NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ðIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG VÀ BIỆN PHÁP TỈA HOA, TỈA QUẢ ðẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG VẢI THIỀU THANH HÀ TRỒNG TẠI LỤC NGẠN - BẮC GIANG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
LÂM NGUYÊN NĂNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ðIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG VÀ BIỆN PHÁP TỈA HOA, TỈA QUẢ ðẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG VẢI THIỀU THANH HÀ
Trang 2LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn
ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 5 tháng 11 năm 2010
Tác giả luận văn
Lâm Nguyên Năng
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện ựề tài nghiên cứu, tôi luôn nhận ựược rất nhiều sự quan tâm giúp ựỡ của cơ quan, nhà trường, các thầy cô giao, ựồng nghiệp và gia ựình
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban Giám hiệu nhà trường; Viện đào tạo Sau ựại học, Khoa Nông học, Bộ môn Rau - Hoa - Quả, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội; Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh ựạo, tập thể cán bộ Trạm Khuyến nông huyện Lục Ngạn - Bắc Giang và UBND xã Kiên Lao - Lục Ngạn - Bắc Giang ựã tạo ựiều kiện giúp ựỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu ựể hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Vũ Mạnh Hải người ựã hướng dẫn và giúp ựỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện ựề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia ựình, bạn bè và ựồng nghiệp những người luôn ủng hộ, ựộng viên và tạo ựiều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện luân văn
Tác giả luận văn
Lâm Nguyên Năng
Trang 42.5 Những nghiên cứu về các chất ñiều hoà sinh trưởng trên cây vải 23 2.6 Những nghiên cứu về cắt tỉa hoa, quả trên cây vải 29
3 VẬT LIỆU, ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM, NỘI DUNG VÀ
4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất ñiều hòa sinh trưởng GA3
(gibberellic acid) ñến khả năng ra hoa, ñậu quả, năng suất và phẩm chất của vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn - Bắc Giang 35
Trang 54.1.1 Ảnh hưởng của GA3 ñến khả năng ñậu quả 35
4.1.3 Ảnh hưởng của GA3 ñến ñộng thái tăng trưởng quả 39 4.1.4 Ảnh hưởng của GA3 ñến thời gian chín của quả 40
4.1.6 Ảnh hưởng của GA3 ñến các yếu tố cấu thành năng suất và năng
4.1.7 Ảnh hưởng của GA3 ñến một số chỉ tiêu cơ giới quả 43
4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa hoa ñến khả năng ñậu quả, năng
suất và phẩm chất của vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn -
4.2.1 Ảnh hưởng của tỉa hoa ñến số lượng hoa và thành phần các loại hoa 49
4.2.4 Ảnh hưởng của tỉa hoa ñến ñộng thái tăng trưởng quả 53
4.2.6 Ảnh hưởng của tỉa hoa ñến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn - Bắc Giang 54 4.2.8 Ảnh hưởng của tỉa hoa ñến một số chỉ tiêu cơ giới quả của vải
4.2.9 Ảnh hưởng của tỉa hoa ñến các chỉ tiêu hoá sinh trong quả của
giống vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn - Bắc Giang 58
4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa quả ñến khả năng giữ quả, năng
suất và phẩm chất của vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn -
Trang 64.3.2 Ảnh hưởng của tỉa quả ñến ñộng thái tăng trưởng quả 61
4.3.4 Ảnh hưởng của tỉa quả ñến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn - Bắc Giang 63 4.3.5 Ảnh hưởng của tỉa quả ñến một số chỉ tiêu cơ giới quả của giống
vải chín vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn - Bắc Giang 64 4.3.6 Ảnh hưởng của tỉa quả ñến các chỉ tiêu hoá sinh trong quả của
vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn - Bắc Giang 65
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.1 Diện tích và sản lượng vải của một số nước chủ yếu trên thế giới 9
2.3 Diện tích và sản lượng vải của một số tỉnh trồng vải qua các năm 11 4.1 Ảnh hưởng của việc xử lý GA3 ñến tỷ lệ ñậu quả 35
4.3 Ảnh hưởng của việc xử lý GA3 ñến ñộng thái tăng trưởng quả 39 4.4 Ảnh hưởng của việc xử lý GA3 ñến thời gian chín của quả 40 4.5 Ảnh hưởng của việc xử lý GA3 ñến phẩm cấp quả 41 4.6 Ảnh hưởng của việc xử lý GA3 ñến các yếu tố cấu thành năng
4.7 Ảnh hưởng của việc xử lý GA3 ñến một số chỉ tiêu cơ giới quả 44 4.8 Ảnh hưởng của việc xử lý GA3 ñến các chỉ tiêu hoá sinh trong quả 46
4.10 Ảnh hưởng của tỉa hoa ñến số lượng hoa và thành phần các loại hoa 49
4.13 Ảnh hưởng của tỉa hoa ñến ñộng thái tăng trưởng quả 53
4.15 Ảnh hưởng của tỉa hoa ñến các yếu tố cấu thành năng suất 55 4.16 Ảnh hưởng của tỉa hoa ñến một số chỉ tiêu cơ giới quả 57 4.17 Ảnh hưởng của tỉa hoa ñến các chỉ tiêu hoá sinh trong quả 58 4.18 Hiệu quả kinh tế của tỉa hoa trên vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục
4.20 Ảnh hưởng của tỉa quả ñến ñộng thái tăng trưởng quả 61
Trang 94.21 Ảnh hưởng của tỉa quả ñến phân loại quả 62 4.22 Ảnh hưởng của tỉa quả ñến các yếu tố cấu thành năng suất và
4.23 Ảnh hưởng của tỉa quả ñến một số chỉ tiêu cơ giới quả 64 4.24 Ảnh hưởng của tỉa quả ñến các chỉ tiêu hoá sinh trong quả 66 4.25 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng tỉa quả trên vải thiều Thanh Hà
Trang 10DANH MỤC HÌNH
2.3 Diện tích vải qua các năm tại một số tỉnh chủ lực 13 2.4 Sản lượng vải qua các năm tại một số tỉnh chủ lực 13
4.6 Ảnh hưởng của tỉa hoa ñến tỷ lệ ñậu quả cuối cùng 50
Trang 111 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Cây vải (Litchi chinensis Sonn.) là một trong những cây ăn quả ñặc sản
có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao Trên thị trường thế giới, quả vải ñược xếp sau dứa, chuối, cam, quýt, xoài, bơ ðặc biệt, vải là một trong những loại quả Á nhiệt ñới ñược ñánh giá cao về mặt chất lượng Cây vải có khung tán lớn, tròn ñều, lá sum xuê, xanh quanh năm có thể làm cây bóng mát, cây chắn gió, cây cảnh, cây phủ xanh ñất trống ñồi núi trọc, hạn chế sự xói mòn góp phần cải thiện ñiều kiện môi sinh
Phát triển cây ăn quả nói chung và cây vải nói riêng còn góp phần chuyển ñổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng ña dạng hoá sản phẩm, nâng cao giá trị kinh tế ðây là một vấn ñề có ý nghĩa quan trọng ñã và ñang ñược ðảng và Nhà nước quan tâm Trồng vải trong vườn gia ñình ñem lại thu nhập khá cao so với một số cây ăn quả khác Những năm gần ñây việc phát triển cây vải thực sự trở thành một phong trào rộng khắp tại các tỉnh trung du và miền núi phía bắc
So với các cây ăn quả khác ở miền Bắc Việt Nam, vải ñang là một trong những cây có quy mô sản xuất lớn, tập trung, mang tính hàng hoá cao Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, ñến năm 2008, diện tích trồng vải cả nước ñạt 88.900 ha với sản lượng 428.900 tấn (chiếm 32,9% diện tích và 24,8% sản lượng cây ăn quả của miền Bắc) Vùng sản xuất vải tập trung ở một số tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Nguyên Trong ñó, Bắc Giang là tỉnh trồng vải với diện tích lớn nhất 39.835 ha, chiếm 44,8 %
về diện tích và sản lượng ñạt 228.558 tấn, chiếm 53,3% về sản lượng so với
cả nước, tiếp ñến là các tỉnh Hải Dương, Thái Nguyên, Quảng Ninh
Lục Ngạn ñược biết ñến là huyện có diện tích và sản lượng vải thiều
Trang 12lớn nhất cả nước Cây vải thiều bắt ñầu ñược trồng ở Lục Ngạn từ những năm
60 của thế kỷ trước cùng với phong trào khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới ðến nay, diện tích trồng vải của huyện ñạt 18.500 ha, vải thiều tươi thu hoạch hàng năm ñạt khoảng 60 - 100 nghìn tấn, giá trị thu hoạch khoảng 400 -
600 tỷ ñồng Cây vải thiều ñã ñem lại nguồn thu không nhỏ cho người dân Lục Ngạn nói riêng và người dân trồng vải thiều tỉnh Bắc Giang nói chung, là một trong những cây xoá ñói giảm nghèo cho người dân, góp phần phát triển kinh
tế làm ñổi mới diện mạo của một huyện vùng sâu, vùng xa còn nghèo khó
Vải có số lượng hoa lớn nhưng tỷ lệ ñậu quả thấp, tỷ lệ rụng quả cao nên năng suất thường không ổn ñịnh Quả vải chín tập trung, thu hoạch trong một thời gian ngắn nên rất dễ gây dư thừa cục bộ, trong lúc khâu bảo quản sau thu hoạch cho ñến hiện nay vẫn chưa có phương pháp thật hữu hiệu, phẩm chất quả sau khi thu hái một thời gian, do vậy, bị giảm sút ñáng kể ảnh hưởng ñáng kể ñến hiệu quả kinh tế
ðể góp phần làm tăng tỷ lệ ñậu quả, rải vụ thu hoạch, nâng cao năng suất và phẩm chất quả vải, việc tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của chất ñiều hoà sinh trưởng cùng với một số biện pháp cơ giới trong ñó có tỉa hoa và tỉa quả ñến năng suất, chất lượng vải sẽ góp phần khắc phục hiện tượng rụng quả, làm tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi
tiến hành thực hiện ñề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất ñiều hoà sinh
trưởng và biện pháp tỉa hoa, tỉa quả ñến năng suất, chất lượng vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn - Bắc Giang”
1.2 Mục ñích, yêu cầu của ñề tài
1.2.1 Mục ñích
- Xác ñịnh nồng ñộ và số lần phun của chất ñiều hoà sinh trưởng ñến thời ñiểm chín, khả năng ñậu quả, năng suất và chất lượng vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn
Trang 13- Xác ñịnh biện pháp kỹ thuật tỉa hoa, tỉa quả phù hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn
1.2.2 Yêu cầu
- Nghiên cứu ảnh hưởng số lần phun GA3 ở các thời kỳ khác nhau ñến năng suất và chất lượng vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tỉa hoa và tỉa quả ñến năng suất
và chất lượng vải Thanh Hà trồng tại Lục ngạn
1.2.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
1.2.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của ñề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về mối quan hệ của việc sử dụng GA3 và biện pháp tỉa hoa, tỉa quả ảnh hưởng ñến khả năng giữ quả, năng suất và chất lượng vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn - Bắc Giang
- Kết quả nghiên cứu ñề tài ñóng góp thêm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về kỹ thuật thâm canh cây vải thiều
- Kết quả nghiên cứu của ñề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện ñề án chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang
1.2.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của ñề tài sễ góp phần bổ sung các biện pháp kỹ thuật vào quy trình thâm canh vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn - Bắc Giang
Trang 142 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
CỦA ðỀ TÀI
2.1 Cơ sở khoa học của ñề tài
Sự ra hoa, ñậu quả không ổn ñịnh là hiện tượng xảy ra khá phổ biến trên tất cả những các loại cây ăn quả thân gỗ lâu năm và ở hầu khắp các nước trên thế giới Khác với cây lâm nghiệp và một số loại rau ăn lá, sản phẩm cần cho con người là các bộ phận sinh dưỡng, chỉ tiêu sinh khối ñược ñặt lên hàng ñầu, mục tiêu của việc trồng trọt cây ăn quả là tạo ñược cho cây có năng suất cao, chất lượng tốt nên việc duy trì sự cân ñối giữa hai quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực là ñiều hết sức quan trọng Trong ñời sống thực vật, hai quá trình này vừa có mối quan hệ thúc ñẩy, hỗ trợ cho nhau nhưng lại vừa có mối quan hệ kìm hãm, hạn chế lẫn nhau Một chế ñộ canh tác, chăm sóc không hợp lý, chỉ tập trung thúc ñẩy quá trình sinh trưởng sẽ rất
dễ ảnh hưởng xấu ñến quá trình phát triển, cây có thể xanh tốt, tán lá xum xuê nhưng lại không ra hoa, kết quả Ngược lại nếu chỉ tập trung vào việc làm cho cây ra hoa ñậu quả ñể thu ñược sản phẩm mà không chú trọng thúc ñẩy sinh trưởng, sức khoẻ cây trồng kém sẽ dẫn ñến sự ra quả không ổn ñịnh trong các năm tiếp theo, hạn chế rõ rệt ñến năng suất và chất lượng sản phẩm Vũ Mạnh Hải (2010) [8] Các chất ñiều hoà sinh trưởng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật góp phần làm cho cây trồng thích ứng với ñiều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống thông qua việc ñiều chỉnh các hoạt ñộng sinh lý cũng như sự hình thành các cơ quan sinh sản,
cơ quan dự trữ có tác dụng quyết ñịnh tới năng suất thu hoạch
Năng suất chất lượng sản phẩm thu hoạch của cây ăn quả phụ thuộc vào giống, khả năng sinh trưởng phát triển và sự tác ñộng của ñiều kiện tự nhiên cũng như các biện pháp kỹ thuật canh tác Biện pháp kỹ thuật hợp lý (trong ñó
có sử dụng chất ñiều hoà sinh trưởng, cắt tỉa) có tác ñộng rất lớn ñến cây trồng,
Trang 15góp phần làm tăng năng suất và cải thiện chất lượng sản phẩm thu hoạch Ngược lại, nếu tác ựộng không hợp lý sẽ gây thiệt hại không nhỏ trong sản xuất Vì lý do ựó, người làm vườn cần có biện pháp hợp lý, ựiều chỉnh quá trình sinh trưởng phát triển của cây, ựảm bảo ổn ựịnh năng suất và chất lượng sản phẩm thu hoạch, ựồng thời kéo dài chu kỳ kinh doanh của vườn quả
2.2 Giới thiệu chung về cây vải
2.2.1 Nguồn gốc, phân bố
Cây vải có nguồn gốc ở giữa miền Nam Trung Quốc, bắc Việt Nam và bán ựảo Malay và ựược trồng trọt cách ựây trên 3.000 năm Hiện tại, ở Trung Quốc vẫn còn những cây vải tổ ở huyện Bồ điền (Phúc Kiến), có tuổi cây trên 1.000 năm [14], [26] Thực tế, nhiều tài liệu Trung Quốc cho biết, nhiều nơi cây vải mọc dại như: núi Tạ Hoài Sơn, huyện Liên Giang, tỉnh Quảng đông; Thạch Phượng Sơn, huyện Bác Bạch, tỉnh Vân Nam; núi Lôi Hồ Lĩnh; Bá Vương Lĩnh Tại núi Kim Cổ Lĩnh (ựảo Hải Nam), vải dại mọc thành rừng Ngoài ra, ở Dương Xuân, Hoá Châu, Liêm Giang và trên sáu vạn núi ở vùng giáp gianh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây ựều có cây vải dại, ựiều ựó chứng tỏ cây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc [14]
Theo FAO (1989) [28], Tài liệu ựầu tiên viết về cây vải ựã ghi lại vào năm 100 trước công nguyên, Hoàng đế Hán Vũ ựã ựem vải vào miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Indonexia Cuối thế kỷ 17, cây vải từ Trung Quốc ựầu tiên ựược ựưa vào Mianma, cuối thế kỷ 18 ựưa sang Ấn độ (Singh, 1954), năm 1775 ựưa sang quần ựảo Tây Ấn, năm 1854 ựưa sang Ôxtralia (Queens và Anon, 1962) Năm 1870 vải ựược du nhập vào Nam Phi (Meulen, 1957), năm 1873 sang Hawai của Mỹ (Grove, 1952), ựến năm 1886 vào Florida của Mỹ (Barley, 1916) Vào những năm 30 của thế kỷ 20, công nhân Hoa Kiều gốc Quảng đông ựã ựưa vải vượt qua xắch ựạo vào Công Gô (Cao
Lệ Hoa, 1985) [14]
Ở Việt Nam, cây vải ựược trồng từ cách ựây khoảng 2000 năm và phân
Trang 16bố từ 18 - 190 vĩ ựộ Bắc trở ra Tuy nhiên, do yêu cầu chặt chẽ về ựiều kiện thời tiết, nên tập trung chủ yếu vẫn là vùng ựồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phắa Bắc và một phần khu Bốn cũ [19] Sử sách ựã chép lại rằng cách ựây 10 thế kỷ, dưới thời Bắc thuộc, vải (tiếng Hán là Lệ Chi) là một trong những cống vật hàng năm Việt Nam phải ựem nộp cho Trung Quốc [9], [22] Theo C Petelot (1952), (dẫn theo Vũ Công Hậu, 1999) [9], có nhiều cây vải dại mọc ở sườn núi Ba Vì Năm 1982, ựã phát hiện cây vải mọc ở chân núi Tam đảo (Vĩnh Phúc) [9], [22] Từ ựó miền Bắc Việt Nam cũng ựược coi
là nơi có nguồn gốc phát sinh của cây vải
Hiện nay, vải ựược trồng ở các nước nằm trong phạm vi 20 - 30 vĩ ựộ Bắc và Nam ựường xắch ựạo [10], [19] Ở Châu Á vải ựược trồng ở Trung Quốc, Ấn độ, Thái Lan, Việt Nam, Mianma, Lào, Campuchia, Malaixia, Philippin, Indonexia, Srilanca, Bănglades, Nhật Bản và Ixrael Ở Châu Phi vải
có ở Nam Phi, Morithiuyt, Madagasca, Ga Bông, Công Gô và Rêuyniông Châu Mỹ có Hoa Kỳ, Hundurat, Panama, Cu Ba, Tirinidat, Pooctoricô và Braxin Châu đại Dương có Australia và Newzeland
đến nay, ở Việt Nam ựã hình thành một số vùng trồng vải mang tắnh sản xuất hàng hoá như: Thanh Hà (Hải Dương); đông Triều (Quảng Ninh); Lục Ngạn (Bắc Giang); đồng Hỷ (Thái Nguyên) Một số vùng thuộc các tỉnh miền Trung như đăk Nông, đăk Mil, đăk R, Lâp (đăk Lak); đà Lạt (Lâm đồng) cũng trồng ựược vải [20]
2.2.2 Phân loại giống và giống vải
Theo Menzel (2002) [35]; Hoàng Thị Sản, 2003 [15], cây vải có tên
khoa học là Litchi chinensis Sonn thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae), bộ Bồ hòn (Sapindales) , phân lớp hoa hồng (Rosidae) Họ Bồ hòn có 150 chi với trên
2.000 loài ựược phân bố ở vùng nhiệt ựới và Á nhiệt ựới, tập trung chủ yếu ở Châu Á và Châu Mỹ [39], [40] Ở Việt Nam, họ Bồ hòn có 25 chi và trên 70 loài, phân bố trên khắp các miền của ựất nước
Trang 17Về ựặc ựiểm phân loại, cây vải là cây gỗ nhỡ, xanh tốt quanh năm, lá kép lông chim, hoa nhỏ không có cánh hoa, bầu có 2 ngăn Trên cùng chùm hoa có 4 loại hoa: Hoa ựực, hoa cái, hoa lưỡng tắnh, và một số ắt hoa dị hình
2.2.3 Các giống vải chủ yếu trên thế giới và trong nước
Hiện tại, Trung Quốc có số lượng giống vải nhiều nhất thế giới Tuy nhiên, chỉ có khoảng 15 giống trong số hơn 100 giống vải ở Trung Quốc có khả năng sản xuất thương mại như: Wai chee, Baila, Baitangying, Heiye, Feizixiao, Huaizhi , ựặc biệt hai giống Gwiwei và Nuomici ựược trồng ở tỉnh Quảng đông với diện tắch lớn (trên 60.000 ha mỗi giống) Tỉnh Phúc Kiến có
2 giống chủ lực là Soney Tung và Haak Yip Ở tỉnh Vân Nam, Lanzhu là giống trồng chắnh Các giống quan trọng khác là Taiso, Chen Zi, Sum Yee Hong, Kwai May và NoMai Chee (Menzel và Simpson, 1986) [27], [33] Một
số giống mới ựược chọn tạo có năng suất phẩm chất tốt như: giống hạt lép Hoong Hu, giống chắn sớm Dong guan Seedless [14], [30]
Ấn độ có khoảng 50 giống vải, ựược trồng ở các bang khác nhau Bihar là nơi trồng vải với diện tắch lớn nhất của Ấn độ (chiếm trên 74% diện tắch) Các giống quan trọng là: Shahi, Bombai, China, Deshi, Purbi, Cabcutta, Rose Scenetd và Mazaffarpur, trong ựó những giống cho năng suất và chất lượng tốt là West Bengal, Bom bai, China và Bedana Hai giống lai mới ựược chọn tạo là H - 105 và H - 73 có tiềm năng cho năng suất cao ựang ựược phát triển mạnh trong sản xuất [29]
Ở Australia, có trên 40 giống vải ựược trồng tập trung ở những vùng nằm theo dải bờ biển phắa đông Các giống chắnh hiện nay là: Taiso, Haak Ip, Kwai May Pink, Wai Chi, FayZee Siu, Salathiel [34]
Ở Việt Nam, sự phân chia các giống còn mang tắnh tương ựối, xét theo thời gian thu hoạch có: nhóm chắn sớm, chắn chắnh vụ và chắn muộn Xét theo phẩm chất có nhóm vải chua, nhóm vải nhỡ và nhóm vải thiều [22] Theo Vũ Mạnh Hải và cộng sự (2002) [9], Viện Nghiên cứu Rau quả ựã thu thập và mô
Trang 18tả 33 giống vải ựược trồng ở các vùng khác nhau Trong ựó 8 giống có triển vọng, ựã và ựang ựược phát triển ngoài sản xuất như giống vải thiều Thanh
Hà, Hùng Long, Yên Hưng, Bình Khê, Yên Phú
2.2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới và trong nước
2.2.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới
Thế giới hiện có trên 20 nước trồng vải, diện tắch trồng vải năm 2002 là 780.000 ha với tổng sản lượng ựạt 1,95 triệu tấn Trong ựó, các nước đông Nam Á chiếm khoảng 600.000 ha và sản lượng ựạt 1,75 triệu tấn (chiếm 77% diện tắch và 90% sản lượng vải của thế giới) [22]
Trung Quốc ựứng ựầu thế giới về diện tắch và sản lượng vải Năm
2001, diện tắch trồng vải của Trung Quốc ựã lên ựến 584.000 ha, sản lượng 958.700 tấn Quảng đông là tỉnh ựứng ựầu cả về diện tắch và sản lượng: 303.080 ha và 793.200 tấn [29]
đứng thứ hai trên thế giới về diện tắch và sản lượng vải là Ấn độ Theo Ghosh (2002) [29], Singh H.P, năm 2000 diện tắch vải của Ấn độ là 56.200
ha, sản lượng ựạt 428.900 tấn Vùng sản xuất vải chủ yếu của Ấn độ là Bihar với sản lượng là 310.000 tấn, Wesst Bengal (36.000 tấn), Tripura (27.000 tấn)
và Uttar Pradesh (14.000 tấn)
Theo Minas (2002) [36], năm 1999 diện tắch vải ở Thái Lan là 22.200
ha, sản lượng 85.083 tấn Vùng sản xuất vải chủ yếu của Thái Lan là Phayao, Nan, Chiang Mai, Lamphun, Phrae và Fang với các giống chắnh: Tai So (Hong Huay), Chacapat, Wai chi (Kim Cheng), Haak Yip (Ohia) và Kom Theo Mezel C.(2002), Australia có khoảng 350 người trồng vải với tổng sản lượng khoảng 3.000tấn đến năm 2002, Australia có khoảng 250 hộ trồng vải với sản lượng lên ựến 6.000 tấn Ở Australia, thời gian thu hoạch vải
từ tháng 10 năm trước ựến hết tháng 4 năm sau [33], [36]
Châu Phi có 4 nước trồng vải theo hướng hàng hóa là: Nam Phi,
Trang 19Madagasca, Renyniong, Moritiuyt Trong ñó Madagasca nằm ở phía Tây Ấn
ðộ Dương là nước có sản lượng vải lớn nhất Châu Phi, sản lượng hàng năm ñạt 3,5 vạn tấn [7] Theo số liệu của FAO (2002) [35], [33] và báo cáo của X Huang, L Zeng, H.B Huang [31], R.J Knight (2002) [32], diện tích và sản lượng vải của một số nước ñược thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Diện tích và sản lượng vải của một số nước chủ yếu trên thế giới
STT Tên nước Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
1990, một lượng nhỏ xuất sang Ấn ðộ Vải ñóng hộp chất lượng tốt xuất sang Malaixia, Singapore, Mỹ, Australia, Nhật Bản và Hồng Kông [29] Năm 2000 Thái Lan xuất khẩu 12.475 tấn vải tươi và sấy khô trị giá 15,4 triệu ñô la Mỹ sang Singapore, Hồng Kông, Malaisia, Mỹ [25] Australia sản xuất vải với số lượng ít, nhưng tập trung chủ yếu cho xuất khẩu, hàng năm Australia xuất khẩu 30% sản lượng vải cho Hồng Kông, Singapore, Châu Âu và các nước Ả Rập nhưng lại nhập khẩu vải của Trung Quốc vào những tháng trái vụ [35]
Thị trường nội ñịa là thị trường tiêu thụ mạnh vải tươi của hầu hết các
Trang 20quốc gia sản xuất vải trên thế giới, ñặc biệt Trung Quốc là nước ñứng ñầu thế giới về diện tích và sản lượng, nhưng hàng năm chỉ xuất khẩu khoảng 10.000
- 20.000 tấn (chiếm khoảng trên dưới 2% sản lượng vải) [31], [35]
2.2.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trong nước
Trong các cây ăn quả hiện nay, vải ñang là một trong những cây có quy
mô sản xuất lớn, tập trung, mang tính hàng hoá cao Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, ñến năm 2008, diện tích trồng vải cả nước ñạt 88.900 ha với sản lượng 428.900 tấn (chiếm 32,9% diện tích và 24,8% sản lượng cây ăn quả của miền Bắc) Vùng sản xuất vải tập trung ở một số tỉnh như Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Nguyên Trong ñó, Bắc Giang là tỉnh trồng vải lớn nhất với diện tích 39.835 ha, chiếm 44,8 % và sản lượng ñạt 228.558 tấn, chiếm 53,3 % so với cả nước, tiếp ñến là các tỉnh Hải Dương, Thái Nguyên, Quảng Ninh tính theo tỷ lệ về diện tích và sản lượng (bảng 2.2
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Tỷ lệ (%)
Trang 21Các vùng trồng vải truyền thống như Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh có tỷ lệ diện tích trồng và diện tích cho thu hoạch lớn hơn các vùng khác Tính riêng ở Bắc Giang, diện tích vải cho thu hoạch năm 2007 lớn gấp 7 lần Lạng Sơn nhưng sản lượng lại gấp trên 18 lần Nguyên nhân là do Bắc Giang là một trong những tỉnh có ñiều kiện tự nhiên thích hợp với cây vải, mức ñộ ñầu
tư và trình ñộ thâm canh của người dân cũng cao hơn ở các tỉnh khác
Bảng 2.3 Diện tích và sản lượng vải của một số tỉnh trồng vải
qua các năm
Năm Tỉnh/chỉ tiêu Quảng Ninh Giang Bắc Dương Hải Tổng cộng
3 tỉnh
Tổng cộng
Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh
Bảng 2.3 và Hình 2.2 là kết quả so sánh tốc ñộ phát triển cây vải ở 3 tỉnh trồng vải chủ lực trong cả nước là: Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Dương qua các năm Số liệu trong bảng 2.3 cho thấy: tốc ñộ phát triển vải của Bắc Giang nhanh hơn so với 2 tỉnh còn lại là Quảng Ninh và Hải Dương Năm
2004 diện tích và sản lượng vải của Bắc Giang mới ñạt 34.926 ha và 158.774
Trang 22tấn, chiếm 40,4% về diện tích và 51,35% về sản lượng vải cả nước ðến năm
2007, Bắc Giang ñã ñạt 39.835 ha và 228.558 tấn chiếm 44,8% về diện tích
và 53,3% sản lượng vải của cả nước Tốc ñộ tăng lên không ngừng này ñã chứng minh cây vải là một trong những cây ăn quả chủ lực, có tính thích nghi cao với ñiều kiện khí hậu thời tiết ở vùng và là cây mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng ñến thời ñiểm hiện tại Hình 2.3 và 2.4 cho thấy rõ hơn tốc ñộ tăng trưởng về diện tích và sản lượng vải của các tỉnh
Hình 2.1 Tỷ lệ về diện tích vải của các tỉnh
Hình 2.2 Tỷ lệ về sản lượng vải của các tỉnh
Trang 23
05,000
Hình 2.3 Diện tích vải qua các năm tại một số tỉnh chủ lực
050,000
Hình 2.4 Sản lượng vải qua các năm tại một số tỉnh chủ lực
2.3 Yêu cầu sinh thái của cây vải
2.3.1 Yêu cầu về nhiệt ñộ
Nhiệt ñộ là một trong những nhân tố chủ yếu tác ñộng ñến sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây vải Theo Groff (1921), vải ñược
Trang 24trồng ở các vùng lạnh thường cho năng suất cao, nhiệt ựộ thấp (từ -1,1 ựến 4,4oC) sẽ ức chế việc sinh ra hoocmon sinh trưởng, từ ựó làm giảm sự phát lộc và tăng sự ra hoa Theo Nguyễn Thiếu đường (1984), cây vải sinh trưởng
ở những vùng có nhiệt ựộ bình quân năm từ 21 - 25oC có phản ứng tốt Giống chắn muộn ở nhiệt ựộ 00C và giống chắn sớm ở 40C thì ngừng sinh trưởng sinh dưỡng Khi nhiệt ựộ từ 8 - 100C thì khôi phục sinh trưởng, 10 - 120C cây sinh trưởng chậm, nếu 210C trở lên thì sinh trưởng tốt Ở nhiệt ựộ 23 - 260C cây sinh trưởng mạnh nhất Tổng nhiệt ựộ thắch hợp cho sinh trưởng, phát triển cả năm của vải là 2.500 - 2.8000C [14]
Quá trình phân hóa mầm hoa vải ựược thuận lợi hay không có liên quan chặt chẽ tới nhiệt ựộ thấp của mùa ựông Theo thống kê của Cục Nông nghiệp Quảng đông, những năm ựược mùa vải ựều là những năm có nhiệt ựộ thấp nhất nằm trong phạm vi 1,5 - 140C Năm 1975 Bành Kắnh Ba theo dõi trên các giống vải Nếp, Hoài Chi cho thấy, thời gian nhiệt ựộ từ 0 - 100C thuận lợi cho chùm hoa phân nhánh và phân hóa mầm hoa Ở ựiều kiện nhiệt ựộ 11 -
140C cành hoa và lá ựều có thể phát triển sớm trở thành chùm hoa có giá trị kinh tế Nhiệt ựộ từ 18 - 190C trở xuống vẫn có thể hình thành chùm hoa nhưng nhỏ, không có giá trị kinh tế [14]
Nghê Diệu Nguyên (1985) [14], theo dõi trên giống vải Hắc Diệp cho rằng: Nhiệt ựộ thấp trong thời gian kéo dài có ảnh hưởng tốt ựến sự phân hóa mầm hoa Từ thượng tuần tháng 12 ựến trung tuần tháng 1 nhiệt ựộ không khắ bình quân khoảng ≥ 150C, nhiệt ựộ bình quân thấp nhất khoảng 120C thì thời gian phân hóa mầm hoa kéo dài, còn thời gian ra hoa tương ứng lại ngắn Ngược lại, nếu nhiệt ựộ không khắ ≤ 130C, nhiệt ựộ không khắ bình quân thấp nhất ≤ 100C thì thời gian phân hóa mầm hoa ngắn và thời gian ra hoa kéo dài Thời gian nhiệt ựộ thấp càng dài thì chùm hoa càng to, số lượng hoa càng nhiều Nhiệt ựộ còn liên quan ựến tỷ lệ hoa ựực và hoa cái của vải trong thời
Trang 25gian phân hoá mầm hoa từ tháng 1 ựến tháng 3, nhiệt ựộ bình quân trong ngày thấp thì tỷ lệ hoa cái cao, nhiệt ựộ tăng cao thì tỷ lệ hoa cái giảm
Thể nguyên thủy của hoa vải là mầm hỗn hợp, có hoa, có lá Nhiệt ựộ cao ức chế hình thành các cơ quan hoa, kắch thắch sinh trưởng sinh dưỡng, thúc ựẩy sự phát triển của lá Ngược lại, nhiệt ựộ thấp thúc ựẩy sự phân hóa mầm hoa và cơ quan hoa, ức chế sự phát dục thể nguyên thủy của lá, thiên hướng về sinh thực
Nhiệt ựộ còn ảnh hưởng tới tỷ lệ hoa ựực, cái của vải Ở Trung Quốc, Lâm Khả đào và cộng sự qua phân tắch 8 năm liên tục từ 1978 - 1985 về quan
hệ giữa nhiệt ựộ bình quân ngày của tháng 1 - 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm ựã phát hiện giữa chúng có mối tương quan nghịch, R = - 0,86 có nghĩa là nhiệt ựộ càng thấp thì tỷ lệ hoa cái càng cao Ngoài ra, nhiệt ựộ còn ảnh hưởng tới thời kỳ nở hoa và sự phát triển của quả, nhiệt ựộ bình quân hữu hiệu càng cao thì quả phát triển càng nhanh và ngược lại [14]
Theo Vũ Công Hậu (1999), Trần Thế Tục (1998), nhiệt ựộ có ảnh hưởng sâu sắc ựến sinh trưởng và phát triển của cây vải Những vùng trồng vải thường có nhiệt ựộ bình quân 10 - 170C, nhiệt ựộ tối thấp không quá -20C, nhiệt ựộ thắch hợp cho sinh trưởng phát triển là 24 - 290C [4], [22]
Theo Phạm Văn Côn (2004), nhiệt ựộ là một trong những nhân tố khắ hậu chắnh không thể ựiều khiển ựược, nó quyết ựịnh diện tắch trồng trọt và ảnh hưởng ựến năng suất cây vải Với cây vải khi ra hoa ựậu quả cần nhiệt ựộ lạnh và khô, tổng tắch ôn khoảng 2.500 - 2.600oC Thời kỳ hình thành chồi hoa tháng 11, 12 nếu trời lạnh và khô sẽ ra ựọt hoa, còn gặp trời nóng và ẩm thì ra ựọt lá Thời kỳ nở hoa (tháng 1, 2) và ựậu quả không gặp gió bắc, mưa phùn kéo dài thì thụ phấn thuận lợi, ựậu quả nhiều [3]
Như vậy, nhiệt ựộ là một trong các yếu tố quan trọng nhất ựối với cây vải để phân hoá mầm hoa ựược tốt thì cây vải cần phải có mùa ựông lạnh
Trang 262.3.2 Yêu cầu về lượng mưa và ñộ ẩm
Cây vải có khả năng chịu hạn tương ñối tốt Tuy nhiên, ñể cho cây vải sinh trưởng và ra hoa ñậu quả ñược tốt, có sản lượng cao và phẩm chất thơm ngon phải chú ý cung cấp ñầy ñủ nước trong các thời kỳ phát triển của cây, kịp thời chống úng cho vườn khi mưa lớn Lượng mưa thích hợp nhất cho vải khoảng 1.500mm phân bố ñều trong năm Cây vải sinh trưởng mạnh vào những tháng mùa hè và mùa thu nên yêu cầu lượng nước lớn Những tháng mùa ñông nếu mưa nhiều vải sẽ phát lộc ñông không thuận lợi cho phân hoá mầm hoa Theo Nghê Diệu Nguyên và cộng sự, lượng mưa ảnh hưởng tới hoa vải chủ yếu trong giai ñoạn phân hoá trục chùm hoa và thời kỳ phân hoá hoa Giai ñoạn này ñủ nước thì tổng số hoa/chùm và số hoa ñực/chùm giảm nhưng
số hoa cái không bị ảnh hưởng nhiều nên tỉ lệ hoa cái tăng [14]
Trong thời gian hoa nở, nếu mưa phùn kéo dài làm thối hoa tỷ lệ ñậu quả rất thấp, có thể dẫn ñến mất mùa Phấn hoa trong nước quá nửa giờ, màng ngoài của 70% số hạt phấn bắt ñầu trương lên Sau khoảng 1 giờ, ñầu trên ống phấn bị
vỡ ra, nguyên sinh chất chảy ra ngoài và ngừng sinh trưởng [14]
Cây vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm là 1.250 - 1.700 mm, ñộ ẩm không khí là 75 - 85% nên nó chịu ñược ñộ ẩm không khí cao ở thời kỳ sinh trưởng thân lá Các tỉnh miền Bắc nước ta có chế ñộ mưa ẩm tương ñối thích hợp trùng với thời gian cây vải sinh trưởng mạnh Thời kỳ cây vải cần ñiều kiện khô và lạnh ñể phân hoá mầm hoa cũng là thời ñiểm mùa khô bắt ñầu (tháng 11, 12) Mùa mưa bắt ñầu vào tháng 4, 5 là lúc cây vải cần nhiều nước ñể nuôi quả ñang lớn, nhưng thời kỳ nở hoa (tháng 2, 3) thường gặp mưa phùn kéo dài làm thối hoa, tỷ lệ ñậu quả rất thấp [3]
2.3.3 Yêu cầu về ánh sáng
Vải là cây ưa ánh sáng, người Trung Quốc có câu “ðương nhật lệ chi, bối nhật long nhãn” nghĩa là cây nhãn có thể sinh trưởng phát triển ở những chỗ ít ánh sáng hơn, còn vải phải trồng ở nơi ánh sáng chiếu trực xạ Cây vải
Trang 27cần ánh sáng chiếu quanh năm, ñặc biệt là thời kỳ hình thành, phân hoá mầm hoa Thời kỳ hoa nở (tháng 2, 3) nếu có nắng quá trình thụ phấn thụ tinh thuận lợi, ñậu quả nhiều là tiền ñề cho năng suất cao [14] Tổng số giờ chiếu sáng trong năm từ 1.800 giờ trở lên là khá thích hợp với cây vải Ánh sáng ñầy ñủ thì quá trình quang hợp ñược tốt ñồng thời làm tăng khả năng ñồng hoá của cây, tăng tích lũy chất khô giúp cây vải sinh trưởng, phân hoá mầm hoa, ñậu quả tốt hơn, giảm sâu bệnh hại Kết quả nghiên cứu của Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1991) trên giống vải Hắc Diệp, số giờ chiếu sáng nhiều thì lượng hoa cái trên chùm tăng lên tương ứng [14]
Vì vậy, khi trồng vải cần bố trí khoảng cách trồng hợp lý, hàng năm cần cắt tỉa tạo tán tránh sự che khuất lẫn nhau Tận dụng tối ña nguồn ánh sáng nhằm tăng khả năng quang hợp cho cây, giúp cây tích luỹ ñược nhiều chất dinh dưỡng, giảm sâu bệnh hại, phân hoá hoa và ñậu quả tốt hơn
2.3.4 Yêu cầu về ñất ñai
Cây vải có khả năng thích nghi trên nhiều loại ñất Các loại ñất ñỏ, ñất vàng, ñất cát pha, ñất thịt, ñất có tầng canh tác dày ñều thích hợp cho cây vải sinh trưởng và phát triển Kể cả trên ñất chua, ñộ phì nhiêu kém vải vẫn sinh trưởng và phát triển tốt, vì rễ vải có thể cộng sinh với một loại vi khuẩn
rễ (Mycorrhira) sống ở ñất chua, có thể phân giải các hợp chất khó tan trong ñất ñể rễ hút nuôi cây [4] ðộ pH tốt nhất cho vải là từ 5 - 6 Bộ rễ của vải to
có thể ăn sâu và rộng gấp 1 - 2 lần tán, có sức hút nước rất mạnh, nhưng phần lớn rễ tập trung ở tầng ñất từ 0 - 50cm [14]
Trang 28phân tưới nước ñầy ñủ thì cây vải có tuổi thọ cao hơn, mã quả tươi hơn, vị ngọt, chất lượng khá hơn so với vải trồng ở vùng ñồng bằng [14]
2.3.5 Yêu cầu về gió
Gió có lợi cho cây trao ñổi không khí, nâng cao năng lực và hiệu quả quang hợp, tích luỹ dinh dưỡng có lợi cho sinh trưởng và kết quả, giảm nhẹ một số sâu bệnh hại Tuy nhiên, cây vải có tán dầy và rộng, thường ñược trồng bằng cành chiết nên bộ rễ ăn nông và kém phát triển do ñó ít chịu ñược gió bão Gió mạnh trong thời kỳ nở hoa làm ảnh hưởng ñến thụ phấn thụ tinh, cản trở côn trùng chuyển phấn, tổn thương bộ rễ ảnh hưởng ñến sự hút nước
và dinh dưỡng khoáng Thời gian mang quả, nếu gặp giông bão sẽ gây rụng quả, vì vậy nơi nhiều gió bão cần phải trồng rừng chắn gió và phòng hộ [19]
2.4 ðặc tính sinh trưởng phát triển của cây vải
2.4.1 ðặc ñiểm sinh trưởng sinh dưỡng
2.4.1.1 ðặc ñiểm sinh trưởng của cây theo ñộ tuổi
Cây vải nhân giống bằng phương pháp chiết hay ghép từ khi trồng ñến
3 năm tuổi chủ yếu là sinh trưởng sinh dưỡng Thời kỳ này bộ khung tán phát triển mạnh, một năm có thể ra 4 - 5 ñợt lộc [22] Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1991) [14], cây vải từ 4 - 7 năm tuổi, sinh trưởng vẫn mang tính chủ ñạo, cành chính vẫn hình thành và phát triển mạnh dẫn ñến tiêu hao nhiều dinh dưỡng Nên chất dinh dưỡng dự trữ không nhiều, từ ñó rất khó hình thành mầm hoa, tỷ lệ hoa cái thấp, thường chỉ chiếm 20% trở xuống ðối với cây 7 - 20 năm tuổi, bộ khung tán ñã cơ bản ổn ñịnh, sinh trưởng vẫn khoẻ nhưng không quá mạnh Thời kỳ này, quá trình sinh thực chiếm ưu thế, lượng hoa quả nhiều
Những cây trên 20 năm tuổi, lượng quả và sinh trưởng bắt ñầu giảm, số cành phát sinh ít, yếu, rễ mới ít, bộ rễ suy yếu, cây già cỗi nhanh, vì vậy thời
kỳ này cần chú ý biện pháp chăm sóc và cải tạo hợp lý (bổ sung dinh dưỡng, ñốn phớt, ñốn trẻ lại , phòng trừ sâu bệnh kịp thời) [14]
Trang 292.4.1.2 ðặc ñiểm sinh trưởng thân cành vải
Số lần ra lộc của cây vải trong một năm phụ thuộc vào giống, tuổi cây, thế sinh trưởng của cây, ñiều kiện ngoại cảnh Thường một năm, cây vải to chưa ra quả, có thể ra lộc 5 - 6 ñợt Cây vải mới cho quả 1 - 2 năm ñầu một năm chỉ ra 2 - 3 ñợt lộc sau khi thu hoạch Những cây ñã trưởng thành sinh trưởng khoẻ mạnh cho 2 ñợt lộc, ít khi 3 ñợt Trên cùng một giống, cùng thế sinh trưởng như nhau, cây ñược chăm sóc tưới nước, bón phân ñầy ñủ hơn có thể ra lộc sớm hơn, cho nhiều ñợt lộc hơn [14]
- Lộc xuân: Thường xuất hiện từ tháng 1 ñến tháng 3 Trong thời ñiểm này, nếu lộc xuân ra nhiều sẽ ảnh hưởng tới quá trình ra hoa, số lượng cành hoa sẽ ít ñi và chất lượng hoa kém, thậm chí còn làm cho quả rụng nhiều do
có sự cạnh tranh về dinh dưỡng giữa lộc và hoa [14]
- Lộc hè: Thường xuất hiện từ tháng 5 ñến cuối tháng 7 Cây non hoặc cây vải tơ có thể ra từ 1 - 2 ñợt lộc Những cây vải trưởng thành nếu không ra hoa thì sau khi ra lộc xuân rất ít khi ra lộc hè Những cây ñang mang quả, lộc
hè ñược xuất hiện sau khi ñã thu hoạch
- Lộc thu: Thông thường ñợt lộc thu ra từ tháng 8 ñến tháng 10, cũng
có khi ra sớm hơn từ cuối tháng 7 ðợt lộc này rất quan trọng ñối với năng suất của vải vụ tới Nếu ñợt lộc thu ra sớm vào tháng 7 ñược chăm sóc tốt, có thể ra tiếp thêm một ñợt lộc nữa trong tháng 9 ðối với cây vải kinh doanh, thời ñiểm phát sinh lộc thu ñúng lúc sẽ hình thành cành mẹ chất lượng tốt, thuận lợi cho việc ra hoa và ñậu quả ở thời kỳ sau
- Lộc ñông: Là ñợt lộc ra vào các tháng 10, 11 và 12, lộc ñông vừa tiêu hao nhiều dinh dưỡng, lại vừa ảnh hưởng ñến phân hoá mầm hoa ðối với cây vải chín chính vụ và muộn, lộc ñông ra sớm vào ñầu tháng 10 nếu ñược chăm sóc tốt gặp ñiều kiện thời tiết ấm vẫn có thể ra hoa kết quả tốt
Trang 302.4.2 ðặc ñiểm ra hoa, ñậu quả của cây vải
2.4.2.1 Sự phân hoá mầm hoa
Phân hoá mầm hoa là quá trình chuyển hoá từ trạng thái sinh lý và tổ chức của mầm lá sang trạng thái sinh lý và tổ chức của mầm hoa Cành mẹ của cây vải thành thục về sinh trưởng sớm hay muộn ảnh hưởng trực tiếp ñến thời gian phân hoá mầm hoa Trên cùng một cây, thông thường cành thành thục sớm sẽ phân hoá mầm hoa sớm hơn cành thành thục muộn [14], [19] Theo Vũ Công Hậu (1982, 1999) [9], Phạm Văn Côn (1992) [2], Trần Thế Tục (1994, 1997) [19], ñiều kiện cho vải phân hoá mầm hoa ñược thuận lợi là cần có nhiệt ñộ thấp trong một khoảng thời gian nhất ñịnh, song phản ứng với nhiệt ñộ thấp ở các giống có khác nhau, các giống vải chín sớm có thể hình thành mầm hoa ở nhiệt ñộ cao hơn so với các giống vải chính vụ và chín muộn
Theo Lương Vũ Nguyên (1986) hàm lượng IAA trên ñỉnh cành non rất cao, khi lá chuyển màu xanh, mầm ngừng sinh trưởng tương ñối thì hàm lượng IAA giảm thấp, về sau mới bắt ñầu phân hoá mầm hoa Trong quá trình phân hoá mầm hoa, ñối với cây năm sai quả (hình thành hoa nhiều), hàm lượng IAA và gibberellin ở ñầu ngọn cành hơi thấp ðiều này chứng tỏ hàm lượng các chất này thấp có lợi cho sự phân hoá mầm hoa [14]
2.4.2.2 Sự phát triển của chùm hoa và nở hoa của vải
Tốc ñộ phát triển của chùm hoa phụ thuộc vào giống và vùng trồng Các giống chín sớm thường xuất hiện hoa vào tháng 12, ra hoa tháng 1 và nở hoa tháng 2 Các giống chín chính vụ và chín muộn ra hoa cuối tháng 1 ñầu tháng 2, nở hoa tháng 3 [14] Cây vải nở hoa theo thứ tự từ dưới lên trên, những hoa ở các nhánh giữa nở trước, sau ñến các nhánh ở trên ñỉnh và ở gốc Trên một chùm hoa thì thời gian hoa ñực và hoa cái nở rộ cũng không trùng nhau, thường thì hoa ñực nở trước, rồi mới ñến hoa cái, rồi lại hoa ñực
Trang 312.4.2.3 Quá trình ñậu quả
Tỷ lệ ñậu quả của vải phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: ðặc tính
ra hoa, môi giới truyền phấn, nhiệt ñộ, ẩm ñộ, lượng mưa hay hàm lượng các chất dinh dưỡng, các loại phytohoocmon trong cây Trong quá trình nở hoa nếu gặp mưa phùn kéo dài sẽ làm hạn chế sự tung phấn, hạt phấn bị trương lên, ống phấn có thể vỡ khi ñang kéo dài, do ñó rất khó khăn cho việc thụ phấn, thụ tinh Trái lại, nếu nhiệt ñộ cao quá sẽ làm cho hạt phấn mất sức nảy mầm, thậm chí còn làm hạt phấn khô và chết khi chưa kịp nảy mầm Nhiệt ñộ thích hợp cho thụ phấn, thụ tinh là 22 - 27oC, mặt khác, ở khoảng nhiệt ñộ này mật hoa vải tiết nhiều hấp dẫn sự hoạt ñộng của ong (môi giới truyền phấn) làm tăng tỷ lệ ñậu quả Thời gian nở hoa nếu tạnh nắng, ấm áp thì tỷ lệ ñậu quả của chùm ngắn cao, ngược lại thời tiết mưa râm thì chùm dài mọc ngoài tán thoáng gió nhanh khô nước nên tỷ lệ ñậu quả cao Ngoài ra, môi giới truyền phấn (côn trùng, gió ) cũng ñóng vai trò tích cực trong việc làm tăng
tỷ lệ ñậu quả [19], [22]
2.4.2.4 Các giai ñoạn phát triển của quả
Nghê Diệu Nguyên (1991) [14], quan sát trên giống vải Tam Nguyệt Hồng, Hắc Diệp và vải Nếp cho thấy: Sau khi thụ tinh xong, bầu nhuỵ bắt ñầu phát triển, tiến trình phát triển của quả vải ñược chia làm 3 giai ñoạn:
+ Giai ñoạn phát triển của phôi và vỏ quả: Là giai ñoạn từ khi hoa cái thụ tinh xong cho ñến trước khi cùi xuất hiện rõ (khoảng 34 ngày) Giai ñoạn này một ngăn bầu nhụy phát triển, còn ngăn kia không phát triển bị rụng ñi, ít khi cả hai ngăn bầu nhụy ñều phát triển thành quả Phôi hạt phình to hoặc ngừng phát triển Sau 30 ngày cuống hạt nổi rõ, cùi quả bắt ñầu xuất hiện + Giai ñoạn tử diệp tăng trưởng nhanh: ðược tính từ khi cùi xuất hiện ñến khi hạt ñầy ñặn (khoảng 14 ngày) Cùi xuất hiện và phát triển từ gốc hạt lên phía trên bao bọc lấy hạt, trong khoang hạt dần dần ñầy tử diệp Hạt lớn nhanh và tăng khối lượng, vỏ hạt từ mềm dần chuyển sang cứng và rắn chắc
Trang 32+ Giai ñoạn cùi tăng trưởng nhanh và quả chín: (Khoảng 20 ngày) Sau khi bao kín hạt, cùi dày lên nhanh chóng và tăng khối lượng Do cùi bị ép chặt trong lớp vỏ nên cùi bị gấp nếp Tiếp theo là sự chuyển hoá chất hữu cơ, chất ñặc dễ hoà tan ngày càng tăng nhanh, hàm lượng nước tăng lên, vỏ quả quanh cuống bắt ñầu chuyển sang màu hồng, vỏ phẳng hơn, cùi ñầy ñặn và chín Trong thực tế sản xuất thường gặp những giống kết quả ñơn tính (quả không hạt) như giống Giả Quái Lục, Hoà Hà Xuyên, Giả Hương Lệ; những giống có quá trình phát triển của phôi thuộc loại không hoàn thiện như giống Lam Trúc (Trung Quốc) Khi hoa nở 30 - 35 ngày, phôi phát triển bình thường, nhưng sau ñó một bộ phận phôi tiếp tục phát triển hình thành hạt to,
bộ phận còn lại phôi ngừng phát triển, nếu ngừng sớm thì hạt lép, ngừng muộn hơn thì tạo hạt to nhỏ khác nhau Thực chất sự phát triển của hạt bao gồm quá trình sinh trưởng của phôi và quá trình sinh trưởng của nội nhũ Hiện tượng hạt lép xảy ra là do: phôi chết làm nội nhũ ngừng phát triển hoặc phôi sống nhưng nội nhũ bị ức chế không hình thành Kích thước hạt là một trong những tiêu chuẩn ñánh giá tốt xấu của quả vải, vì vậy nếu ñảm bảo năng suất
và chất lượng thì việc ứng dụng các chất ức chế sự phát triển của phôi hạt là ñiều hoàn toàn có ý nghĩa [14]
Hiện tượng rụng quả vải diễn ra liên tục từ khi ñậu quả non ñến trước thu hoạch và ñược chia làm 3 thời kỳ:
Thời kỳ rụng quả non: Khi quả bằng hạt ñậu xanh, quả non rụng hàng loạt (rụng quả sinh lý ñợt 1) Nguyên nhân chủ yếu của ñợt rụng quả này là do thụ phấn, thụ tinh không hoàn toàn hoặc do thiếu dinh dưỡng hay nhiệt ñộ không thích hợp làm phôi teo quắt hoặc ngừng phát triển ðợt rụng quả này thường chiếm 30 - 35% tổng lượng quả rụng cả năm
Thời kỳ rụng quả khi quả ñang phát triển: Khi cùi quả ñã bao bọc ñược một nửa hạt, những hạt ñược phát triển ñầy ñủ thì to lên rất nhanh, những hạt không có khả năng phát triển thì phôi chết ñi, nội nhũ ngừng sinh trưởng,
Trang 33thiếu dinh dưỡng và các chất ñiều hoà sinh trưởng gây rụng quả ðây là thời
kỳ rụng quả sinh lý ñợt 2, tỷ lệ rụng chiếm 5 - 6% tổng lượng rụng quả non Thời kỳ rụng quả trước thu hoạch: Thời kỳ này quả ñã tích luỹ ñược phần lớn các chất dinh dưỡng, sự chuyển hoá các chất trong quả diễn ra nhanh, hàm lượng ñường tăng lên Nguyên nhân rụng quả thời kỳ này chủ yếu
là do thời tiết và sâu bệnh hại Nếu gặp mưa lâu ngày hay ñang nắng hạn gặp mưa ñột ngột sẽ làm nứt và rụng quả Rụng quả thời kỳ này tập trung vào 10 -
15 ngày trước thu hoạch
2.5 Những nghiên cứu về các chất ñiều hoà sinh trưởng trên cây vải
2 5.1 Các chất ñiều hoà sinh trưởng
Các chất ñiều hoà sinh trưởng có vai trò rất quan trọng trong quá trình ñiều khiển sinh trưởng, phát triển của cây, gồm có: các chất kích thích sinh trưởng và các chất ức chế sinh trưởng Tuy nhiên, tuỳ từng loại chất mà chúng
có thể tham gia vào các quá trình cơ bản như: ðiều khiển các quá trình sinh trưởng (ra lá, phát chồi, tăng trưởng chiều cao cây, ñường kính thân); ñiều khiển quá trình phát triển (ra hoa, ñậu quả chính vụ và trái vụ); ñiều khiển quá trình ra rễ cho cành giâm, cành chiết; ñiều khiển quá trình bảo quản hoa, quả trên cây và trong kho; ñiều chỉnh quá trình hoá già của các bộ phận trên cây [12], [17]
Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học ñã nghiên cứu các quá trình biến ñộng, tích luỹ các chất ñiều hoà sinh trưởng trong từng giai ñoạn phát triển của cây, biết ñược những phát triển bất thường của cây do chất nào gây nên ñể từ ñó có những quyết ñịnh ñúng ñắn trong việc bổ sung các chất ñiều hoà sinh trưởng tương ứng cho cây, nhằm làm cho cây phát triển bình thường hoặc ñiều khiển phát triển theo hướng mong muốn của con người
Theo Lê Văn Tri (2001), ñể nghiên cứu ảnh hưởng của từng chất, người
ta có thể phun trực tiếp lên từng bộ phận của cây trồng các chất riêng biệt ở
Trang 34các nồng ñộ khác nhau Những nghiên cứu về tác dụng của các chất ñiều hoà sinh trưởng trên cây vải ñến nay còn rất hạn chế, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu ñều cho kết quả khá rõ về tác ñộng của chúng [18]
2.5.1.1 Các chất kích thích sinh trưởng
Các chất kích thích sinh trưởng bao gồm các nhóm chất auxin,
gibberellin và xytokinin ñược sản xuất từ các cơ quan non như: lá non, chồi non, quả non chúng kích thích quá trình sinh trưởng của cây ở nồng ñộ thấp
và chi phối sự sinh trưởng hình thành các cơ quan dinh dưỡng
Nhiều nước trồng cây ăn quả, ngoài công tác chọn tạo giống ñã sử dụng một số chất ñiều hòa sinh trưởng tác ñộng tới quá trình sinh trưởng, ra hoa, ñậu quả của cây nhằm tăng năng suất, phẩm chất quả, góp phần vào rải vụ thu hoạch Auxin tổng hợp ñã ñược sử dụng ñể ñiều khiển sinh trưởng và ra hoa vải ở Florida và Hawai vào những năm 1950 - 1960 [10] Ở Hawai phun NAA trên cây vải vào mùa thu thúc ñẩy quá trình ra hoa [26], [27]
Theo Singh (1969), phun GA3 nồng ñộ 25 và 50 mg/l vào tuần thứ 4 sau khi quả ñậu ñã làm tăng kích thước quả, ở nồng ñộ 75 mg/l ñã làm tăng kích thước quả ñồng thời pH và axit ascobic tăng [38]
R.C.Das (1971), những cụm hoa riêng biệt trên cây trưởng thành ñược phun chất ñiều hoà sinh trưởng GA3 ở nồng ñộ 10 - 40 mg/l vào 4 giai ñoạn sinh trưởng khác nhau ñã cho quả to và thịt quả nhiều hơn ñối chứng, riêng
GA3 ở nồng ñộ 40 mg/l có hiệu quả tốt nhất [42]
V.Surnarayana và R.C.Das (1971) [42], S.Vecra và R.C.Das (1972) [79], (1973) [43], khẳng ñịnh: Sử dụng các chất ñể phun cho vải như: 2,4D; NAA; GA3 và 2,4,5 - T làm tăng tỷ lệ ñậu quả, tăng khối lượng và chống nứt quả vải
Năm 1976, Khan và cộng sự ñã dùng GA3 nồng ñộ 100 ppm, α-NAA 20ppm, 2,4,5 - TP 10 ppm phun trên giống vải Rose Scented vào giai ñoạn quả bằng hạt ñậu ñã làm giảm tỉ lệ rụng quả [26] Trên giống Early Seedless và
Trang 35calcuttia, phun IAA 20 ppm làm giảm rụng quả, GA3 50 ppm có tác dụng giữ quả tốt, GA3 100 ppm làm tăng kích thước quả (Singh và Lal, 1980) [38]
Giberelin có tác dụng thúc cây con phát triển, cây lớn mọc nhiều mầm mới, nâng cao tỷ lệ ñậu quả, kích thích quả lớn nhanh, phòng vỏ quả suy thoái làm cho quả chín chậm lại Khi phun GA3 cho vải ở thời kỳ hoa nở và thời kỳ quả non nồng ñộ 50 ppm có tác dụng tăng tỷ lệ ñậu quả và thúc quả lớn, phun
GA3 nồng ñộ 50 - 100 ppm khi hoa nở sẽ nâng cao tỷ lệ ñậu quả, tăng khối lượng quả Phun GA3 nồng ñộ 250 - 300 ppm vào lúc nở hoa và quả non cũng
có tác dụng bảo vệ quả và thúc quả lớn [14]
ðể giảm kích thước hạt hay sản xuất quả không hạt, Kadman và Gzit (1970) ñã sử dụng 2,4,5-Trechlorophenoxypropionic acid (2,4,5 - TP) ñể ngăn ngừa rụng quả ở mức ñộ cao, ngoài ra còn làm cho trên 75% số quả có hạt nhỏ Tuy nhiên, nếu lần ñầu cho xử lý 2,4,5-TP khi hoa nở và 10 ngày sau cho phun phối hợp 2,4,5 - TP và GA3 thì sẽ ñạt 50 - 100% số quả có kích thước lớn hơn so với xử lý một lần trước ñó và 90 - 100% quả không có hạt [38] R.A Stern, D Stern, H Miller, Xu Huafu và S Grazit (1999) xử lý 67 ppm 2,4,5 -TP; 50 ppm 3,5,6 - TPA trên hai giống vải Feizixiao và Heiye khi quả ñược khoảng 2 gam hoặc có thể phối hợp phun 2,4,5 - TP lần thứ nhất, 4 ngày sau phun tiếp 3,5,6 - TPA ñã làm năng suất trên cây của cả hai giống tăng ñáng kể Giống Feizixiao từ 1,3 kg/cây tăng lên xấp xỉ 3,6 kg/cây, giống Heiye từ 1,0 kg/cây tăng lên 3,1 kg/cây và không có sự khác nhau giữa các công thức xử lý Tất cả 3 công thức trên ñều làm khối lượng quả của giống Feizixiao (từ 21,5g lên 28g) tăng xấp xỉ 30% Khối lượng quả của giống Heiye cũng tăng 20% với công thức xử lý là 3,5,6 - TPA [41]
Những năm gần ñây, các nhà nghiên cứu trong nước cũng ñang tập trung tìm hiểu kỹ tính năng của các chất ñiều hoà sinh trưởng ñối với từng loại cây ăn quả nhằm xây dựng những quy trình thâm canh thích hợp, nâng cao năng suất phẩm chất của vải Theo Trần Thế Tục (1998), dùng 4 - CPA ñể
Trang 36chống rụng quả vải, dùng GA3, NAA, H3BO3, sunphát ñồng có thể dùng riêng
rẽ hay dùng hỗn hợp các nguyên tố vi lượng với các chất kích thích sinh trưởng phun cho nhãn, vải khi hoa bắt ñầu nở và nở rộ có tác dụng làm tăng tỷ
lệ ñậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả non và làm quả vải lớn nhanh [22]
Theo Phạm Minh Cương (1998), phun α - NAA 20 ppm + 2,4D 10 ppm làm giảm rụng quả, tăng tỷ lệ ñậu quả, tăng năng suất và chất lượng của hai giống vải thiều Thanh Hà (số quả ñậu tăng 112,9%) và thiều Phú Hộ (số quả ñậu tăng 68,6%) Trong khi ñó, GA3 50 ppm chỉ có tác dụng làm tăng tỷ lệ ñậu quả của giống vải thiều Thanh Hà, còn ñối với giống vải thiều Phú Hộ thì
số quả tăng so với ñối chứng là không có ý nghĩa Phun IAA 20 ppm làm số quả của giống vải thiều Phú Hộ tăng 40% so với ñối chứng [7]
Theo Nguyễn Văn Dũng và cộng sự (2005), phun B 0,1% + urê (46%) 10g/l và SF - 900 0,3% làm rút ngắn thời gian từ ra lộc ñến thành thục của lộc thu, tăng tỷ lệ hoa cái ñồng thời tăng tỷ lệ ñậu quả và khả năng giữ quả của giống vải chín sớm Yên Hưng, phun GA3 tăng số lượng lộc/cành và kích thước lộc của giống vải chín sớm Yên Hưng [6]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Khắc Thái Sơn (2004), phun 4 lần
GA3 cho vải thiều Thanh Hà 8 năm tuổi với các nồng ñộ 15, 30, 75, 75 ppm hoặc 20, 40, 100, 100 ppm (vào các thời ñiểm: hoa nở rộ, hình thành quả, hình thành cùi, quả chắc xanh) ñã làm tỷ lệ ñậu quả tăng lên từ 2,78% lên 4,92 - 5,05%; quả to hơn; mã ñẹp hơn; tỷ lệ nứt vỏ giảm; tỷ lệ phần ăn ñược tăng từ 70,5% lên 75 - 75,85%; thời gian từ khi hoa nở rộ ñến khi quả chín từ
75 lên 78 ngày; năng suất tăng từ 51% ñến 59% [16]
ðối với việc sử dụng chất kích thích sinh trưởng trong công tác bảo quản vải tươi, Nguyễn Mạnh Khải và Nguyễn Quang Thạch (1999), bước ñầu cho thấy hỗn hợp chất kích thích sinh trưởng và vi lượng có tên là KIVIVA làm tăng tỷ lệ ñậu quả (tăng 10% so với ñối chứng), chống rụng quả (phun hai lần vào lúc hoa nở rộ và sau ñó 10 ngày), làm tăng kích thước quả và cải thiện
Trang 37tình trạng vỏ quả (phun sau khi hoa nở rộ 45 ngày), làm chậm chín 10 ngày so với ñối chứng và tăng khả năng bảo quản (phun vào lúc kích thước quả ñạt tối
ña và ñang bước vào giai ñoạn chín) [10]
Theo Nguyễn Văn Dũng (2009) Nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 ñến khả năng ra hoa, ñậu quả, năng suất và phẩm chất vải Yên Phú, phun GA3
nồng ñộ 50 ppm làm tăng tỷ lệ ñậu quả, tăng số lượng quả ñậu/chùm lên 31,8% và tăng năng suất 45,4% so với ñối chứng và không làm thay ñổi chất
lượng quả [5]
2.5.1.2 Các chất ức chế sinh trưởng
Trong các chất ức chế sinh trưởng, ethrel có tác dụng diệt lộc ñông, khống chế việc ra lộc ñông của cây vải, kìm hãm sinh trưởng, xúc tiến phân hoá mầm hoa giúp cây vải ra hoa ñậu quả tốt hơn
Năm 1984, Khâu Tự ðức dùng malein hydrazit (MH) 1.000 - 1.500 ppm phun lên quả sau khi hoa nở 7 - 13 ngày ñã làm cho hạt quả vải Hoài Chi nhỏ ñi rất nhiều, hiệu quả ñạt 73 - 100% và nâng cao phẩm chất quả [14]
Ghosh và cộng sự (1986), xử lý ethrel nồng ñộ 1,25 ñến 2,5 mg/l làm cho ra hoa sớm 7 - 13 ngày và làm tăng số lượng hoa cái [17] Sanyal và cộng
sự (1996), cũng cho biết, khi xử lý ethrel (1ml/l), KNO3104mg/l trên giống vải Bombai ñã làm 70% số cành ra hoa Những tác ñộng ñó không hứa hẹn một
vụ quả bội thu nhưng những năm mất mùa thì sự ra hoa ñó sẽ làm tăng năng suất ñáng kể [27]
Theo Trang Vương Bích và cộng sự (1988), ở Phúc Kiến căn cứ vào dự báo thời tiết sẽ thuận lợi cho việc ra hoa muộn của vải ñã dùng ethrel 800ppm + MH 750 - 1000 ppm khống chế chùm hoa, làm giảm lượng hoa trên chùm, tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ ñậu quả [14]
Nguyễn Khắc Thái Sơn, khi tiến hành thí nghiệm vào năm (2004) ñã rút ra kết luận: phun 4 lần GA3 cho vải thiều Thanh Hà 8 năm tuổi với các nồng ñộ 15, 30, 75, 75 ppm hoặc 20, 40, 100, 100 ppm (vào các thời ñiểm: hoa nở rộ, hình thành quả, hình thành cùi, quả chắc xanh) ñã làm tăng thời
Trang 38gian từ khi hoa nở rộ ựến khi quả chắn từ 75 lên 78 ngày [20]
S.K Mitra và Sanyal (2000) cũng cho thấy việc xử lý TIBA làm tăng
số lượng hoa lưỡng tắnh và tăng tỷ lệ nảy mầm của hạt phấn [37]
Theo Nguyễn Thị Ngà (1999), xử lý ethrel cho vải sau khi ựậu quả 50 -
60 ngày ựã làm cho vải chắn sớm hơn từ 5 - 7 ngày tùy thuộc vào nồng ựộ sử dụng [12] Theo nghiên cứu của Lê đình Danh và Nguyễn Thị Thanh (2000) [23], Phạm Minh Cương, Lê thị Thanh (2002) [24], xử lý ethrel ở nồng ựộ
500 - 1.500 ppm làm tăng tỷ lệ cành ra hoa và tăng tỷ lệ ựậu quả, tỷ lệ này ựạt giá trị cao nhất ở nồng ựộ 1.000 ppm; phun ethrel phối hợp với GA3 làm giảm lượng hoa tổng số, tăng tỷ lệ hoa cái và ựặc biệt làm tăng tỷ lệ ựậu quả
Theo đào Quang Nghị (2005), với việc xử lý thiourea cho cây vải Bình Khê (4 tuổi) ở nồng ựộ từ 300 - 900 ppm, tỷ lệ ựậu quả cao hơn so với ựối chứng Trong ựó, công thức phun thiourea ở nồng ựộ 500 ppm làm tăng năng suất 52,4% Xử lý paclobutrazol trên cây vải Bình Khê (5 tuổi) bằng phun ở nồng ựộ 900 ppm làm tăng năng suất 43,1%; xử lý paclobutrazol trong tháng
9 bằng phương pháp tưới gốc (5gam - 20 gam ai/cây) có khả năng hạn chế sinh trưởng của cây, giảm kắch thước chùm hoa, giảm tỷ lệ hoa ựực, tăng tỷ lệ hoa cái, từ ựó làm tăng tỷ lệ ựậu quả và tăng năng suất ựáng kể so với ựối chứng không xử lý trong năm ựầu tiên Công thức tưới 15gam ai/cây cho năng suất cao nhất và tăng 85,2% so với ựối chứng [13]
Những nghiên cứu trên cũng cho thấy: vải tuy là cây dễ thắch nghi về mặt sinh trưởng nhưng sự ra hoa ựậu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố Hiện tượng ra hoa không tập trung và rụng quả non thực sự là nguy cơ làm giảm năng suất vải Nguyên nhân gây ra rụng quả có nhiều nhưng một trong những nguyên nhân ựó là do dinh dưỡng và thiếu những chất ựiều hoà sinh trưởng nội sinh, ựặc biệt là trong ựiều kiện bất thuận của thời tiết Việc nghiên cứu sử dụng các chất ựiều hoà sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá nhằm có ựược ựợt lộc cành mẹ tập trung và ựúng thời ựiểm cũng như tăng khả năng ra hoa, ựậu
và giữ quả là yếu tố quyết ựịnh năng suất, chất lượng của vải
Trang 392.6 Những nghiên cứu về cắt tỉa hoa, quả trên cây vải
Theo Vũ Mạnh Hải (2010) [1], ñối với nhiều chủng loại cây ăn quả, ñặc biệt là với các ñối tượng có nguồn gốc từ vùng á nhiệt ñới hoặc ôn ñới, bẻ chùm hoa là một giải pháp kỹ thuật rất quan trọng và thường tiến hành cùng với biện pháp tỉa thưa quả Cây ăn quả có nguồn gốc từ vùng lạnh thường có thời kỳ ngủ ñông, cây tích luỹ dinh dưỡng mạnh nên số lượng hoa quả vào thời ñiểm phát sinh là khá lớn, việc tỉa bỏ bớt hoa quả trong năm ñược mùa không chỉ có ý nghĩa làm ổn ñịnh năng suất và chất lượng quả năm hiện hành
mà còn tạo tiền ñề cho việc ra hoa ñậu quả ở năm tiếp theo, hạn chế hiện tượng mang quả không ổn ñịnh
Khi một tỷ lệ nhất ñịnh số chùm hoa trên cây bị bỏ ñi, chất hữu cơ và một số chất ñiều hoà sinh trưởng ñược dự trữ lại trong lá và ñược sử dụng cho quá trình hình thành chồi mới Những chồi này sẽ có một khoảng thời gian ñủ dài ñể sinh trưởng và ñạt ñến ñộ thuần thục nhất ñịnh, ñủ ñiều kiện ñể làm cành mẹ mang quả cho năm sau
Nơi có mùa ñông lạnh, kỹ thuật bẻ chùm hoa còn có ý nghĩa thiết thực khác là hạn chế sự tiêu hao dinh dưỡng của các chùm hoa nở ra trong ñiều kiện không thuận lợi (chủ yếu là do nhiệt ñộ thấp), quá trình thụ phấn, thụ tinh gặp trở ngại, quả sẽ không ñược hình thành hoặc bị rụng ñi sau một thời gian ngắn Trong trường hợp ñó, toàn bộ các chùm hoa ñợt ñầu cần ñược vặt
bỏ, kích thích các những mầm ngủ xung quanh bật ra Hiệu quả của biện pháp
bẻ chùm hoa sẽ ñược nâng cao nếu cùng vào thời ñiểm ấy tiến hành phun một
số chất ñiều tiết sinh trưởng như ethephon, cycloheximide Các hợp chất này khi phun lên tán lá sẽ thúc ñẩy quá trình hình thành tầng rời trên ñỉnh ngọn làm cho các mầm bên thoát khỏi tình trạng ngủ nghỉ Các mầm này sẽ ñược phát triển theo 2 hướng: hoặc hình thành chùm hoa ngay sau ñó nếu ñiều kiện cảm ứng ra hoa vẫn còn tồn tại (chẳng hạn thời tiết vẫn còn ñủ lạnh và ẩm ñộ thấp) hoặc sẽ hình thành chồi lá nếu không còn yếu tố cảm ứng
Trang 403 VẬT LIỆU, ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu và ñối tượng nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Chất ñiều hoà sinh trưởng: GA3 (gibberellic acid) thương phẩm dạng bột, gói 1g (sản xuất tại Trung Quốc) với hàm lượng hoạt chất 75%
- Dụng cụ: Kéo cắt, thước kẹp panme
3.1.2 ðối tượng nghiên cứu
Giống vải thiều Thanh Hà, cây 12 năm tuổi, trồng bằng cành chiết, là giống vải ñược trồng phổ biến và chiếm diện tích lớn ở Lục Ngạn - Bắc Giang
3.2 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 ðịa ñiển nghiên cứu
Thí nghiệm ñược thực hiện tại vườn vải thiều hộ gia ñình Ông Lâm Minh Sặp thôn Cống, xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm ñược tiến hành từ tháng 10/2009 ñến tháng 7/2010
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng số lần phun GA3 50 ppm ở các thời ñiểm khác nhau ñến năng suất, chất lượng vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn - Bắc Giang
3.3.3 Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt chùm hoa ñến
năng suất, chất lượng vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn - Bắc Giang
3.3.2 Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tỉa quả ñến năng
suất, chất lượng vải thiều Thanh Hà trồng tại Lục Ngạn - Bắc Giang