Tất nhiờn mỗi thị

trường cũng đặt ra những tiêu chuẩn riêng tuy nhiên đó không là những

yếu tố chính ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu Dưới đây em chỉ trỡnh

bày những tiờu chuẩn phổ biến nhất trờn cả hai thị trường Hoa Kỳ và EU

Trang 21

 Yêu cầu về chất lượng sản phẩm:

- Tính đồng nhất: Nhà nhập khẩu Hoa Kỳ yêu cầu chất lượng sản phẩm

phải đồng nhất 100% về chất lượng theo đúng sản phẩm mẫu đó được

duyệt trên hợp đồng thương mại.Nhà nhập khẩu Mỹ sẽ không thanh toán

cho các phế phẩm.Chất lượng sản phẩm không đồng nhất có thể dẫn tới

hủy bỏ hợp đồng

- Tính đổi mới thích nghi:Nhu cầu về mẫu mó của thị trường Hoa Kỹ

thay đổi nhanh chóng.Trong các đơn hàng các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ có

thể yêu cầu những thay đỏi nhỏ trong sản phẩm và yêu cầu đối tác phải có

thay đổi thích nghi nhanh chóng để cho ra những sản phẩm đồng nhất

- Cụng nghệ phự hợp: Nhà nhập khẩu Hoa Kỳ mong muốn ỏp dụng cụng

nghệ mới trong quỏ trỡnh sản xuất từ thụng tin cơ bản,xử lý đơn

hàng,quản lý thời gian Những nhà mỏy cú cụng nghệ cũ sẽ khụng được

ưa thích

- Đóng gói toàn bộ: Một số nhà nhập khẩu Hoa Kỳ mong muốn các sản

phẩm “đóng gói toàn bộ”.Chỉ những nhà máy có liên kết dọc hoặc những

nhà máy có quan hệ lịch sử với các nhà cung cấp vải và nguyên liệu mới

tập trung vào những đơn hàng này

 Yêu cầu về tính đạo đức của sản phẩm:

- Đây là một yêu câu hết sức quan trọng của nhà nhập khẩu Hoa

Kỳ.Những sản phẩm được sản xuất ra bởi các hành vi bóc lột sức lao

động trẻ em,vi phạm nhân quyền đều bị cấm ở Hoa Kỳ.Thông thường khi

đi tỡm hiểu đối tác,các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ thường rất quan tâm đến

cơ sở vật chất ,môi trường sản xuất

- Ngoài những cơ sơ thông thường như phân xưởng,phũng làm việc họ

cũn tỡm hiểu nơi vệ sinh,nơi ăn uống,thức ăn uống ,điều kiện làm việc

giờ giấc nghỉ ngơi của người lao động…Các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ đánh

giá cao các nhà sản xuất có được các chứng nhận về tiêu chuẩn lao động

như SA8000,WRAP

Trang 22

 Yờu cầu về dỏn nhón chớnh xỏc:

- Những văn bản pháp luật và quy định kiểm soát hoạt động sản xuất và

dán nhón cỏc sản phẩm dệt may gồm cú: quy định về nước xuất xứ,đạo

luật dệt FTC,đạo luật về nhận dạng các sản phẩm len sợi TFPIA,đạo luật

về dán nhón cỏc sản phẩm len WPLA, đạo luật về dán nhón cỏc sản phẩm

FPLA,dỏn nhón cẩn thận cỏc sản phẩm quần ỏo dệt và một số loại sản

phẩm nhất định

- Yêu cầu đối với nhón hiệu:phải được làm bằng vải và đính kèm sản

phẩm cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng,phải được

ghi bằng ngôn ngữ tiếng Anh

- Dỏn nhón nước xuất xứ

- Tên sợi, phải là loại sợi được công nhận bởi Ủy Ban TM liên bang hoặc

tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế(ISO)

- Yờu cầu về tỷ lệ sợi

- Yờu cầu về tờn:tờn đầy đủ mà công ty sử dung trong kinh doanh.Số

hiệu đăng ký nhận dạng hoặc số hiệu đăng ký nhận dangh RN do FTC

cấp

- Yêu cầu về hướng dẫn sử dụng

3.Cơ hội và thách thức đối với hàng dệt may VN trước ngưỡng cửa

gia nhập WTO:

3.1.Cơ hội và thách thức từ việc ký và thực hiện hiệp định TBT:

Cửa vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đang rộng mở, hàng

may mặc VN cũng đứng trước cơ hội được xuất tự do sang Mỹ Song, tận

dụng được cơ hội này không phải đơn giản bởi doanh nghiệp VN thiếu

những nhà quản trị giỏi, thiếu kỹ năng tiếp cận thị trường, trong khi năng

suất lao động cũn thấp.Vào WTO đồng nghĩa với việc VN sẽ phải thực

hiện các cam kết,trong đó có hiệp định TBT về rào cản kỹ thuật trong

thương mại.Những quy định của TBT vừa mở ra những cơ hội cho VN

Ngày đăng: 27/03/2013, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w