Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Technical Barriers to Trade – TBT) là một loại hang rào phi thuế quan, được xem là một trong những nhóm biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn chặn hàng xuất khẩu. Hàng rào này liên quan tới việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, các biện pháp nhằm đảm bảo quá trình sản xuất hàng hóa phải an toàn, vệ sinh, bảo vệ môi trường, các vấn đề liên quan tới ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản hàng hóa... Chúng là các rào cản hợp lý và hợp pháp, cần được duy trì. Rào cản thương mại quốc tế rất đa dạng, phức tạp và được quy định bởi cả hệ thống pháp luật quốc tế, cũng như luật pháp của từng quốc gia, được sử dụng không giống nhau ở các quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, còn có những hàng rào kỹ thuật được dựng lên để hạn chế thương mại của nước khác hoặc mang tính phân biệt đối xử giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, giữa hàng hóa trong nước hoặc nhập khẩu.Hàng rào kỹ thuật (hay rào cản kỹ thuật) là những biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng trong nước, lợi ích quốc gia, bảo hộ sản xuất trong nước song có thể gây trở ngại cho thương mại quốc tế do việc đưa ra những quy định quá mức cần thiết hoặc không phù hợp với các định chế của Hiệp định TBT.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN
MỘT SỐ RÀO CẢN KỸ THUẬT THƯỜNG GẶP PHẢI
CỦA HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM
GV hướng dẫn: Thầy NGÔ VĂN PHONG
Thực hiện: NGUYỄN QUANG HẢO
Sinh viên lớp NO_001 K37 UEH
TPHCM, ngày 27/4/2013
Trang 2MỤC LỤC
A/ RÀO CẢN KỸ THUẬT
I/ Khái niệm về hàng rào kỹ thuật trong thương mại TBT 3
II/ Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 3
1/ Mục đích của Hiệp định TBT 3
2/ Nguyên tắc cơ bản của Hiệp định TBT 4
3/ Các hình thức Hiệp định hàng rào kỹ thuật 5
B/ CÁC HÌNH THỨC RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI I/ Các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn và thủ tục xác định sự phù hợp 6
1/ Quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn 7
2/ Các thủ tục đánh giá sự phù hợp 8
C/ RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA 1 SỐ THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM I/ Hoa Kỳ 1/ Các rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế của Hoa Kì 14
a/ Các rào cản phi thuế quan 14
b/ Các rào cản kỹ thuật trong thương mại 15
2/ Các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với hàng thủy sản XK của Việt Nam 16
a/ Rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với thủy sản nhập khẩu 16
b/ Ảnh hưởng của rào cản kĩ thuật đối với thủy sản xuất khẩu Việt Nam 21
c/ Thực trạng khả năng đáp ứng các yêu cầu về các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam 24
d/ Đánh giá chung về việc vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam 29
3/ Định hướng và giải pháp vượt qua các rào cản kĩ thuật của hoa kì đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam 32
a/ Định hướng .32
b/ Giải pháp vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì .33
II/ EU 1/ Nhận diện về rào cản kỹ thuật của EU .41
a/ Các loại rào cản quan thuế và phi quan thuế .41
Trang 3b/ Các loại rào cản “cứng” và “mềm” 42
c/ Rào cản tại biên giới và rào cản bên trong lãnh thổ 42
d/ Rào cản “vô hình” 42
2/ Rào cản kỹ thuật của EU với Việt Nam .42
a/ Các rào cản kỹ thuật chính áp dụng cho các mặt hàng Công nghiệp .42
b/ Rào cản áp dụng đối với các mặt hàng Nông nghiệp .47
c/ Rào cản chung 53
3/ Khó khăn đối với Việt Nam .53
a/ Nguyên nhân gây nên tranh chấp thương mại đối với Việt Nam .53
b/ Khó khăn đối với Việt Nam 54
4/ Định hướng và giải pháp thực hiện 58
a/ Từ phía doanh nghiệp 58
b/ Từ phía Nhà nước 61
III/ Nhật Bản 1/ Nhu cầu nhập khẩu thủy sản của Nhật Bản 65
2/ Xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Nhật 65
3/ Xuất khẩu thủy sản theo cơ cấu mặt hàng .66
4/ Phương thức xuất khẩu 67
5/ Rào cản kỹ thuật xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản .68
6/ Kết luận và kiến nghị 69
a/ Kết luận 69
b/ Kiến nghị 70
Trang 4A) RÀO CẢN KỸ THUẬT
I) Khái niệm về hàng rào kỹ thuật trong thương mại TBT
Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Technical Barriers to Trade – TBT) là một loại hang rào phi thuế quan, được xem là một trong những nhóm biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn chặn hàng xuất khẩu Hàng rào này liên quan tới việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, các biện pháp nhằm đảm bảo quá trình sản xuất hàng hóa phải an toàn, vệ sinh, bảo vệ môi trường, các vấn đề liên quan tới ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản hàng hóa Chúng là các rào cản hợp lý và hợp pháp, cần được duy trì Rào cản thương mại quốc tế rất đa dạng, phức tạp và được quy định bởi cả hệ thống pháp luật quốc tế, cũng như luật pháp của từng quốc gia, được sử dụng không giống nhau ở các quốc gia và vùng lãnh thổ Tuy nhiên, còn có những hàng rào kỹ thuật được dựng lên để hạn chế thương mại của nước khác hoặc mang tính phân biệt đối xử giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, giữa hàng hóa trong nước hoặc nhập khẩu
Hàng rào kỹ thuật (hay rào cản kỹ thuật) là những biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng trong nước, lợi ích quốc gia, bảo hộ sản xuất trong nước song có thể gây trở ngại cho thương mại quốc tế do việc đưa ra những quy định quá mức cần thiết hoặc không phù hợp với các định chế của Hiệp định TBT
II) Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Được viết tắt là TBT (The WTO Agreement on Technical Barriers to Trade) Hiệp định này được các quốc gia thành viên của WTO thông qua và có hiệu lực từ ngày
1 tháng 1 năm 1995 gồm 6 phần với 15 điều và 3 phụ lục
1) Mục đích của Hiệp định TBT
Thúc đẩy thương mại, khuyến khích các nước thành viên tham gia xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn của các nước thành viên hài hòa càng nhiều càng tốt với tiêu chuẩn quốc tế; Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ
từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển thông qua hoạt động tiêu chuẩn hóa Đảm bảo các biện pháp quản lý kỹ thuật các nước đề ra nhưng không
Trang 5cản trở thương mại quá mức cần thiết Không ngăn cản các nước thành viên áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của mình để bảo vệ sức khỏe, an toàn cuộc sống của con người, động thực vật, bảo vệ môi trường, chống gian lận thương mại, bảo đảm an ninh quốc gia Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại (TBT) nhằm đảm bảo cho các văn bản pháp quy kỹ thuật, các tiêu chuẩn, các thủ tục kiểm nghiệm và chứng nhận không tạo nên những vật chướng ngại không cần thiết Hiệp định thừa nhận quyền của các nước chấp nhận các tiêu chuẩn mà họ cân nhắc sự phù hợp đối với cuộc sống hoặc sức khỏe của con người, động vật hoặc thực vật, bảo vệ môi trường hoặc đáp ứng những mối quan tâm khác của người tiêu dùng Các thành viên không bị ngăn cản việc thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo các tiêu chuẩn của mình được đáp ứng Nhằm ngăn chận sự đa dạng quá mức, Hiệp định khuyến khích các nước
sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong những lĩnh vực phù hợp mà không dẫn đến đòi hỏi phải thay đổi mức độ bảo hộ của nước đó Hiệp định đưa ra một quy chế thực hành về thủ tục xây dựng, thông qua và áp dụng các tiêu chuẩn do các cơ quan chính phủ trung ương ban hành Nó cũng bao gồm các điều khoản mô tả cách thức các cơ quan nhà nước địa phương và tổ chức phi chính phủ áp dụng các văn bản pháp quy kỹ thuật do họ ban hành – thường là theo cùng các nguyên tắc áp dụng đối với các cơ quan chính phủ trung ương Hiệp định nói đến các thủ tục được sử dụng để quyết định xem một sản phẩm tuân theo các tiêu chuẩn quốc gia
có được sự công bằng và đúng đắn không Nó ngăn cản các phương pháp để cho các hàng hóa sản xuất trong nước có một sự ưu đãi không công bằng Hiệp định cũng khuyến khích các nước thừa nhận lẫn nhau các phương pháp kiểm nghiệm Bằng cách đó, một sản phẩm có thể được đánh giá xem có đáp ứng được các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu hay không thông qua việc kiểm tra ở nước sản xuất ra sản phẩm đó Các nhà sản xuất và xuất khẩu cần biết những tiêu chuẩn mới nhất ở các thị trường triển vọng Để giúp đảm bảo có được thông tin này thuận tiện hữu dụng, tất cả các chính phủ thành viên của WTO được yêu cầu phải thành lập các điểm hỏi đáp quốc gia
Trang 62) Nguyên tắc cơ bản của Hiệp định TBT
Không phân biệt đối xử hoặc không công bằng giữa các quốc gia thành viên với nhau, các quốc gia khác với bản thân quốc gia đó
Không cản trở quá mức cần thiết đối với thương mại quốc tế
Minh bạch hóa trong việc xây dựng và áp dụng các văn bản tiêu chuẩn và quy trình đánh giá sự phù hợp bằng các hình thức thông báo công khai và đảm bảo một thời gian thích hợp trước khi có hiệu lực Tính bình đẳng, tính minh bạch trong thực thi Hiệp định TBT không cho phép sự chiếu cố đối với trình độ kỹ thuật hoặc khả năng tài chính của bất kỳ quốc gia thành viên nào, đồng thời hàng rào kỹ thuật trong thương mại cũng không hẳn là bùa hộ mệnh đối với các nước phát triển Hàng rào kỹ thuật trong thương mại luôn được hiểu đầy đủ là phương án phòng vệ chính đáng của mỗi quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, phù hợp lợi ích quốc gia và quốc tế
3) Các hình thức Hiệp định hàng rào kỹ thuật
Tiêu chuẩn kỹ thuật: Văn bản tự nguyện áp dụng, đề cập đến đặc tính của hàng hóa, phương pháp sản xuất, bao gói ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản hàng hóa
Văn bản pháp quy kỹ thuật: Với nội dung kỹ thuật tương tự như tiêu chuẩn nhưng mang tính pháp lý buộc phải thực hiện
Quy trình đánh giá sự phù hợp:
Là quy trình xác định xem các yêu cầu của tiêu chuẩn, văn bản pháp quy kỹ thuật
có được thực hiện hay không Khi xây dựng các tiêu chuẩn, văn bản pháp quy kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp phải đảm bảo không gây cản trở thương mại, không phân biệt đối xử quốc gia, minh bạch hóa và phải tính đến nhu cầu, quyền lợi của các nước đang phát triển là thành viên WTO Tạo điều kiện, trợ giúp
kỹ thuật từ các nước phát triển cho các nước đang phát triển và đặc biệt kém phát triển
Trang 7Như vậy, hàng rào kỹ thuật trong thương mại thực chất là những biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ người tiêu dùng và trực tiếp bảo
hộ sản xuất trong nước Đồng thời đây cũng là rào cản hợp lý nhằm hạn chế nhập khẩu những hàng hóa không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, gây tác động xấu đến môi trường sống
Một trong những thử thách đối với Việt Nam khi bước vào sân chơi WTO là xây dựng được hàng rào kỹ thuật hợp lý khi từng bước dỡ bỏ hàng rào thuế quan, từng bước nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, đảm bảo phát triển bền vững Các tiêu chuẩn công nghiệp và văn bản pháp quy kỹ thuật đóng vai trò quan trọng nhưng chúng lại thay đổi theotừng nước Việc có quá nhiều tiêu chuẩn khác nhau tạo nên những khó khăn chocác nhà sản xuất và xuất khẩu Nếu các tiêu chuẩn này được lập nên một cách tùy ý, chúng có thể được sử dụng như một hình thức bảo hộ hàng hóa trong nước Các tiêu chuẩn này có thể trở thành vật chướng ngại trong thương mại
B) CÁC HÌNH THỨC RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBTs) quy định việc lập ra
và áp dụng các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các loại hàng hoá nhằm bảo vệ sức khoẻ và sự an toàn của con người, các loại động thực vật và môi trường Tuy nhiên, mục đích chủ yếu của Hiệp định này là nhằm giảm thiểu tác động của các quy định kỹ thuật trong phạm vi quốc gia, các thủ tục về đánh giá trong tiêu chuẩn và hợp chuẩn đến thương mại quốc tế Hiệp định này quy định rõ rằng các tiêu chuẩn kỹ thuật - bao gồm các tiêu chuẩn quy định đối với việc đóng gói, quảng bá sản phẩm và các yêu cầu về nhãn mác hàng hoá- không được phép gây nên các tác động hạn chế thương mại lớn hơn sự cần thiết đạt được các mục tiêu chính đáng của Chính phủ, đồng thời cũng cần phải chú ý tới việc nếu đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật quá cao thì có thể các công ty hay các đối tác kinh doanh
sẽ không thể thực hiện được các tiêu chuẩn này và điều đó sẽ gây ra các tác động hạn chế thương mại vô hình Trong quá trình đánh giá các rủi ro nói trên thì những
Trang 8thông tin có thể tiếp cận được về công nghệ, kỹ thuật, các công nghệ chế biến có liên quan và việc sử dụng cuối cùng của sản phẩm cũng nên được xem xét Đối với quản lý ở các cấp trung ương thì những điều khoản quy định trong Hiệp định TBTs được áp dụng đối với những quy định về kỹ thuật đã được các Chính phủ địa phương, các tổ chức phi Chính phủ và các cơ quan khu vực thông qua
I) Các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn và thủ tục xác định sự phù hợp
1) Quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn
Tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật đều đặt ra các yêu cầu cụ thể về physical đối với sản phẩm Các yêu cầu này có thể liên quan tới kích thước, hình dáng, thiết kế, độ dài và các chức năng của sản phẩm Các yêu cầu này cũng có thể quy định về nhãn mác, đóng gói, ký hiệu sản phẩm và mở rộng tới các quy trình và phương pháp sản phẩm liên quan tới sản phẩm Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản giữa tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật là ở chỗ sự tuân thủ các tiêu chuẩn là mang tính tự nguyện trong khi sự tuân thủ với các quy định kỹ thuật là bắt buộc Trên thực tế, nếu một sản phẩm nhập khẩu không đáp ứng các yêu cầu của quy định kỹ thuật thì nó sẽ không được phép bán ra thị trường Còn đối với tiêu chuẩn, nếu hàng nhập khẩu không tuân thủ các yêu cầu của tiêu chuẩn đặt ra thì vẫn được phép bán ra thị trường, mặc dù có thể bị người tiêu dùng tẩy chay Mục đích của các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn là bảo vệ an toàn, sức khoẻ của con người, bảo vệ sức khoẻ, đời sống động thực vật, bảo vệ môi trường, ngăn chặn các hành vi lừa dối Các tiêu chuẩn
và quy định liên quan đến kỹ thuật là một trong những cản trở lớn nhất đối với việc tiếp cận các thị trường nước ngoài của các nước đang và kém phát triển vì những nước này chưa có đủ trình độ và kỹ năng về công nghệ sản xuất, chế biến cũng như công nghệ bảo quản độ an toàn cho các sản phẩm hàng hoá, nhất là các loại lương thực, thực phẩm Các nước phát triển thường yêu cầu các nước đang và kém phát triển phải thực hiện các quy định rất chặt chẽ liên quan tới môi trường và nhiều khi còn yêu cầu các nước này phải xuất trình trước các sản phẩm mẫu để họ kiểm tra, thử nghiệm Điều này đã làm phức tạp thêm rất nhiều các thủ tục kiểm tra và chứng nhận sản phẩm xuất khẩu
Trang 9và tiến tới hài hoà hoá Nhưng các thành viên có thể đưa ra các biện pháp cần thiết
để bảo vệ môi trường, sức khoẻ con người và động thực vật, ngăn ngừa các hành động xấu mà nó cho là thích hợp, với điều kiện là các biện pháp đó không được
áp dụng theo cách thức tạo ra sự phân biệt đối xử tuỳ tiện, hay hạn chế vô lý đối với thương mại quốc tế
a) Kiểm dịch động vật và thực vật
Hiệp định về các biện pháp Vệ sinh dịch tễ (SPS) của WTO bao gồm các biện pháp nhằm bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ của con người và động vật Trong các quy định của Hiệp định này, có cả các quy định nhằm phòng tránh những rủi ro về vệ sinh của hàng hoá có thể phát sinh từ các chất phụ gia, các chất gây độc tố và chất
có hại đối với cơ thể con người có trong các loại lương thực, thực phẩm và đồ uống Hiệp định cũng đưa ra các quy định về việc ngăn chặn sự lây lan của các loại thực phẩm có hại Các biện pháp được quy định trong Hiệp định SPS cũng nhằm mục đích đảm bảo rằng các quy định về an toàn và sức khoẻ không có những ảnh hưởng quá mức đến thương mại quốc tế Hiệp định cũng yêu cầu các biện pháp SPS, có tiêu chuẩn yêu cầu vượt quá các tiêu chuẩn quốc tế, nếu áp dụng cần phải dựa trên các bằng chứng khoa học và phải có các đánh giá rủi ro Hiệp định quy định rằng các biện pháp đưa vào áp dụng không được có các tác động hạn chế thương mại nhiều hơn mức độ bắt buộc và cần thiết phải hạn chế Điều này có nghĩa là khi các thành viên áp dụng các biện pháp SPS thì trong một chừng mực nào đó sẽ có tác động hạn chế thương mại, nhưng Hiệp định về SPS đưa ra quy định này để không khuyến khích hoặc cấm các thành viên WTO áp
Trang 10dụng các biện pháp SPS có tác động hạn chế thương mại không cần thiết Mục tiêu này nhằm cho các thành viên chọn lựa được mức bảo hộ vệ sinh kiểm dịch cần thiết và phù hợp Cũng trong khuôn khổ của Hiệp định SPS, các Thành viên WTO cũng được yêu cầu thông báo cho Uỷ ban chức năng có liên quan của WTO các biện pháp SPS đang áp dụng mà có các ảnh hưởng đến thương mại, đồng thời phải thành lập các cơ quan Quốc gia có chức năng kiểm tra các biện pháp này và chịu trách nhiệm trong việc cungcấp thông tin của thành viên đó Hiệp định SPS cũng quy định về việc trợ giúp kỹ thuật cho các thành viên LDCs nhằm tăng cường năng lực cho các thành viên này trong quá trình triển khai các quy định trong Hiệp định này Cũng giống như các quy định trong Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), Hiệp định này cũng đưa ra quy định về việc cho các nước đang phát triển và các nước LDCs được hưởng các đãi ngộ đặc biệt trong quá trình thực hiện Hiệp định Ở nhiều nước phát triển, các quy định về SPS bao gồm các luật, Nghị định, quy định, yêu cầu và thủ tục liên quan như: các tiêu chuẩn đối với sản phẩm cuối cùng; các phương pháp sản xuất và chế biến; các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận và chấp thuận; những xử lý cách ly bao gồm các yêu cầu liên quan tới việc vận chuyển cây trồng và vật nuôi, hay các chất nuôi dưỡng chúng trong quá trình vận chuyển; những quy định về các phương pháp thống kê, thủ tục chọn mẫu và các phương pháp đánh giá rủi ro liên quan; các yêu cầu về đóng gói và nhãn mác liên quan trực tiếp tới an toàn thực phẩm Nhìn chung các biện pháp kiểm dịch động thực vật là nhằm mục đích phát hiện ra
dư lượng độc tố ( kháng sinh, hoá chất) và dư lượng vi sinh (nấm, côn trùng) có trong sản phẩm HACCP là một trong những biện pháp thường được áp dụng trong thương mại quốc tế để kiểm soát chất lượng của hàng thuỷ sản và thịt Theo quy định của Hiệp định SPS:
Các thành viên WTO có thể ban hành hay thực hiện các biện pháp cần thiết
để bảo vệ sức khoẻ con người, động vật và thực vật với điều kiện các biện pháp này không được áp dụng theo cách thức tạo ra sự phân biệt đối xử không hợp lý và tuỳ tiện, hay bóp méo thương mại
Trang 11 Các thành viên phải đảm bảo là việc áp dụng của bất kỳ biện pháp nào chỉ với phạm vi và mức độ cần thiết để bảo vệ sức khoẻ con người, động vật và thực vật, cũng như phải dựa trên các cơ sở khoa học và không được phép duy trì nếu không có chứng cớ khoa học đầy đủ
Trong trường hợp chứng cớ khoa học liên quan không đầy đủ, một thành viên có thể áp dụng một cách tạm thời các biện pháp kiểm dịch động vật và thực vật trên cơ sở thông tin xác đáng sẵn có, kể cả các thông tin từ các tổ chức quốc tế liên quan cũng như các biện pháp kiểm dịch của các thành viên khác Trong những trường hợp như vậy, các thành viên sẽ tìm kiếm các thông tin bổ sung cần thiết cho sự đánh giá rủi ro khách quan hơn Đồng thời tiến hành xem xét đánh giá các biện pháp tạm thời này trong một thời hạn hợp lý
Các thành viên đảm bảo rằng các biện pháp SPS được dựa trên đánh giá rủi
ro đối với sức khoẻ con người, động vật và thực vật, tuỳ theo hoàn cảnh, có cân nhắc tới những kỹ thuật đánh giá rủi ro của các tổ chức quốc tế liên quan
Trong quá trình đàm phán WTO, Việt Nam đã phải cam kết sửa đổi/loại bỏ các quy địnhvề vệ sinh và kiểm dịch động thực vật trái với quy định của WTO Chính phủ chỉ định Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD) là cơ quan chỉ đạo quốc gia có trách nhiệm thông báo các vấn đề về SPS Hiện nay, Việt Nam là thành viên của các tổ chức OIE, CODEX và IPPC (cơ quan xác định tiêu chuẩn của WTO)
b) Thủ tục về đóng gói sản phẩm
Các thủ tục này có thể sẽ ảnh hưởng đến việc xuất khẩu của các nước đang và kém phát triển (LDCs) sang thị trường của các nước đang phát triển vì các nước nhập khẩu nhiều khi không tin tưởng vào quá trình bao gói sản phẩm của các nước LDCs, mặt khác nhiều nước phát triển cho rằng các loại bao, gói sản phẩm từ các nước đang phát triển không có khả năng tái chế được sau khi sử dụng vì thế sẽ gây ảnh hưởng trong công tác xử lý chất thải của nước nhập khẩu Vấn đề bao bì sau tiêu dùng liên quanđến việc xử lý chất thải rắn Các chính sách đóng gói bao gồm những quy định liên quan đến nguyên vật liệu đóng gói, những quy định về tái
Trang 12sinh, những quy định về xử lý và thu gom sau quá trình sử dụng Những tiêu chuẩn và quy định liên quan đến những đặc tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên liệu đóng gói đòi hỏi việc đóng gói phải phù hợp với việc tái sinh hoặc dùng lại Những quy định không phù hợp có thể bị thị trường từ chối cả nguyên liệu đóng gói và sản phẩm chứa trong bao bì
Chẳng hạn, Liên bang Đức từ chối nhập khẩu các sản phẩm của Indonesia được đóng gói bằng bì gai là loại không có dụng cụ phân huỷ ở Đức Việc sử dụng các tiêu chuẩn về bao bì và đóng gói trong nhiều trường hợp sẽ ảnh hưởng đến cạnh tranh thương mại quốc tế Điều này bắt nguồn từ sự khác nhau về các tiêu chuẩn
và quy định, về chi phí sản xuất bao bì, các nguyên liệu dùng để sản xuất bao bì và khả năng tái chế ở các nước khác nhau
c) Yêu cầu về dán nhãn sinh thái
Dán nhãn sinh thái có nghĩa là các nước nhập khẩu yêu cầu các nước xuất khẩu phải thực hiện việc dán nhãn mác sản phẩm của mình theo những tiêu chuẩn nhất định nhằm ngăn chặn những ảnh hưởng về sinh thái cho các nước nhập khẩu Đặc biệt đây thường là yêu cầu của các nước phát triển đối với các nước kém phát triển (LDCs), các yêu cầu này dù thuộc hình thức tự nguyện hay hình thức bắt buộc thì đều gây những khó khăn nhất định trong quá trình xuất khẩu của các nước LDCs
Vì thông thường các nước LDCs hay có thói quen sử dụng nhãn mác cầu kỳ như một công cụ marketing và quảng bá một cách hiệu quả cho sản phẩm của mình khi thâm nhập thị trường ngoài nước Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng biết là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường Các tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích chu kỳ sống của sản phẩm, một quá trình còn được gọi là phương pháp phân tích từ đầu đến cuối (từ lúc sinh đến lúc chết) Theo phương pháp này, người
ta sẽ đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với môi trường của sản phẩmở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ chu kỳ sống của nó Các giai đoạn này bao gồm giai đoạn tiền sản xuất (chế biến các nguyên liệu thô), sản xuất, phân phối (bao gồm đóng gói), sử dụng hoặc tiêu thụ, và loại bỏ sau khi sử dụng
Trang 13Việc sử dụng nhãn sinh thái cũng làm ảnh hưởng đến cạnh tranh thương mại quốc
tế Trong các thị trường với những sở thích của người tiêu dùng đối với những sản phẩm "xanh", tác dụng của nhãn hiệu sinh thái được coi như là một công cụ xúc tiến, đồng thời nhãn hiệu đó có thể tác động ngược lại sự cạnh tranh của những sản phẩm không dán nhãn trong cùng một chủng loại Do đó, tuy việc dán nhãn mang tính chất tự nguyện, nhưng các chương trình nhãn hiệu sinh thái cũng có thể gây cản trở đến thương mại quốc tế
d) Các yêu cầu về phương pháp sản xuất/khai thác và chế biến sản phẩm
Các yêu cầu này cũng có nhiều ảnh hưởng đến việc tiếp cận thị trường của các nước LDCs Trong lĩnh vực này thì vấn đề đang được tranh cãi nhiều nhất là các vấn đề có liên quan đến phạm vi điều chỉnh của các quy định trong PPMs Hiệp định TBTs quy định rằng các phương pháp sản xuất và chế biến sản phẩm "có liên quan" sẽ được điều chỉnh bởi các nguyên tắc này Từ "có liên quan" ở đây thường được hiểu theo nghĩa là chỉ những PMMs có ảnh hưởng đến đặc thù và chất lượng của sản phẩm xuất khẩu sẽ được điều chỉnh bởi các quy định này Nhưng vấn đề nảy sinh ở chỗ hiện nay các luật và các quy định về môi trường hiện đang mở rộng phạm vi điều chỉnh của mình đối với các PMMs, kể cả các PMMs không có tác động trực tiếp đến chất lượng và đặc thù của sản phẩm xuất khẩu song nhiều khi lại có tác động tiêu cực đến môi trường tại nơi sản xuất sản phẩm Do vậy, có nên đưa các PMMs này vào danh sách những PMMs được điều chỉnh bởi Hiệp định TBTs hay không? vấn đề này hiện nay đang còn bị tranh cãi Về mặt môi trường, việc xem xét quy trình sản xuất là để giải quyết một trong 3 câu hỏi trọng tâm của quá trình quản lý môi trường: sản phẩm được sản xuất như thế nào? sản phẩm được sử dụng như thế nào? và sản phẩm được vứt bỏ như thế nào? và những quá trình này có làm tổn hại đến môi trường hay không? Các tiêu chuẩn PPMs áp dụng cho giai đoạn sản xuất, nghĩa là giai đoạn trước khi sản phẩm được tung ra bán ở thị trường và kiểm tra xem quá trình sản xuất có gây ô nhiễm môi trường hay không
Trang 14Đã có rất nhiều tranh chấp thương mại liên quan đến PPMs như trường hợp Hoa
Kỳ cấm nhập khẩu cá ngừ của Mexico và tôm của Thái Lan vì phía Hoa Kỳ cho rằng các nước này sử dụng phương tiện đánh bắt làm ảnh hưởng đến loài rùa biển, hay Cộng hoà Liên bang Đức cấm nhập khẩu các sản phẩm văn hoá của Phần Lan
do chúng được sản xuất từ bột giấy được lấy từ rừng nguyên sinh ở Indonesia, trường hợp tương tự đối với cá tra, cá basa của Việt Nam
e) Các yêu cầu của người tiêu dùng
Nhiều nước phát triển áp đặt các điều kiện về môi trường đối với các nhà xuất khẩu tại các nước đang và chậm phát triển Các yêu cầu này liên quan đến các vấn
đề như môi trường, lao động trẻ em và các quyền về con người, những yêu cầu này đã từng có ảnh hưởng rất nhiều tới cơ hội thương mại của các nước xuất khẩu Hiệp định TBTs cũng quy định các điều khoản liên quan đến việc hỗ trợ kỹ thuật cho các nước LDCs trong việc chuẩn bị và soạn thảo các quy định về kỹ thuật, tham gia vào các tổ chức tiêu chuẩn hoá, thành lập các cơ quan điều phối nhằm đánh giá việc tuân thủ và tính phù hợp với các quy định về kỹ thuật, đồng thời tìm kiếm tiêu chuẩn và hợp chuẩn trong khuôn khổ lãnh thổ của mình và với các thành viên WTO khác Ngoài ra, Hiệp định này cũng đưa ra những quy định về việc cho các nước LDCs được hưởng nhiều đãi ngộ đặc biệt khác, ví dụ như cho phép các nước LDCs có được nhiều thời gian hơn trong việc thực hiện các nghĩa vụ này Gia nhập WTO, Việt Nam cũng phải thực hiện nhiều cam kết liên quan đến Hiệp định TBTs: Điểm hỏi đáp và thông báo về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại của Việt Nam đã được thành lập theo Quyết định 356/QĐ-BKHCN, nằm trong Bộ Khoa học và Công nghệ Điểm hỏi đáp này đã đi vào hoạt động từ cuối năm 2005
Từ trước khi vào WTO, Chính phủ Việt Nam đã tiến hành chương trình rà soát các văn bản pháp luật nhằm đảm bảo sự phù hợp với các nghĩa vụ trong WTO về lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật và đánh giá sự phù hợp Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối đối với việc rà soát các quy chuẩn kỹ thuật Hiện nay có khoảng
5800 tiêu chuẩn quốc gia nêu trong Danh mục tiêu chuẩn Việt nam năm 2004, trong đó có 231 tiêu chuẩn bắt buộc Các tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng nhằm mục
Trang 15đích bảo vệ môi trường hoặc con người, động thực vật hoặc sức khoẻ, hoặc để ngăn ngừa các hành vi gian lận thương mại hoặc vì an ninh quốc gia Hầu hết các tiêu chuẩn của Việt nam đáp ứng các quy định của WTO và đang hoàn thiện theo hướng hài hoà hoá ở cấp độ khu vực và quốc tế Việt Nam đang tích cực tham gia vào các hiệp định hài hoà hoá tiêu chuẩn khu vực như của ASEAN, APEC và ASEM Cho đến nay Việt Nam đã hài hoà được trên 200 tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế Mặc dù vẫn còn nhiều tiêu chuẩn của Việt Nam thấp hơn hoặc khác với tiêu chuẩn quốc tế được chấp nhận vì căn cứ vào khả năng thực hiện của Việt Nam và điều kiện đặc thù về văn hoá, trình độ phát triển kinh tế
C) RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA 1 SỐ THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM I) HOA KỲ
1) Khái quát về rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế của Hoa Kì
a) Các rào cản phi thuế quan
Rào cản phi thuế quan thực chất là những biện pháp kỹ thuật hiện đã được rất nhiều nước phát triển đã áp dụng trong đó quốc gia sử dụng nhiều nhất phải kể đến
là Mỹ, Mỹ đã sử dụng các rào cản phi thuế quan nhằm để thay thế cho các quy định cắt giảm thuế quan của WTO Các rào cản thuế quan ngày nay rất đa dạng, các rào cản này bao gồm
- Các biện pháp kỹ thuật
- Các loại thuế và phí trong nước
- Các quy định và thủ tục hải quan
- Các hạn chế trong việc tiếp cận thị trường liên quan đến cạnh tranh
- Các hạn chế về định lượng nhập khẩu
- Các thủ tục và quy trình hành chính (nói chung)
- Các thực tiễn về mua sắm của Chính phủ
- Trợ cấp và các hỗ trợ của Chính phủ
- Các hạn chế về đầu tư hoặc các yêu cầu
- Quy định hoặc chi phí vận chuyển
- Các hạn chế về cung cấp dịch vụ (nói chung)
Trang 16- Các hạn chế về sự dịch chuyển của các thương nhân hoặc người lao động
- Các công cụ bảo hộ thương mại (chống bán phá giá, thuế đối kháng, quyền tự vệ)
- Các quy định của thị trường trong nước
Ngày nay, có rất nhiều “ vũ khí ” phục vụ cho mục tiêu bảo hộ thương mại Ví dụ, các hàng rào phi thuế quan của Mỹ đã dập tắt cơ hội đối với các sản phẩm như đồ chơi trẻ em, bật lửa và thuốc đông y của Trung Quốc thâm nhập thị trường Hoa
Kỳ Điển hình như tiểu bang California của Mỹ đã quy định rõ trên 110 loại thuốc đông y của Trung Quốc có chứa hàm lượng kim loại nặng vượt quá mức cho phép theo tiêu chuẩn về nước uống ở California và yêu cầu tất cả các vị thuốc đông y này phải dán nhãn “độc dược” Các hàng rào phi thuế quan khác có thể thấy là Đạo luật chống khủng bố sinh học năm 2002 có quy định áp dụng các quy định nghiêm ngặt đối với công ty xuất khẩu thực phẩm sang Mỹ, theo đó họ phải đăng ký với
cơ quan thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) Tất cả các công ty nước ngoài sản xuất, chế biến, đóng gói các thực phẩm phục vụ cho người và vật nuôi ở Mỹ phải đăng ký với cơ quan này trước ngày 12/12/2004 Các doanh nghiệp nào không tuân thủ quy định này thì hàng hoá của họ sẽ không được phép nhập vào các cảng của Mỹ và các nhà xuất khẩu này sẽ phải chịu các chế tài nhất định
Tiếp theo việc cắt giảm thuế quan trên quy mô toàn cầu, trọng tâm của WTO và các hiệp ước quốc tế khác đã chuyển thành việc loại trừ các rào cản phi thuế quan trong thương mại Trong số các rào cản phi thuế quan, các rào cản kỹ thuật trong thương mại hiện chưa được xác định một cách rõ ràng Các hàng rào kỹ thuật đề cập tới các tiêu chuẩn của hàng hoá mà mỗi quốc gia quy định một cách khác nhau Những tiêu chuẩn này cũng có thể tác động đến việc hạn chế thương mại Các tiêu chuẩn này có thể bao gồm các thông số, đặc điểm cho mỗi loại hàng hoá
có thể do cơ quan chính quyền hoặc các tổ chức 2 tư nhân đặt ra Mặc dù tuân thủ theo các thông số kỹ thuật nàycó thể không phải là bắt buộc nhưng những ai không tuân thủ thì thị trường tẩy chay Các tiêu chuẩn kỹ thuật có thể đòi hỏi các sản phẩm phải đạt được những yêu cầu nhất định trước khi được đưa ra thị trường
Trang 17Các thông số kỹ thuật có thể đóng vai trò như các rào cản thương mại, đặc biệt khi
nó quy định khác nhau giữa các nước Để phù hợp với các tiêu chuẩn này vừa khó khăn vừa tốn kém nên xét về mặt kinh tế không thể vừa thực hiện vừa duy trì được sức cạnh tranh trên thị trường nước ngoài
2) Khái quát về các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
a) Rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với thủy sản nhập khẩu
a1) Quy định của Hoa Kì về vệ sinh an toàn thực phẩm
Tiêu chuẩn HACCP
Tiêu chuẩn HACCP (Hazard Analysis Control Critical Point- Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn) nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng thực phẩm thông qua việc phân tích mối nguy và thực hiện các biện pháp kiểm soát tại các điểm kiểm soát tới hạn Doanh nghiệp muốn xuất khẩu thủy sản sang Hoa Kì phải gửi kế hoạch, chương trình HACCP cho Cục thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kì (FDA), nếu FDA kết luận là đạt yêu cầu thì doanh nghiệp được cấp phép xuất khẩu FDA sẽ kiểm tra từng lô hàng nhập khẩu, nếu phát hiện
lô hàng không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm thì sẽ bị từ chối nhập khẩu, sẽ
bị trả về nước hoặc tiêu hủy tại chỗ, mọi chi phí phất sinh do doanh nghiệp chịu, ngoài ra tên doanh nghiệp được đưa vào mục “ Cảnh báo nhanh” trên internet Nếu
5 lô hàng tiếp theo của doanh nghiệp bị giữ lại ở cảng nhập khẩu để kiểm tra theo chế độ tự động đảm bảo đủ tiêu chuẩn toàn vệ sinh, doanh nghiệp làm đơn đề nghị thì sẽ được FDA xóa tên khỏi mục cảnh báo nhanh
Hiện nay, FDA đã kí Bản ghi nhớ (MOU) với Canada, Hàn Quốc, một số nước Nam Mỹ đối với hàng nhuyễn thể 2 mảnh vỏ, điều nay cho phép cơ quan có thẩm quyền cao nhất về kiểm soát VSATTP tại nước xuất khẩu tự chỉ định doanh nghiệp được xuất khẩu thủy sản vào Hoa Kì mà không cần trình kế hoạch, chương trình HACCP
Luật bảo vệ người tiêu dùng thủy sản thương mại
Trang 18Theo luật này, Bộ Thương mại phối hợp với Bộ Dịch vụ sức khỏe và Con người xây dựng cơ sở vật chất nhằm tạo ra một hệ thống nhập khẩu thủy sản an toàn hơn Hai bộ được yêu cầu kiểm tra và thực hiện kiểm nghiệm đối với thủy sản nhập khẩu, thanh tra các cơ sở sản xuất ở nước ngoài, thực hiện trợ giúp kĩ thuật và đào tạo cho chính phủ và các cơ sở sản xuất ở nước ngoài, tăng cường nhập khẩu từ các nước có quá trình duy trì các tiêu chuẩn vệ sinh cao Luật cho phép tăng cường
số lượng và năng lực các phòng kiểm nghiệm thuộc Cơ quan quản lí Đại Dương
và khí quyển quốc gia (NOAA) có tham gia chương trình thanh tra thủy sản của Cục nghề cá biển Hoa Kì Một khoản ngân sách là 15 triệu USD hàng năm sẽ được cấp cho giai đoạn từ 2009-2013 để thực hiện các điều khoản trong luật
Quy định về sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản ở Hoa Kì
Theo quy định của FDA, ở nhiều nước khác trong nuôi trồng thủy sản trừ những loại kháng sinh bị cấm còn lại đều được phép sử dụng, ngược lại ở Hoa Kì, trừ những loại kháng sinh được phép sử dụng còn lại tất cả đều bị cấm FDA đã chỉ rõ
6 loại kháng sinh được phép sử dụng, tên nhà cung cấp, đối tượng, quy định và cách thức sử dụng từng loại: chorionic ganadotropin, formalin solution, tricaine methanesulfonate, oxytetracyline, sulfamerazine, hỗn hợp sulfadimethoxine Bên cạnh đó, FDA còn quyđịnh 18 thứ khác không phải là kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản gồm có: axit acetic, calcium chloride, calcium oxide, carbon dioxide gas, fuller’s earth, tỏi (cả củ), hydrogen peroxide, ice, magnesium sulfate, hành (cả củ), papain, potassium chloride, povidone iodine, sodium bicarbonate, sodium chloride, sodium sunfite, thiamine hydrochloride, axit urea và tannic
Dự luật H.R.3610
Dự luật H.R.3610 còn được gọi là Luật an toàn nhập khẩu thực phẩm và dược phẩm 2007,nhằm siết chặt hơn nữa việc kiểm soát an toàn thực phẩm và dược phẩm nhập khẩu vào Hoa Kì Luật gồm 14 điều, trong đó có những quy định như sau:
+Thu phí sử dụng khi nhập khẩu Khi nhập khẩu các lô hàng thực phẩm và dược phẩm sẽ phải thu phí sử dụng, phí này được dung cho việc thuê thêm nhân viên
Trang 19kiểm tra tại cảng nước xuất khẩu và nhập khẩu, tăng cường nhân lực và trang thiết
bị cho các phòng kiểm nghiệm của FDA để thực hiện việc kiểm nghiệm thựcphẩm
và dược phẩm một cách hiệu quả
+ Hạn chế số cảng nhập thực phẩm
Việc nhập khẩu thực phẩm có thể bị hạn chế vào một số cảng nhất định, nơi mà FDA trang bị đầy đủ nhân lực và thiết bị để tiến hành kiểm tra
+ Kiểm soát các nhà nhập khẩu
Nhà nhập khẩu tại Hoa Kì sẽ phải bị kiểm tra, bắt buộc, phải lưu trữ các chi tiết và chứng từ cần thiết để truy nguyên nguồn gốc sản phẩm nhạp khẩu và xuất trình lên chính phủ các tài liệu về đảm bảo an ninh hệ thống cung cấp Khi có dấu hiệu vi phạm thì công ty và giám đốc đều phải chịu trách trước pháp luật
+ Tiền phạt
Nếu nhà nhập khẩu bị phát hiện nhập khẩu các loại thực phẩm không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của Luật Thực phẩm và Dược phẩm hiện hành sẽ phải chịu phạt tiền lên đến 500.000USD
+ Quyền triệu hồi
Dự luật đề xuất việc trao quyền độc lập để ra lệnh triệu hồi các lô sản phẩm cho FDA thay vì do nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và nhà phân phối thực phẩm quyết định Đây sẽ là lời cảnh báo đối với các nhà nhập khẩu khi họ buộc phải xem xét điều chỉnh bản “Kế hoạch quản lý triệu hồi” của họ
+ Yêu cầu chứng nhận
Theo dự luật, FDA sẽ bị buộc phải thay đổi phương thức và biện pháp quản lý an toàn thực phẩm nhập khẩu để phù hợp với các quy định của USDA Điều này có nghĩa là họ phải quyđịnh các quốc gia và cơ sở sản xuất thực phẩm có hệ thống đảm bảo an toàn thực phẩm phù hợp với hệ thống của Hoa Kì, cấp code cho các cơ
sở này và tăng cường mức độ kiểm tra các lô hàng nhập khẩu hơn nhiều lần so với trước đây
+ Hạn chế sử dụng oxit cacbon và bắt buộc ghi nhãn
Trang 20Quy định ghi nhãn dự kiến bắt buộc như sau: “LƯU Ý AN TOÀN: Oxit cacbon đã được sử dụng để tạo màu cho sản phẩm này Không nên chỉ dựa vào màu sắc và thời hạn để đánh giá độ tươi của sản phẩm Phải loại bỏ các sản phẩm có mùi khó chịu, bị nhầy nhớt hoặc bao gói bị bục”
a2) Quy định của Hoa Kì về bảo vệ môi trường và nguồn lợi
Đây là quy định của một số luật chủ yếu của Hoa Kì nhằm bảo vệ môi trường có
sử dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu nhằm buộc chính phủ các nước xuất khẩu thuỷ sản vào Hoa Kì áp dụng những thông lệ bảo vệ loài cá heo, hải sản, chim rừng và các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng khác
- Luật bảo vệ động vật biển có vú 1972 quy định cấm nhập khẩu động vật biển có
vú và sản phẩm của loài này, trừ khi phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học Luật cũng cho phép Bộ Tài chính cấm nhập khẩu cá hoặc các sản phẩm chế biến từ cá nếu quá trình đánh bắt dẫn đến nguy hiểm cho các loài động vật có vú ở biển mà vượt quá tiêu chuẩn của Hoa Kì Ngoài ra, đến năm 1984, có bổ sung thêm điều luật yêu cầu các nước xuất khẩu cá ngừ sang Hoa Kì phải chứng minh có áp dung chương trình bảo tồn cá heo tương đương với chương trình của Hoa Kì
- Đạo luật năm 1973 về các lài động vật có nguy cơ tuyệt chủng cho phép Bộ Nội
Vụ Hoa Kì được quyền cấm nhập khẩu một số loài động vật hay họ động vật có nguy cơ tuyệt chủng
- Luật bảo vệ động vật hoang dã nằm trong nhóm luật bảo vệ môi trường nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, những ai vi phạm luật này sẽ bị xử lý theo quy định của Luật pháp Hoa Kì
- Luật thực thi lệnh cấm đánh bát ngoài khơi xa bằng lưới quét Luật được ban hành năm 1992 nhằm hỗ trợ cho việc thực thi trên phạm vi quốc tế Nghị quyết của Liên Hợp quốc cấm đánh bắt cá bằng lưới quét với quy mô lớn ngoài khơi xa sau ngày 31/12/1992
Ngoài ra, Luật công Mỹ 102- 162 đã cấm nhập khẩu tôm từ các khu vực trên thế giới nếu việc đánh bắt gây nguy hiểm đối với loài rùa biển trừ khi nước đánh bắt được chứng nhận đã yêu cầu tàu thuyền ử dụng các thiết bị xua đuổi rùa biển
Trang 21a3) Luật ghi nhãn xuất xứ đối với hàng thủy sản
Luật này được áp dụng từ ngày 30/9/2008, quy định các nhà bán lẻ thực phẩm tại Hoa Kì phải ghi rõ nguồn gốc xuất xứ (nước sản xuất) đối với các sản phẩm thủy sản, thịt tươi, các sản phẩm tiêu dung khác Ngoài ra, luật này cũng cho phép ghi nhãn vùng đối với các sản phẩm sản xuất trong nước, ví dụ như “ Trồng tại Canifornia” Luật này không áp dụng đối với thực phẩm chế biến, thực phẩm bán tại các nhà hàng đặc sản, trường học, bệnh viện, các tổ chức cung cấp dịch vụ ăn uống Riêng thủy sản nuôi và đánh bắt tự nhiên tại Hoa Kì, thủy sản từ Indonexia, Aixolen được áp dụng quy định về xuất xứ từ năm 2005 Những thực phẩm tươi không có nguồn gốc xuất xứ sẽ phải chịu mức phạt 1000 USD Luật ghi nhãn gây khó khăn đối với những nhà sản xuất nhỏ vì thủ tục giấy tờ là một vấn đề gây phức tạp, tốn nhiều thời gian đối với các doanh nghiệp này Tuy nhiên, luật này lại có tác dụng rất hữu hiệu đối với người tiêu dùng để có thể dễ dàng lựa chọn được sản phẩm với những thông tin về xuất xứ và nguồn gốc rõ ràng
a4) Dự luật nông nghiệp 2008
Dự luật nông nghiệp 2008 còn được gọi là Luật nông trại 2008 (Farm Bill 2008) đang trong quá trình triển khai, cho phép Bộ Nông Nghiệp Hoa Kì (USDA) thanh kiểm tra và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nhóm cá da trơn (catfish) mà trước đây do Cục thực phẩm và dược phẩm Hoa Kì đảm nhiệm Ngoài ra, USDA cũng tiến hành mở rộng định nghĩa catfish nhằm hạn chế việc nhập khẩu cá tra của Việt Nam, vì theo luật này cá tra xuất khẩu sang Hoa Kì được quản lí bởi hệ thống chất lượng và sản xuất tương đương hệ thống quản lý chất lượng và sản xuất của Hoa
Kì
a5) Luật an toàn y tế công cộng và chuẩn bị phản ứng khủng bố sinh học
Luật này quy định các cơ sở sản xuất, chế biến, đóng gói, phân phối, tiếp nhận và bảo quản thực phẩm cung cấp cho người tiêu dùng hoặc súc vật ở Hoa Kì đều phải đăng kí với Cơ quan quản lí thực phẩm vầ dược phẩm Hoa Kì (FDA), nhằm kiểm soát hệ thống cung cấp thực phẩm vào Hoa Kì, bảo đảm an toàn thực phẩm và phòng chống khủng bố sinh học Sau khi đăng kí tên công ty, địa chỉ hoạt động,
Trang 22tên và địa chỉ người đại diện tại Hoa Kì, các loại thực phẩm xuất sang Hoa Kì cho FDA, doanh nghiệp phải thông báo trước tất cả các chuyến tàu chuyên chở thực phẩm nhập khẩu vào Hoa Kì Ngoài ra, phải cung cấp các thông tin hàng hóa kê khai trên hóa đơn nhập khẩu bằng fax, email cho FDA trước khi hàng đến, không sớm hơn 5 ngày và không chậm hơn 8 giờ trước khi hàng đến Bất kì sự thay đổi
về thông tin hàng hóa phải được thông báo trước Đối với các cơ sơ sản xuất, chế biến, đóng gói những thực phẩm dễ hư thối thì thời gain báo quản hồ sơ là 1 năm, còn với các sản phẩm khác thì là 2 năm Doanh nghiệp không mất chi phí cho việc đăng kí nhưng nếu không đăng kí, không bảo quản hồ sơ thì sẽ bị khởi kiện bởi chính phủ Liên bang
b) Ảnh hưởng của rào cản kĩ thuật đối với thủy sản xuất khẩu Việt Nam
-Việc đối mặt với rào cản kĩ thuật đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho ngành thuỷ sản Việt Nam đổi mới phát triển Trước đây, chất lượng sản phẩm thủy sản nói chung
và các sản phẩm chế biến xuất khẩu còn thấp, trình độ sản xuất chế biến chưa thực
sự phát triển do rào cản kĩ thuật ở các nước nhập khẩu còn thấp, chưa có nhiều tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp xuất khẩu chủ yếu xuất khẩu theo quan điểm “bán cái mình có”, chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng khai thác điều kiện tự nhiên hoặc các mặt hàng sơ chế có giá trị thấp Năm 2001, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kì khối lượng trên 70.000 tấn thủy sản các loại, trị giá 489,03 triệu USD, trong đó chủ yếu là các mặt hàng tôm đông lạnh (49%), cá đông lạnh(12%), các mặt hàng này chủ yếu là các mặt hàng sơ chế, không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng đa dạng của người tiêu dùng Hoa Kì Từ năm 2003 cho đến nay, xuất phát từ nhu cầu của người tiêu dùng Hoa Kì về sự đa dạng chủng loại các sản phẩm, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã đầu tư vốn và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng các sản phẩm thủy sản, kiểm soát dư lượng kháng sinh
và hóa chất độc hại trong sản phẩm thủy sản một cách nghiêm ngặt Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 4.247 triệu USD trong đó các mặt hàng tôm và cua chế biến chiếm tỷ trọng khá lớn, khoảng 35% Hiện nay, các
Trang 23doanh nghiệp đã thayđổi quan điểm của mình, “bán cái khách hàng cần”, quan tâm
và đáp ứng nhu cầu của thị trường là chiến lược hàng đầu của các doanh nghiệp
Để thực hiện mục tiêu đó, ngành thủy sản Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống luật pháp, thành lập các cơ quan chuyên quản lí kiểm soát chất lượng thủy sản đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn kĩ thuật của Hoa Kì, góp phần nâng cao vị thế của thủy sản trên thị trường
- Rào cản kĩ thuật đã mở ra cơ hội nâng cao chất lượng nâng cao chất lượng, tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu cũng như sản phẩm thuỷ sản tiêu thụ trong nước Nhằm vượt qua các tiêu chuẩn khắt khe, chất lượng hàng thủy sản Việt Nam ngày càng được nâng cao, hiện nay đã có mặt trên hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trở thành một trong 10 quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới Riêng với thị trường Hoa Kì, sản phẩm thủy sản Việt Nam ngày càng tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao vị thế của mình Năm 2009, theo số liệu thống kê của NAFIQAVED có 442 cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy sản đạt tiêu chuẩn ngành thủy sản Việt Nam về điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, có doanh nghiệp Việt Nam đã đạt 5 chứng chỉ phù hợp vói tiêu chuẩn quốc tế Hội đồng chứng nhận nuôi trồng thủy sản Bang Florida (Mỹ) đã chứng nhận cho 2 trại giống, 6 nhà máy thủy sản, 2 trại nuôi tôm, 24.227 nhà máy chế biến tôm, 1347 trại nuôi tôm của Việt Nam có chứng nhận thực hành nuôi tốt(BAP)
- Rào cản kĩ thuật góp phần tích cực vào quá trình bảo vệ môi trường thông qua việc thực hiện các biện pháp nhằm vượt qua rào cản trong quá trình chế biến thuỷ sản xuất khẩu Theo số liệu đã được thống kê của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), hàng năm trung bình ngành thủy sản thải vào môi trường một lượng chất thải khoảng 160-180 nghìn tấn, nước thải chưa qua xử lý hoặc chỉ xử lý tạm thời khoảng 8-12 triệu m3 Chính vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam muốn xuất khẩu thủy sản sang Hoa Kì phải không ngừng đầu tư vào quá trình xử lý rác thải, giảm ảnh hưởng tới môi trường để vượt qua các rào cản về môi trường của Hoa Kì
Trang 24- Tạo điều kiện để Việt Nam hoàn thiện hệ thống luật pháp về các tiêu chuẩn và quyđịnh đối với hàng thuỷ sản xuất khẩu nhằm chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu Năm 2007, ngành thủy sản đã tham gia xây dựng Luật An toàn vệ sinh thực phẩm và dự thảo luật chất lượng sản phẩm hàng hóa cùng với việc áp dụng các biện pháp cấp bách kiểm soát hóa chất và kháng sinh cấm trong hàng thủy sản xuất khẩu vào Hoa Kì, quy định chỉ tiêu kiểm tra và mức giới hạn tối đa cho phép đối với các sản phẩmthủy sản xuất khẩu vào Hoa Kì, đồng thời cũng quy định các hoạt động kiểm tra hóa chất, kháng sinh cấm trong nuôi trồng, chế biến, tỉ lệ mạ băng trong sản phẩm thủy sản xuất khẩu
Năm 2008, Việt Nam thực hiện việc kiểm soát dư lượng hóa chất độc hại với tất cả các sản phẩm thủy sản chủ lực, nuôi tập trung: tôm sú, tôm chân trắng, tôm càng xanh, cá tra, cá basa, cá rô phi, cua…chỉ tiêu và tần suất lấy mẫu kiểm tra đối với từng đối tượng cụ thể được thực hiện theo đúng quy định của các thị trường như Hoa Kì, EU
Việt Nam đã ban hành 2 quy chế “Bảo vệ môi trường trong công nghiệp chế biến thủy sản” và “Quy chế bảo vệ môi trường vùng nuôi tôm tập trung” nhằm kiểm soát việc ô nhiễm môi trường, nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
Rào cản kĩ thuật tạo ra tác động tiêu cực là hạn chế thuỷ sản Việt Nam thâm nhập vào thị trường Hoa Kì do không vượt qua được các rào cản này do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như:
- Nước ta còn thiếu vốn, trình độ khoa hoc công nghệ thấp,thiếu trình độ quản lí và kinh nghiệm, khiến các doanh nghiệp xuất khẩu gặp phải khó khăn rất lớn khi gặp phải các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì được xây dựng trên cơ sở khoa học công nghệ tiên tiến như các tiêu chuẩn HACCP, kiểm soát dư lượng kháng sinh và các chất độc hại trong sản phẩm thủy sản Điều này gây ra khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam khi phải vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì
Trang 25- Các doanh nghiệp xuất khẩu thiếu chủ động trong việc tìm hiểu các rào cản của thị trường Hoa Kì và đáp ứng nó Hiện nay, vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam chỉ thực sự nghiên cứu tìm hiểu những rào cản kĩ thuật khi hàng thủy sản xuất khẩu vào thị trường Hoa Kì không được nhập khẩu, bị trả lại hoặc tiêu hủy chứ không chủ động nghiên cứu các rào cản trước nhằm đảm bảo sản xuất các sản phẩm phù hợp với các tiêu chuẩn Hoa Kì
- Thị trường Hoa kì luôn không ngừng đổi mới các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, nâng cao và đưa ra nhiều tiêu chuẩn mới,hạ thấp ngưỡng phát hiện dư lượng kháng sinh và hoá chất được sử dụng phổ biến trong các sản phẩm thuỷ sản
Ví dụ như thời gian gần đây, Hoa Kì đã thông qua Đạo luật Farm Bill nhằm đưa cá tra, cá basa của Việt Nam vào danh mục Catfish, tạo thêm rào cản đối với mặt hàng này Trong điều kiện hiện nay khi mà các rào cản thuế quan đang dần được
dỡ bỏ thì các rào cản kĩ thuật càng trở thành một biện pháp phi thuế quan hữu hiệu
mà Hoa Kì dựng lên nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước
c) Thực trạng khả năng đáp ứng các yêu cầu về các rào cản kĩ thuật của Hoa
Kì đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
c1) Về vệ sinh an toàn thực phẩm
Nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh ATTP của Hoa Kì, ngành thủy sản Việt Nam ngày càng chú trọng tới việc đảm bảo các tiêu chuẩn này, đặc biệt là việc kiểm soát dư lượng kháng sinh trong sản phẩm và thực hiện tiêu chuẩn HACCP Mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều bất cập nhưng ngành thủy sản cũng đã đạt được những thành công nhất định
Tình hình đáp ứng tiêu chuẩn HACCP
Nhằm đáp ứng tốt các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm, trong những năm gần đây ngành thủy sản Việt Nam rất quan tâm và chú ý vấn đề ATVSTP cho người tiêu dùng trong nước và trên thế giới Năm 2007, ngành thủy sản đã tham gia xây dựng Luật An toàn vệ sinh thực phẩm và dự thảo Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa, áp dụng các biện pháp cấp bách kiểm soát hóa chất,
Trang 26kháng sinh trong mặt hàng thủy sản xuất khẩu,quy định chỉ tiêu kiểm tra và mức giới hạn tối đa cho phép đối với thủy sản xuất khẩu vào Hoa Kì, thực hiện các hoạt động kiểm tra hóa chất, kháng sinh cấm trong nuôi trồn chế, tỉ lệ mạ băng trong sản phẩm xuất khẩu vào các thị trường khác là Liên Xô và EU
Theo số liệu của NAFIQAVED tính đến hết năm 2008 thì Việt Nam có 432 cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy sản đạt tiêu chuẩn ngành thủy sản Việt Nam về điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm HAVICO là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam đã đi đầu trong việc áp dụng hệ thống quản trị tích hợp 5 tiêu chuẩn quốc tế đồng thời với việc đảm bảo các hoạt động xã hội và chăm lo đời sống người lao động, đó là:
- Hệ thống Quản lý môi trường (EMS) phù hợp theo tiêu chuẩn ISO 14001- 2004
- Hệ thống quản lý nguồn nhân lực và các trách nhiệm xã hội với người lao động phù hợp tiêu chuẩn SA 8000:2001
Sau một quá trình cố gắng nỗ lực nâng cao chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm,Việt Nam cũng đã trở thành 1 trong số các quốc gia được Hội đồng Chứng nhận nuôi trồng thủy sản Bang Florida ( Hoa Kì) cấp chứng nhận “ Thực hành nuôi tốt” cho2 trại giống, 6 nhà máy thủy sản, 2 trại nuôi tôm, 24227 nhà máy chế biến tôm và 1347 trại nuôi tôm của Việt Nam
Trong tháng 3/2010, Cục Quản lí chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm (NAFIQAVED) và các Trung tâm vùng đã tổ chức 102 lượt kiểm tra điều kiện an toàn vệ sinh cơ sở sản xuất thủy sản theo tiêu chuẩn ngành và quy định các thị trường có thỏa thuận song phương Kết quả là điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm của đa số các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu TCN và quy định của các thị trường Hội đồng chứng nhận nuôi trồng thủy sản Bang Florida (Mỹ) đã chứng
Trang 27nhận cho 2 trại giống, 6 nhà máy thủy sản, 2 trại nuôi tôm, 24.227 nhà máy chế biến tôm, 1347 trại nuôi tôm của Việt Nam có chứng nhận thực hành nuôi tốt (BAP)
Tình hình kiểm soát dư lượng kháng sinh và các hóa chất độc hại
Kể từ năm 2008, Việt Nam đã thực hiện việc kiểm soát dư lượng hóa chất độc hại đối với tất cả các mặt hàng chủ lực, nuôi tập trung như tôm sú, tôm chân trắng, tôm càng xanh, cá basa, cá tra, cá rô phi, cua… chỉ tiêu và tần suất lấy mẫu kiểm tra đối với từng đối tượng cụ thể được thực hiện theo đúng quy định của các thị trường Hoa Kì và EU Trong năm 2008, có 2 mẫu thủy sản nuôi, 2 mẫu thủy sản đại lí và 15 mẫu nước bị phát hiện quá mức giới hạn cho phép đối với chỉ tiêu dư lượng kháng chất kháng sinh cấm và hạn chế đã được xử lý theo đúng quy định Tất cả các vùng đều thực hiện chương trình kiểm soát an toàn vệ sinh vùng nhuyễn thể 2 mảnh vỏ Đối với các sản phẩm thủy sản có mức độ tảo độc vượt quá giới hạn cho phép được áp dụng chế độ kiểm tra tăng cường theo quy định, các sản phẩm có nhiễm chất độc DSP bị đình chỉ thu hoạch, lấy mẫu kiểm tra tăng cường tảo độc và chất độc đến khi đạt tiêu chuẩn…
Chương trình kiểm soát dư lượng hóa chất độc hại trong thủy sản và sản phẩm thủy sản nuôi được thực hiện trong tháng 3/2010 đã lấy 153 mẫu thủy sản nuôi, 16 mẫu nước ương giống thủy sản, kết quả không phát hiện dư lượng hóa chất, kháng sinh cấm và dư lượng hóa chất kháng sinh, hạn chế sử dụng vượt quá giới hạn tối
đa cho phép trong các mẫu thủy sản nuôi
c2) Về bảo vệ môi trường và nguồn lợi
Tình hình đáp ứng các quy định về bao bì, ghi nhãn mác hàng thủy sản
Hiện nay, tiêu chuẩn ghi nhãn sinh thái là công cụ quản lý môi trường được áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới, được coi là tiêu chuẩn chung về môi trường thay cho những quy định về hàng rào thuế quan Việt Nam đang áp dụng nhãn sinh tháiđược chia thành 3 loại theo Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO:
Trang 28- Loại I (ISO 14024) là chương trình tự nguyện, dựa trên tiêu chí của bên thứ 3 nhằm cung cấp chứng nhận ủy quyền sử dụng nhãn môi trường cho các sản phẩm thể hiện được sự thân thiện với môi trường theo loại hình cụ thể dựa trên chu trình sống của sản phẩm
- Loai II ( ISO 14021) là sự tự công bố mang tính chất thong tin về môi trường
- Loại III ( ISO 14025) là chương trình tự nguyện được lượng hóa bằng các dữ liệu
về sản phẩm trong đó các loại chỉ tiêu do bên thứ 3 định trước và dựa vào quá trình đánh giá chu trình sống của sản phẩm
Trong thực tế hiện nay , Việt Nam chưa có quy định bắt buộc hay tiền lệ dán nhãn sản phẩm nhưng trong nước cũng đã xuất hiện nhiều sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường, nhiều doanh nghiệp cũng có nhu cầu dán nhãn sinh thái cho sản phẩm dịch vụ của mình do những cố gắng nỗ lực trong việc bảo vệ môi trường của mình Việt Nam hiện có khoảng 5 % sản phẩm tiêu dùng, dịch vụ đủ tiêu chuẩn dán nhãn sinh thái Nằm trong chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, Việt Nam phấn đấu đến năm 2020 có 100 % sản phẩm hàng hóa xuất khẩu và 50% hàng hóa tiêu dùng nội địa được dán nhãn sinh thái theo tiêu chuẩn ISO 14024
Tình hình đáp ứng về các tiêu chuẩn môi trường
Mặc dù bản chất các tiêu chuẩn môi trường là tự nguyện nhưng trước nguy cơ môi trường toàn cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng và xu hướng bảo vệ môi trường trong nước trước các sản phẩm thủy sản nhập khẩu, tiêu chuẩn này ngày càng trở nên quan trọng và có tính bắt buộc đối với một số thị trường Để có thể đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về bảo vệ môi trường và nguồn lợi của Hoa Kì, Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp:
Bộ Thủy sản đã ban hành hai quy chế là Bảo vệ môi trường trong công nghiệp chế biến thủy sản và Quy chế bảo vệ môi trường vùng nuôi tôm tập trung Bên cạnh
đó, Bộ Thủy sản còn hình thành 4 trung tâm Quan trắc cảnh báo môi trường và phòng bệnh trải dài khắp cả nước nhằm hỗ trợ kĩ thuật trong quản lý môi trường
và phòng ngừa dịch bệnh cho các khu vực nuôi trồng thủy sản tập trung ở 27 tỉnh thành Ngành cũng đang thực hiện việc áp dụng thử nghiệm kiểm soát môi trường
Trang 29tại vùng sản xuất nguyên liệu, kiểm soát từ khâu nuôi trồng đến chế biến Chương trình kiểm soát dư lượng trong thủy sản nuôi và Chương trình giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm vùng thu hoạch nhuyễn thể 2 mảnh vỏ được áp dụng thử nghiệm ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam đã ban hành Quy chế quản lý vùng và cơ sở nuôi tôm an toàn vào ngày 10/4/2006 khiến Việt Nam trở thành những quốc gia đầu tiên áp dụng thực hành nuôi tôm tốt và quy tắc ứng xử nghề cá
có trách nhiệm Hiện nay, tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi nước ngọt và ô nhiễm môi trường đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh sống của các loại thủy sản, gây nguy cơ tuyệt chủng cho nhiều loài cá nước ngọt…vì vậy ngành thủy sản đang tiến hành lựa chọn lưu giữ một số loài cá quý hiếm có giá trị kinh tế cao như cá Lăng, cá Chiên, cá Anh Vũ…Ngành thủy sản cũng tiến hành lưu giữ gen qúy của nhiều đối tượng nước ngọt và nước lợ dưới dạng bảo quản tinh và nuôi nhốt ở cả 3 miền gồm 23 loài nước ngọt và 9 loài nước lợ Thủ tướng chính phủ đã ban hành chỉ thị 01/1998/CT-TTg nghiêm cấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thủy sản Ngoài ra, chính phủ cũng yêu cầu thực hiện tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, xử lý nghiêm các vụ vi phạm Bên cạnh những biện pháp tích cực thì Việt Nam vẫn còn rất nhiều hạn chế trong hoạt động thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường Tính đến hết năm
2009, sau 10 năm triển khai áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 tại Việt Nam, chỉ có
450 chứng chỉ được cấp Theo nhận xét của các chuyên gia môi trường, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường Tiêu chuẩn ISO 14001 được ban hành lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 2000, lúc đầu chỉ được các doanh nghiệp nước ngoài hoặc liên doanh áp dụng, gần đây cũng có một số doanh nghiệp Việt Nam áp dụng nhưng vẫn còn ít so với số lượng hơn
6000 doanh nghiệp được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 Báo cáo của Trung tâm năng suất Việt Nam đã chỉ ra rằng nguyên nhân quan trọng gây khó khăn cho việc triển khai tiêu chuẩn ISO 14001 là do Nhà nước, cơ quan quản
lý chưa có chính sách cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn Ngoài ra, một nguyên nhân khác là do các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam vẫn còn yếu
Trang 30kém trong việc hoạch định chiến lược phát triển và tầm nhìn dài hạn, gây ảnh hưởng lớn tới khả năng và động lực phát triển của doanh nghiệp Hiện nay, hiệu quả thực thi yêu cầu pháp luật trong công tác bảo vệ môi trường chưa cao nên các doanh nghiệp đầu tư nhiều vào công tác bảo vệ môi trường chưa thu được hiệu quả như mong đợi Chính vì vậy, các doanh nghiệp thủy sản chỉ áp dụng các tiêu chuẩn ISO 14001 khi có yêu cầu của khách hàng để kí kết hợp đồng Ngoài ra, định hướng phát triển chưa rõ ràng gây ảnh hưởng khiến chính sách môi trường trở nên mờ nhạt, do đó phải nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với ngành thủy sản
d) Đánh giá chung về việc vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
- Trong thời gian gần đây, chất lưọng thuỷ sản Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực Trong những năm gần đây, nhiều văn bản pháp luật quản lý về an toàn vệ sinh thực phẩm tương đương với các tiêu chuẩn của Hoa Kì đã được ban hành và thực hiện Các cơ quan có thẩm quyền cũng đã thực hiện nhất quán chính sách quản lý an toàn vệ sinh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện Từ năm 2007 đến nay, các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản tăng cường kiểm soát quản lý chất lượng nguyên liệu đầu vào, chống thu mua nguyên liệu chứa tạp chất hoặc kháng sinh độc hại Nhiều địa phương nuôi cá, tôm tập trung đang thực hiện mô hình liên kết ngang giữa các thành phần trong toàn bộ chuỗi sản xuất, đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu.Trong đó các doanh nghiệp sẽ kiểm soát liên hoàn từ khâu nuôi con giống, thức ăn, thuốc trị bệnh, thành phẩm cuối cùng Ngoài ra, nhiều vùng nuôi khác đang áp dụng các quy trình như SQF 1000,BAP, CoC… Bên cạnh đó, Việt Nam kiên quyết đấu tranh chống lại các hành động gian lận thương mại của các doanh nghiệp Hiện nay, có 3 doanh nghiệp thủy sản ở thành phố Hồ Chí Minh được công nhận đủ điều kiện xuất khẩu cá chép vào Hoa Kì do cá của các cơ sở này an toàn với dịch bệnh virus mùa xuân (SVC), đó là Công ty cổ phần Sài Gòn
Trang 31cá kiểng, Trại cá cảnh Châu Tống, Trại cá cảnh Võ Văn Sinh Công ty TNHH công nghiệp thủy sản Miền Nam ( South Vina), Công ty cổ phần thủy sản Bình
An, Doanh nghiệp Vĩnh Hoàn được Bộ Thương Mại Hoa Kì phán quyết không áp thuế chống bán phá giá Ngoài ra, 3 doanh nghiệp Việt Nam khác là Công ty TNHH Thực phẩm QVD Đồng Tháp, Công ty cổ phần thủy sản An Giang ( Agifish) được hưởng mức thuế chống bán phá giá rất thấp là 0,52 %
- Thuỷ sản Việt Nam đang từng bước thực hiện kiểm soát chặt chẽ các khâu từ giống, nhập khẩu nguyên liệu, việc sử dụng các loại thuốc, hoá chất kháng sinh và thức ăn sử dụng trong nuôi trồng,bảo quản cũng như chế biến thuỷ sản Nguyên nhân của những kết quả trên có thể kể đến là:
- Chính phủ, các cơ quan, bộ ngành thuỷ sản nỗ lực triển khai rộng rãi chương trình kiểm soát dư lượng hoá chất độc hại trong nuôi trồng thuỷ sản, sử dụng hoá chất, thuốc kháng sinh và các chất bảo quản khác Bên cạnh đó, Bộ Thủy sản tiến hành đầu tư đổi mới công nghệ các thiết bị kiểm tra dư lượng kháng sinh cho các chi nhánh trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc Bộ
- Hiện nay, nhiều doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam đã nhận thức được sự cần thiết của việc tuân thủ các quy định của thị trường Hoa Kì nói riêng và các tiêu chuẩn quốc tế nói chung Vì vậy, các doanh nghiệp chủ động đổi mới dây chuyền sản xuất, chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO, phát triển năng lực hệ thống thanh tra, kiểm soát
- Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản VASEP cung cấp thông tin cho doanh nghiệp nhanh chóng, đại diện cho lợi ích doanh nghiệp,giúp các doanh nghiệp vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì Ngoài ra, Hiệp hội đại diện cho doanh nghiệp kiến nghị với chính phủ để đưa ra những chính sách phù hợp để đáp ứng rào cản kĩ thuật của Hoa Kì, tăng cường công tác vệ sinh an toàn thực phẩm
- Trước hết là vẫn cònnhiều lô hàng thuỷ sản có chứa kháng sinh và hoá chất tuy giảm nhưng vẫn còn bị cảnh báo,bị trả về khi xuất khẩu sang Hoa Kì do nhiều nguyên nhân:
Trang 32+ Khâu vệ sinh an toàn thực phẩm tồn tại nhiều hạn chế như: chồng chéo quy định, xác định trách nhiệm liên đới, thiếu hệ thống tiêu chuẩn thực phẩm để thực hiện các văn bản pháp lý, đầu tư trang thiết bị kiểm nghiệm hạn chế, không đồng
bộ, thiếu nhân lực…
+ Các cơ quan chức năng quản lý thuỷ sản vẫn chưa tìm được các biện pháp quản
lý hiệu quả chất lượng thức ăn thuỷ sản Nhiều doanh nghiệp tận dụng kẽ hở này đưa ra thị trường những sản phẩm thức ăn thủy sản kém chất lượng, không đảm bảo độ đạm cần thiết có trong thức ăn…Các cơ quan chức năng tại các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên phát hiện nhiều lô hàng thức ăn thủy sản không rõ nguồn gốc xuất xứ được bày bán công khai trên thị trường, điều này gâyảnh hưởng tới chất lượng nuôi trồng thủy sản
+ Tồn tại nhiều hộ nuôi trồng thuỷ sản và doanh nghiệp làm ăn manh mún, chưa hiểu được tầm quan trọng của việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, khai thác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng Nhiều doanh nghiệp tiến hành bơm tạp chất vào sản phẩm thủy sản vào ban đêm
để tránh sự kiểm tra của các đội kiểm soát, nếu bị phát hiện thì các doanh nghiệp này sẵn sàng nộp phạt do những khoản tiền phạt này là rất nhỏ so với lợi nhuận mà
họ thu được từ việc sử dụng tạp chất trong thức ăn thủy sản, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng thức ăn thủy sản
+ Thói quen sử dụng bừa bãi các hoá chất và thuốc kháng sinh, thuốc trừ sâu (phân urê) trong nuôi trồng và chế biến tuỷ sản nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, giữ độ tươi lâu hơn trong khâu chế biến và phân phối…Tuy nhiên hiện nay không có một cơ quan cụ thể thanh tra vệ sinh phòng dịch,đứng ra kiểm soát lượng chất độc này có trong sản phẩm thủy sản nên người tiêu dùng không biết dư lượng kháng sinh , vi khuẩn gây bệnh, độc tố trong các sản phẩm thủy sản tiêu dùng hàng ngày
Thứ hai là hiện các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản chưa đáp ứng được các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường do nhiều nguyên nhân:
Trang 33+ Nguồn vốn hạn chế cùng với trình độ khoa học công nghệ lạc hậu so với các nước trên thế giới gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc đưa ra giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trường
+ Việc nuôi trồng diễn ra tràn lan, manh mún, nguồn lợi thủy sản có nguy cơ cạn kiệtdo tình trạng khai thác bừa bãi ảnh hưởng tới quá trình phát triển lâu dài của ngành thủy sản.Thiếu quy hoạch tổng thể cho ngành thuỷ sản
+ Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa nhận thức hết những lợi ích của việc ứng dụng ISO 14001 đối với hiệu quả và năng suất hoạt động Các doanh nghiệp chủ yếu tìm cách đạt được tiêu chuẩn ISO 14001 để có những hợp đồng làm ăn với các đối tác đòi hỏi sản phẩm phải có tiêu chuẩn này, chứ không nhấn mạnh vào lợi ích của việc ứng dụng tiêu chuẩn ISO 14001 vào việc nâng cao hoạt động chủ chốt của doanh nghiệp
Như vậy bên cạnh những thành công nhất định thì ngành thủy sản Việt Nam cũng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, vì vậy một yêu cầu đặt ra là các doanh nghiệp phải
áp dụng, thực hiện đúng các tiêu chuẩn của Hoa Kì để nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn này, điều này cũng đòi hỏi sự nỗ lực của chính phủ và tất cả các ban ngành có liên quan
3) Định hướng và giải pháp vượt qua các rào cản kĩ thuật của hoa kì đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
a) Định hướng phát triển xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam sang Hoa Kì
Thủy sản là một ngành có tốc độ tăng trưởng cao và doanh thu lớn nhưng phải chịu nhiều sức ép cạnh tranh từ phía các đối thủ trên thị trường,phải đáp ứng đầy
đủ các yêu cầu khắt khe của người tiêu dùng cũng như hệ thống tiêu chuẩn quốc tế
về mặt hàng thủy sản Đặc biệt là đối với một thị trường khó tính như Hoa Kì thì các mặt hàng thủy sản của Việt Nam gặp phải những khó khăn rất lớn, sức ép cạnh tranh cao Vì vậy, định hướng phát triển xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang Hoa Kì là phải phát triển ngành thủy sản trong nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng này trên thị trường Hoa Kì,chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng giảm dần tỷ trọng xuất
Trang 34khẩu hàng thô, đẩy mạnh xuất khẩu hàng có giá trị gia tăng cao.Chính việc xây dựng định xuất khẩu thủy sản sẽ vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các khối ngành nông nghiệp và góp phần nâng cao đời sống của người dân vùng ven biển và hải đảo
Việc xây dựng hình ảnh đất nước Việt Nam đồng thời xây dựng thương hiệu thủy sản Việt Nam cũng là một vấn đề quan trọng trong định hướng phát triển ngành thủy sản, nó đòi hỏi nỗ lực không chỉ của chính phủ, hiệp hội mà còn cả của tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản
Để bắt kịp những định hướng trên, mục tiêu của ngành thủy sản Việt Nam trong thời gian tới là phát triển ngành thủy sản theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tiếp thu trình độ công nghệ chế biến thủy sản tiên tiến nhất trên thế giới, đưa thủy sản trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
b) Giải pháp vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam
Tổ chức quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản
Ngành thủy sản đã có những bước phát triển nhất định nhưng vẫn còn thiếu quy hoạch tổng thể một cách đồng bộ khiến xuất hiện nhiều vùng thủy sản phát triển một cách tự phát, không bắt kịp với nhu cầu thị trường Sản lượng khai thác thủy sản đã đến ngưỡng, điều này đòi hỏi phải phát triển công tác nuôi trồng nếu muốn
có tăng trưởng trong ngành thủy sản Tuy nhiên, nhà nước và chính quyền địa phương vẫn chưa có một sự quan tâm xứng đáng với ngành thủy sản nên thiếu nhiều chính sách khuyến khích đầu tư phát triển, thiếu vốn đầu tư, guồng máy quản lí không theo kịp sự phát triển của nuôi trồng thủy sản
Cần phải có sự kết hợp giữa Bộ Thuy sản với các ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương khẩn trương tổ chức xây dựng quy hoạch nuôi trồng thủy sản để có căn cứ phát triển sản xuất một cách ổn định và vững chắc Ngoài ra, Bộ Thủy sản nên cử những cán bộ giỏi chuyên môn trực tiếp xuống các vùng trọng điểm nuôi trồng thủy sản để hướng dẫn xây dựng
Trang 35quy hoạch của vùng, sau đó tập hợp lại để lập quy hoạch nuôi trồng thủy sản toàn ngành về quản lí hệ thống trại giống, quản lí môi trường nuôi và thống kê nghề cá Ngoài ra, Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương huy động cán bộ Sở Thủy sản và các đơn vị trong tỉnh liên quan để tập trung làm quy hoạch cho tỉnh, thành phố, đặc khu mình
Tổ chức xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật chống bán phá giá và vệ sinh
an toàn thực phẩm
Hoa Kì là một nước có hệ thống pháp luật chặt chẽ, phức tạp nhất, bên cạnh đó còn có hệ thống luật pháp của các bang riêng lẻ Vì vậy quan hệ thương mại thường xuyên phải gắn với tư vấn pháp lý, đặc biệt trong thời gian qua có nhiều lô hàng thủy sản của Việt Nam sang Hoa Kì không đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của Hoa Kì hoặc bị kiện bán phá giá, gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam
Do đó, để duy trì và phát triển mối quan hệ thương mại trên lĩnh vực thủy sản với Hoa Kì, bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trong nước, Việt Nam cần đặc biệt quan tâm xây dựng và hoàn thiện luật chống bán phá giá, luật vệ sinh an toàn thực phẩm, luật sở hữu trí tuệ Tăng cường tuyên truyền, giáo dục về
vệ sinh an toàn thực phẩm tại cộng đồng, đặc biệt chú trọng đến cộng đồng những người sản xuất và cung ứng nguyên liệu
Tổ chức hoàn thiện và tăng cường năng lực tổ chức, thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương Phát triển các hoạt động đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, huy động sự tham gia của tất cả cộng đồng Đẩy mạnh công tác kiểm tra sản phảm theo tiêu chuẩn quốc tế và tăng cường hợp tác quốc tế về vệ sinh an toàn thực phẩm
Thêm vào đó, Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa trong công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và chủ động tuân thủ hiệp định thương mại giữa hai quốc gia
Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam sang Hoa Kỳ
Trang 36Hoa Kì là một thị trường rộng lớn đầy tiềm năng nhưng cũng là một thị trường gây
ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường này, đặc biệt trong thời gian gần đây khi mà các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam khi xuất khẩu sang Hoa Kì đã liên tiếp gặp phải những rào cản kĩ thuật như vệ sinh an toàn thực phẩm, bán phá giá Do đó,đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu nhằm đưa hình ảnh doanh nghiệp Việt Nam, sản phẩm Việt Nam đến với người tiêu dùng, doanh nghiệp Hoa Kì, cung cấp thông tin về thị trường, thị hiếu, luật pháp, chính sách của Hoa Kì cho các doanh nghiệp Việt Nam
Tổ chức phối hợp hoạt động giữa các ngành, Trung ương và địa phương trong hoạt động xúc tiến thương mại để hỗ trợ các doanh nghiệp tích cực hơn, tránh tình trạng hoạt động riêng lẻ và manh mún, tiết kiệm chi phí và hoạt động có hiệu quả Tăng cường vai trò quản lí,giám sát của chính phủ đối với các hoạt động khuyến mại, quảng cáo, tổ chức hội chợ, thường xuyên tổ chức đánh giá để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời
Hỗ trợ các doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định hàng thuỷ sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản về thông tin, tài chính, đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao tính cạnh tranh của mặt hàng này và đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của Hoa Kì Ngoài ra, Chính phủ cần tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp điều kiện sản xuất, áp dụng hệ thống quản lí vệ sinh an toàn thực phẩm theo HACCP, GMP, SSOP…để đảm bảo các doanh nghiệp có thể đạt được các tiêu chuẩn đó
∙ Hỗ trợ về thông tin
∙ Hỗ trợ về tài chính
∙ Hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực
Duy trì nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định
Trong thực tế sản xuất hiện nay, tình trạng cung cấp nguyên liệu theo mùa vụ và thường xuyên khôngổn định gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy