1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ: Vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam

90 479 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 645 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tự do hóa thương mại là một quá trình lâu dài gắn chặt với quá trình đàm phán để cắt giảm thuế quan và rào cản phi thuế quan. Các nước, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển, một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi phải đàm phán để mở cửa thị trường và thúc đẩy tự do hóa thương mại, mặt khác lại đưa ra các rào cản khác tinh vi và phức tạp hơn thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật và các biện pháp hành chính nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Khó khăn được nhân lên do các biện pháp này được mệnh danh là để bảo vệ người tiêu dùng trong nước chứ không phải là các rào cản trong thương mại quốc tế.Đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Chủ trương này đã được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và IX nhằm mục tiêu thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Trong những năm vừa qua, xuất khẩu của Việt Nam cũng đã đạt được những thành công đáng kể với kim ngạch xuất khẩu năm 2010 là 71,63 tỷ USD. Bên cạnh những thành công, xuất khẩu Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn do các rào cản thương mại, đặc biệt là các rào cản kỹ thuật. Vì vậy, việc đối phó và vượt qua được các rào cản kỹ thuật này không phải là vấn đề mới mẻ nhưng vẫn là vấn đề khó khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam.Liên minh Châu Âu là một trong những đối tác thương mại quan trọng và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai, sau Mỹ của Việt Nam. Theo số liệu thống kê sơ bộ năm 2010, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU đạt 10 tỷ USD, chiếm 13,9% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 15,9% so với năm 2009. Tuy nhiên trong vài năm gần đây tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang EU có xu hướng giảm sút. Một trong những nguyên nhân là do hàng Việt Nam còn nghèo nàn về chủng loại, chất lượng thấp chưa có độ đồng đều, trong khi đó EU là một trong những thị trường khó tính trên thế giới với hàng rào kỹ thuật cao và nghiêm ngặt.Trong số các mặt hàng xuất khẩu sang EU của Việt Nam, hàng công nghiệp là ngành hàng chiếm tỷ trọng tương đối lớn với những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao như may mặc, giày dép, linh kiện điện tử…Tuy nhiên, trong xu thế hiện nay, việc tiếp cận với thị trường châu Âu sẽ ngày càng trở nên khó khăn hơn do tác động của các rào cản kỹ thuật mà thị trường này đưa ra. Do các rào cản kỹ thuật rất phong phú và phức tạp nên không có một khuôn mẫu chung cho các loại hàng hóa trên thị trường EU, do đó cần phải có sự nghiên cứu cụ thể về các rào cản kỹ thuật đối với hàng công nghiệp trên thị trường EU để có được căn cứ khoa học cho đàm phán và tìm ra các giải pháp thích hợp để vượt rào cản kỹ thuật và đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp vào EU.Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn vấn đề “Vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài

Tự do hóa thương mại là một quá trình lâu dài gắn chặt với quá trình đàmphán để cắt giảm thuế quan và rào cản phi thuế quan Các nước, đặc biệt là cácnước công nghiệp phát triển, một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi phải đàmphán để mở cửa thị trường và thúc đẩy tự do hóa thương mại, mặt khác lại đưa racác rào cản khác tinh vi và phức tạp hơn thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật vàcác biện pháp hành chính nhằm bảo hộ sản xuất trong nước Khó khăn đượcnhân lên do các biện pháp này được mệnh danh là để bảo vệ người tiêu dùngtrong nước chứ không phải là các rào cản trong thương mại quốc tế

Đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhànước ta Chủ trương này đã được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ VIII và IX nhằm mục tiêu thực hiện thành công sự nghiệpcông nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Trong những năm vừa qua, xuất khẩucủa Việt Nam cũng đã đạt được những thành công đáng kể với kim ngạch xuấtkhẩu năm 2010 là 71,63 tỷ USD Bên cạnh những thành công, xuất khẩu ViệtNam cũng gặp không ít khó khăn do các rào cản thương mại, đặc biệt là các ràocản kỹ thuật Vì vậy, việc đối phó và vượt qua được các rào cản kỹ thuật nàykhông phải là vấn đề mới mẻ nhưng vẫn là vấn đề khó khăn đối với các doanhnghiệp Việt Nam

Liên minh Châu Âu là một trong những đối tác thương mại quan trọng và

là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai, sau Mỹ của Việt Nam Theo số liệu thống kê

sơ bộ năm 2010, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU đạt 10 tỷ USD,chiếm 13,9% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 15,9% so với năm 2009 Tuynhiên trong vài năm gần đây tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang

EU có xu hướng giảm sút Một trong những nguyên nhân là do hàng Việt Namcòn nghèo nàn về chủng loại, chất lượng thấp chưa có độ đồng đều, trong khi đó

Trang 2

EU là một trong những thị trường khó tính trên thế giới với hàng rào kỹ thuậtcao và nghiêm ngặt.

Trong số các mặt hàng xuất khẩu sang EU của Việt Nam, hàng côngnghiệp là ngành hàng chiếm tỷ trọng tương đối lớn với những mặt hàng có kimngạch xuất khẩu cao như may mặc, giày dép, linh kiện điện tử…Tuy nhiên,trong xu thế hiện nay, việc tiếp cận với thị trường châu Âu sẽ ngày càng trở nênkhó khăn hơn do tác động của các rào cản kỹ thuật mà thị trường này đưa ra

Do các rào cản kỹ thuật rất phong phú và phức tạp nên không có mộtkhuôn mẫu chung cho các loại hàng hóa trên thị trường EU, do đó cần phải có sựnghiên cứu cụ thể về các rào cản kỹ thuật đối với hàng công nghiệp trên thịtrường EU để có được căn cứ khoa học cho đàm phán và tìm ra các giải phápthích hợp để vượt rào cản kỹ thuật và đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp vàoEU

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn vấn đề “Vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam” làm đề tài

cho luận văn thạc sỹ của mình

2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc vượt rào cản kỹ thuật của EUđối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam

2.2.Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cách thức vượtrào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam,trong đó chủ yếu phân tích 2 mặt hàng giày dép, may mặc Đây là các mặt hàngxuất khẩu chủ lực của ngành công nghiệp xuất khẩu Việt Nam vào EU

Trang 3

Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung vào phân tích tình hình của các mặthàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam vào EU trong khoảng thời gian từnăm 2005 đến nay và tầm nhìn đến năm 2020.

3.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp vượt rào cản kỹ thuật của EUđối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên, luậnvăn sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về rào cản kỹ thuật và vượt rào cản kỹ thuật+ Phân tích thực trạng vượt rào cản kỹ thuật của EU của hàng công nghiệpViệt Nam, từ đó rút ra đánh giá và nhận xét xác đáng về mặt thành công, mặt hạnchế cũng như nguyên nhân gây ra các hạn chế đó

+ Trên cơ sở triển vọng và thách thức vượt rào cản kỹ thuật cũng nhưphương hướng và mục tiêu vượt rào cản kỹ thuật, tác giả đề xuất một số giảipháp vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của ViệtNam

4.Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử làm nềntảng trong quá trình phân tích và kết luận vấn đề nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông tin: Luận văn sử dụng các dữ liệu thông tinthứ cấp dựa trên số liệu thống kê của Việt Nam cũng như của EU về tình hình thịtrường, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu; cũng như thông tin thứ cấp được công

bố để so sánh, phân tích, khái quát thực hiện các phán đoán suy luận

Phương pháp xử lý thông tin: Sử dụng các phương pháp thống kê và phântích định lượng Luận văn sẽ tập trung vào phân tích định tính hơn là phân tíchđịnh lượng để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu

Trang 4

5.Câu hỏi nghiên cứu

Luận văn sẽ tập trung vào nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏinghiên cứu sau:

+ Với trình độ sản xuất hàng công nghiệp hiện nay của Việt Nam, những quyđịnh nào của EU sẽ trở thành rào cản kỹ thuật?

+ Các rào cản kỹ thuật đó xây dựng có hợp lý và minh bạch không?

+ Các giải pháp vượt rào cản kỹ thuật của các doanh nghiệp Việt Nam đã hiệuquả chưa?

6.Kết cấu luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận văn được kết cấu thành bachương như sau:

Chương 1: Lý luận chung về rào cản kỹ thuật và vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp

Chương 2: Thực trạng vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam

Trang 5

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT

VÀ VƯỢT RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA EU

ĐỐI VỚI HÀNG CÔNG NGHIỆP

1.1.Rào cản kỹ thuật và rào cản kỹ thuật của EU

1.1.1.Khái niệm về rào cản kỹ thuật

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường hiểu rào cản là những gì gâytrở ngại, khó khăn cho việc tiếp cận một đối tượng nào đó Trong kinh tế chúng

ta thường nói đến các vấn đề như thuế quan, các quy định tiêu chuẩn kỹ thuật,các quy định về pháp lý làm hạn chế hoạt động thương mại…như những rào cảnđối với hoạt động thương mại Đây là những rào cản được đặt ra với mục đíchbảo hộ nền sản xuất và người tiêu dùng trong nước Chúng thường được nhìnnhận như là một bộ phận hay các công cụ của chính sách thương mại quốc tế củamỗi quốc gia

Ngày nay, rào cản trong thương mại quốc tế xuất hiện ở hầu hết các lĩnhvực với các biện pháp ngày càng đa dạng và tinh vi hơn Tuy nhiên, nhìn chungrào cản trong thương mại quốc tế được chia thành hai loại, đó là rào cản thuếquan và rào cản phi thuế quan Rào cản thuế quan là các biện pháp được WTOcho phép sử dụng để bảo hộ sản xuất trong nước nhưng phải có mức thuế trầnnhất định và có lịch trình cắt giảm tiến tới xóa bỏ rào cản này trong thương mạiquốc tế Rào cản phi thuế quan là các hình thức rào cản mà các nước cố gắngduy trì để bảo vệ nền kinh tế trong nước và người tiêu dùng của quốc gia mình

Do tính chất đa dạng và phức tạp của rào cản phi thuế quan nên rất khó

để đưa ra được một định nghĩa chính xác cho rào cản phi thuế quan Theo định

Trang 6

nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), “các hàng rào phi thuế quan là các biện pháp biên giới nằm ngoài phạm vi thuế quan có thể được các quốc gia sử dụng, chủ yếu trên cơ sở lựa chọn để hạn chế hàng nhập khẩu vào nội địa” [6] Định nghĩa này của OECD chủ yếu dựa trên phạm vi áp dụng

của các biện pháp phi thuế quan, đó là biên giới quốc gia

Định nghĩa về rào cản phi thuế quan của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam

Á (ASEAN) lại tuân theo hệ thống phân loại của UNCTAD, theo đó các rào cảnphi thuế quan được xác định theo bốn tiêu chí: phụ phí đối với khách hàng, cácbiện pháp kỹ thuật, các yêu cầu về đặc tính của sản phẩm và các biện pháp độcquyền Tuy nhiên, trong định nghĩa của ASEAN đã bỏ sót một số điểm đáng lưu

ý như các biện pháp tài chính và các biện pháp kiểm soát giá

Tại Việt Nam, một trong những định nghĩa về rào cản phi thuế quan được

sử dụng nhiều nhất là định nghĩa của Bộ Thương Mại (nay là Bộ Công Thương):

ngoài thuế quan, tất cả các biện pháp khác dù là theo quy định pháp lý hay tồn tại trên thực tế, ảnh hưởng đến mức độ và phương hướng nhập khẩu được gọi là các rào cản phi thuế quan[6] Định nghĩa này nhấn mạnh đến mức độ phân biệt

đối xử đối hàng nhập khẩu nhằm mục đích bảo hộ nền sản xuất trong nước

Tổng hợp từ những định nghĩa trên, tác giả cho rằng rào cản phi thuế quan là các biện pháp không phải là thuế quan mà sử dụng các biện pháp hành chính (các quy định pháp lý) và các quy định về kỹ thuật (như các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các sản phẩm, quy trình sản xuất, vận chuyển …) nhằm mục đích hạn chế sự xâm nhập của hàng hóa nước ngoài vào thị trường nội địa, bảo vệ hàng hóa và người tiêu dùng trong nước Mục tiêu của các rào cản phi thuế quan

là bảo vệ sự an toàn và lợi ích người tiêu dùng trong nước đồng thời bảo vệ môitrường trong nước Tuy nhiên, hiện nay phần lớn các nước công nghiệp pháttriển thường sử dụng các biện pháp này như những rào cản để hạn chế hàng hóanhập khẩu nhằm mục đích bảo hộ nền sản xuất trong nước

Trang 7

Với định nghĩa như trên, rào cản phi thuế quan gồm hai bộ phận chính làcác rào cản pháp lý và rào cản kỹ thuật Rào cản pháp lý là các chính sách,những quy định mang tính pháp lý của Nhà nước đối với hàng hóa nhập khẩunhư thuế chống bán phá giá, cơ chế giám sát đối với hàng nhập khẩu….Các biệnpháp này thường được áp dụng trong những điều kiện đặc biệpt nhất định và chỉ

áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu mà không ảnh hưởng gì tới hàng hóa sản xuấttrong nước Rào cản kỹ thuật là các tiêu chuẩn kỹ thuật như nguồn gốc xuất xứ,tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm, các quy định về đóng gói, bao bì sảnphẩm, các tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội….Tuy nhiên không phải bất kỳ mộttiêu chuẩn kỹ thuật nào cũng trở thành rào cản kỹ thuật Các tiêu chuẩn kỹ thuậtnày không chỉ được áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu mà nó còn có thể được ápdụng đối với cả hàng hóa sản xuất trong nước Tuy nhiên, sự phân loại như trênchỉ mang tính chất tương đối vì không có một ranh giới thực sự rõ ràng giữa ràocản pháp lý và rào cản kỹ thuật

Trong thương mại quốc tế ngày nay, rào cản kỹ thuật (Technical Barries

to Trade - TBT) là loại hình rào cản được sử dụng nhiều nhất trong rào cản phithuế quan Cũng giống như rào cản phi thuế quan, hiện nay có rất nhiều cáchnhìn nhận cũng như định nghĩa về rào cản kỹ thuật Theo tổ chức hợp tác và phát

triển kinh tế OECD, rào cản kỹ thuật là những quy định mang tính chất xã hội

do một quốc gia đặt ra nhằm mục đích đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, sức khỏe cho người tiêu dùng và đảm bảo an toàn về môi trường Mục

đích này thường đạt được thông qua việc một quốc gia ngăn chặn các loại hànghóa không đảm bảo chất lượng nhập khẩu vào nước mình Phòng Công nghiệp

và Thương mại Việt Nam VCCI cũng đưa ra định nghĩa về rào cản kỹ thuật, theo

đó rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) thực chất là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hóa nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó

Trang 8

Mặc dù hiện nay còn rất nhiều định nghĩa khác nhau về rào cản kỹ thuật

đối với thương mại, nhưng theo tác giả có thể hiểu một cách đơn giản là “rào cản kỹ thuật đối với thương mại là một hình thức bảo hộ mậu dịch đang được các quốc gia sử dụng có hiệu quả theo đó các nước nhập khẩu đưa ra các quy định, tiêu chuẩn khắt khe đối với hàng hóa nhập khẩu Các quy định, tiêu chuẩn này có thể liên quan tới toàn bộ quá trình sản xuất từ thu gom nguyên vật liệu, sản xuất, phân phối và tiêu dùng; đồng thời nó cũng có thể liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp xuất khẩu.”

Trước xu hướng, các rào cản kỹ thuật đang được các quốc gia sử dụngngày một nhiều hơn và tính chất phong phú, phức tạp của các rào cản này, cácthành viên WTO đã thông qua Hiệp định về các Rào cản kỹ thuật đối vớiThương mại (Agreement on Technical Barries to Trade) Hiệp định này thừanhận sự cần thiết của các biện pháp kỹ thuật đồng thời kiểm soát các biện phápnày nhằm đảm bảo các nước thành viên sử dụng đúng mục đích và không biếncác biện pháp này thành công cụ bảo hộ

1.1.2.Đặc điểm rào cản kỹ thuật của EU

Các rào cản kỹ thuật của EU có những điểm giống như các rào cản kỹthuật của các quốc gia phát triển khác Các rào cản kỹ thuật của EU rất đa dạng,phức tạp và được sử dụng không giống nhau ở các quốc gia và vùng lãnh thổkhác nhau do các rào cản kỹ thuật thường được thể hiện trong các chính sáchthương mại và các chính sách hoặc cơ chế quản lý trong tổng thể hệ thống phápluật của một quốc gia Các rào cản kỹ thuật thường bao gồm nhiều loại khácnhau và mỗi loại rào cản lại có những vị trí và vai trò nhất định trong việc tácđộng vào các dòng chảy thương mại quốc tế để điều chỉnh các dòng chảy nàytheo hướng có lợi nhất, đáp ứng mục tiêu và yêu cầu xác định của mỗi quốc gia

Rào cản kỹ thuật được EU sử dụng ngày càng nhiều với mức độ ngàycàng tinh vi và phức tạp hơn Trong xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương

Trang 9

mại, hầu hết các quốc gia đều cam kết dỡ bỏ dần các rào cản phi thuế quan nóichung và rào cản kỹ thuật nói riêng nhưng thực tế thì các rào cản này được dỡ bỏhết sức chậm chạp, dỡ bỏ rào cản này thì lại có rào cản khác được đưa ra vớimức độ phức tạp tăng lên so với rào cản cũ.

Bên cạnh những đặc điểm chung trên thì các rào cản kỹ thuật của EU còn

có những đặc điểm riêng EU sử dụng các rào cản vệ sinh an toàn thực phẩm vàbảo vệ sức khỏe người tiêu dùng như một công cụ hữu hiệu để ngăn cản cáchàng hóa của các nước nhập khẩu vào thị trường của mình Chẳng hạn như đốivới các mặt hàng thủy sản nhập khẩu vào thị trường EU, EU thường quy định chitiết về dư lượng chất kháng sinh thấp hơn nhiều lần so với các quốc gia khác EUcòn lợi dụng những quy định của HACCP để dựng lên những rào cản thươngmại thực sự khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là các doanhnghiệp xuất khẩu từ các quốc gia đang phát triển Do đó, để thực hiện đượcnhững tiêu chuẩn HACCP này, các doanh nghiệp thường phải bỏ ra rất nhiềuthời gian, nỗ lực và tiền của

EU thường đưa ra những quy định rất khắt khe về vấn đề môi trường,không chỉ là những quy định về chứng chỉ mà EU còn sử dụng cả các công cụ tàichính trong việc cản trở các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa vào thị trườngnày Các yêu cầu về môi trường của EU thường rất khó khăn để đáp ứng đối vớicác doanh nghiệp xuất khẩu của các nước đang phát triển do các quốc gia nàyvốn xuất phát điểm từ một nước nghèo nàn lạc hậu về công nghệ nên quy trìnhsản xuất thường không thể đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường do EU

đề ra Chính vì thế các doanh nghiệp này thường bị EU phạt do vi phạm các tiêuchuẩn về môi trường, thậm chí còn bị cấm không cho xuất khẩu sản phẩm vàothị trường EU

Các quy định về nhãn hiệu và xuất xứ hàng hóa cũng được EU sử dụngnhư một rào cản kỹ thuật rất khắt khe đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Thêm

Trang 10

vào đó những yêu cầu này thì lại khác nhau giữa các nước thành viên trong EU.Điều này đã gây ra sự khó khăn và trở ngại đối với các doanh nghiệp, đặc biệt làcác doanh nghiệp chưa nắm rõ được các thông tin và các quy định của thườngxuyên có sự thay đổi trên thị trường EU.

1.2.Các quy định và tiêu chuẩn của EU đối với hàng công nghiệp

1.2.1.Bộ tiêu chuẩn EN

Thị trường EU là một thị trường bao gồm nhiều thị trường quốc gia thànhviên, vì vậy vấn đề tiêu chuẩn hóa tại thị trường EU mang nhiều tính chất mới.Trước đây, mỗi quốc gia Châu Âu đều có bộ tiêu chuẩn của riêng mình nhưNEN của Hà Lan, DIN của Đức, BSI của Anh, AFNOR của Pháp Tuy nhiên,hiện nay EU đang tạo ra những tiêu chuẩn thống nhất cho toàn Châu Âu để thaythế cho hàng ngàn tiêu chuẩn của các quốc gia thành viên Các mức yêu cầu tốithiểu cho sản phẩm đang và sẽ được đưa ra trong thời gian tới Các nước thànhviên vẫn được phép bổ sung thêm các quy định riêng để bảo vệ nền sản xuấttrong nước của mình, nhưng bất kỳ một sản phẩm nào đáp ứng đủ các yêu cầutối thiểu thì vẫn được phép tự do lưu thông trong EU

Bộ tiêu chuẩn EN được xây dựng bởi ba cơ quan: CEN (Ủy ban Tiêuchuẩn hóa Châu Âu), CENELEC (Ủy ban Tiêu chuẩn hóa Kỹ thuật điện tử ChâuÂu), và ETSI (Viện Tiêu chuẩn Viễn thông Châu Âu) Bộ tiêu chuẩn này baogồm các quy định về đặc tính kỹ thuật, quy trình sản xuất, đóng gói, vậnchuyển… đối với hàng hóa được sản xuất và tiêu thụ trên thị trường Châu Âu.Hàng hóa nhập khẩu không phải là đối tượng điều chỉnh của bộ tiêu chuẩn này,tuy nhiên do bộ tiêu chuẩn này phản ánh yêu cầu của thị trường đối với hàng hóađược tiêu thụ tại đây nên việc đáp ứng các yêu cầu của bộ tiêu chuẩn này sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho hàng hóa nước ngoài thâm nhập và cạnh tranh được trênthị trường này

Trang 11

1.2.2.Tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9000

Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) đã đưa ra Bộ Tiêu chuẩn quản

lý chất lượng ISO 9000 vào năm 2000 với mục đích tạo ra một hệ thống tiêuchuẩn được chấp nhận ở mức độ quốc tế về việc đảm bảo chất lượng và có thểđược áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ

Tại EU các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không bắt buộc phải tuântheo Bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9000 Tuy nhiên những lợi ích màcác doanh nghiệp có được từ việc được cấp chứng chỉ ISO 9000 đã làm cho tiêuchuẩn này trở nên phổ biến Các doanh nghiệp có được chứng chỉ ISO 9000 sẽ

có lợi thế lớn trong kinh doanh tại thị trường đầy tính cạnh tranh như thị trường

EU Như vậy, chứng chỉ ISO 9000 cũng là một điều kiện cần thiết đối với cácdoanh nghiệp nước ngoài khi muốn tạo lòng tin với bạn hàng EU về trình độquản lý chất lượng và tính chuyên nghiệp, từ đó tạo lòng tin về chất lượng sảnphẩm của mình

Trong lần ban hành mới nhất bộ tiêu chuẩn ISO 9000 gồm có 3 tiêu chuẩn

cơ bản:

ISO 9000: 2005: Hệ thống quản lý chất lượng – Nguyên tắc cơ bản và từ

vựng

ISO 9001: 2008: Hệ thống quản lý chất lượng – Các quy định, yêu cầu

ISO 9004: 2000: Hệ thống quản lý chất lượng – Hướng dẫn cải tiến

Trong các tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 là tiêu chuẩn cốt lõi.Nội dung của tiêu chuẩn này bao gồm:

*Kiểm soát tài liệu và kiểm soát hồ sơ

- Kiểm soát hệ thống tài liệu nội bộ, tài liệu bên ngoài và dữ liệu của côngty

Trang 12

*Trách nhiệm của lãnh đạo

- Cam kết của lãnh đạo

- Định hướng bởi khách hàng

- Thiết lập chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng cho các phòng ban

- Xác định trách nhiệm, quyền hạn cho từng chức danh

- Thiết lập hệ thống trao đổi thông tin nội bộ

- Tiến hành xem xét của lãnh đạo

- Xác định các yêu cầu liên quan đến khách hàng

- Kiểm soát thiết kế

- Kiểm soát mua hàng

- Kiểm soát sản xuất và cung ứng dịch vụ

- Kiểm soát thiết bị đo lường

*Đo lường phân tích và cải tiến

- Đo lường sự thỏa mãn của khách hàng

- Đánh giá nội bộ

Trang 13

- Theo dõi và đo lường các quá trình

- Theo dõi và đo lường các sản phẩm

- Kiểm soát sản phẩm không phù hợp

- Phân tích dữ liệu

- Hành động khắc phục

- Hành động ngăn ngừa

1.2.3.Nhãn hiệu CE đối với các sản phẩm công nghiệp chế tạo

Nhãn hiệu CE (European Conformity) là nhãn hiệu tuânthủ theo quy định của Châu Âu và là sự tuyên bố của nhàsản xuất về việc thực hiện đúng theo các quy định củaChâu Âu Tuy nhiên, nhãn hiệu CE không phải là chứngnhận về chất lượng sản phẩm của nhà sản xuất vì CE chútrọng đến sự an toàn của người tiêu dùng và bảo vệ môi trường thiên nhiên hơn

là chất lượng sản phẩm Hiện nay, không phải tất cả các sản phẩm nhập khẩu vàoChâu Âu đều phải gắn mắc CE Việc gắn mác này chỉ bắt buộc đối với 23 nhómsản phẩm có tên trong danh sách “Cách tiếp nhận mới” – New Approach Guide,bao gồm các sản phẩm như: máy móc, thiết bị điện, đồ chơi, dụng cụ y tế….Nếumột sản phẩm rơi vào danh sách “Chỉ thị nhãn CE” thì sản phẩm đó bắt buộcphải tuân theo luật pháp có liên quan đến việc thực hiện chỉ thị của quốc gia đó.Các chỉ thị được xây dựng cho từng nhóm sản phẩm và mô tả các yếu tố căn bảnđối với sản phẩm và các nguy cơ được quan tâm đến có liên quan đến sản phẩm

Thủ tục dán nhãn CE đối với mỗi nhóm sản phẩm là khác nhau, điều nàyphụ thuộc vào độ rủi ro nội tại của mỗi sản phẩm khi sử dụng Ủy ban Châu Âu

đã đưa ra Modul với 8 chủng loại sản phẩm khác nhau, được ký hiệu từ A đến H.Các sản phẩm ở Modul A là các sản phẩm có độ rủi ro thấp nhất, trong khi đócác sản phẩm ở Modul H có độ rủi ro cao nhất

Trang 14

Đối với một sản phẩm thuộc Modul A thì nhà sản xuất có quyền quyếtđịnh sản phẩm đó có tuân theo các quy định, chỉ thị và tiêu chuẩn của Châu Âuđối với sản phẩm đó hay không Nhà sản xuất có thể tự công bố và dán nhãn CElên sản phẩm của mình theo trình tự sau:

 Xác định các yêu cầu của tiêu chuẩn EN đối với sản phẩm của mình

 Xác định nội dung tiêu chuẩn sản phẩm theo các yêu cầu đã được xác định

ở trên

 Chuẩn bị hồ sơ kỹ thuật để minh họa sự phù hợp của sản phẩm với nhữngtiêu chuẩn trên, bao gồm: tài liệu thiết kế, tài liệu sản xuất, các báo cáokiểm tra…

 Chuẩn bị bản công bố phù hợp tiêu chuẩn của sản phẩm

 Gắn nhãn hiệu CE lên sản phẩm

Nếu sản phẩm thuộc các Modul khác cao hơn Modul A thì cần phải có tổchức kiểm định chuyên nghiệp để kiểm tra sự phù hợp với các tiêu chuẩn của sảnphẩm và quyết định xem sản phẩm có được dán nhãn CE không

1.2.4.Tiêu chuẩn quản lý môi trường

Ủy ban Châu Âu là một trong những tổ chức đầu tiên đưa ra sáng kiến vềviệc bảo vệ môi trường với việc ban hành dự thảo về Luật Kiểm định và Quản lýsinh thái vào năm 1990 Bộ luật này bao gồm “Chương trình kiểm định và Quản

lý sinh thái” (Ecological Management and Audit Scheme - EMAS) cho cácngành công nghiệp hoạt động trên thị trường EU Chương trình này khuyếnkhích các ngành công nghiệp có khả năng gây ô nhiễm cao sử dụng các hệ thốngquản lý việc bảo vệ môi trường

Tháng 9/1996 Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa đã ban hành bộ tiêuchuẩn quốc tế về môi trường ISO 14000 bao gồm các quy định cụ thể và hướngdẫn sử dụng Như vậy, đối với các doanh nghiệp của EU có thể lựa chọn áp dụng

Trang 15

một trong hai hệ thống tiêu chuẩn về môi trường kể trên, nhưng đối với cácdoanh nghiệp xuất khẩu vào EU thì hệ thống tiêu chuẩn ISO 14000 là đáng quantâm hơn vì tiêu chuẩn EMAS chỉ dành cho các doanh nghiệp có trụ sở tại EU.Việc áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn về môi trường này chỉ dành cho các doanhnghiệp ở EU, tuy nhiên nếu doanh nghiệp xuất khẩu có thể có được chứng chỉnày thì sẽ thuận lợi hơn trong việc thâm nhập thị trường EU - một thị trườngđang đặt vấn đề giữ gìn và bảo vệ môi trường thành mối quan tâm hàng đầu.

*Cấu trúc của hệ thống ISO 14000

ISO 14001: Quản lý môi trường – Quy định và hướng dẫn sử dụng

ISO 14004: Hệ thống quản lý môi trường - Hướng dẫn chung về nguyên

tắc, hệ thống và kỹ thuật hỗ trợ

ISO 14010: Hướng dẫn đánh giá môi trường – Nguyên tắc chung

ISO 14011: Hướng dẫn đánh giá môi trường – Quy trình đánh giá – Đánh

giá hệ thống quản lý môi trường

ISO 14012: Hướng dẫn đánh giá môi trường - Chuẩn cứ trình độ của

chuyên gia đánh giá

Trong hệ thống ISO 14001 là tiêu chuẩn trong hệ thống tiêu chuẩn ISO

14000 quy định các yêu cầu đối với một Hệ thống quản lý môi trường Các yếu

tố của hệ thống được chi tiết hóa thành văn bản Tiêu chuẩn ISO 14001 được banhành lần đầu tiên vào năm 1996 và phiên bản mới nhất được ban hành vào năm

2004 có ký hiệu là ISO 14001: 2004 Chứng chỉ ISO 14001: 2004 chứng nhậnrằng Doanh nghiệp có một hệ thống quản lý giúp cho doanh nghiệp đó sản xuấttrong các điều kiện làm ảnh hưởng đến môi trường trong phạm vi cho phép

*Nội dung cơ bản của ISO 14001:2004

Các yêu cầu chung: Tổ chức phải thiết lập và duy trì một hệ thống quản lý môi

trường tuân thủ các yêu cầu của tiêu chuẩn này

Trang 16

Chính sách môi trường: Lãnh đạo của tổ chức phải:

- Đề ra chính sách môi trường cho tổ chức

- Cam kết tuân thủ các luật lệ và quy định về môi trường;

- Đặt ra lịch trình thiết lập, rà soát các mục tiêu về môi trường, đồng thờiđảm bảo cho chính sách môi trường được thực hiện, duy trì và đượctừng nhân viên trong công ty năm vững một cách đầy đủ

Lập kế hoạch:

- Xác định các khía cạnh môi trường liên quan đến hoạt động, sản phẩmhàng hoá và dịch vụ của tổ chức mình;

- Nắm rõ các quy định pháp lý;

- Đặt ra và duy trì các mục tiêu về môi trường cho mỗi cấp trong tổ chức;

- Lên chương trình quản lý môi trường nhằm đạt được các mục tiêu đềra

Thực hiện chương trình bao gồm:

- Phân bổ nguồn lực cần thiết để triển khai và quy rõ trách nhiệm;

- Đào tạo cán bộ, nhận thức của từng nhân viên về tầm quan trọng và vaitrò, trách nhiệm của họ trong việc thực hiện chính sách môi trường

- Tạo điều kiện trao đổi kiến thức và tài liệu về chính sách môi trườnggiữa các cấp, các phòng ban bộ phận trong tổ chức

- Lập hệ thống tài liệu về quản lý môi trường

- Quản lý tài liệu sao cho việc cất trữ, tra cứu định kỳ được thuận tiệnnhất

Hoạt động kiểm tra và cải tiến

- Theo dõi và đo lường để xác định xem các hoạt động của tổ chức có tácđộng tốt đến môi trường hay không

Trang 17

- Kiểm soát sự không phù hợp và xác định trách nhiệm trong trường hợpđó.

- Lập báo cáo về quá trình thực hiện và kết quả sau khi kiểm tra, đolường

- Lên kế hoạch, tiến hành sửa đổi, khắc phục

Lãnh đạo cấp cao nhất xem xét lại toàn hệ thống.

1.2.5.Bao bì và phế thải bao bì

Bao bì là một phần không thể thiếu của hàng hóa, đặc biệt là hàng hóaxuất nhập khẩu; vì vậy việc xử lý phế thải bao bì sau khi sản phẩm được sử dụng

để hạn chế nguồn rác thải sinh hoạt trong việc bảo vệ môi trường là vấn đề đangđược quan tâm hiện nay

Những vấn đề liên quan đến bao bì và phế thải bao bì được Liên minhChâu Âu quy định khá chặt chẽ trong Chỉ thị 94/62/EEC Chỉ thị này quy định

cụ thể về thành phần của bao bì như tỷ lệ kim loại nặng trong bao bì và nhữngyêu cầu trong việc sản xuất bao bì Chỉ thị này đã được đưa vào luật của cácquốc gia thành viên và cũng được áp dụng đối với cả hàng hoá nhập khẩu vàoEU

Theo chỉ thị 94/62/EEC, phế thải bao bì là các loại bao bì hoặc các vậtliệu làm bao bì được thải ra sau các quá trình vận chuyển, phân phối và tiêu dùngnhư các loại túi nilông được thải ra sau khi sử dụng sản phẩm, các container sauquá trình chuyên chở hàng hoá…

Chỉ thị 94/62/EEC cũng đưa ra các yêu cầu cụ thể đối với quá trình sảnxuất và thành phần của các bao bì như sau:

Thể tích và khối lượng của bao bì được giới hạn đến mức tối thiểu để duytrì mức độ đảm bảo vệ sinh và an toàn cho sản phẩm bên trong bao bì và chongười sử dụng

Trang 18

Bao bì phải được thiết kế, sản xuất, sử dụng theo cách thức cho phép tái

sử dụng hay thu hồi, bao gồm tái chế và hạn chế đến mức tối thiểu tác động đốivới môi trường khi chất phế thải bao bì bị bỏ đi

Bao bì được sản xuất theo cách có thể hạn chế tối đa sự có mặt củanguyên liệu và các chất độc hại do sự phát xạ, tro tàn khi đốt cháy hay chôn bao

(Nguồn: Chỉ thị 94/62/EEC của Liên minh châu Âu về bao bì và phế thải bao bì

-www.cbi.nl )

Đối với những loại bao bì có thể tái sử dụng (Reusable nature ofPackaging), ngoài việc tuân thủ những yêu cầu trên thì các loại bao bì này cònphải tuân thủ theo một số yêu cầu sau đây:

Trang 19

Trong điều kiện sử dụng bình thường, bao bì phải đảm bảo được việc tái

sử dụng một số lần nhất định cả về tính chất vật lý và các đặc trưng của bao bì

Sức khoẻ và sự an toàn của người lao động phải được đảm bảo trong quátrình sản xuất bao bì

Nếu bao bì không được tái sử dụng trong một thời gian dài và có thể trởthành phế thải thì việc thu hồi bao bì phải đáp ứng được những yêu cầu đặc biệtcho từng trường hợp cụ thể

Các điều kiện cụ thể đối với việc thu hồi và tái chế bao bì:

Đối với các loại bao bì thu hồi dưới dạng vật liệu có thể tái sử dụng, cácbao bì này phải được sử dụng làm vật liệu để sản xuất ra sản phẩm có thể bánđược với một tỷ lệ nhất định trong tổng lượng vật liệu được sử dụng để sản xuất

ra sản phẩm đó sao cho phù hợp với quy định của Châu Âu Mức tỷ lệ này đượcquy định khác nhau, phụ thuộc vào loại vật liệu được sử dụng làm bao bì

Với những loại bao bì được thu hồi dưới dạng phế phẩm năng lượng thìchúng phải thu được lượng calo tối thiểu cho phép

Lượng bao bì được tái chế hay đốt để thu lại năng lượng phải chiếm từ 60% khối lượng bao bì

50-Đối với các loại bao bì không thể tái sinh hoặc tái sử dụng, phải đốt thìlượng khí thải độc hại thoát ra phải đảm bảo không làm ảnh hưởng đến môitrường

Trên đây là những quy định chung nhất của Châu Âu về bao bì và phế thảibao bì Tuy nhiên, việc thực hiện chỉ thị này ở mỗi quốc gia là khác nhau, vớinhững hình thức khác nhau Với các doanh nghiệp Việt Nam đang muốn xuấtkhẩu vào EU, việc nắm vững và tuân thủ những quy định này là điều quan trọng.Việc tuân thủ nghiêm túc những quy định này không chỉ giúp các doanh nghiệp

Trang 20

Việt Nam có được lòng tin đối với người tiêu dùng EU mà còn giúp hạn chế ônhiễm môi trường từ rác thải sinh hoạt ở Việt Nam.

Bên cạnh những tiêu chuẩn chung về bao bì và phế thải bao bì, EU còn cónhững quy định riêng cho từng mặt hàng cụ thể Chẳng hạn, đối với mặt hànggiày dép, giày da thường được đóng gói thành từng đôi theo hộp, từ 12 – 18 hộpthành một thùng Giày nhựa hoặc vải rẻ tiền hơn thì được đóng gói trong túinylon hoặc đóng chung Các nhà nhập khẩu còn có thể yêu cầu các doanh nghiệpViệt Nam in các thông tin về đơn hàng trên hộp hoặc in một số thông tin quảngcáo cụ thể trên hộp

1.2.6.Nhãn hiệu sinh thái EU (Eco-label)

Chương trình dán nhãn sinh thái EU (Eco - labelling) đang được thực hiệnrộng rãi ở EU với mục đích phát triển các sản phẩm thân thiện với môi trường(các sản phẩm có mức bất lợi đối với môi trường thấp nhất) Quá trình đánh giádán nhãn sinh thái lên sản phẩm dựa trên sự đánh giá về toàn bộ vòng đời sảnphẩm từ thiết kế, sản xuất, đóng gói bao bì sao cho khi kết thúc vòng đời sảnphẩm việc vứt bỏ sản phẩm không làm ảnh hưởng đến môi trường Việc sử dụngnhãn hiệu sinh thái EU là tự nguyện Việc sử dụng nhãn sinh thái EU khuyếnkhích các doanh nghiệp sử dụng các nguồn tài nguyên một cách bền vững

Theo chương trình dán nhãn sinh thái EU có 14 nhóm sản phẩm thuộcchương trình này Đó là các nhóm sản phẩm: Bột giặt, bóng điện, máy giặt, giấyphotocopy, tủ lạnh, giầy dép, máy tính cá nhân, giấy ăn, máy rửa bát, máy làmmàu đất, Nệm trải giường, Sơn và véc ni, sản phẩm dệt và nước rửa bát Hiệnnay, Ủy ban Châu Âu đang nghiên cứu bổ sung thêm 7 nhóm hàng nữa vào danhsách này và sẽ mở rộng thêm nhiều nhóm hàng nữa trong tương lai

1.2.7.Quy định về nhãn mác hàng hóa

Quy định về nhãn mác là một trong những quy định bắt buộc của EU đốivới hàng hóa nhập khẩu vào thị trường này Các quy định liên quan đến nhãn

Trang 21

mác hàng hóa được quy định trong Chỉ thị về nhãn mác của EU số 94/11/EC.Các sản phẩm có liên quan đến sức khỏe của người tiêu dùng thì phải có ký mãhiệu theo quy định của EU Một số sản phẩm còn có thêm nhãn hiệu chứng nhận

bổ sung do một số cơ quan thông báo cấp để chứng nhận sản phẩm tuân thủ cácquy định của EU Tại EU có một số cơ quan chuyên trách thực hiện việc kiểmtra phân loại đối với các sản phẩm khác nhau, giấy chứng nhận do cơ quan nàycấp sẽ được các quốc gia thành viên khác chấp nhận

Đối với mặt hàng giày dép, nhãn mác là một trong những yêu cầu bắtbuộc, những thông tin trên nhãn mác sản phẩm giày dép và da phải đảm bảocung cấp đủ thông tin cần thiết cho người sử dụng Nhãn hiệu cần phải có đầy đủthông tin về các bộ phận của đôi giày như phần trên, lót, đế trong và đế ngoài vàphải được thể hiện bằng hình ảnh hoặc câu chữ Chỉ thị này đưa ra các yêu cầu

về nhãn mác chủ yếu là liên quan đến chất liệu sản xuất giày dép Quy định này

có hiệu lực thống nhất đối với tất cả các quốc gia thành viên của EU

1.2.8.Quy định trách nhiệm xã hội SA 8000

Với mục tiêu hạn chế sự cạnh tranh của các sản phẩm được sản xuất tạicác nước đang phát triển với giá nhân công rẻ xuất khẩu vào thị trường EU, EU

đã đưa ra các quy định về trách nhiệm xã hội như một loại rào cản đối với cácsản phẩm này Tiêu chuẩn SA 8000 quy định trách nhiệm xã hội của doanhnghiệp về lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, sức khỏe và an toàn của ngườilao động, quyền tự do về thành lập các hiệp hội đàm phán tập thể, chống phânbiệt đối xử, các quy định về giờ làm việc và chế độ tiền lương Việc đáp ứng đầy

đủ các quy định này là tương đối khó khăn với các doanh nghiệp Việt Nam, đặcbiệt là các doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày dép; vàviệc được công nhận đã đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn SA 8000 còn khó khăn hơn

1.2.9.Quy định đăng ký, đánh giá và cấp phép sử dụng hóa chất (REACH)

REACH là Quy chế về đăng ký, đánh giá, cấp phép sử dụng hóachất trong sản xuất Từ năm 2008 các quy định của REACH bắt đầu có hiệu lực,

Trang 22

theo đó các doanh nghiệp muốn xuất khẩu hay sử dụng hóa chất thì đều phảiđăng ký và xin phép sử dụng các loại hóa chất này.

Mục tiêu chính của REACH là để đảm bảo một mức độ cao về bảo vệ sứckhỏe con người và môi trường chống lại các rủi ro tiềm ẩn gây ra bởi hóa chất,thúc đẩy phương pháp thử nghiệm thay thế, sự lưu thông tự do của các chất trênthị trường EU và tăng cường khả năng cạnh tranh và đổi mới

Phạm vi áp dụng: các loại hóa chất và sản phẩm hóa chất (một số loại hóachất đặc biệt: phân bón, chất tẩy, chất nổ, pháo hoa, chất tiền ma túy, các hợpchất khác …), chất nano, hoặc các hóa chất dùng để sản xuất ra sản phẩm dândụng…

Mục tiêu của REACH là để bảo vệ sức khỏe và môi trường sống cho cộngđồng dân cư EU, nhưng do các tiêu chuẩn và yêu cầu cao của REACH khiến nótrở thành một rào cản đối với các doanh nghiệp Việt Nam Các doanh nghiệpViệt Nam thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ với nguồn vốn và công nghệhạn chế nên khó có thể đầu tư được các phòng thí nghiệm với trang thiết bị hiệnđại; trong khi đó Việt Nam cũng còn thiếu các trung tâm có năng lực kiểm soátcác thành phần của sản phẩm và kiểm tra chất lượng sản phẩm, do đó các doanhnghiệp thường phải gửi mẫu sản phẩm sang thị trường EU kiểm tra và đăng ký,xin cấp phép REACH Thủ tục xin cấp phép đối với REACH tương đối rườm ra

và tốn kém về mặt thời gian và chi phí, gây nhiều khó khăn cho các doanhnghiệp cũng như làm tăng giá bán sản phẩm, làm ảnh hưởng đến khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp trên thị trường EU

1.3.Những nguồn lực chủ yếu đảm bảo cho doanh nghiệp vượt rào cản kỹ thuật

Các doanh nghiệp là những người trực tiếp chịu tác động của các rào cản

kỹ thuật và là những người phải vượt qua các rào cản kỹ thuật đó để có thể đẩymạnh xuất khẩu của mình Vì vậy, bản thân các doanh nghiệp phải tích cực, chủđộng trong việc tìm ra các biện pháp để vượt qua các rào cản kỹ thuật Tuy

Trang 23

nhiên, việc các doanh nghiệp có vượt rào cản thành công hay không còn phụthuộc vào sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước Một mình doanh nghiệp khó có thểvượt thành công mọi rào cản kỹ thuật được mà họ cần có sự hỗ trợ để có đượcsức mạnh tổng hợp, có sự kết hợp giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài doanhnghiệp.

Sơ đồ 1: Các nguồn lực liên kết của doanh nghiệp

(Nguồn tác giả tự tổng hợp)

1.3.1.Các nguồn lực nội tại

Các doanh nghiệp cần tận dụng nguồn lực nội tại để có thể có các biệnpháp vượt rào cản hiệu quả Các nguồn lực nội tại của doanh nghiệp giúp cácdoanh nghiệp có thể phản ứng kịp thời trước những rào cản kỹ thuật, đồng thờiđây cũng là yếu tố dài hạn quyết định đến năng lực vượt rào cản, cũng như nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp cần đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển,công nghệ sản xuất nhằm nâng cao khả năng phát triển sản phẩm mới cũng như

DOANH NGHIỆP Các nguồn lực nội tại

NHÀ NƯỚC

HIỆP HỘI

NHÀ CUNG

CẤP

Năng lực vượt rào cản

Rào cản kỹ thuật

NHÀ NHẬP KHẨU

Trang 24

cải tiến công nghệ để có thể đáp ứng được những yêu cầu của nhà nhập khẩu EU

về chất lượng, quy cách sản phẩm Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cầnnâng cao năng lực tài chính, đầu tư vào việc cải thiện cơ sở vật chất, chất lượngnguồn nhân lực của mình để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về trách nhiệm xã hộicủa doanh nghiệp Các yếu tố này có sự tác động qua lại lẫn nhau để tạo thànhnền tảng cơ bản cho doanh nghiệp trong việc vượt rào cản kỹ thuật nói chung vàvượt rào cản kỹ thuật của EU nói riêng Tuy nhiên tuỳ thuộc vào từng ngành sảnxuất, từng chu kỳ của sản phẩm mà vai trò và tác động của các yếu tố này đếnnăng lực vượt rào cản của doanh nghiệp là khác nhau Chẳng hạn, đối với cácdoanh nghiệp dệt may việc đầu tư vào năng lực nghiên cứu và phát triển sảnphẩm mới có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm để pháttriển thương hiệu của doanh nghiệp

Bên cạnh các yếu tố cơ bản kể trên thì doanh nghiệp còn chịu tác độngcủa các yếu tố hỗ trợ khác như Logistic và cung ứng nguyên liệu, Marketing vàbán hàng, dịch vụ chăm sóc khách hàng…Các doanh nghiệp cần quan tâm đếnmạng lưới các nhà cung cấp nguyên liệu, phụ liệu, cần có một hệ thống giám sát,kiểm tra chất lượng nguyên phụ liệu, hệ thống vận chuyển, quy trình cung ứngnguyên phụ liệu để đảm bảo chất lượng của nguyên phụ liệu được cung cấp.Ngoài ra các doanh nghiệp cũng cần quan tâm đến hoạt động marketing và bánhàng Việc quản lý chất lượng sản phẩm, giá cả, hình ảnh của doanh nghiệp,thương hiệu sản phẩm, các chiến dịch quảng bá, khuyếch trương sản phẩm vàhình ảnh của mình Phát triển và hoàn thiện mạng lưới phân phối cũng là vấn đềdoanh nghiệp cần quan tâm Các doanh nghiệp cần có chế độ giám sát, kiểm traquá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ để đảmbảo sản phẩm có thể đến tay người tiêu dùng đúng thời hạn mà vẫn đảm bảođược chất lượng của hàng hóa

Các yếu tố hỗ trợ được xây dựng trên cơ sở là các yếu tố cơ bản và nhằmmục đích khai thác tốt nhất, hiệu quả nhất các yếu tố cơ bản của doanh nghiệp

Trang 25

Khách hàng đánh giá chất lượng sản phẩm, hình ảnh của doanh nghiệp thông quacác yếu tố hỗ trợ này Tuy nhiên, các yếu tố hỗ trợ này chỉ phát huy hết được tácdụng khi doanh nghiệp có được một nền tảng các yếu tố cơ bản đủ mạnh để đảmbảo cho việc triển khai thực hiện các yếu tố hỗ trợ kể trên.

Năng lực vượt rào cản của doanh nghiệp được quyết định bởi các nguồnlực từ nội tại của doanh nghiệp đó Tuy nhiên, năng lực này sẽ được nhân lênhay bị phân tán đi bởi sự liên kết của doanh nghiệp với các yếu tố môi trườngkinh doanh như Nhà nước, các hiệp hội ngành hàng, các đối tác nhập khẩu…

1.3.2.Nguồn lực liên kết giữa Nhà nước và doanh nghiệp

Nhà nước là một nguồn lực liên kết quan trọng bậc nhất đối với doanhnghiệp trong việc vượt rào cản thương mại nói chung và rào cản kỹ thuật nóiriêng, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập ở một nước đang phát triển như nước

ta Nhà nước có nhiệm vụ tạo môi trường kinh doanh thuận lợi nhất để doanhnghiệp có thể phát huy hết khả năng nội tại của mình trong việc vượt rào cản kỹthuật

Nhà nước cần phối hợp với các doanh nghiệp trong việc xây dựng hìnhảnh, thương hiệu quốc gia trước hết là trên những thị trường trọng điểm sau đó làtrên toàn bộ thị trường xuất khẩu của quốc gia Vấn đề này bao gồm các hoạtđộng như ngoại giao, hỗ trợ, các hoạt động marketing quảng bá hình ảnh củaquốc gia Các hoạt động này thường do Cơ quan xúc tiến thương mại quốc gia(CQXTTMQG) chịu trách nhiệm thực hiện, cơ quan này hoạt động trên cơ sở làlợi ích của quốc gia chứ không phải là lợi ích của một doanh nghiệp hay mộtnhóm doanh nghiệp cụ thể nào Hoạt động của CQXTTMQG cần có sự phối hợpchặt chẽ với các doanh nghiệp trong hoạt động marketing ở các thị trường nướcngoài Sự phối hợp này được thể hiện ở hai cấp độ: CQXTTMQG tiến hành cáchoạt động quảng bá hình ảnh của đất nước tại thị trường xuất khẩu và các doanhnghiệp tiến hành quảng bá cho sản phẩm cụ thể của mình tại thị trường đó Ở cấp

độ thứ nhất, CQXTTMQG tiến hành tổ chức các hoạt động quảng bá hình ảnh

Trang 26

của đất nước mình như một đất nước thân thiện, với những hàng hóa có chấtlượng cao Những hoạt động này sẽ giúp cho những người dân tại thị trườngnước ngoài có những nhận thức về quốc gia, khơi dậy nhu cầu tìm hiểu, tiêudùng về sản phẩm của quốc gia đó từ những khách hàng tiềm năng Một trongnhững quốc gia đã rất thành công trong việc quảng bá hình ảnh của đất nướcmình là Hàn Quốc Hàn Quốc đã rất thành công trong việc quảng bá hình ảnh đấtnước, con người thông qua ngành công nghiệp văn hóa với các tác phẩm truyềnhình, âm nhạc…Ta có thể thấy, việc quảng bá văn hóa Hàn Quốc luôn đi trướchoặc song hành với việc quảng bá các sản phẩm của các doanh nghiệp Hàn Quốctới các thị trường xuất khẩu của quốc gia này Ở cấp độ thứ hai, các doanhnghiệp xuất khẩu tiến hành quảng bá các sản phẩm cụ thể của mình đến cáckhách hàng tiềm năng đã có những nhận thức nhất định về nguồn gốc xuất xứcủa hàng hóa đó Khi khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp họ không chỉtin tưởng vào bản thân hàng hóa đó, mà họ còn có sự tin tưởng vào nguồn gốccung cấp hàng hóa đáng tin cậy, tức là hình ảnh của quốc gia đó Nói cách khác,trong thương hiệu của hàng hóa mà doanh nghiệp xuất khẩu ra thị trường nướcngoài còn có cả thương hiệu, hình ảnh của quốc gia trong đó Tuy nhiê, cácdoanh nghiệp cũng cần phải nhận thức được rằng CQXTTMQG chỉ có thể hỗtrợ, khuyến khích doanh nghiệp trong quá trình quảng bá sản phẩm ở thị trườngnước ngoài chứ không thể làm thay doanh nghiệp được Bên cạnh đó, các hoạtđộng được tổ chức bởi CQXTTMQG có thể là cơ hội duy nhất để các doanhnghiệp nhỏ có thể vươn ra thị trường thế giới Vì vậy, các doanh nghiệp cần có

sự phối hợp chặt chẽ với CQXTTMQG trong việc lên kế hoạch quảng bá cho cácsản phẩm ở các thị trường cụ thể Tuy nhiên, sự phối hợp này phải dựa trên cơ sở

là sự tự nguyện của cả hai bên Vai trò của CQXTTMQG trong hoạt động quảng

bá này có thể thay đổi tùy theo trình độ phát triển của nền kinh tế Nếu một quốcgia còn chưa được biết đến nhiều trên thị trường thế giới thì vai trò củaCQXTTMQG trong trường hợp này là rất quan trọng và quốc gia đó cần có ngân

Trang 27

sách đủ mạnh để có thể tổ chức những hoạt động quảng bá lớn nhằm tạo ra mộtlượng khách hàng thực sự có tiềm năng và thu hút được sự quan tâm của thịtrường nước ngoài Sự ủng hộ và hợp tác doanh nghiệp trong trường hợp này làyếu tố quyết định đến sự thành công của hoạt động quảng bá này.

Chính phủ cần tập hợp các doanh nghiệp xuất khẩu để có thể tìm ra biệnpháp giải quyết nhanh nhất các mâu thuẫn hoặc có thể đáp ứng được yêu cầu củacác thị trường nhập khẩu khi có các tranh chấp thương mại xảy ra Chính phủ cóthể tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hai cách,

đó là: tham gia trực tiếp vào việc giải quyết các tranh chấp thương mại theo cácquy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) hoặc tham gia một cách giántiếp thông qua các hiệp hội ngành nghề hoặc hiệp hội doanh nghiệp Bên cạnh

đó, việc giải quyết tranh chấp thương mại đối với các nước đang phát triển gặprất nhiều khó khăn do thiếu đội ngũ chuyên gia pháp lý có trình độ và kinhnghiệm trong việc tham gia giải quyết các tranh chấp thương mại với các nướcphát triển, đồng thời cũng không đủ khả năng tài chính để thuê đội ngũ chuyêngia pháp lý nước ngoài Vì vậy vai trò của Chính phủ trong trường hợp này là vôcùng quan trọng Chính phủ cần hiểu rõ về cơ chế giải quyết tranh chấp củaWTO để có thể sử dụng chúng như một công cụ hữu hiệu trong việc giải quyếttranh chấp thương mại với các nước phát triển

Nhà nước cần tích cực xây dựng môi trường kinh doanh trong nước lànhmạnh để các doanh nghiệp có thể nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình.Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp nguồnnhân lực, hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các doanh nghiệp Bên cạnh đó,các doanh nghiệp cần phải tích cực, chủ động phối hợp với Nhà nước trong cáchoạt động trên, điều này sẽ làm cho các hoạt động của Nhà nước có hiệu quả hơn

và được thực hiện với tốc độ nhanh hơn Chẳng hạn như trong lĩnh vực giáo dục,

sự phối hợp giữa Nhà nước và doanh nghiệp giúp cho chất lượng đào tạo của các

cơ sở đào tạo được nâng cao, ngày càng đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn

Trang 28

và cung cấp cho các doanh nghiệp nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu với chiphí thấp nhất Tóm lại, các biện pháp kết hợp giữa Nhà nước và doanh nghiệp sẽchỉ thực sự có hiệu quả khi lợi ích chính đáng của doanh nghiệp gắn liền vớimục đích, lợi ích xã hội của Nhà nước.

1.3.3.Các nguồn lực khác

Các nhà phân phối tại thị trường nhập khẩu có vai trò quan trọng trongviệc xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp và sản phẩm của họ tại thị trường nhậpkhẩu Các doanh nghiệp xuất khẩu cần phải coi các nhà phân phối như một thànhviên trong chuỗi hoạt động của mình, gắn lợi ích của họ với lợi ích của cácdoanh nghiệp xuất khẩu Có thể nói, các nhà phân phối là đại diện cho tiếng nóicủa người tiêu dùng tại thị trường nhập khẩu vì vậy việc liên minh với các nhàphân phối tại thị trường nhập khẩu là một trong những ưu tiên hàng đầu của cácdoanh nghiệp xuất khẩu

Các hiệp hội ngành hàng chính là chỗ dựa cho các doanh nghiệp khi phảiđối mặt trực tiếp với các rào cản Sự chia sẻ thông tin, kinh nghiệm của cácdoanh nghiệp trong cùng một hiệp hội sẽ giúp cho các thành viên khác giảmthiểu được những khó khăn khi thâm nhập vào thị trường nước ngoài

1.4.Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc vượt rào cản kỹ thuật của EU

Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả tập trung vào phân tích kinhnghiệm của hàng dệt may Trung Quốc trong việc vượt rào cản kỹ thuật của EU.Kinh nghiệm của Trung Quốc không chỉ có ý nghĩa đối với hàng dệt may ViệtNam xuất khẩu vào EU mà những phương thức Trung Quốc sử dụng để chốnglại hoàn toàn có thể được vận dụng linh hoạt cho các thị trường và các mặt hàngxuất khẩu khác của Việt Nam

Trung Quốc hoàn toàn có khả năng thống trị thị trường dệt may thế giớinói chung và thị trường EU nói riêng nếu không phải chịu những rào cản vànhững biện pháp hạn chế từ các nước nhập khẩu đặc biệt là từ EU Các sản phẩm

Trang 29

dệt may Trung Quốc có sức cạnh tranh lớn là do chi phí lao động trên một đơn vịsản phẩm của Trung Quốc thấp do mức lương thấp và năng suất lao động cao.Thêm vào đó Trung Quốc có thể tự sản xuất các loại vải, phụ kiện trang trí, bao

bì và một số phụ kiện khác cho các sản phẩm dệt may và các sản phẩm dệt khác

Do đó, Trung Quốc được đánh giá là nơi tốt nhất về sản xuất quần áo và các sảnphẩm dệt may khác với bất kỳ chất lượng nào và bất kỳ mức giá nào Bên cạnh

đó, Trung Quốc có khả năng cung cấp hàng dệt may với số lượng lớn trong thờigian ngắn Trong số các quốc gia ASEAN hiện nay, chỉ có Việt Nam và ở mộtmức nào đó là Indonesia được đánh giá là có khả năng cạnh tranh trong việc xuấtkhẩu hàng dệt may với Trung Quốc và Ấn Độ

Bảng 1.2: 15 nước xuất khẩu dệt may hàng đầu vào EU

Đơn vị: Triệu USD

(Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam – Vietnam Textile)

Đứng trước sự đe dọa của hàng dệt may nhập khẩu từ Trung Quốc, EUbên cạnh những rào cản chung đối với hàng dệt may đã áp dụng một số biệnpháp đối với hàng dệt may Trung Quốc như áp dụng hạn ngạch, tăng thuế…EU

đã áp đặt hạn ngạch đối với hàng dệt may Trung Quốc trong 3 năm, từ năm 2005

Trang 30

đến năm 2008 Trước những biện pháp hạn chế cũng như những rào cản từ phía

EU, Trung Quốc đã chủ động đưa ra các biện pháp đối phó Ngay khi có nhữngdấu hiệu của việc tranh chấp xảy ra, Trung Quốc đã chủ động đàm phán với EU,đồng thời tăng thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng dệt may nhằm giảm bớt sựtăng trưởng trong xuất khẩu hàng dệt may của mình Chính phủ Trung Quốccũng rất khéo léo trong việc kết hợp áp dụng các biện pháp đối với bên ngoài vàcác biện pháp áp dụng với bản thân ngành công nghiệp dệt may của mình.Những biện pháp này đã giúp cho ngành dệt may của Trung Quốc tránh đượctình trạng xuất khẩu quá nhiều sang thị trường nước ngoài dẫn đến gặp phải cácbiện pháp hạn chế hoặc các rào cản của các nước

Khi gặp phải những biện pháp trừng phạt từ phía EU, Trung Quốc cũng đãchủ động đưa ra các biện pháp tự vệ Thứ nhất, Trung Quốc đã huy động nguồnlực bên trong của các doanh nghiệp, tích cực đầu tư ra nước ngoài để xây dựngthương hiệu cho hàng dệt may Trung Quốc Các cơ quan Nhà nước có tráchnhiệm sẽ đưa ra những thông tin kịp thời về tình hình xuất khẩu và cơ hội đầu tưcủa ngành dệt may, đồng thời đưa ra những cảnh báo về những rủi ro và ngănchặn tình trạng đầu tư quá mức trong ngành dệt may Chính phủ Trung Quốccũng hỗ trợ cho các doanh nghiệp tăng mức đầu tư vào nghiên cứu phát triển,thiết kế nhằm tăng sức cạnh tranh cho hàng dệt may Trung Quốc trên thị trườngnước ngoài

Thứ hai, Trung Quốc tiến hành cắt giảm việc hoàn thuế xuất khẩu đối vớihàng dệt may Việc giảm tỷ lệ hoàn thuế xuất khẩu thể hiện nỗ lực kiểm soát vĩ

mô của Chính phủ Trung Quốc nhằm thay đổi mô hình tăng trưởng ngoại thươngcủa Trung Quốc từ tập trung vào số lượng sang nâng cao chất lượng Ngành dệtmay Trung Quốc đã chịu thiệt hại tương đối lớn khi Chính phủ Trung Quốc cắtgiảm tỷ lệ hoàn thuế xuất khẩu từ 13% xuống còn 11% vào năm 2006 Hiện nay,kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may đang gặp nhiều khó khăn do chi phí nhâncông và nguyên vật liệu thô ngày càng tăng, bên cạnh đó đồng nhân dân tệ cũng

Trang 31

tăng giá Chính những yếu tố này sẽ hạn chế được việc đầu tư quá mức vàongành dệt may, loại bỏ những phương thức sản xuất lỗi thời, giảm thiểu lượngtiêu thụ tài nguyên và cải thiện môi trường.

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy trong quá trình thiết lập quan hệthương mại với các nước phát triển, chúng ta cần chủ động trong việc nâng caonăng lực cạnh tranh và điều tiết xuất khẩu Việt Nam chưa đủ lớn và đủ mạnhnhư Trung Quốc để có các biện pháp phản hồi hay trả đũa lại các biện pháp của

EU Nếu bị trừng phạt như Trung Quốc chắc chắn ngành dệt may Việt Nam sẽ bị

đe dọa và chắc chắn sẽ chịu nhiều thiệt thòi Do vậy việc chủ động phòng tránhcác rào cản thương mại nói chung và các rào cản kỹ thuật nói riêng có ý nghĩa vôcùng quan trọng

1.5.Tầm quan trọng của việc vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với Việt Nam

Thị trường EU là một thị trường rộng lớn và phong phú, nhu cầu nhậpkhẩu hàng năm của EU rất đa dạng và phong phú Hiện nay, EU là thị trườngxuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam với những mặt hàng chủ lực như dệt may,giày dép…Những mặt hàng này của Việt Nam khá được yêu thích tại thị trường

EU và tiềm năng phát triển là khá khả quan Vì vậy, ta có thể nói rằng thị trường

EU là một thị trường quan trọng và đầy tiềm năng của Việt Nam

Rào cản kỹ thuật là một điều không thể tránh khỏi khi các doanh nghiệpxuất khẩu của Việt Nam khi thâm nhập vào thị trường nước ngoài nói chung vàthị trường EU nói riêng Do vậy, việc vượt rào cản kỹ thuật của EU đóng vai tròhết sức quan trọng và là điều cần thiết đối với các doanh nghiệp xuất khẩu củaViệt Nam khi xuất khẩu sang EU

Đối với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU, đặc biệt là cácmặt hàng xuất khẩu chủ lực như giày dép, may mặc….nước ta có một lợi thế làđiều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi và nguồn lao động dồi dào với giá rẻ; đây là

Trang 32

tiền đề để nước ta có thể phát triển ngành công nghiệp có khả năng cạnh tranhtrên thị trường quốc tế nói chung và thị trường EU nói riêng Tuy nhiên, hiện nayhoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang EU vẫn chưa tương xứng với tiềm năng

và lợi thế của mình Vì vậy, để có thể tận dụng được những lợi thế của mình, cácdoanh nghiệp cần phải vượt qua các rào cản kỹ thuật của EU để có thể đưa đượchàng hóa của mình vào thị trường EU, từ đó có thể tạo được chỗ đứng vững chắccho hàng hóa Việt Nam trên thị trường EU

Thị trường EU hiện nay ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng sảnphẩm, đặc biệt là các sản phẩm mà các quốc gia thành viên EU kém lợi thế hơn

so với các quốc gia khác Do vậy các rào cản thương mại, đặc biệt là rào cản kỹthuật được các quốc gia EU sử dụng ngày càng nhiều hơn và tinh vi hơn Đây làmột thách thức lớn đối với hàng hóa của Việt Nam Việc vượt qua các rào cản kỹthuật của thị trường EU đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam có vai tròrất to lớn

Việc vượt qua các rào cản kỹ thuật của EU sẽ giúp củng cố và nâng cao

uy tín của hàng hóa Việt Nam trên thị trường EU Khi hàng hóa Việt Nam vượtqua được các rào cản kỹ thuật và xâm nhập được vào thị trường EU tức là chấtlượng hàng hóa Việt Nam đã được khẳng định, từ đó tạo được lòng tin của ngườitiêu dùng EU đối với hàng hóa Việt Nam và vị thế của các doanh nghiệp xuấtkhẩu của Việt Nam cũng ngày càng được nâng cao Do đó tạo tiền đề cho hànghóa Việt Nam có thể xâm nhập sâu rộng hơn nữa vào các thị trường khó tínhkhác và các thị trường có sự khác biệt về văn hóa

Thêm vào đó, vượt rào cản kỹ thuật của EU giúp nâng cao hiệu quả xuấtkhẩu, giúp các doanh nghiệp thu được nhiều tệ cho đất nước, góp phần nâng caođời sống vật chất và tinh thần cho người lao động Hiện nay, hoạt động xuấtkhẩu của nước ta chủ yếu dựa vào lợi thế về giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên và

sự dồi dào về lao động trong khi đó chất lượng hàng hóa còn thấp vì vậy chúng

Trang 33

ta thường gặp bất lợi khi EU áp đặt các rào cản như thuế chống bán phá giá, cáctiêu chuẩn về vệ sinh an toàn chất lượng sản phẩm.

Việc vượt rào cản kỹ thuật của EU còn giúp phát triển các ngành sản xuấttrong nước phục vụ cho hoạt động xuất khẩu và các ngành có liên quan đến hoạtđộng xuất khẩu

Tóm lại, việc phải đối mặt với các rào cản thương mại nói chung và ràocản kỹ thuật trên thị trường EU nói riêng là một điều tất yếu đối với các doanhnghiệp Việt Nam khi tham gia vào thương mại quốc tế trong điều kiện hội nhậphiện nay Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong quá trình xâm nhậpthị trường EU đều phụ thuộc vào khả năng vượt qua các rào cản thương mại nóichung và rào cản kỹ thuật nói riêng của doanh nghiệp đó

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VƯỢT RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA EU ĐỐI VỚI HÀNG CÔNG NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM2.1.Thực trạng xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam sang EU

Trang 34

2.1.1.Tổng quan về quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU

Việt Nam và EU chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1990, kể

từ đó quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU phát triển khá nhanh Mở đầucho quan hệ thương mại giữa hai bên là việc Hiệp định dệt may giữa Việt Nam

và EU được ký tắt vào ngày 15/12/1992 và có hiệu lực từ năm 1993 (hạn ngạch

và các điều kiện tiếp cận thị trường đã được điều chỉnh vào năm 1995 và Hiệpđịnh bổ sung đã được hai bên ký kết vào năm 1996) Quan hệ thương mại giữaViệt Nam và EU đã có bước đột phát khi hai bên ký kết Hiệp định khung vềquan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Ủy ban châu Âu vào ngày 17/7/1995 và cóhiệu lực từ ngày 01/6/1996 Các điều khoản về thương mại trong hiệp định này

đã nêu rõ: Việt Nam và EU cho nhau hưởng quy chế tối huệ quốc (MFN), chế độ

ưu đãi thuế quan phổ cập (GPS), cùng một số điều kiện ưu đãi khác

Kể từ sau khi các Hiệp định trên được ký kết, các cơ hội kinh doanh, xuấtkhẩu vào thị trường EU đã được mở ra đối với các doanh nghiệp xuất khẩu củaViệt Nam Trên cơ sở khai thác các điều kiện thuận lợi trong quan hệ giữa haibên, kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vào EU

đã tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là từ năm 1995 đến nay Hiện nay, EU đang làthị trường xuất khẩu quan trọng thứ hai của Việt Nam sau Mỹ, với tỷ trọng xuấtkhẩu chiếm 23% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam (2008) Các bạn hàngtruyền thống của Việt Nam tại EU là Anh, Pháp, Đức, Hà Lan…

Năm 2010 Việt Nam và EU đã hoàn thành việc đàm phán và ký tắt Hiệpđịnh đối tác, hợp tác toàn diện (PCA) và đang tiến tới việc đàm phán và ký kếtHiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam – EU trong thời gian tới FTA vớitính chất là một cam kết mở cửa thị trường rộng và sâu trên hầu hết các lĩnh vựcthương mại (hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…), vì vậy việc ký kết FTAvới EU sẽ giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội

Trang 35

hợp tác, phát triển với một nền kinh tế lớn có hoạt động thương mại phát triểnnhư EU trong thời gian tới.

2.1.2.Quy mô xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam sang EU

Với vị trí là một trong những bạn hàng lớn và quan trọng bậc nhất củaViệt Nam, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong những năm gầnđây đã có sự tăng trưởng đáng kể Ta có thể theo dõi kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam sang EU qua bảng sau:

Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU giai đoạn 2005-2010

và đến năm 2009, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU đã giảm chỉ còn9,38 tỷ USD và dần phục hồi vào năm 2010 với tốc độ tăng trưởng đạt 21,32%

Nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút trong kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam sang EU trong năm 2008 và 2009 là do tác động của cuộc khủng hoảngkinh tế tài chính toàn cầu Cuộc khủng hoảng này đã tác động đến toàn bộ nền

Trang 36

kinh tế thế giới và đời sống của người tiêu dùng cũng bị ảnh hưởng, do đó họthắt chặt chi tiêu Cuộc khủng hoảng xảy ra vào cuối năm 2008 tại Mỹ và lanrộng ra toàn thế giới, do đó xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong năm 2008mặc dù có tăng nhưng đã chậm hơn so với những năm trước đó Năm 2009, dướiảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang

EU đã giảm đến 13,91% so với năm 2008 và chỉ đạt giá trị là 9,38 tỷ USD

Sang đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU đã có sựtăng trưởng trở lại nhưng khó có thể đạt được tốc độ cao như thời kỳ trướckhủng hoảng năm 2008 Năm 2010 xuất khẩu Việt Nam sang EU tăng với tốc độ21,32% do lợi thế về hàng hóa giá rẻ hơn so với các quốc gia khác Tuy nhiên,lợi thế này của Việt Nam sẽ không được duy trì trong thời gian tới do các quốcgia khác cũng tập trung vào điểm này

Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong thời giangần đây có thể nhận thấy tỷ trọng của nhóm hàng công nghiệp đang ngày cànggia tăng

Bảng 2.2: Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU

Trang 37

(Nguồn: Bộ Công Thương, Tổng cục thống kê và tác giả tự tổng hợp)

Từ bảng trên, ta có thế thấy kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nguyênliệu liên tục tăng qua các năm từ 2005 đến 2007 Mặc dù kim ngạch của nhómhàng này có sự giảm sút vào năm 2009 nhưng sau đó đã tăng lại vào năm 2010

Tỷ trọng của nhóm hàng này luôn chiếm ở mức trên 50% tổng kim ngạch xuấtkhẩu sang EU, cụ thể là 55,6% (2009) và 51,3% (2010) Như vậy, ta có thể thấynhóm hàng công nghiệp là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào EU

2.1.3.Cơ cấu các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam sang EU

Mặc dù EU là một thị trường khó tính nhưng hàng hóa Việt Nam đã cónhững cơ hội để thâm nhập thị trường này Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu củaViệt Nam vào EU có những thay đổi theo từng thời kỳ nhất định Nếu trongnhững năm đầu thiết lập quan hệ thương mại với EU, gạo và nông sản là nhữngmặt hàng chủ lực của Việt Nam thì trong những năm gần đây với sự ưu tiên pháttriển các ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu củaViệt Nam vào EU đã có sự thay đổi

Trang 38

Bảng 2.3: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang EU

Đơn vị: Tỷ USD

Giày dép các loại 1,760 1,82 2,1 2,508 1,948 2,226Hàng dệt may 0,847 1,243 1,489 1,704 1,603 1,883

Gỗ và các sản phẩm từ gỗ 0,465 0,486 0,621 0,806 0,550 0,627Máy vi tính và linh kiện điện tử 0,197 0,275 0,415 0,457 0,416 0,577

(Nguồn: Bộ Công Thương và Tổng cục thống kê)

Từ bảng số liệu trên, ta thấy kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng của ViệtNam vào EU có xu hướng tăng qua các năm nhưng vẫn tập trung chủ yếu vàomột số mặt hàng xuất khẩu chủ lực mà Việt Nam có lợi thế hơn hẳn như giàydép, dệt may Năm 2005, kim ngạch hàng dệt may là khoảng 847 triệu USD,chiếm 15,35% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU, trong khi đókim ngạch hàng giày dép là 1,760 tỷ USD, chiếm 31,9% tổng kim ngạch xuấtkhẩu sang EU Đến năm 2010, kim ngạch của ngành may mặc đã đạt 1,883 tỷUSD, chiếm 16,55% tổng kim ngạch xuất khẩu sang EU; còn mặt hàng giày dépvẫn tiếp tục giữ vững vị trí hàng đầu của mình với kim ngạch đạt 2,226 tỷ USD,nhưng tỷ trọng của ngành hàng này trong tổng kim ngạch xuất khẩu đã giảmxuống, chỉ còn chiếm 19,56% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU.Điều này là do tác động của thuế chống bán phá giá của EU đối với giày mũi dacủa Việt Nam xuất khẩu vào EU

Việt Nam có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân công rẻ nênhầu hết các hàng hóa của Việt Nam đều chịu tác động của rào cản lớn nhất làthuế chống bán phá giá mà EU áp cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.Mặt hàng mới nhất phải chịu thuế chống bán phá giá của EU là mặt hàng giày

Trang 39

mũi da của Việt Nam Ngày 7/4/2006, mức thuế chống bán phá giá chính thức đãđược áp dụng đối với giày mũi da của Việt Nam với mức khởi điểm là 4,2% vàmức thuế này tăng dần lên đến mức 16,8% vào tháng 9/2006 Tuy nhiên, kimngạch xuất khẩu mặt hàng giày dép của Việt Nam vào EU có thể sẽ tăng trưởngtrở lại vào năm 2011 khi mức thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng giày mũi

da của Việt Nam được dỡ bỏ từ ngày 1/4/2011 Bên cạnh giày mũi da, một sốmặt hàng khác của Việt Nam đã và đang phải chịu thuế chống bán phá giá của

EU như: năm 2003 mặt hàng oxit kẽm bị áp mức thuế 28%, năm 2004 mặt hàngvòng khuyên kim loại bị áp thuế 51,2 – 78,8%, mặt hàng xe đạp với mức thuế15,8 – 34,5%, mặt hàng đèn huỳnh quang với mức thuế 66,1% Kim ngạch xuấtkhẩu của các mặt hàng này của Việt Nam sang EU đã chịu tác động tiêu cực từviệc bị áp thuế chống bán phá giá Vấn đề này đã gây ra không ít khó khăn chocác doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam sang EU

2.1.4.Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam sang EU

EU là một thị trường xuất khẩu tương đối rộng lớn với tính chất đa dạng

và phong phú Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với toàn bộ 27 nướcthành viên của EU trong đó có các bạn hàng truyền thống như Anh, Pháp, Đức,

Hà Lan….Bên cạnh đó, chúng ta cũng đang tích cực xúc tiến nhằm đẩy mạnh và

mở rộng thị trường của mình tại các nước đối tác mới tại EU

Bảng 2.4: Các thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam tại EU

Trang 40

Đon vị: Tỷ USD

Các thị

trường

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Trong số các bạn hàng EU của Việt Nam đứng đầu là Đức, sau đó là Anh,

Hà Lan, Pháp, Bỉ, Italia…Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Đức luôn đạt

ở mức cao và có xu hướng tăng Trong khi đó, đối với thị trường Anh, đây là đốitác lớn thứ hai của Việt Nam ở EU trước cuộc khủng hoảng 2008; tuy nhiên kể

từ sau khủng hoảng đến nay, Hà Lan đang dần trỗi dậy để trở thành thị trườngxuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam tại EU Đối với các thị trường khác, mặc dù

có sự tăng giảm không ổn định nhưng nhìn chung kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam sang các thị trường này đang có xu hướng gia tăng và dần phục hồi lại tốc

độ tăng trưởng sau cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính năm 2008

2.2.Thực trạng vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam

Thị trường EU là một trong những thị trường khó tính với nhiều rào cản

kỹ thuật được dựng lên nhằm hạn chế việc xâm nhập của hàng hóa nước ngoài,

Ngày đăng: 01/05/2015, 05:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Các nguồn lực liên kết của doanh nghiệp - Luận văn thạc sỹ: Vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam
Sơ đồ 1 Các nguồn lực liên kết của doanh nghiệp (Trang 23)
Bảng 1.2: 15 nước xuất khẩu dệt may hàng đầu vào EU - Luận văn thạc sỹ: Vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam
Bảng 1.2 15 nước xuất khẩu dệt may hàng đầu vào EU (Trang 29)
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU giai đoạn 2005-2010 - Luận văn thạc sỹ: Vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU giai đoạn 2005-2010 (Trang 35)
Bảng 2.2: Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU  giai đoạn 2005 – 2010 - Luận văn thạc sỹ: Vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam
Bảng 2.2 Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU giai đoạn 2005 – 2010 (Trang 36)
Bảng 2.3: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang EU - Luận văn thạc sỹ: Vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam
Bảng 2.3 Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang EU (Trang 38)
Bảng 2.5: Kim ngạch xuất khẩu hàng giày dép Việt Nam sang EU  giai đoạn 2005-2010 - Luận văn thạc sỹ: Vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam
Bảng 2.5 Kim ngạch xuất khẩu hàng giày dép Việt Nam sang EU giai đoạn 2005-2010 (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w