1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508

94 672 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Tác giả Nông Thị Kiều
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thúy Mỵ, PGS.TS. Trần Thanh Vân
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NÔNG THỊ KIỀU NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG PHYTASE TRONG KHẨU PHẦN ĂN ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CANXI, PHOSPHO VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA GÀ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG THỊ KIỀU

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG PHYTASE TRONG KHẨU PHẦN ĂN ĐẾN HIỆU QUẢ

SỬ DỤNG CANXI, PHOSPHO VÀ SỨC SẢN XUẤT

CỦA GÀ BROILER ROSS 508

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THÚY MỴ

PGS.TS TRẦN THANH VÂN

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào Mọi sự giúp đỡ đều đƣợc cảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận văn đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Nông Thị Kiều

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp tôi đã nhận

được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Thuý Mỵ, PGS.TS Trần Thanh Vân - Giảng viên Khoa Chăn nuôi thú y Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Các thầy cô đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau Đại học, Khoa Chăn nuôi thú y cùng tập thể các thầy cô giáo Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tới mọi người thân trong gia đình và toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, chia sẻ giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần để tôi yên tâm hoàn thành nhiệm vụ

Tôi xin trân trọng gửi tới các Thầy, Cô giáo, các vị Hội đồng chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất./

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2011

Tác giả

Nông Thị Kiều

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

4 Những đóng góp mới của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3

1.1.1 Chất khoáng trong thức ăn của gia cầm 3

1.1.1.1 Chất khoáng 3

1.1.1.2 Vai trò sinh học của canxi, phospho đối với cơ thể gia cầm 4

1.1.1.3 Quá trình hấp thu và trao đổi canxi, phospho ở gia cầm 8

1.1.1.4 Chuyển hoá canxi và phospho ở gia cầm 10

1.1.1.5 Nguyên nhân ảnh hưởng tới sự hấp thu phospho 11

1.1.2 Enzym phytase và ứng dụng enzym phytase trong chăn nuôi gia cầm 11

1.1.2.1 Giới thiệu về enzym phytase 11

1.1.2.2 Những hiểu biết về enzym phytase 12

1.1.2.3 Thành phần của phytase trong tự nhiên 14

1.1.2.4 Những lưu ý khi lựa chọn và sử dụng men phytase 17

1.1.3 Những lợi ích của việc sử dụng enzyme phytase 18

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 21

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

1.2.2 Các nghiên cứu bổ sung enzym phytase cho gia cầm 23

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 26

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 26

Trang 5

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.3.1 Nội dung thí nghiệm 26

2.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 32

2.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 35

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 36

3.2 Ảnh hưởng của việc bổ sung phytase đến khả năng sinh trưởng của gà thí nghiệm 37

3.2.1 Ảnh hưởng của việc bổ sung phytase vào khẩu phần có các mức Ca, P khác nhau đến sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm 37

3.2.2 Ảnh hưởng của việc bổ sung phytase vào khẩu phần có các mức Ca, P khác nhau đến sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 41

3.2.3 Ảnh hưởng của việc bổ sung phytase vào khẩu phần có các mức Ca, P khác nhau đến sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 42

3.3 Ảnh hưởng của việc bổ sung phytase đến khả năng sử dụng và chuyển hoá thức ăn của gà thí nghiệm 43

3.3.1 Ảnh hưởng của việc bổ sung Phytase đến tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng (kg) 43

3.3.2 Tiêu tốn protein cho tăng khối lượng (g/kg) 45

3.3.3 Ảnh hưởng của việc bổ sung Phytase đến tiêu tốn năng lượng trao đổi cho tăng khối lượng của gà thí nghiệm 46

3.4 Ảnh hưởng của việc bổ sung phytase đến chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm (PI) 48

3.5 Ảnh hưởng của việc bổ sung phytase đến năng suất thịt 49

3.6 Ảnh hưởng của việc bổ sung phytase đến kết quả khoáng hoá xương của gà thí nghiệm 52

Trang 6

3.7 Tỷ lệ tiêu hóa ca, p của gà thí nghiệm 57

3.7.1 Ảnh hưởng của phytase tới khả năng tiêu hoá phospho của gà thí nghiệm 57

3.7.2 Ảnh hưởng của phytase tới khả năng tiêu hoá canxi của gà thí nghiệm 60

3.8 Sơ bộ hạch toán kinh tế 63

PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64

4.1 Kết luận 64

4.2 Đề nghị 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 66

II TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI 66

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 27

Bảng 2.2: Các nguyên liệu sử dụng phối trộn thức ăn của gà thí nghiệm 29

Bảng 2.3 Thành phần thức ăn của khẩu phần cơ sở 30

Bảng 2.4: Thành phần giá trị dinh dưỡng cho gà thí nghiệm 31

Bảng 2.5: Lịch sử dụng vắc-xin cho gà thí nghiệm 32

Bảng 3.1: Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm 37

Bảng 3.2: Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm 38

Bảng 3.3: Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 41

Bảng 3.4: Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 42

Bảng 3.5: Tiêu tốn thức ăn cộng dồn/kg tăng khối lượngcủa gà thí nghiệm 44

Bảng 3.6: Tiêu tốn protein cộng dồn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm 46

Bảng 3.7: Tiêu tốn năng lượng cộng dồn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm 47

Bảng 3.8: Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm 48

Bảng 3.9: Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm lúc 49 ngày tuổi 50

Bảng 3.10: Ảnh hưởng của các mức Ca và phospho khẩu phần đến hàm lượng khoáng tổng số, canxi và phospho trong xương ống chân của gà thí nghiệm lúc 49 ngày tuổi 54

Bảng 3.11: Tỷ lệ tiêu hoá phospho toàn phần của gà thí nghiệm 58

Bảng 3.12: Tỷ lệ tiêu hoá canxi toàn phần của gà thí nghiệm 62

Bảng 3.13: Sơ bộ hạch toán thu chi cho 1kg khối lượng gà xuất bán 63

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Hàm lượng khoáng tổng số, canxi và phospho trong xương

ống chân của gà thí nghiệm lúc 49 ngày tuổi 56 Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ tiêu hoá phospho toàn phần của gà thí nghiệm 60 Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ tiêu hoá canxi toàn phần của gà thí nghiệm 61

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Đồ thị 3.1: Khối lượng của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 39

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công nghệ chế biến thức ăn cho động vật, muốn đưa khẩu phần

và hệ thống thức ăn vào sản xuất đồng bộ thì phải đảm bảo về cả kinh tế và an toàn môi trường là yếu tố cần thiết Trong dinh dưỡng cho động vật nói chung

và gia cầm nói riêng protein thức ăn đóng vai trò quyết định cho sự tăng trưởng và phát triển của vật nuôi Thông thường nguồn protein thức ăn sử dụng cho vật nuôi có nguồn gốc từ động vật và thực vật Tuy nhiên, khuynh hướng hiện nay là giảm tỉ lệ sử dụng protein động vật và thay thế dần bằng protein thực vật trong thức ăn cho vật nuôi (TĂCVN), ngoài tác động do giá

cả còn do tiến bộ khoa học kỹ thuật trong dinh dưỡng cho phép thay thế protein động vật bằng các protein thực vật sẵn có, rẻ tiền nhưng không làm thay đổi sức tăng trưởng của vật nuôi Tuy nhiên bên cạnh sự phát triển protein thực vật trong TĂCVN, vấn đề trở ngại lớn nhất là khả năng tiêu hoá

và hấp thụ các chất dinh dưỡng trong thức ăn chứa nhiều protein thực vật

Các protein thực vật có chứa một số chất kháng dinh dưỡng ức chế enzyme trypsin… ngăn cản khả năng tiêu hoá của động vật Đặc biệt là phospho ở dạng phytic acid có nhiều trong thực vật sẽ tạo ra một phức hệ

đưa ra mức phospho tổng số và phospho dễ hấp thu cần thiết trong khẩu phần cho gia cầm, tuy nhiên các sản phẩm này nếu không được gia cầm sử dụng hết sẽ bài tiết ra 30-50% phospho vào trong phân thải gây ô nhiễm môi trường (Theo Đỗ Hữu Phương, 2004 [1])

Do đó việc giảm hàm lượng phospho trong khẩu phần nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu của gia cầm, đồng thời giảm sự ô nhiễm môi trường do phospho thải ra đã trở lên cần thiết và là vấn đề đang được quan tâm trong những năm gần đây NRC đã đưa ra những khuyến cáo hàm lượng phospho tổng số và phospho dễ hấp thu trong khẩu phần cho gia cầm Để đảm bảo mức

Trang 11

độ an toàn hơn thì hàm lượng phospho cũng cần được xem xét kỹ hơn Xuất phát từ yêu cầu đó chúng tôi tiến hành thí nghiệm thiết lập khẩu phần ăn cho

đưa ra đồng thời có bổ sung enzyme phytase trong khẩu phần để nghiên cứu khả năng tiêu hóa và hấp thu canxi, phospho trong các khẩu phần thí

nghiệm Với tên đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung

phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler Ross 508”

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung phytase vào khẩu phần đến khả năng sinh trưởng của gà broiler Ross 508

- Kiểm chứng hiệu quả sử dụng canxi, phospho khác nhau trong khẩu phần ăn cho gà có và không có bổ sung enzym phytase

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Hiệu quả của việc bổ sung phytase trong khẩu phần tới năng suất chăn nuôi và giảm thiểu ô nhiễm môi trường

- Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để phục vụ giảng dạy

và các nghiên cứu tiếp theo

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Xác định được ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần tới hiệu quả sử dụng thức ăn, năng suất chăn nuôi

- Góp phần đẩy mạnh chương trình phát triển chăn nuôi bền vững

4 Những đóng góp mới của đề tài

Những nội dung nghiên cứu của đề tài có thể là hướng đi mới cho các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi và người chăn nuôi khi bổ sung enzyme phytase cho động vật nói chung và gia cầm nói riêng, nhằm giảm nhu cầu cung cấp phospho vô cơ và giảm thấp sự bài tiết phospho vào trong phân, từ

đó hạn chế được lượng phospho thải ra môi trường

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Chất khoáng trong thức ăn của gia cầm

1.1.1.1 Chất khoáng

Chất khoáng tồn tại trong cơ thể sống một lượng tương đối nhỏ, nhưng thiếu chúng thì quá trình trao đổi chất vẫn không thể thực hiện được Có lẽ rằng đối với những cơ thể sống đơn giản chất khoáng cũng đóng vai trò điều hoà Các quá trình tích luỹ và sản sinh năng lượng cũng như tổng hợp protit, lipit, gluxit đều không thể thực hiện được nếu thiếu các hợp chất phospho (ATP, ADP) Do đó quá trình tổng hợp ATP cần thiết phải xuất hiện ngay trong giai đoạn đầu của sự sống

Khi thiếu một phần chất khoáng, cơ thể muốn tồn tại được đã phải có một sự thích ứng cao, còn khi thiếu hoàn toàn một chất khoáng nào đó động vật và thực vật đều không thể sống được Nhu cầu chất khoáng của cơ thể động vật cũng chỉ nằm trong một giới hạn nhất định, thừa hoặc thiếu đều không cần thiết, và trong quá trình thuần dưỡng gia súc, thiếu hoặc thừa chất khoáng trong cơ thể đều là nguyên nhân thành bại của chăn nuôi

Người ta đã chứng minh được vai trò không thể thiếu của hơn 40 nguyên tố khoáng đối với sự trao đổi chất của gia súc, gia cầm

Dựa vào hàm lượng các nguyên tố khoáng có mặt trong cơ thể vật nuôi hay khối lượng các nguyên tố khoáng mà cơ thể vật nuôi cần cung cấp hàng ngày người ta chia ra thành 2 nhóm: Khoáng đa lượng và khoáng vi lượng

- Khoáng đa lượng gồm: Ca, P, Mg, K, Na, Cl, S, chúng có thể chiếm từ 0,04 đến 1,5 % khối lượng VCK cơ thể

- Khoáng vi lượng gồm: Fe, Cu, Co, Mn Khoáng vi lượng thường nhỏ hơn 50 mg/kg P

Trang 13

Trong cơ thể vật nuôi các chất khoáng có những mối quan hệ tương

hỗ, đối kháng nhau và có mối quan hệ với các chất dinh dưỡng khác trong quá trình tiêu hoá và hấp thu Chất khoáng trong cơ thể thường ở dưới dạng liên kết

Chất khoáng con vật thu nhận hàng ngày tuỳ thuộc vào lượng thức ăn tinh hay thức ăn xanh do con người cung cấp, tuy nhiên lượng khoáng mà thức ăn có được lại phụ thuộc vào lượng khoáng trong đất, phụ thuộc vào mùa

vụ và từng loại cây trồng, sự thu nhận của vật nuôi cũng phụ thuộc vào từng chất khoáng trong khẩu phần

Tuy chất khoáng chiếm một tỷ lệ rất thấp trong khẩu phần nhưng nó lại

có vai trò rất quan trọng như:

- Đóng vai trò xúc tác cho các phản ứng hoá học trong tế bào

- Cân bằng điện giải, cân bằng pH máu, duy trì áp suất thẩm thấu, duy trì hoạt động của hệ thần kinh và thể dịch

- Tham gia vào cấu trúc tế bào như Fe trong Hb, I, trong hocmon

1.1.1.2 Vai trò sinh học của canxi, phospho đối với cơ thể gia cầm

* Vai trò sinh học của phospho đối với cơ thể gia cầm

Phospho là một chất khoáng có nhiều chức năng hơn bất kỳ chất khoáng nào khác Ngoài nhiệm vụ tạo xương, phospho còn có nhiệm vụ quan trọng khác như tham gia vào liên kết cao năng của ATP trong quá trình tổng hợp phospho lipit của màng tế bào, của tổ chức thần kinh và trong quá trình tổng hợp protein và di truyền do ARN, ADN

- Phospho trong thức ăn cho gia cầm

Phospho thường có nguồn gốc từ động vật và thực vật Phospho ở dạng động vật là phospho dễ tiêu và được cơ thể động vật tiêu hoá hấp thu triệt để Ngược lại phospho ở thực vật thường tồn tại dưới dạng khó tiêu hoá và hấp thu Hạt ngũ cốc, sữa, bột cá, bột thịt và bột xương là nguồn cung cấp phospho rất tốt, trong khi đó cỏ khô và rơm rạ chứa rất ít phospho

Trang 14

Phospho cũng có vấn đề khá quan trọng liên quan đến hiệu suất sử dụng Phần lớn phospho ở hạt ngũ cốc và nhất là cám gạo thường tồn tại ở dạng phytate, là muối của acid phytic (este của hexa P của inositol) Acid phytic kết hợp với Ca và Mg tạo thành muối không tan, gây ra hiện tượng khó tiêu hóa và hấp thu phospho cho động vật đặc biệt là gia cầm

- Acid phytic trong thức ăn

Theo Kies và cs (2001) [23]; Naher (2002) [33]; Viveros và cs (2000) [58] Chế độ ăn của gia cầm được phối hợp chủ yếu bởi các nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật, 2/3 phospho trong hạt ngũ cốc và hạt bị rằng buộc trong cấu trúc của acid phytic và làm giảm khả năng tiêu hoá của gia cầm

Acid phytic là myo - inositol hexadihydrogenphosphate (Tamin và cs,

2003 [53]) được tạo thành từ sáu nhóm phosphate mang điện tích âm, và bị rằng buộc bởi 12 hydrogens trong vòng inositol, nó có thể liên kết với các

, K+, Mg++, Zn+, Fe+ và Mn++ tạo nên phức hợp không tiêu hoá

và hấp thu được đối với con vật (Radcliffe (2002) [40]) Acid phytic có thể có tác động tiêu cực đến sự hấp thu các chất khoáng (Morris (1986) [32]; Sebastian và cs, (1997) [48]) ghi nhận những tác động tiêu cực của acid phytic đến sự hấp thụ của Zn, Fe, Cu, Mn và Ca Bản thân phospho trong phân tử phytate cũng không được giải phóng ra ngoài trong quá trình tiêu hoá

vì trong ruột của gia cầm không có enzym phytase

Theo Thompson (1993) [54], acid phytic trong hạt có thể tương tác với các chất dinh dưỡng khác trong đường tiêu hoá Những tương tác này rất phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đường tiêu hoá của từng loại động vật khác nhau, độ pH của đường tiêu hoá và sự hiện diện của các loại thức ăn khác nhau cũng gây ra sự cạnh tranh với acid phytic

Cũng theo Thompson (1993) [54], phytate là một loại thuật ngữ sử dụng đồng nghĩa với acid phytic Phytate là một muối cation hỗn hợp của acid phytic còn được gọi là IP6 (myo - inositol hexadihydrogen phosphate)

Trang 15

Phospho phytate trong thức ăn thực vật thường chiếm 50-70% phospho tổng số, trong khi đó tỷ lệ tiêu hoá hấp thu của phospho phytate lại thấp, phospho thải ra từ phân sẽ gây nguy cơ ô nhiễm đất và nước ngày càng cao

- Ảnh hưởng của acid phytic đến hiệu quả sử dụng các chất dinh dưỡng Acid phytic làm giảm khả năng tiêu hóa protein vì acid phytic có khả năng liên kết với protein ở trạng thái kiềm, acid, và pH trung tính (Anderson, (1985) [7]) Tuy nhiên, sự tương tác giữa acid phytic và protein này sẽ dẫn đến làm giảm khả năng hòa tan của protein và cuối cùng làm giảm khả năng

sử dụng protein (Cheryan, (1980) [10]) Ở pH thấp, acid phytic có điện tích

âm mạnh vì các nhóm phosphate phân ly không hoàn toàn, dưới điều kiện này acid phytic có ảnh hưởng xấu đến khả năng hòa tan protein vì liên kết ion của các nhóm phosphate của acid phytic và các gốc acid amin bị ion hóa (lysine, histidine, arginine) Trong môi trường có độ pH thấp, acid phytic có thể gắn chặt với các protein thực vật, vì điểm đẳng điện của protein này nằm trong pH 4,0 - 5,0 Ở pH 6,0 - 8,0, acid phytic và protein thực vật đều có điện tích âm, phức hợp acid phytic và protein vẫn được hình thành Việc gắn kết này làm giảm giá trị dinh dưỡng của protein thực vật (Vohra và cs, (2003) [59])

Acid phytic cũng có thể ảnh hưởng đến sự tiêu hóa tinh bột thông qua sự tương tác với enzym amylase (Kerovuo và cs, (2000) [22]) Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến cho rằng acid phytic có thể ngăn chặn việc sử dụng chất béo bằng cách ngăn ngừa sự hình thành của acid phytic thông qua việc sử dụng phytase

sẽ làm giảm mức độ nhũ hóa hình thành trong ruột từ đó tăng cường sử dụng năng lượng có nguồn gốc từ chất béo (Ravindran và cs, (2001) [42])

* Vai trò sinh học của canxi đối với cơ thể gia cầm

Phân bố: Khoảng 99 % Ca có trong xương và răng Trong xương Ca và

P có tỷ lệ khá ổn định là 2:1 Ca ở dưới dạng tinh thể hydroxyapatit:

Trang 16

Ca còn có trong máu (chủ yếu trong huyết tương) với nồng độ 10 mg/dl

và ở 3 dạng: ion tự do (66 %), kết hợp protein (35 %) hoặc tạo phức hợp với acid hữu cơ như citrat hay với acid vô cơ như photphat (5-7 %)

Chức năng: Chức năng chủ yếu nhất của Ca là thành phần cấu trúc của

xương Bộ xương có cấu trúc rất phức tạp, thành phần vật chất khô của bộ xương xấp xỉ như sau: chất khoáng chứa 460 g/kg, 360 g protein/kg và 180 g mỡ/kg Tuy nhiên hàm lượng này thay đổi tùy theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng

Ca và P là hai thành phần rất phong phú trong xương ở dưới dạng hydroxy apatit 3Ca3(PO4)2.Ca(OH)2 là những hợp chất rất cứng không tan trong nước Bộ xương chứa khoảng 360 g Ca/kg, 170 g P/kg và 10 g Mg/kg Thành phần hóa học của xương luôn biến động bởi vì một lượng lớn Ca và P

có thể được giải phóng vì cơ thể huy động, đặc biệt trong giai đoạn sản xuất trứng mặc dù sự trao đổi Ca và P giữa bộ xương và mô mềm là một quá trình liên tục Sự huy động Ca được điều khiển bởi hoạt động của tuyến giáp trạng (parathyroit) Trong khẩu phần thiếu Ca, tuyến giáp bị kích thích và hormon được sản sinh ra Ca từ xương được huy động để đáp ứng nhu cầu của cơ thể Bởi vì Ca và P kết hợp trong xương nên cả P cũng bị huy động và bài tiết ra ngoài Khi tuyến giáp trạng hoạt động quá mạnh, Ca của xương hoạt động quá mức làm cho xương bị mỏng và tạo nên các lỗ hổng ở mô xương Tuyến giáp cũng đóng vai trò điều hòa quan trọng trong sự điều hòa số lượng Ca hấp thu

ở ruột non bởi ảnh hưởng của sự sản xuất 1,25 dihydroxycholecanxiferol, một dẫn xuất của vitamin D có liên quan đến sự hình thành protein liên kết Ca

Ca có tác dụng hoạt hóa nhiều enzym như lipaza, succinicdehydrogennaza, adenosintriphosphataza và nhiều enzym proteolytic

Ca điều hòa tính nhạy cảm (dễ bị kích thích) của thần kinh và cơ Khi nồng độ Ca giảm làm giảm tính nhạy cảm của các sợi thần kinh Khi nồng độ

Ca cao hơn bình thường thì có tác dụng ngược lại và làm cho thần kinh và cơ nhạy cảm quá mức

Trang 17

Ngoài ra, Ca còn tham gia quá trình đông máu và làm đông vón cazein trong sữa Ca còn tham gia vào việc điều hòa áp suất thẩm thấu và cân bằng acid-bazơ

Triệu chứng thiếu Ca: Thức ăn thiếu Ca ở động vật non: Ca không đủ

để tạo tổ chức xương đưa đến bệnh còi xương (Rickets - xương cong vẹo, khớp to, què và cứng)

Thức ăn thiếu Ca ở động vật trưởng thành: Ca ở xương bị huy động mà không được thay thế tạo nên tình trạng gọi là nhão (xốp) xương (Osteomalacia - xương yếu dễ gãy; ở gà đẻ: mỏ và xương trở nên xốp, chân cong, vỏ trứng mỏng và đẻ ít) Các triệu chứng còi và xốp xương không chỉ là dấu hiệu do thiếu Ca mà có thể còn do thiếu P hoặc thiếu vitamin D

Nguồn canxi: Sữa, lá cây bộ đậu chứa nhiều Ca, trong khi đó hạt cốc

và cây lấy củ rất nghèo Ca Trong các sản phẩm động vật: xương, bột cá, thịt, máu… rất giàu Ca Nếu sử dụng đá Canxi photphát thì phải loại ngay fluorin, nếu không có thể bị ngộ độc Nếu khẩu phần của gia súc dạ dày đơn chứa nhiều mỡ thì hình thành xà phòng Ca-acid béo làm giảm hấp thu Ca

1.1.1.3 Quá trình hấp thu và trao đổi canxi, phospho ở gia cầm

Xác định tỷ lệ hấp thu một chất khoáng nào đó rất khó vì nó được bài tiết qua ống tiêu hoá một lượng khá lớn Trong ống dạ dày - ruột chứa một hỗn hợp chất khoáng cả nội sinh lẫn ngoại sinh Sự bài tiết chất khoáng thậm chí không ổn định và tỷ lệ của những thành phần khoáng riêng rẽ cũng không

rõ ràng Ống dạ dày - ruột tham gia tích cực trong sự trao đổi chất của cơ thể

Có rất nhiều nghiên cứu về sự biến đổi lượng chất khoáng trong ống tiêu hoá của động vật, các nghiên cứu cho thấy:

Các chất khoáng nói chung và canxi, phospho nói riêng được hấp thu trên toàn bộ chiều dài của ruột non, diều, dạ dày và ruột già hấp thu không đáng kể Sự hấp thu này do sự vận chuyển tích cực của các chất lỏng trong cơ thể (hemostasis)

Trang 18

Muối khoáng được hấp thu dưới dạng các ion hoà tan trong nước, những ion có hoá trị thấp thì hấp thu lớn hơn các ion có hoá trị cao Thứ tự về tốc độ hấp thu giữa các muối là Clorua > muối bicacbonat > muối sunphat > muối photphat

Ca thức ăn được hấp thu chủ yếu qua tá tràng và không tràng bằng cả hai con đường bị động (khuyếch tán) và chủ động (năng lượng làm chất mang) Vitamin D protein cũng là chất mang quan trọng trong hấp thu Ca chủ động Khi tăng hàm lượng Ca trong khẩu phần làm giảm tỷ lệ hấp thu Ca Một vài acid amin (Lysin) kích thích sự hấp thu Ca nhưng acid phytic và oxalic thì làm giảm hấp thu Ca do hình thành các phức hợp không tan Ca-oxalat và Ca-phytat

Muối canxi được hấp thu nhờ tạo phức chất hoà tan với acid mật Sự hấp thu canxi chủ yếu ở ruột non, tuy nhiên sự hấp thu canxi ở tá tràng cao hơn ở ruột non và manh tràng của ruột non Nguyên tố canxi vận chuyển qua

tá tràng rất nhanh, nhưng lưu giữ lại ở ruột non lâu hơn Các nghiên cứu cho

Phospho sau khi vào hệ tiêu hoá được hấp thu chủ yếu ở ruột non Phospho được hấp thu dưới dạng hợp chất vô cơ, với dạng hợp chất hữu cơ thì phospho phải được tách ra mới có thể hấp thu được Tốc độ hấp thu phospho phụ thuộc vào tốc độ phân giải của các hợp chất phospho

Đường hấp thu các chất khoáng nói chung có 2 con đường đó là: đường máu và đường bạch huyết Đường máu hầu hết các sản phẩm phân giải protein, lipit, glucid, muối khoáng và các vitamin B, C tan trong nước cùng 30% acid béo (những acid có dưới 12C) được hấp thu theo đường máu theo tĩnh mạch gan Sau khi chịu một quá trình tổng hợp, lọc thải, khử độc ở gan, các chất dinh dưỡng đi ra theo tĩnh mạch trên gan để vào tĩnh mạch chủ rồi về tâm thất phải để được tim phân phối đi khắp cơ thể Bên cạnh đó con đường

Trang 19

hấp thu theo đường mạch huyết có khoảng 70% acid béo (những acid béo mạch dài có trên 12C), toàn bộ những hạt mỡ nhũ tương và các vitamin tan trong dầu mỡ (A,D,E,K) hấp thu qua thành ruột vào các mạch dưỡng chấp rồi

đổ nhập vào bể pecquet, theo ống dẫn bạch huyết ngực đi về tâm nhĩ phải để hoà nhập vào dòng máu chung

1.1.1.4 Chuyển hoá canxi và phospho ở gia cầm

- Sự điều hoà trao đổi canxi, phospho

Hai hormone có vai trò chủ yếu trong sự điều hoà trao đổi canxi và phospho là parathyroxin của tuyến cận giáp trạng và thirocalcitonin của tuyến

đổi canxi, phospho

- Cơ chế chuyển hoá: Khi nồng độ canxi huyết giảm, kích thích vào thụ quan hoá học trong thành mạch máu, luồng xung động thần kinh truyền vào vùng dưới đồi, lệnh truyền ra đi đến tuyến cận giáp kích thích bài tiết parathyroxin, hormone này nhập theo dòng máu đến xương xúc tiến sự bào mòn canxi từ xương đưa vào máu

Khi nồng độ Ca huyết tăng, cũng theo cơ chế trên, luồng thần kinh đi tới tuyến giáp kích thích bài tiết thyrocalcitonin, hormone này kích thích sự lắng đọng Ca từ máu vào xương

Tuy nhiên tác dụng của parathyroxin mạnh hơn so với thyrocalcitonin nên khuynh hướng bào mòn Ca từ xương đưa vào máu mạnh hơn Vì thế nồng

độ ổn định Ca huyết có giá trị sinh tồn hơn so với Ca xương, thiếu Ca xương chỉ dẫn đến còi xương (ở động vật non) hoặc xốp xương (ở con trưởng thành) chứ không gây chết Song nếu thiếu Ca huyết sẽ dẫn đến co giật nguy hiểm

Nhờ có vitamin D xúc tiến sự hấp thụ Ca từ ruột vào máu, nhờ đó giảm

huyết và xúc tác cho sự tổng hợp Ca3(PO4)2 để kiến tạo xương

Trang 20

Sự bào mòn Ca từ tuỷ xương đưa vào máu càng tăng bao nhiêu thì sự

có tác dụng gián tiếp tiết kiệm lượng P cho cơ thể

xương hoặc xốp xương

1.1.1.5 Nguyên nhân ảnh hưởng tới sự hấp thu phospho

Nguyên nhân ảnh hưởng tới sự hấp thu P: Sự hấp thu P không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác mà bị ảnh hưởng chủ yếu bởi nguồn gốc P, tuổi vật nuôi, hàm lượng P trong thức ăn

Trong đất thường chứa P rất thấp nên làm hàm lượng P trong cây cũng thấp, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới P trong cây thức ăn đã thấp

mà P trong hạt ngũ cốc lại ở dạng phospho phytate là chủ yếu, đó là muối của acid phytic, rất khó tiêu, khó hấp thu cho lợn và gia cầm Trong cám, khô dầu lạc, đỗ tương, hạt cốc phospho phytate thường chiếm 50 % lượng P

Đối với gia cầm thì khả năng hấp thu phospho phytate rất thấp, động vật càng non thì khả năng hấp thu càng kém Ở lợn và gia cầm cũng có enzym

phytae của vi sinh vật để phân giải về dạng dễ hấp thu nhưng không đáng kể

1.1.2 Enzym phytase và ứng dụng enzym phytase trong chăn nuôi gia cầm

1.1.2.1 Giới thiệu về enzym phytase

Phytase là men tiêu hoá giúp giải phóng lượng phospho bị giữ trong các phân tử phytate, không những bổ sung lượng phospho mà con vật có thể sử

, Fe2+) giúp tăng cường các enzym tiêu hoá đặc biệt là protein và acid amin Do đó

sử dụng men phytase không chỉ giúp làm giảm giá thành thức ăn, tăng năng suất chăn nuôi, mà phytase còn có tác dụng làm giảm mùi hôi, giúp cải thiện môi trường chăn nuôi

Trang 21

1.1.2.2 Những hiểu biết về enzym phytase

Theo Cao Ngọc Điệp, (2010) [2] tổng hợp của kết quả của một số tác giả nước ngoài cho thấy:

Phytate là một dạng phospho hữu cơ chiếm từ 1 đến 5 % của đậu hạt, ngũ cốc, hột chứa dầu, phấn hoa và hạnh nhân (Cheryan, (1980) [10]); hầu hết thực phẩm có nguồn gốc thực vật chứa từ 50% đến 80% phospho tổng số là phytate (Harland và cs, (1995) [18]) và dĩ nhiên phytate chứa khoáng liên kết với acid amin và protein

Trong tự nhiên, acid phytic tồn tại chủ yếu trong các dạng muối phytate

, Zn2+

Lượng phytate cao nhất trong các loại ngũ cốc, bắp (0,83 - 2,22%) và trong các loại hạt đậu (5,92 - 9,15%) (Reddy và cs, (1989) [43])

Phytate làm giảm khả năng tiêu hóa protein, tinh bột và lipit vì phytate tạo phức với protein làm protein kém tan và kháng lại được sự phân giải protein Acid phytic có thể ảnh hưởng đến sự tiêu hóa tinh bột thông qua sự tương tác với enzym amylase (Kerovuo và cs, (2000) [22]) Ở pH thấp, acid phytic có điện tích âm mạnh vì các nhóm phosphate phân ly không hoàn toàn Dưới điều kiện này, acid phytic có ảnh hưởng xấu đến khả năng hòa tan protein vì liên kết ion của các nhóm phosphate của acid phytic và các gốc acid amin bị ion hóa (lysine, histidine, arginine) Trong pH acid, acid phytic có thể gắn chặt với các protein thực vật, vì điểm đẳng điện của protein này nằm trong

pH 4,0 - 5,0 Ở pH 6,0 - 8,0, acid phytic và protein thực vật đều có điện tích

âm, phức hợp acid phytic và protein vẫn được hình thành Việc gắn kết này làm giảm giá trị dinh dưỡng của protein thực vật (Vohra và cs, (2003) [59])

Lợn và gia cầm không có enzym phytase để thủy phân và tiêu hóa phytate trong đường tiêu hóa của chúng, do đó phần lớn phytate P được bài tiết ra ngoài mà không hấp phụ Phytate là nguồn P chủ yếu trong lúa mì, ngô,

Trang 22

khô dầu đỗ tương và có khoảng 75 % tổng P trong hạt cốc được đính trong các phân tử phytate mà vật nuôi không sử dụng được Thực tế, trong lúa mì và lúa mạch cũng có phytase, nhưng phytase thực vật này bị vô hoạt trong quá trình xử lý nhiệt, nhất là khi đạt nhiệt độ từ 800C trở lên

Để đáp ứng đủ nhu cầu về P cho cơ thể lợn và gia cầm, trước đây người

ta phải bổ sung bằng những nguồn P vô cơ dễ tiêu (như mono - canxium phosphate, di - canxium phosphate, mono - sodiumphosphate) vào trong thức

ăn hỗn hợp để vật nuôi sinh trưởng và phát triển bình thường Do đó, có một lượng lớn P được bài tiết theo phân vật nuôi vào môi trường

Mặt khác, các phosphate vô cơ có thể bị nhiễm fluorin và dư cặn kim loại nặng ngay trong quá trình sản xuất Những fluorin và dư cặn kim loại nặng trong thực phẩm là độc hại cho vật nuôi và nguy hiểm cho con người Phytase cũng có thể giải phóng kẽm ra khỏi phytate Kẽm tự do này ngăn ngừa hấp thụ cadmium

P cũng là nguồn chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng và P từ nguồn phân chuồng hoặc phân hóa học có thể dùng bón cho cây trồng Hơn nữa, những phần tử P được gắn vào đất một cách bền vững với mức độ quá mức rồi tích tụ trong đất Nước tràn và đất xói mòn của những cánh đồng có nhiều

P có thể làm cho suối, sông và hồ chứa nhiều P Trong những điều kiện như vậy, P trở thành chất ô nhiễm môi trường nhiều hơn là giữ vai trò của một chất dinh dưỡng cho cây trồng

Như vậy, bản thân vật nuôi dạ dày đơn không thể tự phân hủy phytate nên cần có sự hỗ trợ của phytase Phytase tự nhiên chủ yếu có trong lúa mì hoặc phụ phẩm của lúa mì, nhưng hàm lượng thấp, nếu dùng phytase loại này thì phải cung cấp một lượng thức ăn quá nhiều, gây mất cân đối về khẩu phần

Vì vậy, người ta cung cấp phytase ngoại sinh (thường là dạng viên) để phân hủy phytate in - vitro Đối với lợn, phytase thủy phân phân tử acid phytic tại

dạ dày, còn với gia cầm thì quá trình này xảy ra trong diều

Trang 23

Enzym phytase có thể làm tăng hấp thụ P trong cơ thể vật nuôi thêm 60% và được dùng như là chất bổ sung bắt buộc cho thức ăn chăn nuôi ở châu

Âu, Đông Nam Á, Hàn Quốc, Nhật, Đài Loan để giảm tác hại đến môi trường

do P từ phân súc vật thải ra

Để lượng hóa hoạt tính của phytase, người ta dùng đơn vị phytase được biểu thị bằng FTU; PU hoặc PTU tuỳ theo hãng sản xuất Một đơn vị phytase

là "lượng phytase có thể giải phóng P vô cơ từ một dung dịch phytate sodium 5,1 mili - mol với tốc độ 1 micromol/phút ở pH 5,5 và ở nhiệt độ 370C"

1.1.2.3 Thành phần của phytase trong tự nhiên

* Phytase từ thực vật

Phytase có nhiều trong các loại ngũ cốc như lúa mì, bắp, lúa mạch, gạo,

và từ các loại đậu như đậu nành, đậu trắng,… Phytase cũng được tìm thấy trong mù tạt, khoai tây, củ cải, rau diếp, rau bina, và phấn hoa huệ tây (Dvorakova, 1998 [15])

* Phytase từ động vật

Collum và Hart (1908) đã phát hiện thấy phytase từ thận và máu dê Vì phytate hoạt động như một nguyên tố kháng dưỡng trong cơ thể động vật nên các nhà khoa học đã quan tâm và khảo sát hoạt động của phytase trong đường tiêu hóa của nhiều loài động vật Phytase được tìm thấy trong đường ruột (Patwaradha (1937) [39]) Tuy nhiên, phytase trong hệ động vật không đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa phytate (Williams và cs, (1985) [61])

Động vật nhai lại tiêu hóa được phytate nhờ hoạt động của phytase được sản xuất bởi hệ vi sinh vật trong dạ cỏ Lượng phosphate vô cơ giải phóng ra nhờ hoạt động của phytase lên phytate được cả hệ vi sinh vật đường ruột và vật chủ sử dụng (Kerovuo và cs, (2000) [22])

Trang 24

là những vi sinh vật sản xuất phytase bao gồm cả những vi khuẩn hiếu khí như Pseudomonas spp (Richardson và cs, (1997) [44]); Bacillus subtilis (Shimizu (1992) [49]) và Klebsiella spp (Greiner và cs, (1993) [17]), vi khuẩn

kị khí như Escherichia coli (Greiner và cs, (1993) [17]) và Mitsuokella spp

(Lan và cs, 2002 [25]), nấm như Aspergillus spp (Shimizu, 1992 [49]; Ullah,

1998 [56]) và Penicillum spp (Tseng và cs, (2000) [55]) Những vi khuẩn hiếu khí như Pseudomonas, Arthrobacter, Staphylococcus và Bacillus thì được xác nhận là có phytase có hoạt tính

+ Vi khuẩn sản xuất phytase

Phytase có mặt rộng rãi trong thực vật, mô động vật và vi sinh vật kể

cả con người Tuy nhiên, những nghiên cứu đã chỉ ra rằng phytase ở vi sinh vật có ứng dụng nhiều nhất trong kỹ thuật sinh học Mặc dù việc sản xuất phytase thương mại đều chủ yếu tập trung ở nấm Aspergillus, những nghiên cứu đã đề nghị rằng phytase của vi khuẩn có thể thay thế enzym phytase từ nấm bởi vì mật độ tập trung cao và nét riêng biệt của chúng, độ bền với sự thủy phân protein cao và hiệu quả xúc tác tốt nhất Những vi khuẩn sản xuất phytase có thể phân lập từ vùng cạn hoặc từ môi trường nước và phytase thì

có mặt rộng rãi trong nhiều loại vi khuẩn khác nhau, như Bacillus, Enterbacteria, vi khuẩn kị khí ở dạ cỏ động vật nhai lại và ở Pseudomonas (Jorquera và cs, 2008 [21])

Trang 25

Đối với vi khuẩn, phytase được tổng hợp ở cả vi khuẩn gram dương (B

subtilis) và gram âm (Aerobacter aerogegnes, E.coli, các chủng Pseudomonas,

Klebsiella) Phytase từ các vi khuẩn gram âm là các protein nội bào trong khi phytase từ các vi khuẩn gram dương là các protein ngoại bào

Theo kết quả nghiên cứu của Kerovuo và cs (2000) [22], 21 dòng từ giống Bacillus được kiểm tra cho khả năng sản xuất enzym phytase trên môi trường Luria broth (LB) và trong môi trường có bột bắp, không có dòng nào sản xuất phytase trong môi trường LB Tuy nhiên, trong môi trường bột bắp thì có 2 dòng B amyloliquefaciens và 1 dòng B subtilis sản xuất số lượng lớn phytase Có 3 dòng thì có khả năng phóng thích lân vô cơ trong môi trường là B subtilis VTT E-68013, B amyloliquefaciens VTT E- 71015, B amyloliquefaciens VTT E-90408 trong đó dòng B subtilis VTT

E 68013 thì có hoạt tính phytase cao nhất

+ Phytase từ vi nấm

Đối với nấm mốc, hầu hết các chủng nấm mốc đều thuộc các giống Aspergillus, Penicillium, Mucor và Rhizoous (Liu và cs, (1998) [28]) và đều sản xuất phytase nội bào có hoạt tính A niger được xem là loại nấm mốc sản xuất phytase nấm có hoạt tính cao nhất A ficuum NRRL 3135 cũng sản xuất phytase trong môi trường lên enzym rắn với cơ chất là bột canola (Vohra và

cs, (2003) [59]) Một số nhóm Aspergillus niger thì sản xuất phytase ngoại bào mà chúng có thể cắt phospho từ Canxium phytate trong môi trường acid Được phân lập từ đất nhưng A ficuum NRRL 3135 sản xuất hầu hết phytase

có hoạt tính trong môi trường tinh bột ngô Việc sản xuất phytase bị ức chế một cách mạnh mẽ bởi phosphate vô cơ và tỉ lệ C/P trong môi trường (Ware, (1968) [60])

Hơn 2.000 loài thì được phân lập từ 68 mẫu đất trong môi trường giàu dinh dưỡng Hoạt tính của phytase ngoại bào thì được tìm thấy trong một vài nấm mốc khác nhau đã được kiểm tra trên môi trường (Ware, (1968) [60])

Trang 26

Tuy nhiên, phytase từ vi sinh vật nhất là từ vi khuẩn rất khó kiểm soát

vì chúng ta chưa giải thích được rõ về cơ chế tổng hợp phytase đặc biệt là các gene điều khiển sinh tổng hợp phytase luôn biến đổi (Liu và cs, (1998) [28]) Tùy theo nhóm vi sinh vật, như vi khuẩn cũng tùy vào mỗi giống và loài, điều kiện môi trường nuôi cấy, cơ chất… sẽ ảnh hưởng đến năng suất và hoạt tính của phytase (Pandey và cs, (2001)[38]) Như vậy, nghiên cứu và sản xuất phytase từ vi sinh vật, tối ưu hóa môi trường và điều kiện sinh tổng hợp phytase tốt nhất cũng như bảo quản hoạt tính phytase… để thành một sản phẩm thương mại phải còn nhiều bước nghiên cứu nữa

1.1.2.4 Những lưu ý khi lựa chọn và sử dụng men phytase

Hiện nay, trên thị trường có nhiều sản phẩm men phytase, thuộc nhiều thế hệ khác nhau Thế hệ phytase đầu được sản xuất từ nấm (Aspergillus,

tiếp đó là Peniophora), và thế hệ phytase mới nhất được sản xuất từ E.coli

Việc lựa chọn men phytase để sử dụng phải dựa trên nhiều yếu tố như: giá

cả, hiệu suất phân giải P và tính bền vững của men trong những điều kiện

mà nó sẽ phải trải qua, và việc sử dụng men phải phù hợp với những đặc tính của men

Phytase thế hệ mới nhất thường được lựa chọn vì chúng đã được chứng

tỏ có hiệu quả cao nhất Những nghiên cứu về việc sử dụng men phytase trong chăn nuôi từ đầu những năm 2000 đã cho thấy hiệu suất giải phóng P

của phytase từ E.coli cao hơn rõ ràng so với phytase từ nấm khi sử dụng cùng

liều lượng, trong cùng điều kiện

Phần lớn các men phytase bị vô hoạt ở nhiệt độ 70-75°C Việc vi bọc có thể làm tăng độ bền nhiệt lên tới 80-85°C Trong khi đó, sản phẩm phytase từ

E.coli có khả năng chịu nhiệt tới 95°C Khả năng chịu nhiệt cao có ý nghĩa rất

quan trọng vì nhiều nhà sản xuất TACN đang lựa chọn ép viên ở nhiệt độ cao tới trên 90°C

Trang 27

Ngoài ra, một men phytase có hiệu suất cao phải duy trì được hoạt tính cao trong dải pH rộng, từ pH thấp trong dạ dày tới pH cao trong ruột Bên cạnh đó, do men phytase có cấu trúc của protein nên nó cũng cần phải bền

vững trước tác động của các men phân giải protein Phytase từ E.coli đã được

chứng minh là có hiệu suất cao hơn trong dải pH rộng, và bền vững trước tác động của các men phân giải protein

Khi lựa chọn và sử dụng phytase, cũng cần phải quan tâm tới những thông tin kỹ thuật và thử nghiệm của sản phẩm, mức độ phù hợp với qui trình

và công nghệ chế biến sẵn có cũng như khả năng thay đổi qui trình và công nghệ chế biến cho phù hợp với sản phẩm, phương thức áp dụng sản phẩm phytase và hiệu quả dinh dưỡng của nó… Phytase cũng có thể được sử dụng kết hợp với các men phân giải xơ khác Tuy nhiên, việc sử dụng kết hợp như vậy đòi hỏi phải có kinh nghiệm Và men phân giải xơ phải được lựa chọn sao cho phù hợp với nguyên liệu đang sử dụng, và có cùng tiêu chí như đối với enzym phytase

Với những đặc tính ưu việt của phytase thế hệ mới được chiết xuất từ

E.coli chúng tôi đã lựa chọn sử dụng enzym phytase 5000 chịu nhiệt này

trong đề tài nghiên cứu của mình

1.1.3 Những lợi ích của việc sử dụng enzyme phytase

Ngày nay, enzyme được sử dụng như là chất chuẩn trong thức ăn gia

phân hủy phytate (như phytase) chứa nhiều trong cám gạo, lúa mì, lúa mạch được ứng dụng rộng rãi trong những khẩu phần ăn không chỉ do vấn đề môi trường, mà vì nó còn có ý nghĩa về mặt kinh tế Trong tự nhiên, khoảng 60 -

75 % phospho có trong hạt ngũ cốc được liên kết hữu cơ dưới dạng phytate, đây là dạng rất khó hấp thu đối với lợn, gia cầm Giá trị sinh học của phospho

ở hạt ngũ cốc rất biến động từ dưới 15 % ở bắp cho tới khoảng 50 % ở lúa mì

Trang 28

Trong khẩu phần bắp - khô dầu đậu nành có hai phần ba lượng phospho bị liên kết dưới dạng axít phytic Lợn, gia cầm không thể tiêu hóa lượng phospho này Lượng phospho bị thải này sẽ giảm đáng kể nếu bổ sung phytase vi sinh vào khẩu phần, enzyme này sẽ giải phóng một số mạch liên kết phospho làm cho lợn, gia cầm tiêu hóa dễ dàng Do đó lượng phospho vô

cơ phải bổ sung thêm để đáp ứng nhu cầu sẽ giảm, lượng phospho thải ra có thể giảm 30 - 50 %

Hiệu quả của việc bổ sung phytase thay đổi theo từng loại lợn, gia cầm, khối lượng, khẩu phần, mức ăn, tần suất cho ăn, nguồn phytase, lượng phytase bổ sung và tình trạng sinh lý của vật nuôi Không có mức chuẩn cho việc bổ sung phytase cho tất cả các loại khẩu phần bởi vì mức phospho tổng

số và phospho phytate của các loại khẩu phần thay đổi Enzyme phytase không chỉ làm gia tăng khả năng tiêu hóa phospho mà còn làm tăng khả năng tiêu hóa những chất khoáng và các axít amin khác Cũng theo nhóm tác giả trên, công nghiệp sản xuất thức ăn gia súc có thể tiết kiệm trên 8 EUR/tấn thức ăn cho gà thịt và 2 EUR/tấn thức ăn cho lợn khi mức phospho trong khẩu phần được giới hạn

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã và đang nỗ lực tìm cách làm giảm ô nhiễm từ các chất thải ra trong chăn nuôi Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác định được rằng cần cải thiện khả năng

sử dụng các dưỡng chất trong khẩu phần của vật nuôi để hạn chế tối đa lượng thải ra qua phân thải Trước đây, do ít quan tâm đến lượng chất dinh dưỡng bị thải ra ngoài nên hậu quả của việc cho ăn quá nhiều chất dinh dưỡng nhằm tối

đa hóa năng suất đã dẫn đến hậu quả là lượng chất dinh dưỡng thải ra quá nhiều qua phân và nước tiểu (chủ yếu là hàm lượng protein, phospho và canxi)

Trang 29

Ở các khẩu phần có bổ sung enzyme tiêu hóa thì lượng nitơ thải ra giảm một cách đáng kể và lượng nitơ tích lũy tăng 5 - 15 % Khi bổ sung enzyme tiêu hóa phù hợp vào thức ăn có thể giảm lượng nitơ thải ra trên một con lợn

từ 10 - 15 %, tương đương với 200g Như vậy, một con lợn nuôi từ lúc sinh ra đến lúc giết thịt 100kg thì lượng vật chất khô thải ra trong phân sẽ ít hơn 5 kg hoặc lượng phân ít hơn 15 - 20 kg/heo Enzyme đã có vai trò trong việc cải thiện khả năng sử dụng thức ăn nên giảm được lượng chất thải Khi tăng khả năng tiêu hóa từ 85 % lên 90 % thì lượng vật chất khô trong phân giảm 33 % Tương tự như vậy, ta có thể ước lượng khả năng ô nhiễm môi trường tiềm tàng của các thành phần khác trong khẩu phần như nitơ và phospho Một trong những lợi ích mà enzyme mang lại là hàm lượng dinh dưỡng trong phân giảm đáng kể Sự giảm lượng dinh dưỡng bài tiết qua phân nhờ bổ sung enzyme trong khẩu phần đặc biệt quan trọng vì phân thải vào đất và nước làm

ô nhiễm môi trường Tác động thực sự của enzyme trên lợn là làm giảm lượng phân sản xuất và độ ẩm của phân do sự phá vỡ cân bằng nước trong đường ruột Việc bổ sung xylanase có hiệu quả làm giảm độ nhờn đường tiêu hóa và những rối loạn tiêu hóa kèm theo nó, điều này làm gia tăng độ khô của phân

và cải thiện lượng phân thải ra

Ngày nay ở Việt Nam đang xây dựng các trang trại chăn nuôi tập trung,

sẽ tăng lượng phân, nước giải thải ra trên đơn vị diện tích hẹp làm cho nước mặt và mạch nước ngầm bị ô nhiễm, tích tụ khoáng trong đất Để thoả mãn nhu cầu phospho của động vật cần thiết phải bổ sung phospho vô cơ như: Dicanxium (DCP) hoặc Monocanxium phốt phát (MCP), tiêu hoá không hết bài tiết 30 - 50 % phospho vào trong phân thải làm ô nhiễm môi trường Phân giải Phytate có nghĩa bổ sung ít phospho vào khẩu phần ăn để lượng phospho thải ra ít hơn Điều này thực hiện bằng enzyme phytase Trong hạt ngũ cốc, phần lớn phospho bị liên kết dưới dạng phytate rất khó tiêu thường bị thải ra

Trang 30

ngoài Bổ sung phytase vi sinh vào khẩu phần sẽ giải phóng một số mạch liên kết phospho, giúp tiêu hoá dễ dàng Đây là những vấn đề cấp thiết đòi hỏi các nhà sản xuất cần nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu về sử dụng men tiêu hoá trong chăn nuôi:

Năm 2009, Viện Chăn nuôi (Bộ NN - PTNT) đã phối hợp với Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học (Đại học Quốc gia Hà Nội) [5] nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm sinh học hỗn hợp (probiotic + đa enzyme) (EPV) và đa enzyme tiêu hoá (EV) vào thức ăn cho gà Thí nghiệm được tiến hành trên giống gà Lương Phượng với 2 loại khẩu phần ăn: thức ăn tinh truyền thống (ngô, khô dầu đậu tương, bột cá, bột thịt xương) và thức ăn thô nghèo dinh dưỡng (ngô, khô dầu đậu tương, cám mỳ, khô dầu dừa ) bổ sung probiotic - enzyme

Kết quả cho thấy, trong 2 tuần tuổi gà ở các lô được ăn khẩu phần truyền thống có khối lượng cao hơn 14,8 % tuy nhiên mức độ chênh lệch này giảm dần theo tuổi Giai đoạn từ 2-4 tuần tuổi tỉ lệ chênh lệch rút ngắn chỉ còn 6,96 %, 8 tuần tuổi còn 2,8 %, cho đến giai đoạn vỗ béo sự khác biệt về tốc

độ sinh trưởng giữa các nhóm rất nhỏ chỉ khoảng 0,9 % Xu hướng giảm dần

sự chênh lệch về tốc độ sinh trưởng của gà ở các lô thí nghiệm cho thấy hiệu quả của các chế phẩm enzyme và probiotic-enzyme ở giai đoạn vỗ béo (tiêu tốn nhiều thức ăn nhất) rất rõ rệt

Về lượng thức ăn, các số liệu đều cho thấy mức tiêu tốn thức ăn ở nhóm

gà dùng thức ăn truyền thống cao hơn so với các nhóm sử dụng chế phẩm bổ sung từ 5,83-17,6 % tuỳ từng giai đoạn sinh trưởng Tuy nhiên, cải thiện năng suất sinh trưởng, giảm tiêu tốn thức ăn vẫn chưa đủ để đánh giá hiệu quả của một chế phẩm sinh học dùng trong chăn nuôi Điều mà các nhà sản xuất thức

ăn cũng như những người chăn nuôi quan tâm là chi phí tương ứng với lượng

Trang 31

thức ăn do bổ sung chế phẩm sinh học Bởi trong trường hợp này chi phí từ nguồn nguyên liệu mới mặc nhiên rẻ hơn thức ăn truyền thống, do đó giá cả

sẽ phụ thuộc vào giá chế phẩm sinh học

Theo báo Nông nghiệp Việt Nam đưa tin để giúp người chăn nuôi giảm bớt áp lực trước tình hình giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, công ty Alltech (Hoa Kỳ) đã cho ra đời sản phẩm enzyme tự nhiên dùng phối trộn với lượng thức ăn tiêu chuẩn thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo đạt hiệu quả về năng suất và chất lượng vật nuôi…

Sản phẩm đó là phức hợp enzyme mang tên Allzyme SSF (viết tắt SSF) chuyên dùng để phối trộn vào thức ăn chăn nuôi, sản phẩm đã được thí nghiệm trên gà thịt tại trung tâm nghiên cứu và phát triển gia cầm Queensland (Australia) Lô thí nghiệm đã được tái tổ hợp khẩu phần với việc giảm 150 Kcal/kg ME và một lô khác có mức năng lượng thấp được bổ sung SSF Kết quả: đã cải thiện được hơn 60 gram về tăng khối lượng vào 42 ngày tuổi và FCR vẫn duy trì ở mức 1,84 kg/1 kg khối lượng thịt

Căn cứ vào giá bán các chế phẩm sinh học (của các hãng nước ngoài) ở thị trường Việt Nam tại thời điểm tiến hành nghiên cứu thì chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng của các lô gà sử dụng chế phẩm sinh học thấp hơn từ 6,65 %

- 6,67 % Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ thêm rằng việc sử dụng chế phẩm sinh học probiotic và enzyme tiêu hoá còn làm thay đổi cơ cấu quần thể vi sinh vật ruột theo hướng có lợi cho vật chủ Tác động của các enzyme làm giảm số lượng của các loài vi khuẩn bởi sự tăng tỷ lệ tiêu hoá và hấp thu, giảm lượng các chất dinh dưỡng sẵn có cho vi khuẩn phát triển, đồng thời enzyme tạo ra các đường tan khó hấp thu, là nguồn dưỡng chất quan trọng cho các vi khuẩn có lợi phát triển Mặt khác, bản thân sự hiện diện của vi khuẩn có lợi trong đường tiêu hoá đã làm giảm số vi khuẩn gây bệnh thông qua cạnh tranh vị trí bám dính trên niêm mạc ruột, nhờ đó làm giảm tỉ lệ nhiễm bệnh và tỉ lệ chết ở gà

Trang 32

Theo Vũ Duy Giảng (2004) [6] không có mức tiêu chuẩn bổ sung phytase cho tất cả các khẩu phần, mức phytase bổ sung phụ thuộc vào loại lợn

và loại khẩu phần Cũng theo tài liệu cho biết số lượng phytase để giải phóng 1g phospho phytate khác nhau từ 785 U (đối với khẩu phần ngô - đỗ tương) đến 1146 U (đối với khẩu phần đỗ tương tinh chế) Đối với khẩu phần ngô -mạch - đỗ tương cho lợn con thì để giải phóng 1g phospho phytate chỉ cần 380U phytase Ngoài ra các nguồn phytase khác nhau thì hoạt tính enzyme cũng khác nhau (hoạt tính enzyme phytase vi sinh vật lớn hơn phytase lúa mì

và làm tăng độ lợi dụng của P, sự tích luỹ Ca và N và giảm P thải tiết ở phân) Hiệu quả của phytase còn chịu sự chi phối của khẩu phần, số bữa ăn, lượng thức ăn cho ăn cũng như chức năng sinh lý của lợn (bổ sung cùng một lượng phytase vào một khẩu phần thì hiệu quả nhất là đối với lợn nái tiết sữa sau đến lợn sinh trưởng - vỗ béo, lợn con và thấp nhất là lợn chửa giữa kỳ)

1.2.2 Các nghiên cứu bổ sung enzym phytase cho gia cầm

Phần lớn thức ăn cho động vật dạ dày đơn được bổ sung phytase có nguồn gốc vi sinh vật nhằm cải thiện khả năng tiêu hóa P Vừa qua, Natuphos

là sản phẩm được điều chế từ 3 - phytase (EC 3.1.3.8) do cải biến trên của nấm Aspergillus niger (CBS 101.672) được phép dùng cho gà nuôi béo, gà

đẻ, gà tây, Natuphos có hàm lượng 5000 FTU/g Khi bổ sung Natuphos phytase vào khẩu phần ăn cho gà để phân giải được 1,1g P tiêu hóa, với gà broiler cần sử dụng 500 FTU, còn với gà mái đẻ thì cần 300 FTU; với mức sử dụng này, trung bình giảm được 30% lượng P thải vào môi trường

Hãng Danisco cũng lợi dụng trên phytase trong E.coli để điều chế

Ronozyme, Phyzyme XP là những phytase thương phẩm có khả năng giải phóng được nhiều P (trong đỗ tương) hơn so với Natuphos và tăng khả năng tiêu hóa P và can-xi ở gà Theo tổng kết của hãng Danisco cứ sử dụng 500 FTU/kg thức ăn vật nuôi có thể thay thế cho 1,3kg dicalcium phosphate (DCP) dùng trộn thức ăn hỗn hợp cho lợn gà

Trang 33

Từ đầu những năm 2000, các nhà khoa học Canada cho rằng khi dùng phytase ngoại sinh sẽ gặp khó khăn do việc bảo quản có thể làm giảm hoạt tính của enzym Họ nghiên cứu dùng kỹ thuật gen để cấy gen phytase có trong

E.coli cho gà Bước đầu họ đã thành công trong việc cấy gen phytase có trong E.coli con cho chuột, gen này khu trú trong tuyến nước bọt chuột và tiết

enzym này vào nước bọt, cho phép con vật phân hủy trực tiếp P tự nhiên có trong hạt cốc, rau, các loại hạt có dầu chứ không cần phải bổ sung qua khẩu phần theo cách truyền thống

Theo Schoner và cs, (1991)[47] đưa ra kết luận trên nghiên cứu bổ sung phytase cho gà, tác giả cho rằng:

- Gà broiler rất nhậy cảm đối với các chất kháng dinh dưỡng do vậy ở

với khẩu phần lúa mì, phytase đối với phytate, nếu được bổ sung thêm mul-tienzym sẽ có lợi về khả năng tiêu hoá hơn so với bổ sung enzym đơn

- Cũng theo tác giả cho biết: Ở các giai đoạn tuổi khác nhau, và tuỳ thuộc vào từng loại khẩu phần ăn khác nhau thì số lượng enzym bổ sung cũng khác nhau Ví dụ: Gà broiler 44 ngày tuổi yêu cầu 570 U phytase để giải phóng 1g P; gà 70 ngày tuổi số lượng enzym yêu cầu là 850 U, như vậy hiệu quả của enzym giảm theo tuổi

- Gà mái đẻ có đáp ứng với phytase kém hơn gà broiler, tuy nhiên những lợi ích từ việc bổ sung phytase đem đến như giảm phân dính, tăng sản lượng trứng và tăng hiệu quả chuyển hoá thức ăn thì cũng thấy rõ ở gà mái đẻ

Kết quả nghiên cứu của hãng Danisco khi áp dụng thử nghiệm bổ sung

phytase thế hệ mới được chiết suất từ E.coli cho gà thì thấy rằng: việc bổ sung

phytase vào khẩu phần ăn cho 270 con gà đang trong thời kỳ cao điểm của giai đoạn đẻ trứng cho tỷ lệ đẻ trứng tăng 3,96%, đầu vào thức ăn giảm 4,0%

và tỷ lệ lợi nhuận/khối lượng thức ăn được cải thiện 7,0% khi bổ sung men

Trang 34

Tương tự như vậy thì đối với hãng Natuphos cũng thử nghiệm dòng sản phẩm phytase được chiết xuất từ nấm vào khẩu phần ăn cho gà để đánh giá mức độ P thải ra ngoài môi trường thì thấy: với gà broiler khi bổ sung vào trong khẩu phần ăn 500 FTU phytase giúp phân giải được 1,1g P tiêu hóa, còn với gà mái đẻ thì là 300 FTU phytase; với mức sử dụng này, trung bình giảm được 30% lượng P thải vào môi trường

Theo cuốn Farm Animal metabolism and Nutnrion Internationnal (2000) [29] cho biết: gà broiler 44 ngày tuổi yêu cầu 570 U phytase để giải phóng 1g phospho; gà 70 ngày tuổi số lượng enzym yêu cầu là 850 U, như vậy hiệu quả của enzym giảm theo tuổi Gà mái đẻ có đáp ứng với phytase kém hơn gà broiler, tuy nhiên những cái lợi như giảm phân dính, tăng sản lượng trứng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn thì cũng thấy rõ ở gà mái đẻ

Ravindran el al, (1999)[41] đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase vào khẩu phần có hàm lượng phyin cao tới khả năng tiêu hoá các chất dinh dưỡng Các kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy ảnh hưởng của khẩu phần

có hàm lượng P phytin cao đến khả năng tiêu hoá Ca, P và các acid amine khác

Ravindran và cs, (2001)[42], cũng đã nghiên cứu sử dụng enzym phytase cho gà con, gà thịt, và theo dõi ảnh hưởng của nó đến tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng, nghiên cứu cho thấy, khi bổ sung phytase trong khẩu phần cho gà đã cải thiện được tỷ lệ tiêu hoá biểu kiến các chất dinh dưỡng ở hồi tràng Bên cạnh đó tác giả cũng cho biết khẩu phần ăn của thiếu lysine nhưng được bổ sung phytase cũng làm tăng tỷ lệ tiêu hoá các acid amine

Theo Driver và cs, (2000) [13], thì cho ảnh hưởng của việc bổ sung phytase còn phụ thuộc vào tỷ lệ canxi, phospho trong khẩu phần Canxi liên kết với các phân tử phytate làm cho phytate phospho ít hoà tan

Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đồng quan điểm cho rằng bổ sung phytase trong khẩu phần ăn của gia cầm có tác dụng cải thiện chế độ ăn và khả năng tiêu hoá phospho cho gia cầm (theo Biehl và cs, (1995) [8]; Denbow

và cs, (1995) [12]; Mitchell và cs, (1996) [30])

Trang 35

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

* Đối tượng thí nghiệm

* Địa điểm nghiên cứu

- Xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên

- Các mẫu phân tích thức ăn, xương, phân của gà thí nghiệm được tiến hành tại Viện khoa học và sự sống - Đại học Thái Nguyên

* Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 01/2010 đến 01/2011

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Đánh giá hiệu quả sử dụng phospho thức ăn của gà thí nghiệm trong khẩu phần ăn có các mức canxi, phospho khác nhau có và không bổ sung phytase thông qua các chỉ tiêu: Tốc độ sinh trưởng, hiệu quả chuyển hoá thức

ăn, tỷ lệ tiêu hoá canxi, phospho, khả năng khoáng hoá xương

- Kiểm chứng các mức canxi, phospho khác nhau trong khẩu phần ăn cho gà có và không có bổ sung phytase Từ đó có cơ sở khoa học để khuyến cáo khẩu phần có mức canxi, phospho thích hợp cho cho gà broiler

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Nội dung thí nghiệm

- Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp phân lô so sánh, đảm bảo đồng đều về các yếu tố: giống, tuổi gà thí nghiệm, phương pháp chế biến thức ăn và qui trình nuôi dưỡng Thí nghiệm được lặp lại 3 lần, kết quả của thí nghiệm là trung bình của 3 lần nhắc lại

Trang 36

Phương pháp bố trí thí nghiệm

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Lô TN Chỉ tiêu Lô 1A Lô 1B Lô 2A Lô 2B Lô 3A Lô 3B

1994

Thức ăn

KPCS 1 + Bổ sung phytase

KPCS

1

KPCS

2 + Bổ sung phytase

KPCS

2

KPCS

3 + Bổ sung phytase

ô chuồng, 25 con/ô (mỗi ô là một lần lặp lại)

Ghi chú: Khẩu phần có hàm lượng phospho phytin cao là khẩu phần gồm ngô,

cám gạo, khô dầu đậu tương không tách vỏ và không có protein động vật

Trang 37

Lô 1A: Khẩu phần cơ sở một có bổ sung phytase

Lô 1B: Khẩu phần cơ sở một không bổ sung phytase

Lô 2A: Khẩu phần cơ sở hai có bổ sung phytase

Lô 2B: Khẩu phần cơ sở hai không bổ sung phytase

Lô 3A: Khẩu phần cơ sở ba có bổ sung phytase

Lô 3B: Khẩu phần cơ sở ba không bổ sung phytase

Mức Ca theo khuyến cáo của NRC 1994 cho gà Broiler giai đoạn khởi động (starter); Sinh trưởng (grower) và vỗ béo (finisher): 100 %; 90 % và 80

% mức P dễ hấp thu tương ứng: 0,45 %; 0,40% và 0,35 %

Gà thí nghiệm (ở tất cả các lô) được nuôi trên sàn có chất độn chuồng Khi được 35 ngày tuổi mỗi ô chọn 6 con (3 trống, 3 mái) có khối lượng trung bình của ô để nuôi trong cũi tiêu hóa Giai đoạn nuôi trên cữu tiêu hóa là 12 ngày (7 ngày nuôi chuẩn bị và 5 ngày thu mẫu) Trong giai đoạn nuôi chuẩn bị (gà làm quen với điều kiện sống trên lồng và thức ăn thí nghiệm) và thu mẫu gà được ăn khẩu phần giai đoạn sinh trưởng có bổ sung chất chỉ thị (khoáng không tan như diatomite hoặc celite hay oxyt

bổ sung chất chỉ thị trong vòng 5 ngày Thức ăn ăn vào và thức ăn thừa được cân và ghi chép hàng ngày Phân thải ra được thu thập 2 lần/ngày vào lúc 8h00 và 16h00 (cẩn thận trong quá trình thao tác để tránh nhiễm lông, vảy và các mảnh vụn khác) Phân được sấy khô và nghiền qua mắt sàng 0,5 mm để phân tích xác định tỷ lệ tiêu hóa phospho và mức thải phospho ra môi trường

Số gà còn lại trên lồng và trên sàn được nuôi tiếp tục cho đến khi kết thúc đạt khối lượng xuất chuồng (49 ngày tuổi) Khi kết thúc thí nghiệm, mỗi

ô chuồng (tương ứng với mỗi lần lặp lại) chọn 2 gà khỏe mạnh có khối lượng trung bình của ô để giết mổ, thu lấy xương ống chân (loại bỏ da, cơ, gân và

Trang 38

tuỷ), khoáng hóa, phân tích xác định hàm lượng khoáng tổng số, can xi và phospho để đánh giá khả năng tích lũy phospho trong xương

Bảng 2.2: Các nguyên liệu sử dụng phối trộn thức ăn của gà thí nghiệm

Khi tiến hành phối trộn các loại nguyên liệu các tỷ lệ lớn được cân bằng cân đồng hồ độ chính xác ± 5 gram, các loại nguyên liệu có tỷ lệ thấp như acid amin tổng hợp, premix, được cân bằng cân kỹ thuật có độ chính xác ± 0,1g

Thức ăn được trộn bằng tay, theo phương pháp “vết dầu loang”, đảm bảo trộn thật đều Khối lượng thức ăn một lần trộn đảm bảo đủ cho 5 - 7 ngày Sau khi trộn xong thức ăn được bảo quản trong điều kiện tốt nhất để tránh ảnh

hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến chất lượng thức ăn

Trang 39

Bảng 2.3 Thành phần thức ăn của khẩu phần cơ sở (kg/1000kg) Nguyên liệu Mức 100% Ca Mức 90% Ca Mức 80% Ca

Giai đoạn 1- 21 ngày

Khô dầu đậu tương 47 % Pr 356,10 354,80 353,30

Khô dầu đậu tương 47 % Pr 300,00 298,80 297,50

Khô dầu đậu tương 47 % Pr 240,60 239,50 238,40

Trang 40

Bảng 2.4: Thành phần giá trị dinh dƣỡng thức ăn cho gà thí nghiệm

Ngày đăng: 05/10/2014, 02:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Phương (2004), Đặc sản khoa học kỹ thuật thức ăn chăn nuôi số 1/2004. Nhà xuất bản Bộ NN&PTNT-VCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc sản khoa học kỹ thuật thức ăn chăn nuôi số 1/2004
Tác giả: Đỗ Hữu Phương
Nhà XB: Nhà xuất bản Bộ NN&PTNT-VCN
Năm: 2004
2. Cao Ngọc Điệp (2010), “Phytase, enzym phân giải phytate và tiềm năng ứng dụng công nghệ sinh học”, Tạp chí Sở khoa học và công nghệ Tiền Giang - số 4/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phytase, enzym phân giải phytate và tiềm năng ứng dụng công nghệ sinh học”," Tạp chí Sở khoa học và công nghệ Tiền Giang
Tác giả: Cao Ngọc Điệp
Năm: 2010
3. Tiêu chuẩn Việt Nam (1997), “Phương pháp xác định sinh trưởng tuyệt đối”. TCVN 2 - 39 - 77 (1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp xác định sinh trưởng tuyệt đối”
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam
Năm: 1997
4. Tiêu chuẩn Việt Nam (1997), “Phương pháp xác định sinh trưởng tương đối” TCVN 2 - 40 - 77 (1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp xác định sinh trưởng tương đối”
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam
Năm: 1997
5. Viện Chăn nuôi (Bộ NN - PTNT) phối hợp với Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học (Đại học Quốc gia Hà Nội) (2010) . Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm sinh học hỗn hợp (probiotic + đa enzyme) (EPV) và đa enzyme tiêu hoá (EV) vào thức ăn cho gà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện Chăn nuôi (Bộ NN - PTNT) phối hợp với Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học (Đại học Quốc gia Hà Nội) (2010)
6. Vũ Duy Giảng (2004). Đặc san khoa học kỹ thuật thức ăn chăn nuôi-số 3/2004.II. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc san khoa học kỹ thuật thức ăn chăn nuôi
Tác giả: Vũ Duy Giảng
Năm: 2004
7. Anderson P. A. (1985), Interaction between protein and constituents that affect protein quality, page 31 in: Digestibility and amino acid avaiblability and oilseeds Finley J. W. and Hopkins D. J.; eds, Am, Assoe, Cereal chem, st, Poul, Mn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interaction between protein and constituents that affect protein quality
Tác giả: Anderson P. A
Năm: 1985
8. Bieh R. R., Baker D. H., and Deluaca H. F. (1995), 1 alpha - hydroxycholecalciferol compounds act additively with microbial phytase to improve phosphorus, Zinc and manganece ulilization in chicks fed soy based diet. Journal nutrion, 125, pp. 2407 - 2416 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1 alpha - hydroxycholecalciferol compounds act additively with microbial phytase to improve phosphorus, Zinc and manganece ulilization in chicks fed soy based diet
Tác giả: Bieh R. R., Baker D. H., and Deluaca H. F
Năm: 1995
9. Chambers J. R. (1990), Genetic of growth and meat production in chicken poultry breeding and genetic, R. D, Cawforded Elsevier Amsterdam Holan, pp. 627 - 628 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetic of growth and meat production in chicken poultry breeding and genetic
Tác giả: Chambers J. R
Năm: 1990
10. Cheryan M. (1980), Acid phytic tnteractions in food systems, CRC Crit, Rev, Food Sci, Nutr, 13, p 297 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acid phytic tnteractions in food systems
Tác giả: Cheryan M
Năm: 1980
11. Cosgrove D. J. (1972), "Inositol phosphate phosphatases of microbiological origin: The inositol pentaphosphate products of Aspergillus ficuum phytases", Journal of Bacteriology, pp. 56 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inositol phosphate phosphatases of microbiological origin: The inositol pentaphosphate products of Aspergillus ficuum phytases
Tác giả: Cosgrove D. J
Năm: 1972
13. Driver J. P., Pesti G. M., Bakalli R. I. and Edwards H. M. ( 2005), Effects of calcium and nonphytate phosphorus concentrations on phytase efficacy in broiler chicks, Poultry Science (84), pp. 1406 - 1417 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of calcium and nonphytate phosphorus concentrations on phytase efficacy in broiler chicks
14. Dudek S. G. (1997), Nutrition Handbook for Nursing Practice (Third Edition), Lippincolt-Raven Publishers, Philadephia, USA, p 127 - 130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutrition Handbook for Nursing Practice (Third Edition)
Tác giả: Dudek S. G
Năm: 1997
15. Dvorakova J. (1998), "Phytase: sources, preparation and exploitation", Folia microbiologica, pp. 121 - 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phytase: sources, preparation and exploitation
Tác giả: Dvorakova J
Năm: 1998
16. Edwards H. M., Marion J. E., Fuller H. L. and Driggers J. C. (1963), Studies on calcium requirements of broilers, Poult. Sci (42), pp. 699 - 703 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Studies on calcium requirements of broilers
Tác giả: Edwards H. M., Marion J. E., Fuller H. L. and Driggers J. C
Năm: 1963
17. Greiner R., Konietzny U., Jany K. D. (1993); “Purification and characterization of two phytases from Escherichia coli”, Archives of Biochemistry, pp. 103 - 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Purification and characterization of two phytases from Escherichia coli”
18. Harland and Morris (1995), „„Phytase: a good or bad food component‟‟, Nutrition research, 13 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: „„Phytase: a good or bad food component‟‟
Tác giả: Harland and Morris
Năm: 1995
19. Hasan Akyurek, Senkoylu Nizamettin and Ozduven Leven T Mehmet, (2005), Effect of Microbial phytase on growth performance and nutrients digestibility in broiler, PaKistan Journal of Nutrition (4), pp. 22 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of Microbial phytase on growth performance and nutrients digestibility in broiler
Tác giả: Hasan Akyurek, Senkoylu Nizamettin and Ozduven Leven T Mehmet
Năm: 2005
20. Huff W. E., Moore P. A., Woldroup A. L., Woldroup Jr. P. W., Balog J. M., Huff G. R., Rath N. C., Daniel J. C and Raboy V., (1998); Effects of dietary phytase and high available phosphorus corn on broiler chicken performance, Poultry Science (77), pp. 1988 - 1904 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of dietary phytase and high available phosphorus corn on broiler chicken performance
21. Jorquera M., Martinez D., Maruyama F., Marschner P. and Maria De La Luz Mora (2008); Current and Future Biotechnological Applications of Bacterial Phytases and Phytase-Producing Bacteria, Microbes Environ (23), pp. 182 - 191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ); Current and Future Biotechnological Applications of Bacterial Phytases and Phytase-Producing Bacteria

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm   Lô TN - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm Lô TN (Trang 36)
Bảng 2.2: Các nguyên liệu sử dụng phối trộn thức ăn của gà thí nghiệm - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 2.2 Các nguyên liệu sử dụng phối trộn thức ăn của gà thí nghiệm (Trang 38)
Bảng 2.3. Thành phần thức ăn của khẩu phần cơ sở (kg/1000kg)  Nguyên liệu  Mức 100% Ca  Mức 90% Ca  Mức 80% Ca - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 2.3. Thành phần thức ăn của khẩu phần cơ sở (kg/1000kg) Nguyên liệu Mức 100% Ca Mức 90% Ca Mức 80% Ca (Trang 39)
Bảng 2.4: Thành phần giá trị dinh dƣỡng thức ăn cho gà thí nghiệm - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 2.4 Thành phần giá trị dinh dƣỡng thức ăn cho gà thí nghiệm (Trang 40)
Bảng 2.5: Lịch sử dụng vắc-xin cho gà thí nghiệm - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 2.5 Lịch sử dụng vắc-xin cho gà thí nghiệm (Trang 41)
Bảng 3.1: Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm (%) (n = 3)  Lô TN - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm (%) (n = 3) Lô TN (Trang 46)
Bảng 3.2: Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm (g) (n = 3) - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 3.2 Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm (g) (n = 3) (Trang 47)
Đồ thị 3.1: Khối lƣợng của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
th ị 3.1: Khối lƣợng của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (Trang 48)
Bảng 3.3: Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (g/con/ngày)     LôTN - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 3.3 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (g/con/ngày) LôTN (Trang 50)
Bảng 3.4: Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%) - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 3.4 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%) (Trang 51)
Bảng 3.5: Tiêu tốn thức ăn cộng dồn/kg tăng khối lƣợng  của gà thí nghiệm (kg) - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 3.5 Tiêu tốn thức ăn cộng dồn/kg tăng khối lƣợng của gà thí nghiệm (kg) (Trang 53)
Bảng 3.6: Tiêu tốn protein cộng dồn/kg tăng khối lƣợng của gà thí nghiệm - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 3.6 Tiêu tốn protein cộng dồn/kg tăng khối lƣợng của gà thí nghiệm (Trang 55)
Bảng 3.8: Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm (n = 3 đàn)    Lô TN - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 3.8 Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm (n = 3 đàn) Lô TN (Trang 57)
Bảng 3.9: Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm lúc 49 ngày tuổi (n = 6)  Diễn giải  Tính - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 3.9 Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm lúc 49 ngày tuổi (n = 6) Diễn giải Tính (Trang 59)
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của các mức Ca và phospho khẩu phần đến hàm lượng khoáng tổng số, canxi và phospho  trong xương ống chân của gà thí nghiệm lúc 49 ngày tuổi (n = 6 con) - luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung phytase trong khẩu phần ăn đến hiệu quả sử dụng canxi, phospho và sức sản xuất của gà broiler ross 508
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của các mức Ca và phospho khẩu phần đến hàm lượng khoáng tổng số, canxi và phospho trong xương ống chân của gà thí nghiệm lúc 49 ngày tuổi (n = 6 con) (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w