Rào cản thương mại của Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Trang 1MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu, hình vẽ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ KINH NGHIỆM VƯỢT QUA RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY CỦA MỘT SỐ NƯỚC 5
1.1 Một số vấn đề chung về rào cản trong thương mại quốc tế 5
1.1.1 Khái niệm rào cản thương mại quốc tế 5
1.1.2 Sự hình thành của các rào cản trong thương mại quốc tế 6
1.1.3 Phân loại các loại rào cản 9
1.1.4 Xu thế phát triển của các loại rào cản thương mại 19
1.2 Rào cản đối với hàng dệt may trong thương mại quốc tế 21
1.2.1 Sự hình thành rào cản thương mại đối với hàng dệt may 21
1.2.2 Đặc điểm của các rào cản đối với hàng dệt may trong thương mại quốc tế 24 1.3 Sự cần thiết phải vượt qua rào cản thương mại nói chung và rào cản đối với hàng dệt may nói riêng 25
1.3.1 Khái niệm vượt qua rào cản thương mại 25
1.3.2 Sự cần thiết phải vượt qua rào cản thương mại 26
1.4 Kinh nghiệm vượt qua rào cản thương mại đối với hàng dệt may của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 33
1.4.1 Trung Quốc 33
1.4.2 Ấn Độ 36
1.4.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VƯỢT QUA RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ 40
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển các rào cản thương mại đối với hàng dệt may nhập khẩu vào thị trường Mỹ 40
2.2 Thực trạng các rào cản thương mại đối với hàng dệt may nhập khẩu vào thị trường Mỹ và kết quả nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ Việt Nam 42
2.2.1 Thực trạng các rào cản thương mại đối với hàng dệt may nhập khẩu vào thị trường Mỹ 42
2.2.2 Tình hình nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam của Mỹ 50
2.3 Các biện pháp Việt Nam đã áp dụng để vượt qua các rào cản thương mại của Mỹ đối với hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam 63
Trang 22.3.1 Các biện pháp từ phía của Chính phủ 63
2.3.2 Các biện pháp từ phía Hiệp hội dệt may 69
2.3.3 Các biện pháp từ phía các doanh nghiệp 70
2.4 Đánh giá thực trạng trong việc vượt qua rào cản thương mại của Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam 72
2.4.1 Những ưu điểm trong việc vượt qua các rào cản thương mại của Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam 72
2.4.2 Những tồn tại, hạn chế trong việc vượt qua các rào cản thương mại của Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam 73
2.4.3 Nguyên nhân của các tồn tại 75
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP VƯỢT QUA RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ 78
3.1 Cơ hội và thách thức của việc Việt Nam xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ khi là thành viên chính thức của WTO 78
3.1.1 Cơ hội xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ 78
3.1.2 Thách thức đối với xuất khẩu dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ khi Việt Nam là thành viên của WTO 79
3.2 Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến 2015 80
3.2.1 Quan điểm phát triển của ngành dệt may 80
3.2.2 Mục tiêu chiến lược của ngành dệt may 81
3.2.3 Định hướng phát triển cho ngành dệt may 82
3.3 Dự báo về thị trường dệt may Mỹ đến năm 2010 và những rào cản thương mại đối với hàng dệt may của Mỹ 83
3.4 Một số quan điểm về vượt qua các rào cản thương mại dệt may của Mỹ đối với hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam 85
3.5 Một số giải pháp vượt qua các rào cản thương mại đối với hàng dệt may của các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ 86
3.5.1 Giải pháp từ phía Chính phủ 86
3.5.2 Giải pháp từ phía Hiệp hội dệt may 91
3.5.3 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 94
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATC : Hiệp định dệt may
DOC : Bộ thương mại Mỹ
EU : Liên minh châu Âu
FTC : Uỷ ban thương mại liên bang
GSP : Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập
ITC : Uỷ ban thương mại quốc tế Mỹ
MFN : Đối xử tối huệ quốc
NAFTA : Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
USTR : Đại diện thương mại Mỹ
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng biểu
Bảng 1.1: Số liệu về các vụ điều tra mới và áp dụng các biện
pháp chống bán phá giá từ 1/1997 đến 12/2007 12Bảng 1.2: Số liệu về các vụ điều tra mới và áp dụng các biện
pháp chống trợ cấp 1/1998-12/2007 16Bảng 1.3: Chương trình nhất thể hoá hàng dệt may 23
Bảng 2.2: Các bước điều tra chống bán phá giá (AD) 45Bảng 2.3: Các bước điều tra chống trợ cấp (CVD) 46Bảng 2.4: Kim ngạch nhập khẩu dệt may của Mỹ từ một số nước
Bảng 2.5: Tóm tắt những ảnh hưởng của việc loại bỏ hạn ngạch
dệt may năm 2005 và những yếu tố cạnh tranh chính 53Bảng 2.6: Các mặt hàng dệt may quản lý bằng hạn ngạch 58
Hình vẽ
Hình 2.1: Tổng kim ngạch dệt may của Mỹ tính theo tỷ USD
Hình 2.2: Nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ Việt Nam tính theo
Hình 2.3: Thị phần hàng dệt may tại Mỹ (% tính theo trị giá) 61
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thương mại quốc tế những thập niên gần đây đã có bước tăng trưởng độtbiến cả về chất và lượng Song song với sự tăng trưởng mạnh mẽ này, các khuvực và quốc gia trên thế giới cũng đã và đang tích cực mở cửa thị trường nộiđịa của mình để phù hợp với xu hướng tự do hoá thương mại - một xu thếkhách quan, là nền tảng của sự phát triển, đưa các quốc gia xích lại gần nhau,thân thiện hơn trong quan hệ sản xuất, kinh doanh và chia sẻ thịnh vượngchung Tuy nhiên, càng thực hiện tự do hoá thương mại, càng mở cửa, thìcạnh tranh giữa các quốc gia, các khu vực cũng theo đó càng gay gắt Vớithực tế đó và để giữ vững quyền lợi của mình, các quốc gia đồng thời thựchiện các chính sách theo hai xu thế trái ngược: một mặt tăng cường đổi mớicông nghệ, nâng cao kỹ năng quản lý, tăng chất lượng, giảm giá thành; mặtkhác tăng cường bảo hộ trong nước thông qua những hàng rào thương mại.Thực tế cho thấy, không một quốc gia nào, dù là nước có nền kinh tế hùngmạnh như Mỹ hay Nhật Bản lại không có nhu cầu bảo hộ nền sản xuất trongnước cũng như tăng cường xâm nhập thị trường nước ngoài nhằm tối đa hoálợi ích Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), kể từ khi được thành lập, đã cónhững nỗ lực rất lớn trong việc điều chỉnh các rào cản thương mại quốc tếthông qua việc khuyến khích và ép buộc các thành viên giảm thuế, xoá bỏhàng rào phi thuế Tuy nhiên, lợi ích kinh tế lại là một điều rất hấp dẫn đốivới con người, ở mọi chế độ và thời đại Vì vậy, bất chấp những nỗ lực củaWTO, song song với việc xoá bỏ những rào cản thương mại hữu hình, dễ pháthiện, các nước ngày càng có xu thế tạo nên những rào cản vô hình mà thoạtnhìn qua, nhiều người sẽ lầm tưởng đó là những chính sách, quy định, yêu cầu
có vẻ hợp lý nhưng thực chất đó là những biện pháp cạnh tranh không lànhmạnh
Với tinh thần hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện nhất quán đường lối đối
Trang 6ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc
tế, Việt Nam đã gia nhập nhiều tổ chức khu vực và quốc tế như: Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - TháiBình Dương (APEC), Hợp tác Á - Âu (ASEM), Hiệp định Thương mại tự doASEAN-Trung Quốc (ACFTA) và mới đây nhất là gia nhập WTO Việc gianhập WTO đã mang lại cho Việt Nam nhiều thuận lợi trong việc đưa các mặthàng xuất khẩu chủ lực - trong đó có hàng dệt may - xâm nhập vào các thịtrường rộng lớn, nhất là thị trường đầy tiềm năng như Hoa Kỳ Tuy nhiên, thịtrường Hoa Kỳ cũng lại là thị trường chứa đựng nhiều rào cản thương mạiphức tạp và đa dạng nhất Việc nhận biết, hiểu rõ những rào cản thương mạinày là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có đốisách phù hợp trong quá trình mở rộng thị trường tại Hoa Kỳ Mặc dù vậy,hiện nay mới chỉ có những đề tài nghiên cứu về rào cản thương mại trên thếgiới nói chung chứ chưa có một đề tài nào tập trung nghiên cứu các rào cảnthương mại đối với một mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may tại một thị
trường khó tính như thị trường Mỹ Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Rào cản thương mại của Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu hoàn thành luận văn thạc sỹ của mình Đề tài sẽ
đề cập đến những kiến thức cơ bản và mới nhất về các rào cản thương mại màHoa Kỳ áp dụng đối với các sản phẩm dệt may, đồng thời cũng đưa ra nhữngkiến nghị với chính phủ và các giải pháp thực tiễn, cụ thể cho các doanhnghiệp dệt may Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng vượt qua các rào cản thương mại của Mỹ đối với hàngdệt may nhập khẩu từ Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm vượt quanhững rào cản đó đối với hàng dệt may Việt Nam đến 2010 và các năm tiếptheo khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO
Trang 72.2Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nói trên, cần thực hiện các nhiệm
vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu sự hình thành, khái niệm cơ bản về rào cản thương mại;phân loại các loại rào cản; chỉ ra xu thế phát triển của rào cản thươngmại trên thế giới; sự cần thiết phải vượt qua các rào cản thương mại vàkinh nghiệm của một số quốc gia trong việc vượt qua rào cản thươngmại đối với hàng dệt may của Mỹ
- Phân tích thực trạng các rào cản nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ; ảnhhưởng của các rào cản thương mại Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam;đánh giá những ưu điểm và những tồn tại, hạn chế của những biện pháp
mà Việt Nam đã thực hiện để vượt qua các rào cản; nguyên nhân củanhững tồn tại đó
- Đề xuất những giải pháp từ phía chính phủ, Hiệp hội dệt may và doanhnghiệp nhằm vượt qua các rào cản thương mại khi doanh nghiệp xuấtkhẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ đến năm 2010 trong bối cảnhViệt Nam là thành viên chính thức của WTO
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các rào cản thương mại của Mỹ đối vớihàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam và các biện pháp vượt qua các rào cảnthương mại đó
3.2Phạm vi nghiên cứu
Do những hạn chế về mặt kiến thức, kinh phí cũng như thời gian nên phạm
vi nghiên cứu của đề tài mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu các rào cản thươngmại đối với hàng dệt may của các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu vào thịtrường Mỹ từ khi Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hoá quan hệ ngoại giaonăm 1995 đến nay Đề tài cũng được nghiên cứu trên giác độ vĩ mô, tức lànghiên cứu các rào cản thương mại của Mỹ đối với các doanh nghiệp dệt may
Trang 8nói chung chứ không nghiên cứu cụ thể rào cản đối với một doanh nghiệp dệtmay nào.
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Lênin được vận dụng xuyên suốt đề tài để đảm bảo tính liên kết về mặtthời gian và nội dung giữa các chương, các mục và tính hệ thống của đềtài
Mác Phương pháp tiếp cận cá biệt và so sánh: dùng để tiếp cận từng loại ràocản thương mại cụ thể, sau đó so sánh tác động, ảnh hưởng của các loạirào cản với sự phát triển thương mại hàng hoá nói chung và hàng dệtmay nói riêng
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
5 Kết cấu luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, kết cấu củaluận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về rào cản trong thương mại quốc tế và
kinh nghiệm vượt qua rào cản thương mại đối với hàng dệt may của một số nước
- Chương 2: Thực trạng vượt qua rào cản thương mại đối với hàng
dệt may Việt Nam nhập khẩu vào thị trường Mỹ
- Chương 3: Các giải pháp vượt qua rào cản thương mại đối với
hàng dệt may Việt Nam nhập khẩu vào thị trường Mỹ
Trang 9CHƯƠNG 1 L
Ý LUẬN CHUNG VỀ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ KINH NGHIỆM VƯỢT QUA RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG
DỆT MAY CỦA MỘT SỐ NƯỚC
Chương này trình bày khái niệm và các loại rào cản nói chung trong thương mại quốc tế Trên cơ sở đó, trình bày những rào cản cụ thể trong ngành dệt may và tổng kết một số kinh nghiệm vượt qua các rào cản này của hai quốc gia xuất khẩu dệt may lớn là Trung Quốc, Ấn Độ và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Một số vấn đề chung về rào cản trong thương mại quốc tế
Khái niệm rào cản thương mại quốc tế
Rào cản thương mại quốc tế tuy đã được biết đến từ lâu nhưng vẫn chưa
có một tài liệu chính thức nào đưa ra định nghĩa về khái niệm này một cáchkhoa học, rõ ràng và đầy đủ Trong thương mại quốc tế, rào cản được biết đếndưới nhiều tên khác như các biện pháp bảo hộ, các biện pháp hỗ trợ thươngmại trong nước hay các biện pháp vãn hồi công bằng trong thương mại,…Thuật ngữ rào cản đối với thương mại được đề cập lần đầu tiên và chính
thức trong Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Agreement on technical Barriers to trade) của Tổ chức Thương mại thế giới Tuy nhiên,
trong Hiệp định, thuật ngữ này cũng chưa được định danh mà mới chỉ đượcthừa nhận như một thoả thuận: “Không một nước nào có thể bị ngăn cản tiếnhành các biện pháp cần thiết để đảm bảo cho chất lượng hàng hoá xuất khẩucủa mình hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ con người, động vật và thựcvật, bảo vệ môi trường hoặc ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở mức độ nước
đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng, các biện pháp này không được tiếnhành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặckhông thể biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau hoặctạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác,phải phù hợp với các qui định của hiệp định này”
Trang 10Trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, thuật ngữ rào cản cũngkhông được định nghĩa một cách văn bản hoá mà chỉ ngầm thừa nhận: “Bất
kỳ biện pháp nào của một bên, dưới hình thức luật, quy định, thể lệ, thủ tục,quyết định, hành vi hành chính, hay dưới bất kỳ một hình thức nào khác màmột bên duy trì hoặc áp dụng trên một phần hoặc toàn bộ lãnh thổ của mình,trừ khi được quy định khác trong lộ trình cam kết”
Thực chất, các biện pháp này đều giống nhau ở hệ quả cản trở dòng chảycủa hàng hóa xuất khẩu, vì thế được gọi là "rào cản" Như vậy, rào cản trongthương mại quốc tế có thể hiểu một cách khái quát là: “bất cứ biện pháp hayhành động nào gây cản trở đối với thương mại quốc tế”
Sự hình thành của các rào cản trong thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi các mặt hàngthiết yếu giữa các quốc gia có năng lực sản xuất và lợi thế cạnh tranh khácnhau Khi lượng hàng hoá sản xuất ra chưa đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thìthương mại quốc tế diễn ra tự do, hầu như không tồn tại các rào cản Tuynhiên, với cuộc cách mạng khoa học diễn ra vào thế kỷ 17, hàng hoá sản xuất
ra ngày một nhiều và tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của cầu Chínhvào thời kỳ này, các rào cản đã bắt đầu xuất hiện với mục đích cản trở cácdòng hàng hoá nhập khẩu vào một quốc gia Đặc biệt trong cuộc khủng hoảngkinh tế 1929-1933, các quốc gia đã nâng cao hàng rào bảo hộ bằng cách tăngthuế quan và kiểm soát chặt chẽ ngoại hối, tăng cường các biện pháp trả đũa.Như vậy, lý do ban đầu dẫn tới việc hình thành các rào cản thương mại chính
là bảo hộ sản xuất trong nước
Rào cản trong thương mại quốc tế không được định nghĩa một cách chínhthức và rõ ràng trong hệ thống các điều ước hay luật pháp quốc tế nhưng lạiđược Nhà nước hoặc các Chính phủ vận dụng các quy định trong nhiều Hiệpđịnh và Công ước quốc tế để ban hành thành hệ thống pháp luật của quốc gia.Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng không có quy định chínhthức dưới tên gọi rào cản hoặc một hệ thống luật pháp riêng có liên quan đến
Trang 11rào cản mà nó nằm trong nhiều hệ thống pháp luật khác nhau Rào cản thươngmại nhìn chung sẽ đem lại lợi ích cho một nhóm người nhất định nào đó Xéttrên khía cạnh này, sự hình thành các loại rào cản trong thương mại quốc tế cóthể xuất phát từ một trong ba chủ thể sau:
- Từ phía doanh nghiệp: Hầu hết các doanh nghiệp của bất kỳ một ngànhsản xuất kinh doanh nào cũng muốn được nhà nước bảo hộ Trước hết là đểtránh được sự cạnh tranh của nước ngoài Nhưng ngay cả khi không lo ngại sựcạnh tranh của nước ngoài thì rào cản thương mại cũng giúp họ có thêm vị trítrên thị trường và có khả năng thu được lợi nhuận cao hơn Xuất phát từ lợiích đó, các doanh nghiệp sẽ tập hợp dưới danh nghĩa Hiệp hội ngành nghề đểtiến hành vận động hành lang đối với Chính phủ, nhằm tác động để Chính phủ
ra các chính sách thương mại có lợi cho mình Các tác động từ phía doanhnghiệp hết sức mạnh mẽ và có tổ chức, với nhiều hình thức khác nhau Trongnhiều trường hợp, với khả năng tài chính của mình, các doanh nghiệp có khảnăng tác động rất lớn tới Nhà nước, thông qua các biện pháp tiêu cực Hoặcnếu không họ sẽ viện dẫn các lý do có vẻ rất chính đáng như: ngành côngnghiệp non trẻ, cần phải bảo hộ; ngành sản xuất có liên quan đến việc làm củanhiều người lao động; ngành sản phẩm có liên quan đến an ninh quốc gia (anninh lương thực) Dưới tác động của các doanh nghiệp, Chính phủ có thể sẽphải đưa ra các rào cản thuế quan hoặc phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trongnước
- Từ phía người lao động và người tiêu dùng: Một trong những lý do lớndẫn tới việc hình thành các rào cản là để bảo vệ người lao động Trước hết là
để bảo vệ cho người lao động (thuộc ngành được bảo hộ) có công ăn việclàm, và sau đó là để bảo vệ cho họ có thu nhập ổn định Người lao động cóthể thông qua các nghiệp đoàn để đấu tranh hoặc đòi hỏi Chính phủ hạn chếsản phẩm, doanh nghiệp và kể cả công nghệ có năng suất cao thâm nhập vàothị trường nội địa của họ Cũng có khi họ mượn cớ rằng để bênh vực ngườilao động của nước khác phải làm việc trong điều kiện không được bảo đảm,
Trang 12rằng vì lý do sử dụng lao động trẻ em hay tù nhân nên sản phẩm đưa vào thịtrường với giá rẻ Đây chính là lý do mà Chính phủ phải dựng nên rào cản vớitên gọi là trách nhiệm xã hội theo SA 8000
Người tiêu dùng cũng có tác động rất lớn đến việc hình thành các rào cảntrong thương mại quốc tế, đặc biệt là các rào cản kỹ thuật, rào cản hành chính.Với lý do là để bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ động thực vật hoặc là bảo
vệ môi trường, người ta có thể đưa ra các tiêu chuẩn hay quy định kỹ thuật rấtcao tới mức cản trở thương mại hoặc có thể đưa ra các biện pháp cấm nhậpkhẩu ngay cả khi nguy cơ chưa được phân tích và xác định một cách khoahọc Nhìn chung, dưới tác động của dân chúng (người lao động và người tiêudùng), Chính phủ của các nước sẽ phải sử dụng các biện pháp khác nhau đểđáp ứng nguyện vọng của dân chúng Trong nhiều trường hợp, các biện phápđược áp dụng sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở thương mại quốc tế
- Từ phía Chính phủ: Xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của quốc gia và vận động của các nhóm khác nhau, Chính phủ sẽ phảicân nhắc đến lợi ích của từng nhóm cũng như tổng thể để quyết định xem cónên thực thi một rào cản nào đó hay không Quá trình này không phải dễ dàng
vì tính toán lợi ích, thiệt hại một cách tổng thể là rất khó khăn, đặc biệt là giữacái trước mắt và lâu dài cũng như phản ứng của các đối tác thương mại chínhcũng như các quốc gia có liên quan
Bất kỳ chính sách rào cản nào cũng có thể có lợi cho doanh nghiệp vàngười lao động trong ngành được bảo hộ, nhưng lại gây hại cho các ngànhkhác và cho người tiêu dùng nói chung Những người bị thiệt đương nhiên sẽ
có sự phản kháng hoặc sử dụng các biện pháp trả đũa Tuy vậy, Chính phủvẫn phải ra các quyết định dựa trên sự cân nhắc và điều hoà lợi ích một cáchhợp lý, kể cả những yếu tố trong nước và ngoài nước Xu hướng chung hiệnnay là căn cứ vào các định chế và thoả thuận trong khuôn khổ của WTO cũngnhư dựa vào các tiêu chuẩn và cam kết quốc tế khác để quyết định biện pháp
áp dụng
Trang 13Ngoài ra, trong nhiều trường hợp luôn có sự cấu kết giữa doanh nghiệp vàNhà nước vì lợi ích của hai phía có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, tăng mức độbảo hộ bằng thuế quan thì thu ngân sách của Nhà nước sẽ tăng lên trong ngắnhạn Bên cạnh đó còn là sự xoa dịu của Chính phủ với người lao động hoặcdân chúng nhằm đạt được lòng tin của dân chúng với chính phủ Sự xoa dịunày có thể được viện dẫn bởi các lý do như đảm bảo an ninh xã hội, an toàncho dân cư hoặc là để bảo vệ các giá trị văn hoá và đạo đức.
Phân loại các loại rào cản
Có nhiều cách khác nhau để phân loại rào cản trong thương mại quốc tế:
- Dựa vào lĩnh vực rào cản bảo hộ: rào cản trong lĩnh vựa nông nghiệp,rào cản trong lĩnh vực công nghiệp, rào cản trong lĩnh vực dịch vụ,…
- Dựa vào thị trường: rào cản trên thị trường EU, rào cản trên thị trườngHoa Kỳ, rào cản trên thị trường Nhật Bản,…
- Dựa vào phạm vi áp dụng rào cản: rào cản mang tính quốc tế, rào cảnkhu vực, rào cản quốc gia
- Dựa vào tính chất thuế của rào cản: rào cản thuế quan và rào cản phithuế quan
Đề tài này sẽ sử dụng cách phân loại thông dụng nhất là dựa vào tính chấtthuế của rào cản
1.1.1.1 Rào cản thuế quan
Thuế quan được áp dụng trước hết là nhằm mục đích tăng nguồn thu ngânsách cho chính phủ, sau đó là vì những mục đích khác như ngăn chặn hàngnhập khẩu và bảo vệ hàng trong nước, trả đũa một quốc gia khác, bảo vệ mộtngành sản xuất quan trọng hay còn non trẻ của nước mình
Thuế quan đánh vào hàng hóa xuất, nhập khẩu có thể dưới dạng thuế phầntrăm, thuế đặc định hoặc thuế hỗn hợp (kết hợp giữa thuế phần trăm và thuếđặc định) Thuế quan được WTO coi là hợp lệ và cho phép các nước thànhviên duy trì, nhờ sự minh bạch và tính dễ dự đoán trong việc áp dụng biệnpháp này Tuy nhiên, thông qua các vòng đàm phán, WTO luôn hướng tới
Trang 14mục tiêu cắt giảm thuế quan và tăng mức độ ràng buộc thuế (các nước thànhviên không được phép tăng thuế lên trên mức trần đã cam kết trong biểu).Thuế suất đã được giảm đáng kể qua tám vòng đàm phán trong khuôn khổHiệp định thuế quan (GATT) trước đây, đặc biệt là sau Vòng đàm phánUrugoay, thuế công nghiệp bình quân của các nước phát triển được giảmxuống 3,8%, các nước này cũng đồng ý cắt giảm 36% mức thuế nông nghiệp(và các nước đang phát triển đồng ý cắt giảm 24% thuế nông nghiệp), tỷ lệràng buộc số dòng thuế trong cả biểu thuế với các nước phát triển đạt 99%,với các nước đang phát triển đạt 73% và với các nền kinh tế chuyển đổi đạt98%
1.1.1.2 Rào cản phi thuế quan
Rào cản phi thuế quan là rào cản không dùng thuế quan mà sử dụng cácbiện pháp hành chính để phân biệt đối xử chống lại sự thâm nhập của hànghóa nước ngoài, bảo vệ hàng hóa trong nước
Các hàng rào này bao gồm: hạn ngạch, cấp phép, định giá hải quan, quyđịnh về xuất xứ, kiểm tra hàng hoá trước khi xuống tầu, các quy định về kỹthuật, vệ sinh, nhãn mác, trợ cấp, chống bán phá giá, sở hữu trí tuệ
an ninh quốc phòng Còn Hạn ngạch nhập khẩu là việc các nước đặt ra mức
nhập khẩu cho một số loại hàng hoá trong một thời kỳ nhất định Trong xuhướng tự do hoá thương mại, các nước cũng đã dần xoá bỏ cơ chế hạn ngạch.Ðơn cử như vào năm 2000, Trung Quốc áp dụng hạn ngạch nhập khẩu đối với
57 nhóm hàng, bao gồm đồng hồ, xe máy, ngũ cốc, dầu ăn, phân bón, thép,hàng dệt may, thuốc lá Thế nhưng sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã bãi
Trang 15bỏ chế độ hạn ngạch với hơn một nửa nhóm hàng và cam kết lịch trình loại bỏđối với các mặt hàng còn lại muộn nhất đến 2005 Tuy nhiên đến nay hạnngạch vẫn được áp dụng phổ biến trong hai lĩnh vực mà Việt Nam có thếmạnh xuất khẩu là dệt may và nông nghiệp Vì thế Việt Nam sẽ rất khó thâmnhập vào thị trường của các nước áp dụng biện pháp này
Nhìn chung, các biện pháp hạn chế định lượng được coi là có tác dụng bảo
hộ mạnh hơn các biện pháp thuế quan và trực tiếp bóp méo thương mại Dovậy, Ðiều XI của Hiệp định GATT không cho phép các nước thành viên ápdụng các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hóa
"Không áp dụng hạn chế định lượng" là một trong những nguyên tắc cơ bảncủa WTO Tuy nhiên, Hiệp định GATT đưa ra một số ngoại lệ với nguyên tắcnày, cho phép các nước thành viên được áp dụng các biện pháp hạn chế địnhlượng theo những điều kiện nghiêm ngặt Thí dụ như để đối phó tình trạngthiếu lương thực trầm trọng (Ðiều XI:2), bảo vệ cán cân thanh toán (ÐiềuXVII:B), bảo vệ sức khỏe con người, động thực vật (Ðiều XXV) và bảo vệ anninh quốc gia (Ðiều XXIV)
Cấp giấy phép nhập khẩu
Trước đây, cấp phép nhập khẩu là một biện pháp được sử dụng rất rộng rãinhằm hạn chế nhập khẩu Hiện nay, các quy định về cấp phép nhập khẩu củamột nước thành viên phải tuân thủ Hiệp định về thủ tục cấp phép Nhập khẩucủa WTO, tức là đáp ứng các tiêu chí như đơn giản, minh bạch và dễ dự đoán.Trình tự, thủ tục xin cấp phép cũng như lý do áp dụng giấy phép phải đượcthông báo rõ ràng, đặc biệt là với các loại giấy phép không tự động
Các quy định về định giá hải quan
Trị giá tính thuế hải quan cao hay thấp sẽ tác động trực tiếp đến khoảnthuế nhập khẩu các doanh nghiệp phải nộp và qua đó tác động lên giá bán củasản phẩm tại thị trường nước nhập khẩu Theo thống kê mới nhất đến nay, hầuhết các nước đã áp dụng Hiệp định về định giá hải quan của WTO để tínhthuế nhập khẩu Theo đó, giá tính thuế sẽ là giá thực trả hoặc sẽ phải trả khihàng được bán từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu
Trị giá để tính thuế có thể trở thành một rào cản lớn với hoạt động thươngmại Thí dụ như quy định về áp giá tối thiểu để tính thuế nhập khẩu Chính vì
Trang 16vậy, Hiệp định về Ðịnh giá Hải quan ACV của WTO đã quy định các nguyêntắc cụ thể trong việc xác định giá trị tính thuế của hàng hóa.
Chống bán phá giá
Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, việc đánh thuế chống bánphá giá đối với hàng xuất khẩu của một nước có thể được xem xét nếu xétthấy: (i) Giá xuất khẩu thấp hơn giá bán hàng hóa đó ở thị trường nội địa;(ii) Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất; hoặc (iii) Giá xuất khẩu sangnước tiến hành điều tra chống bán phá giá thấp hơn giá xuất khẩu hàng hóa
đó sang thị trường một nước khác Tuy nhiên, trên thực tế, các nước tiếnhành điều tra bán phá giá thường áp dụng ba điều kiện này, nhất là điều kiện(ii) theo cách có lợi cho bảo hộ sản xuất trong nước Đặc biệt, trong trườnghợp nước nhập khẩu là một nước thị trường mở, còn nước xuất khẩu chưađược thừa nhận là có nền kinh tế thị trường, nước nhập khẩu có thể lấy mứcgiá của một nước thứ ba để so sánh khi xác định xem có tình trạng bán phágiá hay không Điều này hay được các nước nhập khẩu lợi dụng vì thườngdẫn đến kết luận hàng hoá của nước xuất khẩu là bán phá giá và bị áp nhữngmức thuế rất cao
Bảng 1.1: Số liệu về các vụ điều tra mới và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá
Nguồn: Thông tin bán phá giá trong nước và quốc tế -Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam (www.chongbanphagia.vn)
Trong một thập kỷ qua, các biện pháp chống bán phá giá được áp dụng
Trang 17rất nhiều trên thế giới Theo WTO, từ 1/1/1997 đến 31/12/2007, đã có tổngcộng 2725 thông báo về việc khởi xướng điều tra và 1873 thông báo về việc
áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.Về xu hướng áp dụng các biệnpháp chống bán phá giá, có thể thấy nổi lên một số điểm chính sau:
Trong thời gian đầu, đa số các vụ kiện chống bán phá giá là do cácnước phát triển khởi kiện Tuy nhiên, thời gian gần đây, ngày càng cónhiều nước đang phát triển áp dụng thuế chống bán phá giá Từ năm
1997 đến 2007, có 32 nước đang phát triển đã tiến hành 1527 cuộcđiều tra chống bán phá giá và có 995 lần áp dụng thuế chống bán phágiá Ấn Độ là nước đang phát triển đi đầu trong việc áp dụng thuếchống bán phá giá, với 412 cuộc điều tra chống bán phá giá và 309lần áp dụng thuế chống bán phá giá, chỉ 115 lần bị áp dụng thuếchống bán phá giá Trong số các nước phát triển, Mỹ và EU là nhữngnước áp dụng thuế chống bán phá giá thường xuyên nhất Mỹ đã tiếnhành 358 cuộc điều tra chống bán phá giá, 229 lần áp dụng thuếchống bán phá giá, và 158 lần bị áp dụng thuế chống bán phá giá;trong khi đó với EU các con số này tương ứng là 318, 200 và 57 lần.Trong khi đó, Trung Quốc là nước bị áp dụng thuế chống bán phá giánhiều nhất với 434 lần
Trong các cuộc tranh chấp về bán phá giá, vấn đề "nền kinh tế thịtrường" và "phi thị trường" thường xuyên được nêu ra Đối với nềnkinh tế được thừa nhận là kinh tế thị trường (như trường hợp gần đây
là Nga được Mỹ công nhận), các cơ quan điều tra sẽ căn cứ vàonhững chứng từ liên quan để tính giá thành một sản phẩm đang bịnghi vấn bán phá giá Trong khi đó với các nền kinh tế chưa đượcthừa nhận là nền kinh tế thị trường (như trường hợp Trung Quốc, ViệtNam), các cơ quan điều tra ngày càng áp dụng phổ biến việc lấy giáthành sản phẩm của một nước có nền kinh tế thị trường để áp đặt chohàng xuất khẩu của nước bị điều tra Chẳng hạn, Colombia khi điều
Trang 18tra đã lấy giá gạo xuất khẩu của Việt Nam so sánh với giá gạo xuấtkhẩu của Thái Lan Tương tự, Canađa đã lấy giá tỏi xuất khẩu củaViệt Nam so với giá tỏi xuất khẩu của Mêhicô
Trợ cấp và thuế chống trợ cấp (thuế đối kháng)
Trong thương mại tự do, trợ cấp của Chính phủ cho doanh nghiệp (cấpphát, cho vay, góp vốn cổ phần; bảo lãnh tiền vay ) được coi là hành vicạnh tranh không lành mạnh Theo WTO, trợ cấp là một khoản đóng góp vềtài chính do chính phủ hoặc một tổ chức nhà nước cung cấp, hoặc là mộtkhoản hỗ trợ thu nhập hoặc hỗ trợ giá và mang lại lợi ích cho đối tượng nhậntrợ cấp Tuy nhiên, ngày nay, trợ cấp vẫn là một biện pháp bảo hộ được sửdụng rộng rãi ở nhiều quốc gia
Cho đến nay, Mỹ và EU là hai nền kinh tế áp dụng chính sách trợ cấp nôngnghiệp nhiều nhất thế giới Trung bình mỗi năm chính quyền liên bang Mỹdành ra 3 tỷ USD trợ cấp cho nhà nông chuyên trồng cây bông gòn Nhờ cótrợ cấp nông nghiệp mà thị phần xuất khẩu bông gòn của Mỹ trên thị trườngthế giới đã tăng từ 17% vào năm 1998 lên 41% vào năm 2003 Trong khi đó,tổng giá trị bông gòn xuất khẩu của các nước như Braxin, Ấn Độ, Mali vàPakixtan bị thiệt hại tổng cộng 23 tỷ USD Nếu tính trợ cấp cho mọi lĩnh vựcnông nghiệp (bông gòn, lúa mỳ, lúa gạo, bắp, mía đường), chỉ riêng trongnăm 2004, trợ cấp của chính quyền Mỹ đã lên tới hơn 12 tỷ USD Tuy nhiên,
số tiền này chưa nhiều bằng EU Năm 2004, chính phủ các nước thành viên
EU đã chi tổng cộng 53 tỷ USD trợ cấp cho nông dân của họ, bằng 1/3 tổngdoanh thu của ngành nông nghiệp của thị trường này Theo Tổ chức hợp tác
và phát triển kinh tế (OECD), các nước phát triển cộng chung mỗi năm chikhoảng 280 triệu USD cho các khoản trợ cấp nhà nông
Điểm cần lưu ý về xu hướng của trợ cấp trên thế giới là, trong khi hìnhthức trợ cấp trực tiếp (trợ cấp “đèn đỏ”) ngày càng ít được sử dụng, các nướcvẫn thường xuyên áp dụng các hình thức biến tướng của trợ cấp trực tiếp (trợcấp “đèn vàng”) và trợ cấp gián tiếp (trợ cấp “đèn xanh”) Chẳng hạn, để đối
Trang 19phó với những vụ kiện Mỹ và EU trợ cấp cho nông sản, hai nền kinh tế nàyvẫn tiếp tục duy trì trợ cấp của mình bằng cách phá đi mối liên hệ giữa sảnlượng của nông dân và khoản trợ cấp mà họ nhận được (Theo quy định củaWTO, việc chính phủ trợ cấp cho nông dân dựa trên sản lượng thu hoạch làhình thức trợ cấp trực tiếp và nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháptrừng phạt) Đơn cử như EU đã áp dụng biện pháp này trong các ngành sảnxuất dầu ô liu, thuốc lá, bông, theo đó người nông dân sẽ nhận được một phầntrợ cấp dựa trên diện tích sản xuất của mình, phần còn lại thì không cần bất cứđiều kiện nào kèm theo
Do trợ cấp dẫn tới sự không công bằng trong cạnh tranh, WTO cho phépcác nước được thực hiện các biện pháp trừng phạt khi hàng nhập khẩu do cótrợ cấp đã gây thiệt hại nghiêm trọng đối với sản xuất của nước nhập khẩu.Nếu nước nhập khẩu chứng minh là lượng hàng hoá vào thị trường của họtăng nhanh do được trợ cấp từ nước xuất khẩu, thì họ sẽ áp đặt biện phápchống trợ cấp (thường là một mức thuế đối kháng) đủ để làm mất sức cạnhtranh của hàng nhập khẩu, giúp loại bỏ đối thủ cạnh tranh quá mạnh đối vớicác nhà sản xuất kinh doanh trong nước Tuy nhiên, việc tìm ra bằng chứngtrợ cấp rất phức tạp, cần có sự hiểu biết thấu đáo về trợ cấp và có tổ chức bộmáy hoàn thiện nên trước đây chỉ có các nước phát triển mới có khả năng ápdụng thuế chống trợ cấp Cho đến nay, phần lớn số trường hợp bị đánh thuếchống trợ cấp đều là các nước đang phát triển Hiện trạng này khá mâu thuẫnvới thực tế là chính phủ các nước phát triển thường xuyên sử dụng trợ cấpvới khối lượng lớn Điều này cho thấy thuế chống trợ cấp được sử dụngphần nào như là một công cụ bảo hộ để các nước phát triển chống lại hàngnhập khẩu giá rẻ của các nước đang phát triển
Trong thời gian qua, các biện pháp chống trợ cấp được áp dụng khá phổbiến Theo WTO, trong giai đoạn 1998-2007 đã có tổng cộng 169 vụ điều tramới và 92 vụ áp dụng các biện pháp chống trợ cấp
Trang 20Bảng 1.2: Số liệu về các vụ điều tra mới và áp dụng các biện pháp chống trợ cấp 1/1998-12/2007
Số vụ khởi xướng điều
Nguồn: Thông tin bán phá giá trong nước và quốc tế -Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam (www.chongbanphagia.vn)
Về xu hướng áp dụng các biện pháp chống trợ cấp, có những điểm đánglưu ý sau:
Thuế chống trợ cấp thường tập trung trong một số ngành nhất định.Hầu hết các mặt hàng bị đánh thuế chống trợ cấp đều là các ngành sửdụng công nghệ thấp, các sản phẩm thuộc lợi thế cạnh tranh của cácnước đang phát triển như hàng nông sản, hàng dệt may, sản phẩm củangành công nghiệp dựa trên lợi thế tự nhiên… Các sản phẩm phứctạp, có công nghệ cao mặc dù cũng được trợ cấp khá nhiều nhưng hầunhư không bị đánh thuế chống trợ cấp Hàng nông nghiệp thường ít bịđánh thuế hơn so với hàng công nghiệp Từ khi thành lập WTO đếnhết năm 2005, chỉ có khoảng 1/5 số vụ thuế chống trợ cấp đánh vàohàng nông nghiệp WTO có một Hiệp định riêng về nông nghiệp, theo
đó các nước đã đưa ra cam kết ràng buộc và cắt giảm trợ cấp nôngnghiệp ở mức đáng kể Tuy nhiên trên thực tế, trợ cấp nông nghiệpvẫn không hề giảm đi Vấn đề này đã trở thành đề tài tranh cãi giữacác nước trong tất cả các cuộc họp của WTO mà vẫn chưa có sự nhânnhượng thực sự
Trong thời gian gần đây, nhiều nước đang phát triển như Ấn Độ, Thái
Trang 21Lan đã xây dựng được Luật thuế chống trợ cấp và áp dụng khá hiệuquả Xu hướng chung là các nước đang phát triển sẽ thúc đẩy việc ápdụng thuế chống trợ cấp để nâng cao tiếng nói của mình trên diễn đànquốc tế và tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanhnghiệp trong nước.
Rào cản về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Việc thực thi không đầy đủ quyền sở hữu trí tuệ cũng được coi là một ràocản lớn với hoạt động thương mại quốc tế, vì hàng nhái, hàng giả, hàng viphạm bản quyền với giá rẻ sẽ hạn chế khả năng tiếp cận thị trường của sảnphẩm đích thực Vấn đề này thật sự trở nên nghiêm trọng với những quốc gia
mà việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ không được nghiêm ngặt
Hiệp định TRIPS của WTO điều chỉnh các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệliên quan thương mại, gồm các quyền chính như quyền tác giả, nhãn hiệuhàng hóa, chỉ dẫn địa lý, thiết kế công nghiệp, pa-ten, thiết kế bố trí mạch tíchhợp và các bí mật thương mại Hiệp định cũng yêu cầu các nước thành viênphải tăng cường công tác thực thi của mình
Các rào cản kỹ thuật TBT (Technological Barrier to Trade): Đây là hàng ràoquy định về hệ thống quản trị chất lượng, môi trường, đạo đức kinh doanh,điểm kiểm soát tới hạn , đối với các doanh nghiệp khi thâm nhập vào thịtrường Hệ thống TBT gồm có:
Hệ thống quản trị chất lượng ISO 9001:2000
Hệ thống này đã được trên 140 quốc gia áp dụng ISO 9001:2000 đề cậpchủ yếu đến các lĩnh vực về chất lượng Theo Tổ chức Phát triển công nghiệpcủa Liên hợp quốc (UNIDO) các doanh nghiệp áp dụng hệ thống này sẽ:
Đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong và ngoàinước
Nâng cao tinh thần làm việc và đoàn kết của nhân viêntrong doanh nghiệp
Vượt qua rào cản trong thương mại quốc tế
Trang 22 Gia tăng thị phần, diện tích, lợi nhuận và phát triển bềnvững.
Trong thực tế, sản phẩm của doanh nghiệp nào được cấp giấy chứng nhậnphù hợp với ISO 9001:2000 sẽ dễ dàng thâm nhập thị trường các nước pháttriển
Hệ thống quản trị môi trường ISO 14001:2000
Hệ thống này xem xét khía cạnh bảo vệ môi trường của tổ chức và của sảnphẩm thị trường thế giới hiện nay rất chú trọng đến vấn đề môi trường Tổchức Môi trường thế giới đã khuyến cáo các doanh nghiệp nên cung ứngnhững sản phẩm “xanh và sạch” Mức độ ảnh hưởng đến môi trường của mộtsản phẩm có vai trò lớn tới sức cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường
Hệ thống thực hành sản xuất tốt GMP (Good Manufacturing Practices).
Đây là một hệ thống đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, đặcbiệt là dược phẩm Các nước lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Australia đều yêucầu các sản phẩm là thực phẩm và dược phẩm khi nhập vào thị trường nước
họ phải được công nhận đã áp dụng GMP Bộ Y tế Việt Nam quy định đếnnăm 2005 doanh nghiệp sản xuất dược phẩm nào không đạt GMP sẽ khôngđược cấp số đăng ký sản xuất thuốc.
Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point):
Đây là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp chế biến hàng thuỷ sảnnếu muốn thâm nhập vào thị trường Mỹ, EU, NB, Australia, Canada , BộThuỷ sản Việt Nam quy định các doanh nghiệp chế biến hàng thuỷ sản phải
áp dụng HACCP kể từ năm 2000
Tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội SA 8000:
Đây là tiêu chuẩn quốc tế dựa trên công ước quốc tế về lao động của Tổchức Lao động Quốc tế (ILO) của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và nhânquyền Các nước Mỹ, EU, Nhật Bản, Canada quy định cấm nhập khẩu hàng
Trang 23hoá mà trong quá trình sản xuất có sử dụng lao động trẻ em, lao động cưỡngbức, phân biệt đối xử, bắt người lao động làm việc quá thời hạn cho phép củaLuật lao động.
Ngoài ra còn một số hệ thống khác như QS 9000: áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất ôtô; Q-Base: áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Mua sắm chính phủ
Các chính phủ thường chi một khoản rất lớn để mua sắm hàng hóa, thiết bị
và dịch vụ phục vụ hoạt động của mình Tuy nhiên, việc mua sắm đó thườngkhông căn cứ vào các tiêu chí thương mại thông thường Dưới áp lực chínhtrị, các chính phủ thường mua hàng hóa và dịch vụ từ các công ty trong nước,
do vậy, tạo ra sự phân biệt đối xử với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài Hiệnnay, WTO có Hiệp định Mua sắm Chính phủ để điều tiết hoạt động này Tuynhiên, hiệp định này mới chỉ dừng ở khuôn khổ của một hiệp định nhiều bên
và việc tham gia hiệp định là trên cơ sở tự nguyện
Các biện pháp đầu tư liên quan thương mại , thí dụ như các quy định yêu cầu
các nhà đầu tư phải sử dụng nguyên liệu trong nước, quy định tỷ lệ xuất khẩusản phẩm hay hạn chế nguồn ngoại tệ dùng để thanh toán hàng nhập khẩu củacông ty Các biện pháp này thường được các nước đang phát triển sử dụngrộng rãi để hạn chế nhập khẩu và phát triển ngành công nghiệp trong nước
Ðể khắc phục tình trạng này, Hiệp định TRIMS đã đưa ra một danh mục cácbiện pháp đầu tư bị coi là không phù hợp các quy định về tự do hóa thươngmại của WTO và yêu cầu các nước thành viên không duy trì những biện phápnày
Xu thế phát triển của các loại rào cản thương mại
- Mặc dù ủng hộ tự do hoá thương mại, Chính phủ các quốc gia vẫn cứdựng nên các rào cản trong thương mại quốc tế, về hình thức có thểthay đổi nhưng phạm vi và mức độ của rào cản ngày càng tăng lên Nếunhư trước khi thành lập WTO thì rào cản thương mại quốc tế giới hạntrong phạm vi của thương mại hàng hoá thì ngày nay nó phát triển ở cả
Trang 24thương mại dịch vụ, thương mại đầu tư và sở hữu trí tuệ Nếu như trướcđây các biện pháp được áp dụng chủ yếu là các biện pháp hành chính(cấm, hạn ngạch và giấy phép) thì ngày nay nó hết sức đa dạng, tinh vi
và phức tạp, các biện pháp không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà
có liên quan tới nhiều quốc gia
- Các biện pháp kỹ thuật không chỉ được áp dụng đối với sản phẩm nhưnhãn mác, chất lượng, bao bì mà được mở rộng sang cả quá trình chếbiến sản phẩm và hoạt động của doanh nghiệp Tiêu biểu nhất là việc
áp dụng hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm HACCP đối với các sảnphẩm xuất khẩu là hàng lương thực, thực phẩm chế biến, hàng thuỷsản Các doanh nghiệp muốn xuất khẩu hàng phải đảm bảo sản phẩmcủa mình là an toàn thông qua việc áp dụng hệ thống kiểm soát nàytrong toàn bộ quy trình sản xuất, chế biến, lưu kho, vận chuyển
- Xuất hiện các hiệu ứng lan truyền, từ một quốc gia sang một loạt cácquốc gia và thậm chí là toàn thế giới Ví dụ như EU cấm nhập khẩutôm Trung Quốc vì có dư lượng chloramphenicol Sau đó lệnh cấm nàyđược mở rộng tới hơn 100 sản phẩm có thịt động vật Biện pháp nàynhanh chóng được nhiều nước áp dụng như Mỹ, Nga, Hungary, ẢrậpXêút
- Mở rộng từ các sản phẩm cụ thể đến toàn bộ quá trình sản xuất và hoạtđộng: như hệ thống an toàn thực phẩm HACCP xuất phát từ Mỹ và sauhơn 40 năm đã được ứng dụng rộng rãi ở các nước phát triển khác nhưCanada và EU HACCP kiểm soát các mối nguy đối với thực phẩm từgiai đoạn sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển và phân phối
- Nhiều rào cản đang không ngừng được sửa đổi nâng cao tiêu chuẩn,mức độ chặt chẽ để phù hợp với mức sống xã hội ngày càng cao và sựtiến bộ của khoa học kỹ thuật Các rào cản cũng đang dần chuyển từcác biện pháp tự nguyện sang mang tính bắt buộc Đặc biệt, các biệnpháp kỹ thuật nhằm bảo vệ người tiêu dùng ngày càng trở nên khắt khe
Trang 25hơn Từ tháng 1/2001, EU đã thực hiện 118 tiêu chuẩn kiểm tra mớicho dư lượng thuốc trừ sâu ở lá chè Một vài tiêu chuẩn về giới hạn tối
đa chất hoá học (MRLs) đã tăng lên từ 100 đến 200 lần Từ tháng1/2002, Bộ Y tế Nhật Bản đã quyết định thực hiện gần 200 tiêu chuẩnmới cho MRls Trong số khoảng 700 loại thuốc trừ sâu trong nước vànước ngoài, Bộ Y tế Nhật Bản đã thiết lập tiêu chuẩn cho 229 loại
- Xu hướng sử dụng kết hợp các rào cản kỹ thuật và các rào cản về bằngsáng chế đang tăng lên Hiện EU và Mỹ một mặt yêu cầu các doanhnghiệp xuất khẩu phải đáp ứng được các cấp độ/tiêu chuẩn kỹ thuậtđịnh sẵn, một mặt áp dụng bằng sáng chế đối với những kỹ thuật đạtđược những tiêu chuẩn này Phương thức này có thể bảo vệ tối đaquyền lợi của các doanh nghiệp EU và Mỹ vì các doanh nghiệp nướckhác muốn xuất khẩu sản phẩm cùng loại sẽ phải trả một khoản phímua bằng sáng chế rất cao
- Các nước đang phát triển ngày càng chú trọng hơn tới các rào cản kỹthuật Từ 1995 đến nay, tỷ lệ các biện pháp kỹ thuật các nước đang pháttriển thông báo áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong khuôn khổ WTOchiếm gần một nửa Đặc biệt, từ năm 1999, thông báo về việc áp dụngcác biện pháp kỹ thuật từ các nước đang phát triển đã cao hơn từ cácnước phát triển
- Phối hợp các rào cản kỹ thuật, chống bán phá giá, biện pháp tự vệ vàthuế quan Toàn cầu hóa dẫn tới cạnh tranh khốc liệt trên thị trường thếgiới khiến nhiều nước kết hợp nhiều rào cản để bảo hộ mậu dịch
Rào cản đối với hàng dệt may trong thương mại quốc tế
Sự hình thành rào cản thương mại đối với hàng dệt may
Hàng dệt may là lĩnh vực các nước đang phát triển có lợi thế và là tiềmnăng phát triển cao Tuy nhiên, do đặc thù của ngành là sử dụng nhiều lao
Trang 26động, công nghệ tương đối dễ tiếp cận, quy mô thị trường lớn nên là đốitượng bảo hộ cao trong chính sách của các nước phát triển và các nước đangphát triển Do vậy luôn có sự đấu tranh giữa các nước phát triển và các nướcđang phát triển mà kết quả không phải lúc nào cũng có lợi cho các nước đangphát triển.
Trong quá khứ, đa số các nước tiến hành các biện pháp nhập khẩu lan tràn
Từ năm 1974 cho đến trước vòng Uruguay, thương mại hàng dệt may đượcđiều chỉnh bởi hiệp định Đa sợi Hiệp định đa sợi (Multifiber agreement -MFA), một hiệp định quốc tế có hiệu lực tháng 1 năm 1974, cho phép cácthành viên ký kết GATT đàm phán các hiệp định song phương nhằm hạn chế
về số lượng đối với hàng dệt và quần áo nhập khẩu Được gia hạn thêm 6 lần,hiệp định MFA đã hết hạn ngày 31/12/1994
Việc áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt may là trái với các nguyên tắc cơbản của WTO Chính vì vậy, tại vòng đàm phán Uruguay, các nước đang pháttriển đã đấu tranh giành thắng lợi trong việc thiết lập Hiệp định Dệtmay(ATC) dẫn tới loại bỏ hạn ngạch cũng như tất cả các biện pháp hạn chếnhập khẩu đối với hàng dệt may
ATC đưa ra một lịch trình hợp nhất dần dần những mặt hàng thuộc phạm
vi điều chỉnh của ATC vào khuôn khổ các quy định của Hiệp định GATT
1994, theo đó, kể từ 1/1/2005 - ngày Hiệp định ATC hết hiệu lực, sẽ không cóbất kỳ thành viên WTO nào được duy trì hạn ngạch đối với hàng dệt may, trừkhi chúng được minh chứng rằng việc tăng nhập khẩu sẽ gây ra, hoặc đe dọa
sẽ gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành dệt may nội địa (như điều XIX củaHiệp định GATT năm 1994 quy định)
Nói cách khác, kể từ ngày 1/1/2005, đối với các nước tham gia Hiệp địnhATC, toàn bộ hạn ngạch đối với hàng dệt may phải được loại bỏ; hàng dệtmay sẽ được giao thương như các loại hàng hoá thông thường khác trongkhuôn khổ quy định của WTO
Theo quy định trong ATC, giai đoạn 10 năm để dỡ bỏ hạn ngạch được chia
Trang 27thành ba thời kỳ:
Thời kỳ I, kéo dài từ 1/1/1995 đến 31/12/1997
Thời kỳ II, kéo dài từ 1/1/1998 đến 31/12/2001
Thời kỳ III, kéo dài từ 1/1/2002 đến 31/12/2004
Bảng 1.3: Chương trình nhất thể hoá hàng dệt may
Giai đoạn Giai đoạn Tỷ lệ hợp nhất tối thiểu (tínhtrên khối lượng nhập khẩu năm
1990) Giai đoạn 1 Từ 1.1.1995 đến 31.12.1997 16% (còn lại 84%)
Giai đoạn 2 Từ 1.1.1998 đến 31.12.2001 17% (còn lại 67%)
Giai đoạn 3 Từ 1.1.2002 đến 31/12/2004 18% (còn lại 49%)
Giai đoạn 4 Từ 1.1.2005: nhất thể hóa hoàntoàn vào WTO
Hiệp định ATC chấm dứt 100% (Không còn hạn ngạch)
Nguồn: Hiệp định ATC - WTO (www.wto.org)
Ngoài ra, Hiệp định ATC cho phép áp dụng các biện pháp tự vệ trong thời
kỳ quá độ Hiệp định ATC cho phép các nước thành viên được có một thời kỳchuyển tiếp (còn gọi là thời kỳ quá độ), theo đó, các nước được áp dụng cácbiện pháp tự vệ Khi hết thời hạn hiệu lực của thời kỳ quá độ, các nước khôngđược áp dụng các biện pháp tự vệ đó nữa Tuy nhiên, Hiệp định ATC cũngquy định rất chặt chẽ trong việc áp dụng các biện pháp tự vệ này, chỉ nhữngthành viên đã tiến hành những chương trình “nhất thể hóa” mới được áp dụngcác biện pháp Việc áp dụng các biện pháp tự vệ chỉ có thể được tiến hànhtrên cơ sở đã bảo đảm được hai điều kiện (Điều 6 ATC):
Thứ nhất, đã chứng minh được có sự tổn hại nghiêm trọng hay đe dọagây tổn hại nghiêm trọng do nhập khẩu hàng dệt may tăng lên độtngột;
Thứ hai, có mối liên hệ trực tiếp giữa sự tổn hại nghiêm trọng đó đốivới ngành công nghiệp dệt may của nước nhập khẩu do có sự tăng vọttrong số lượng hàng nhập khẩu từ nước xuất khẩu
Thêm vào đó, để tránh việc nước nhập khẩu lạm dụng và biến việc ápdụng biện pháp tự vệ thành một thứ hạn ngạch "chui", các biện pháp này cũng
Trang 28chỉ có tính "tạm thời", tức là chỉ có thể áp dụng trong ba năm, không được giahạn Tất cả những biện pháp này cùng với sự hết hiệu lực của Hiệp định ATC,
đã chấm dứt từ ngày 1/1/2005
Do hàng dệt may là mặt hàng công nghiệp, nên ngoài việc bị điều chỉnhtheo Hiệp định ATC và hiện nay là được đưa vào điều chỉnh theo khung khổpháp lý chung của WTO về thương mại hàng hóa, hàng dệt may còn bị điềuchỉnh theo Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) Theo đó,WTO yêu cầu các thành viên phải cam kết bỏ các trợ cấp đèn đỏ (trợ cấp bịcấm) và phải thông báo các trợ cấp đèn vàng (trợ cấp có thể bị khiếu kiện)
Đặc điểm của các rào cản đối với hàng dệt may trong thương mại quốc tế
Rào cản đối với hàng dệt may trong thương mại quốc tế cũng có đầy đủcác đặc điểm của rào cản thương mại nói chung như: ngày càng giảm bớt cácrào cản thuế quan và gia tăng các rào cản phi thuế quan, các rào cản phi thuếquan ngày càng đa dạng và phức tạp, các nước đang phát triển ngày càngquan tâm hơn đến các rào cản trong thương mại quốc tế,
Ngoài ra, do dệt may là ngành truyền thống của hầu hết các nước và sửdụng nhiều lao động nên rào cản đối với hàng dệt may trong thương mại quốc
tế cũng có một số đặc điểm riêng như:
- Rào cản về thuế quan và một số rào cản phi thuế quan truyền thốngđược dựng lên sớm và được loại bỏ chậm hơn Ở Mỹ, ngay từ năm
1956, Luật nông nghiệp đã cho phép Tổng thống có quyền đàm pháncác Hiệp định với các chính phủ nước ngoài để hạn chế hàng nông sản
và hàng dệt nhập khẩu vào Mỹ Năm 1974 cũng đã hình thành Hiệpđịnh đa sợi điều chỉnh về thương mại hàng dệt may trên phạm vi thếgiới Tuy nhiên, cho đến tận năm 2005, rào cản về hạn ngạch đối vớihàng dệt may mới bị xoá bỏ hoàn toàn trong khi rào cản này đối vớihầu hết các loại hàng hoá khác đã được loại bỏ ngay từ sau vòng đámphán Urugoay, khi WTO được thành lập
Trang 29- Các rào cản phi thuế quan dưới dạng các tiêu chuẩn về môi trường, vềtrách nhiệm xã hội, thường cao quá mức cần thiết, khó tuân thủ đốivới các nước đang phát triển
Khi các nước đang phát triển gia nhập WTO, rào cản về thuế quan vàcác rào cản thương mại truyền thống như hạn ngạch, cấp phép nhậpkhẩu,… bị bãi bỏ hoàn toàn và không còn tác dụng Do đó, để hạn chếlượng hàng dệt may nhập khẩu với khối lượng lớn từ các nước đangphát triển, các nước phát triển, điển hình là Mỹ và EU thường yêu cầucác tiêu chuẩn về môi trường, trách nhiệm xã hội cao hơn mức cầnthiết Ví dụ: tiêu chuẩn về ngưỡng giới hạn đối với formanđêhit thoát ra
từ sản phẩm dệt may theo tiêu chuẩn Oeko-tex standard 100 của EU là:20mg/kg đối với những sản phẩm dùng cho trẻ sơ sinh (dưới 24 tháng);
75 mg/kg cho các sản phẩm tiếp xúc trực tiếp với da và 300mg/kg đốivới sản phẩm không tiếp xúc trực tiếp với da và dùng trong nhà Cáctiêu chuẩn này thường rất khó thực hiện ở các nước đang phát triển, nơi
mà các công nghệ được sử dụng thường lạc hậu vì thiếu vốn đầu tư vào
cơ sở hạ tầng và nguồn lao động giá rẻ được xem là một lợi thế
- Ngoài các rào cản hàng dệt may phổ biến dựa trên các cam kết củaWTO, một số thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn như Mỹ, EU, còn có nhiều rào cản khác dưới dạng các quy định riêng.Ví dụ: ngoàicác rào cản như rào cản về nhãn mác, sở hữu trí tuệ, các rào cản kỹthuật,… theo các Hiệp định được ký kết trong khuôn khổ WTO, hàngdệt may muốn nhập khẩu được vào thị trường Mỹ thì nhà sản xuất phảiđăng ký mã số với Hải quan Mỹ (quy định này có hiệu lực từ ngày05/10/2005)
Sự cần thiết phải vượt qua rào cản thương mại nói chung và rào cản đối với hàng dệt may nói riêng
Khái niệm vượt qua rào cản thương mại
Như đã phân tích ở phần 1.1.1, rào cản trong thương mại quốc tế có thể
Trang 30hiểu một cách khái quát là bất cứ biện pháp hay hành động nào gây cản trởđến thương mại quốc tế Vậy có thể hiểu như thế nào là ‘vượt qua rào cảnthương mại’?
Theo Từ điển tiếng Việt 2008 của Trung tâm từ điển học thì động từ
‘vượt’ có nghĩa là: 1.di chuyển qua nơi có khó khăn, trở ngại để đến một nơikhác; 2.tiến nhanh hơn và bỏ lại phía sau; 3.ra khỏi giới hạn nào đó Có thểthấy, nghĩa thứ nhất của động từ vượt được áp dụng cho trường hợp này Việcvượt qua rào cản thương mại có thể hiểu là việc nước xuất khẩu di chuyểnhàng hoá qua những khó khăn, trở ngại (hữu hình và vô hình) gặp phải nơibiên giới của nước xuất khẩu để đưa hàng hoá vào tiêu thụ tại nước đó Hay
có thể định nghĩa một cách chung hơn: vượt qua rào cản thương mại là việcthực hiện các chiến lược, các giải pháp nhằm hạn chế, thậm chí triệt tiêu tácđộng của các biện pháp cản trở thương mại gây ra, đưa hàng hoá từ nước xuấtkhẩu vào tiêu thụ tại nước nhập khẩu
Sự cần thiết phải vượt qua rào cản thương mại
1.1.1.3 Ý nghĩa của việc vượt qua rào cản đối với các quốc gia và doanh
nghiệp
Rào cản thương mại gây ra nhiều cản trở trong thương mại quốc tế Vìvậy, việc vượt qua rào cản có ý nghĩa rất lớn đối với các quốc gia và doanhnghiệp:
Đối với các quốc gia:
- Vượt qua các rào cản thương mại nói chung sẽ giúp thúc đấy xuấtkhẩu hàng hoá và dịch vụ ra nước ngoài, tăng thu ngoại tệ, tránh đượctình trạng thâm hụt cán cân thương mại Việc xuất khẩu mạnh sẽ thúcđẩy mở rộng sản xuất trong nước, tạo ra nhiều công ăn việc làm mới.Đối với những ngành xuất khẩu chủ lực như dệt may, thuỷ sản, việcvượt qua các rào cản ở các thị trường nhập khẩu chính sẽ có tác độnglớn đến tổng thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân trên đầu người
- Vượt qua rào cản chống bán phá giá và trợ giá: chứng tỏ các quốc gia
Trang 31đang đi đúng xu hướng chung của thế giới là đảm bảo hàng hoá trongthương mại quốc tế được đối xử bình đẳng, công bằng; việc thắng trongcác vụ tranh chấp quốc tế cũng giúp các quốc gia nâng cao vai trò, vịthế trong khu vực và trên toàn thế giới.
- Vượt qua các rào cản kỹ thuật, rào cản về môi trường, trách nhiệm xãhội: đảm bảo mở rộng sản xuất mà vẫn giữ được môi trường xanh, sạch
- là yếu tố phát triển bền vững của một quốc gia; đảm bảo người laođộng phát triển đầy đủ về vật chất và tinh thần
Đối với doanh nghiệp:
- Vượt qua các rào cản thương mại giúp các doanh nghiệp mở rộngđược thị trường tiêu thụ hàng hoá, thúc đẩy sản xuất, tăng lợi nhuận, từ
đó nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động
- Vượt qua các rào cản về chống bán phá giá và trợ giá đảm bảo rằngcác doanh nghiệp quản lý hoạt động một cách hiệu quả, khoa học; việclưu trữ các tài liệu, chứng từ trong doanh nghiệp được thực hiện đầy
đủ, rõ ràng; các doanh nghiệp đã lựa chọn được hình thức huy độngvốn được chấp nhận trên thế giới để đầu tư vào sản xuất
- Vượt qua các rào cản kỹ thuật, rào cản về môi trường, trách nhiệm xãhội giúp doanh nghiệp khẳng định các sản phẩm của doanh nghiệp đềuthoả mãn các yêu cầu về chất lượng, đồng thời đảm bảo không gây ônhiễm môi trường cũng như thực hiện đầy đủ các quy định về tráchnhiệm xã hội Tất cả những điều đó sẽ tạo ra lòng tin cho đối tác, tạo ra
sự hợp tác lâu dài, bền vững giữa các doanh nghiệp xuất khẩu và nhậpkhẩu
1.1.1.4 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải
vượt qua các rào cản thương mại để hội nhập có hiệu quả
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế chung nhằm tăng cường buôn bán giữacác nước, tận dụng lợi thế so sánh Hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều tác dụng
to lớn đối với Việt Nam như:
Trang 32- Khắc phục được tình trạng bị phân biệt đối xử trong buôn bán quốc
tế Ví dụ như sự đối xử tối huệ quốc (MFN) không điều kiện, thuế quanthấp cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, thúc đẩy việc thâm nhập thịtrường cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam, cải thiện cơ chế giảiquyết tranh chấp thương mại với các nước, sự đối xử theo hệ thống ưuđãi thuế quan phổ cập và củng cố cải cách kinh tế Việt Nam
- Tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm Việt Nam
và thúc đẩy thương mại phát triển Việt Nam sẽ có cơ hội xuất khẩunhững mặt hàng tiềm năng ra thế giới nhờ được hưởng những thànhquả của các vòng đàm phán giảm thuế và hàng rào phi thuế, tăng cườngtiếp cận thị trường của WTO, đặc biệt trong các lĩnh vực hàng dệt may
và nông sản Cơ hội xuất khẩu bình đẳng sẽ có những ảnh hưởng tíchcực đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, sản xuất sẽ được
mở rộng và tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động Bên cạnhviệc mở rộng xuất khẩu hàng hóa trong nước, Việt Nam còn tận dụngđược cơ hội từ nhập khẩu như lựa chọn nhập các loại hàng hóa có kỹthuật cao, công nghệ tiên tiến để nhanh chóng phát triển các ngành cócông nghệ cao, ngành mũi nhọn, nhanh chóng đuổi kịp các nước pháttriển trên thế giới
- Thu được lợi ích từ việc cải thiện hệ thống giải quyết tranh chấp khi
có quan hệ với các cường quốc thương mại chính Việc tham gia WTO
sẽ cho phép Việt Nam cải thiện vị trí của mình trong các cuộc đàmphán thương mại, có điều kiện tiếp cận các quy tắc công bằng và hiệuquả để giải quyết các tranh chấp thương mại
- Có điều kiện thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý và công nghệ mới…của nước ngoài Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã góp phần chủ yếu vào việc chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiêncứu và phát triển ở Việt Nam trong những năm qua Sự xuất hiện củadoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có tác động tích cực như:
Trang 33tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp và cácnhà quản lý doanh nghiệp trong nước học hỏi thêm về cách thức quản
lý sản xuất, tiếp thị, tiếp thu công nghệ, kiểu dáng sản phẩm, phục vụkhách hàng…
- Nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả trong nền kinh tế,đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệpViệt Nam Tự do hóa thương mại của WTO sẽ tạo điều kiện cho hànghóa của các nước thành viên dễ dàng thâm nhập vào thị trường ViệtNam Điều này gây sức ép buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải chấpnhận mức độ cạnh tranh khốc liệt, làm cho họ trở nên năng động hơntrong việc tạo sản phẩm mới, cải tiến các dịch vụ, hạ giá thành sảnphẩm…
Một trong những tác dụng cơ bản của hội nhập kinh tế quốc tế là giúp cácquốc gia mở rộng thị trường cũ, xâm nhập thị trường mới Vì vậy, để hội nhậpmột cách hiệu quả, Việt Nam cần vượt qua các rào cản thương mại của từngthị trường nhập khẩu Bên cạnh đó, do các rào cản thương mại của Việt Namcòn quá ít, đơn giản, chưa tinh vi, chưa thực sự có tác dụng trong việc phânloại hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam nên trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế, Việt Nam rất dễ bị tác động của hàng ngoại nhập đến nền kinh tếtrong nước, dẫn đến tình trạng mất cân đối cán cân thanh toán, thâm hụt cáncân thương mại Đó cũng là nguyên nhân quan trọng khiến việc vượt qua cácrào cản thương mại của các thị trường nhập khẩu là vô cùng quan trọng vàcấp thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và đất nước Việt Namnói chung
1.1.1.5 Các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có khả năng vượt qua các
rào cản thương mại
Ngoài sự hỗ trợ từ phía chính phủ như tích cực tham gia đàm phán, ký kếtcác hiệp định song phương và đa phương nhằm giảm thiểu các hàng rào thuếquan và phi thuế quan truyền thống, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã rất
Trang 34chủ động trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, chủ động vượt quacác rào cản thương mại gặp phải khi xâm nhập vào các thị trường nước ngoài.Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam được hình thành làm ba khối khá rõ:doanh nghiệp Nhà nước, dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài(FDI), chưa tính đến loại hình hợp tác xã, cá thể, hộ nông dân Cả ba loại hìnhnày ngày càng phát triển và đan xen lẫn nhau.
Trước hết là doanh nghiệp Nhà nước, khối này đang nắm giữ 75% tài sản
cố định quốc gia, 20% vốn đầu tư xã hội, gần 50% vốn đầu tư của Nhà nước,60% tín dụng ngân hàng trong nước, hơn 70% vốn vay nước ngoài và thu hút1,6 triệu lao động Khu vực kinh tế này có vai trò to lớn trong việc giúp Chínhphủ điều tiết nền kinh tế vĩ mô, bình ổn giá cả, đảm bảo an ninh quốcphòng… Với mục tiêu đặt ra là hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng,các doanh nghiệp Nhà nước cũng đã tích cực thay đổi cơ cấu tổ chức, tăngquyền tự chủ thông qua việc cổ phần hoá Đây cũng là khu vực có khả năng điđầu trong việc đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất công nghệ cao với vốn đầu
tư lớn, đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm,môi trường, trách nhiệm xã hội Các doanh nghiệp Nhà nước cũng có ưu thế
vì thường là các doanh nghiệp đã hoạt động trong thời gian dài, có mối quan
hệ tốt với các thị trường nhập khẩu, dễ dàng chứng minh về xuất xứ hàng hoá.Tuy nhiên, cũng do tác động của cơ chế quản lý Nhà nước thì khu vực nàycũng cần chú ý hơn nữa đến các rào cản về sở hữu trí tuệ, nhãn mác hàng hoángày càng được đề cao ở các thị trường lớn và khó tính
Thứ hai là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, là khu vực được đánh giánăng động và hiệu quả cao Đến nay, đã có hơn 200.000 doanh nghiệp và tạo
ra 90% việc làm mới cho cả nước trong những năm qua Vốn đăng ký kinhdoanh gần bằng tổng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp Nhà nước, chiếm tỷtrọng đầu tư 26,7% toàn xã hội Khu vực này cũng có khả năng vượt qua tốtcác rào cản thương mại ở các nước nhập khẩu do có phong cách quản lý khoahọc; phản ứng nhanh nhạy, linh hoạt với các biến động của thị trường Mặc
Trang 35dù vậy, đây vẫn là khu vực có quy mô nhỏ bé, công nghệ lạc hậu nên cần cómột chiến lược kinh doanh hợp lý và sự hợp tác chặt chẽ giữa các doanhnghiệp trong việc xâm nhập vào thị trường nước ngoài.
Thứ ba là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hiện nay, có hơn5.300 dự án có vốn đầu tư nước ngoài có hiệu lực đang hoạt động, thu hút gần700.000 lao động, tạo ra 54,6% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và chiếm37% tổng giá trị sản lượng công nghiệp Khu vực này góp phần đáng kể làmthay đổi diện mạo doanh nghiệp ở Việt Nam và ngày càng trở thành trườnghọc cho doanh nghiệp Việt Nam về quản trị doanh nghiệp, chiến lược thịtrường, cơ chế tài chính… Đây là khu vực khẳng định tính năng động, minhbạch và tính chiến lược, chủ động trong cạnh tranh hội nhập Khu vực nàycũng cho thể hiện được nhiều thế mạnh trong việc vượt qua các rào cảnthương mại như minh bạch trong quản lý, có khả năng huy động vốn đầu tưlớn để đầu tư vào cơ sở sản xuất,…
1.1.1.6 Dệt may là mặt hàng truyền thống của Việt Nam nên các doanh
nghiệp dệt may Việt Nam đã vượt qua các rào cản thương mại và
sẽ tiếp tục vượt qua các rào cản thương mại khác để hội nhập vào thị trường dệt may thế giới
Ngành Dệt may Việt Nam có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốcdân Thời kỳ 1954 -1975, các doanh nghiệp Dệt may Trung ương gồm toàn bộcác doanh nghiệp dệt, may lớn (sau này thuộc Tổng công ty Dệt – May ViệtNam) đã sản xuất gần 100% sản lượng sợi, vải, quần áo, chăn màn, bông băng
y tế đề cung cấp cho nhân dân theo định lượng và bảo đảm đủ, kịp thời nhucầu cho các lực lượng vũ trang với hàng tỉ mét vải hàng trăm triệu bộ quần áo
Từ 1976 - 1990: thời kì xây dựng hoà bình và họp tác toàn điện với các nước
xã hội chủ nghĩa, Ngành Dệt - May Việt Nam đã phát triền nhanh chóng vềnăng lực sản xuất do tiếp quản toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp Dệt - May ởphía Nam và tiếp tục xây nhiều nhà máy lớn trên cả nước như Nhà máy Sợi
Hà Nội, Sợi Vinh, Sợi Huế, Sợi Nha Trang, Dệt Kim Hoàng Thị Loan Cho
Trang 36đến năm 1990, Ngành đã có quy mô: về dệt có 129 doanh nghiệp nhà nước,1.979 hợp tác xã và hộ cá thể về may có 166 doanh nghiệp nhà nước, 620 hợptác xã và hộ cá thể Năng lực thiết bị có 860.000 cọc sợi và 2000 rô to, 43.000
máy dệt (kể cả khung dệt thủ công), 60.000 thiết bị và máy may Từ 1999: Tuy quy mô công suất thiết bị đã tăng lên nhanh chóng trong thời kì kế
1991-hoạch hoá, nhưng do mới chỉ làm ra được những sản phẩm chất lượng trungbình và thấp nên khi chuyển sang cơ chế thị trường, Ngành Dệt - May ViệtNam đứng trước những khó khăn hết sức gay gắt: Thiết bị công nghệ sợi,nhuộm, hoàn tất (khoảng 50%) cũ kĩ, lạc hậu, đã sử dụng 30 - 40 năm (có nhàmáy đã sử dựng 50 - 60 năm); Máy dệt đa phần khổ hẹp, tiêu hao năng lượng
và lao động cao; Thiếu vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ và thiếu kĩ năngquản trị doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Nhưng nhờ có đường lối đổimới đúng đắn của Đảng và Nhà nước, được sự phối hợp của các bộ, ngànhtrong việc mở thị trường mới, cùng với tinh thần lao động sáng tạo của độingũ cán bộ, công nhân, các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư nâng cấp thiết
bị cũ và đầu tư công nghệ mới để sản xuất ra những sản phẩm theo yêu cầuthị trường Bên cạnh đó, với luật khuyến khích đầu tư nước ngoài, các xínghiệp liên doanh và 100% vốn nước ngoài bắt đầu đầu tư vào lĩnh vực dệtmay Trong vòng 10 năm, có gần 170 dự án với số vốn đăng kí hơn 1.600triệu USD, đã góp phần làm cho Ngành Công nghiệp Dệt - May Việt Nam có
sự phát triển mới cả về quy mô, trình độ công nghệ, mẫu mã hàng hóa và kimngạch xuất khẩu Vì vậy, đến cuối năm 1999, hơn 30% thiết bị dệt và 95%thiết bị may đã được đầu tư bằng thiết bị, công nghệ tiên tiến Tổng sản lượngvải đạt khoảng 500 triệu mét (khổ 0,8m), sản phẩm dệt kim đạt 34.000 tấn,khăn bông 10.000 tấn, mền chăn 1 triệu chiếc, thảm len hơn 5 triệu m2, sảnphẩm may khoảng 250 triệu sản phẩm Cho đến nay, giá trị sản xuất côngnghiệp của ngành chiếm bình quân trên 9% toàn ngành công nghiệp, kimngạch xuất khẩu chiếm 14,6% so với tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và đãtạo việc làm cho gần một triệu lao động công nghiệp
Trang 37Dệt may cũng là mặt hàng truyền thống của Việt Nam Từ chỗ chỉ sản xuấtphục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong nước và thực hiện một phầntheo Nghị định thư với Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, đầu vào, đầu ra
do Nhà nước quyết định, các doanh nghiệp Dệt - May Việt Nam đã thực hiện
từ khâu đầu đến khâu cuối, tự chọn mua nguyên phụ liệu, tổ chức sản xuấtđến tiêu thụ sản phẩm, tự định giá mua, giá bán Đến nay, sản phẩm dệt may
VN đã thoả mãn một phần nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và có kimngạch xuất khẩu lớn sang các thị trường khó tính trên thế giới như EU, NhậtBản, Mĩ, Canađa
Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã vượt qua nhiều rào cản thươngmại để xâm nhập các thị trường, kể cả thị trường mới và thị trường truyềnthống thể hiện ở việc kim ngạch xuất khẩu luôn đứng thứ hạng cao trong 10mặt hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước Trong năm 2006, dệt may là ngành
có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 chỉ sau dầu thô và vào năm 2007, dệt may
đã trở thành ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong cả nước
Dệt may vẫn đang là ngành có nhiều lợi thế về lao động như giá nhân công
rẻ, nhân lực có tay nghề và trình độ, thái độ lao động tốt,… Vì vậy, dệt maychắc chắn sẽ là ngành có khả năng mở rộng và phát triển trong những nămsắp tới Vì vậy, các doanh nghiệp dệt may muốn mở rộng quy mô sản xuấttrong nước thì cần mở rộng thị trường nước ngoài và do đó, cần tiếp tục vượtqua các rào cản thương mại từ phía các thị trường nhập khẩu
Kinh nghiệm vượt qua rào cản thương mại đối với hàng dệt may của một
số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Trung Quốc
Trung Quốc có mọi điều kiện thuận lợi để tăng thị phần dệt may sau khihạn ngạch được hủy bỏ vào ngày 01/01/2005: nguyên liệu dồi dào, nhân cônglành nghề, thiết bị được thay đều đặn nhờ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, hạtầng cơ sở khá tốt và chi phí lao động vào hạng thấp nhất thế giới Tại TrungQuốc, lương công nhân dệt may thấp hơn Nhật 57 lần và thấp hơn Thái Lan
Trang 38ba lần.
Trên thực tế, sau khi bãi bỏ hạn ngạch, ở châu Âu, hàng dệt may nhập từTrung Quốc đã tăng 67% trong hai tháng đầu năm 2005; riêng ở Ý và TâyBan Nha, tăng 400% và 500% Nhiều mặt hàng tăng rất cao: quần Tây tăng800%, áo thun tăng 600%, tất ngắn, nịt ngực tăng 300% Trong khi đó, tại
Mỹ, số liệu trong tháng 2 và tháng 3 năm 2005 cho thấy, kim ngạch nhậpkhẩu hàng dệt may từ Trung Quốc tăng 63% so với cùng kỳ năm trước Chỉtính riêng tháng 1, xuất khẩu dệt may Trung Quốc sang Mỹ đạt 1,4 tỷ USD,tăng tới 65,26% Hai tháng đầu năm 2005, Trung Quốc đã xuất sang Mỹ 27triệu quần bò (jeans) thay vì 1,9 triệu (trong trường hợp còn giữ chế độ hạnngạch) Tính chung 3 tháng đầu năm, nước đông dân nhất thế giới đã xuấtkhoảng 84,48 triệu áo sơ mi chất liệu cotton sang Mỹ
Ngoài những thị trường quan trọng kể trên, xuất khẩu hàng dệt may củaTrung Quốc vào các quốc gia và khu vực khác cũng tăng khá: Sang Thổ Nhĩ
Kỳ tăng 78.9%, Nhật Bản 11,9% và Hong Kong 18,26%
Trước tình hình đó, tháng 05/2005, Mỹ cho rằng dệt may Trung Quốc đedọa làm đảo lộn thị trường dệt may nước này và đã quyết định áp dụng biệnpháp tự vệ, đưa ra hạn ngạch dệt may với ba chủng loại hàng nhập khẩu từTrung Quốc là sơ mi, quần tây và đồ lót nam
Ngày 24/4, Liên minh châu Âu cũng cho biết họ có thể sẽ áp đặt các biệnpháp hạn chế đối với hàng dệt may giá rẻ của Trung Quốc như T-shirt, áochui cổ hay áo khoác nữ, để đề phòng việc thị trường nội khối bị lũng đoạnbởi loại hàng này của đối tác khổng lồ từ châu Á
Ngoài ra, để bảo vệ ngành dệt may, các nước phương Tây còn có thểdùnghàng rào thuế quan để bảo vệ thị trường Biểu thuế hải quan cho khu vực dệtmay cao hơn biểu thuế dành cho các khu vực công nghiệp khác ở phươngTây: 12% so với 4%
Trước tình trạng dệt may trong nước gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng docác rào cản thương mại thuế quan và phi thuế quan do hai thị trường lớn nhất
Trang 39là Mỹ và EU đặt ra, Trung Quốc đã tích cực áp dụng nhiều biện pháp nhằmduy trì sự tăng trưởng ngành dệt may đồng thời đảm bảo giảm bớt ảnh hưởngđối với ngành dệt may trong nước của các quốc gia đó:
Trung Quốc đã tự giảm đà tăng trưởng nóng của ngành dệt may bằngcách áp dụng thuế xuất khẩu từ 2% đến 4% đối với các sản phẩm dệtmay trong năm 2005 Khi đạt được thoả thuận với hai đối tác lớn là Mỹ
và EU, Trung Quốc sẽ xoá bỏ thuế xuất khẩu các sản phẩm dệt may vàvẫn duy trì thuế nhập khẩu linh hoạt đối với bông nhằm giảm lượngbông vượt quá hạn ngạch nhập khẩu
Tích cực tiến hành các biện pháp ngoại giao nhằm xoa dịu tình hìnhcăng thẳng giữa Trung Quốc với Mỹ và EU, tìm kiếm các giải pháphợp lý và có lợi nhất cho cả hai bên
Ngày 10/06/2005, Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc đã đạt đượcthoả thuận về việc sẽ giảm lượng hàng dệt may nhập khẩu từ TrungQuốc đối với mặt hàng áo sơ mi và sợi lanh xuống khoảng 10%/nămcho tới năm 2008 Ngày 03/01/2008, Liên minh châu Âu (EU) đã bãi
bỏ hoàn toàn hạn ngạch đối với hàng dệt may của Trung Quốc Đểtránh việc hàng hóa Trung Quốc tràn vào thị trường như đã từng xảy ravào năm 2005, Ủy ban châu Âu và Trung Quốc đã phối hợp thiết lậpmột hệ thống giám sát kép hàng dệt may nhập khẩu từ Trung Quốctrong vòng một năm, thông qua cơ chế cấp phép Hàng năm, Bắc Kinh
sẽ xem xét cấp phép xuất khẩu cho doanh nghiệp dựa trên quy mô vềvốn, các hợp đồng đã ký kết với đối tác châu Âu, tôn trọng quyền sởhữu trí tuệ, Ủy ban châu Âu chịu trách nhiệm theo dõi lượng hàngvào thị trường qua giấy phép nhập khẩu
Sau nhiều tháng đàm phán thất bại, trong cuộc gặp gỡ tại London (Anh)ngày 8/11, Đại diện Thương mại Mỹ Rob Portman và Bộ trưởngThương mại Trung Quốc Bạc Hy Lai đã đạt được thoả thuận về vấn đềgiới hạn xuất khẩu hàng dệt may Trung Quốc sang thị trường Mỹ, góp
Trang 40phần giải toả bớt những căng thẳng trong quan hệ thương mại giữa hainước Thoả thuận này, đắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2006 kéo dài đếncuối năm 2008 Thoả thuận trên sẽ được áp dụng đối với 34 mặt hàngvải và quần áo may sẵn của Trung Quốc xuất sang thị trường Mỹ vớitổng giá trị lên tới 5,1 tỷ USD/năm, trong đó có quần âu, áo sơ mi và đồlót
Trung Quốc tích cực chuyển hướng sản xuất gắn với bảo vệ môitrường Đơn cử như sau: Bắt đầu từ năm 2003, tiêu chuẩn quốc gia mớiGB18401- 2001 đối với formanđêhit thoát ra từ các sản phẩm dệt-maychính thức có hiệu lực thi hành Tiêu chuẩn mới này qui định các giớihạn formanđêhit phân giải như sau: 20mg/kg đối với những sản phẩmdùng cho trẻ sơ sinh (dưới 24 tháng); 75 mg/kg cho các sản phẩm tiếpxúc trực tiếp với da và 300mg/kg đối với sản phẩm không tiếp xúc trựctiếp với da và dùng trong nhà Trung Quốc đã xây dựng bộ tiêu chuẩn
“nhãn xanh” (standard for green labelling) từ năm 2001, với kinh phí 3triệu nhân dân tệ (khoảng 362.000 đô la Mỹ), đồng thời lập tổng sơ đồquốc gia thực hiện tiêu chuẩn, quản lý và giám sát thực hiện Nhómnghiên cứu tiêu chuẩn quốc gia ISO14020 cho biết, chương trình thựchiện tiêu chuẩn này sẽ hoàn thành trong năm 2004
Ấn Độ
Cách đây hai thế kỷ, Ấn Độ là nước có ngành công nghiệp dệt may lớnnhất thế giới, hàng dệt may của Ấn Độ đã có mặt tại mọi ngóc ngách trên tráiđất Tuy nhiên sau ngày giành độc lập, ngành công nghiệp này bị biến thànhmột đống đổ nát, chỉ còn những nhà máy bị bỏ rơi Nhưng giờ đây, ngành dệtmay cuối cùng cũng đang dần hồi phục Chính phủ bãi bỏ nhiều quy định bấthợp lý mở đường cho nhiều xưởng dệt, may mới ra đời Những nhà sản xuấthàng đầu như Welspun India, Alok Industries, và Gokaldas Exports Ltd đang nỗ lực hết sức chuẩn bị cho ngày chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt mayđược dỡ bỏ Trong hai năm 2003 và 2004, Ấn Độ tổng cộng đầu tư 700 triệu