Với xu hướng toàn cầu hóa, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn quốc gia vài hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu, trong đó đóng góp một phần không nhỏ là thị trường vốn quốc tế “Thị trường vốn quốc tế là nơi thực hiện chuyển giao hay mua bán vốn thời hạn trên một năm giữa những người cư trú và không cư trú, hay nói cách khác thị trường vốn quốc tế là thị trường có kì hạn từ một năm trở lên, tại đó những người đi vay và những người cho vay từ nhiều nước gặp nhau để trao đổi vốn cho nhau”.
Trang 1TRƯỜNG ĐH KINH TẾ LUẬT
“Thị trường vốn quốc tế là nơi thực hiện chuyển giao haymua bán vốn thời hạn trên một năm giữa những người cư trú vàkhông cư trú, hay nói cách khác thị trường vốn quốc tế là thị
Trang 2trường có kì hạn từ một năm trở lên, tại đó những người đi vay và những người cho vay
từ nhiều nước gặp nhau để trao đổi vốn cho nhau”
2 Thành phần:
Tham gia vào thị trường vốn gồm nhiều thành phần, chủ thể trong nền kinh tế-xãhội như là chính phù của các nước, các công ty đa quốc gia, các ngân hàng thương mạilớn và các tổ chức quốc tế… với mục đích đầu tư và phát triển dài hạn
Thị trường vốn quốc tế bao gồm thị trường trái phiếu quốc tế và thị trường cổphiếu quốc tế Các hoạt động của thị trường vốn quốc tế diễn ra tại các trung tâm tàichính quốc tế lớn trên thế giới được hình thành từ việc quốc tế hoá thị trường vốn củamột số nước có nền tài chính mạnh hoặc một số nước có vị thế kinh tế chính trị đặc biệtnhư thị trường ở Luân Đôn, New York, Singapo… Thị trường vốn quốc tế được biểuhiện bằng sự phát triển của thị trường chứng khoán, dòng vốn đầu tư qua thị trườngchứng khoán của các nước đang phát triền ngày càng mạnh mẽ Chính phủ các nước huyđộng nguồn vốn, tập trung cho phát triển kinh tế, thông qua thị trường vốn quốc tế bằngviệc phát hành các loại trái phiếu như trái phiếu nội địa, trái phiếu nước ngoài hay tráiphiếu châu Âu
- Trái phiếu nội địa là trái phiếu được phát hành bằng đồng nội tệ, trong phạm vilãnh thổ quốc gia do ngưởi cư trú phát hành Những nhà đầu tư trái phiếu nội địabao gồm người cư trú và người không cư trú Ví dụ như trái phiếu kho bạc Việtnam có mệnh giá bằng đồng nội tệ (VND), phát hành tại Việt Nam do kho bạc nhànước Việt Nam phát hành, được bán cho ngưởi Việt Nam và người nước ngoài…
- Trái phiếu nước ngoải là trái phiếu do người không cư trú phát hành, ghi bằngđồng nội tệ và được phát hành tại nước có đồng tiền ghi trên trái phiếu Ví dụ nhưmột công ty Anh phát hành trái phiếu ghi bằng USD tại Mỹ…
- Trái phiếu châu Âu là trái phiếu được phát hành bởi các chính phủ, các tổ chức tàichính, các công ty bằng đồng tiền khác với đồng tiền tại nước phát hành Ví dụnhư trái phiếu USD do Vietcombank phát hành tại Việt Nam, trái phiếu DEM pháthành tại Nhật…
3 Vai trò:
Kể từ những năm 1960, thị trường vốn quốc tế đã phát triển nhanh chóng cả về doanh
số và số lượng thành viên thị trường Thông qua thị trường vốn quốc tế các chủ thể kinh
tế có thể tiếp cận với các nguồn vốn có chi phí thấp nhất Vai trò của thị trường vốn quốc
tế ngày càng trở nên quan trọng, đê thấy được điều đó trước hết ta cần thấy được vai tròcủa thị trường vốn như thế nào
Trang 3Thị trường vốn có một ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗinước, đây là một kênh bổ sung vốn rất hiệu quả và nhanh chóng cho các nhà đầu tư vàcác doanh nghiệp thông qua việc phát hành và mua bán các loại chứng khoán, các khoảnvốn nhỏ lẻ tồn tại trong dân cư được các tổ chức kinh tế huy động nhằm đáp ứng nhu cầu
về vốn cho công cuộc đầu tư xây dựng của chủ đầu tư Các doanh nghiệp phát hành tráiphiếu , cổ phiếu để huy động vốn còn chính phủ và các địa phương phát hành trái phiếu
để bù đắp thiếu hụt ngân sách hoặc đầu tư xây dựng các dự án lớn, đảm bảo được tínhhiệu quả và thời gian cho người cần vốn Thông qua thị trường vốn thì đây là một hìnhthức có thể kiềm chế được lạm phát do không phải in thêm tiền vào lưu thông phục vụchi tiêu của chính phủ Thị trường vốn đặc biệt là thị trường vốn quốc tế thì đây là kênhhuy đông theo tín hiệu cơ chế thị trường, là van điều tiết hữu hiệu các khoản vốn từ nớithừa sang nơi thiếu vốn, từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi sử dụng vốn hiệu quả hơn, thông qua thị trường vốn chính phủ, địa phương hay công ty có thể huy động vốn bằngviệc phát hành công cụ nợ như trái phiếu, công trái Thi trường vốn là công cụ đánh giá,
dự báo chu kì kinh doanh của các doanh nghiệp , của nền kinh tế Thị trường vốn tácđộng đến sự tăng trưởng kinh tế khi nguồn vốn tăng thì sản lượng tăng từ đó làm tăngtổng thu nhập quốc dân, làm cho GDP tăng làm cho nền kinh tế tăng trưởng tuy nhiênkhi nguồn vốn đầu tư tăng đến một mức nào đó thì nền kinh tế không thể tăng thêm được
do nền kinh tế còn phụ thuộc vào các yếu tố khác Thị trường vốn làm đa dang hóa các cơhội đầu tư thông qua thị trường cổ phiếu hay trái phiếu Thị trường vốn tạo điều kiện đểthực hiện các chính sách kinh tế vi mô Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứngkhoán như là một trung tâm thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức tài chính,doanh nghiệp, của chính phủ và địa phương tạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nềnkinh tế thị trường vốn hoạt động theo những tín hiệu của thị trường như lãi suất hệ số tínnhiệm, độ rủi ro
Thị trường vốn quốc tế cũng có những vai trò của một thị trường vốn, tuy nhiên nócòn có những đặc điểm riêng nổi bật cho vai trò của thị trường vốn quốc tế thông qua thịtrường vốn quốc tế chúng ta khai thac các nguốn lực ngoài nước phục vụ sự phát triểnkinh tế xã hội trong nước trong điều kiện kinh tế mang tính toàn cầu hóa cao độ tính liênphụ thuộc nền kinh tế các nước ngày càng tăng lên, không một quốc gia nào tự mình giảiquyết được mọi vấn đề nếu không mở rộng giao lưu với các nước khác Đặc biệt là đốivới các nước nghèo và chậm phát triển việc tiến hành hoạt động để huy động vốn quốc tế
sẽ dẫn đến sự di chuyển các nguổn tài chính từ quốc gia này sang quốc gia khác Hay nóicác khác thông qua hoạt động này các nguồn tài chính được phân phối lại trên phạm vithế giới sự phân phối này tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển kinh tế xã hộicủa mỗi quốc gia, do vậy đòi hỏi mỗi quốc gia nên cân nhắc trên cả khía cạnh sử dụngcác nguồn lực trong nước tham gia vào hoạt động hợp tác quốc tế, trên cả khía cạnh khai
Trang 4thác và sử dụng các nguổn lực ngoài nước phục vụ cho sự phát triển của quốc gia mình.Các nguồn lực có thể di chuyển thông qua các hình thức sau: vay nợ quốc tế, đầu tư trựctiếp quốc tế, tham gia vào thị trường vốn quốc tế… không chỉ có sự vận động của cácnguồn vốn mà các quốc gia có thể tranh thủ thêm được công nghệ, kĩ thuật cải tiến, giảiquyết được vấn để thị trường, lao động…
Thúc đẩy các nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hỏa nhập vào nển kinh tế thế giớiNgày nay khu vực hóa và quốc tế hóa đời sống kinh tế đã trở thành xu thế mang tính thờiđại mở rộng đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế Việc mở rộng hợp tác quốc tế nhằm mục đích kết hợp các yếu tố trongnươc và ngoài nước và khai thác một cách có hiệu quả các nguồn lực ngoài nước phục vụ
sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước việc mở rộng tham gia vào thị trường vốn quốc
tế góp phần thúc đẩy mở rộng và phát triển các hoạt động kinh tế quốc tế, từ đó góp phầnthúc đẩy các nền kinh tế quốc gia nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế thế giới
Tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguổn lực tài chính Việc mở rộng và pháttriển các hoạt động tài chính quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển cácnguồn tài chính ra khỏi phạm vi của một quốc gia, với một phạm vi rộng hơn và môitrường khác hơn đó là trên bình diện quốc tế Trong môi trường đó các nhà đầu tư có thểlựa chọn môi trường và lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài có lợi nhuận cao hơn so với đầu tưtrong nước bên cạnh đó các chủ thể kinh tế xã hội của mỗi quốc gia có thể vay vốn củacác chủ thễ thuộc quốc tế để trang trải các nhu cầu chi tiêu của mình thông qua các hìnhthức tham gia thị trường vốn quốc tế
4 Vai trò của thị trường vốn quốc tế đối với Việt nam:
Việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế ngoài mục đích huy động vốn cònnhằm tạo một hình ảnh việt nam trên thị trường quốc tế trong bối cảnh chúng ta đangngày càng hội nhập về hoạt động thương mại, đầu tư thì hội nhập tài chính không thểđứng ngoài cuộc Trái phiếu chính phủ do Việt nam phát hành trên thị trường quốc tế sẽ
là thước đo cho các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào Việt nam
Thứ trường tài chính Lê Thị Băng Tâm cho biết “ Việc phát hành trái phiếu có một ýnghĩa rất quan trọng vì đây là một trong những mục tiêu của Việt nam là hội nhập vào thịtrường tài chính quốc tế, đồng thời việc phát hành trái phiếu quốc tế còn là phương thứcvay thương mại trong chiến lược huy động vốn của Việt nam, đảm bảo quyền tự chủtrong việc sử dụng nguồn vốn huy động được không bị lệ thuộc vào điều kiện của cácnhà thầu như vay tín dụng xuất khẩu Đồng thời việc phát hành trái phiếu lần này đã mởđường cho các doanh nghiệp lớn của Việt Nam trực tiếp huy đống nguổn vốn trung dài
Trang 5hạn bằng ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế Theo đánh gia của cácchuyên gia kinh tê trên thế giới thì số lượng các nhà đầu tư quốc tế tham gia mua tráiphiếu đạt mức kỉ lục trên thị trường vốn trong những năm lại đây Các nhà đầu tư thamgia mua trái phiếu của chính phủ Việt nam đều là những nhà đầu tư lớn, có uy tín trên thịtrường tài chính quốc tế
II THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ
1 Tổng quan về thị trường trái phiếu quốc tế:
1.1 Khái niệm:
Thị trường trái phiếu quốc tế là thị trường có kì hạn từ một năm trở lên, tại đó nhữngngười đi vay và cho vay từ nhiều nước gặp nhau để trao đổi vốn cho nhau Thị trường tráiphiếu quốc tế bao gồm:
Thị trường trái phiếu nội địa: trái phiếu nội địa là trái phiếu được phát hành
bằngđồng nội tệ, trong phạm vi lãnh thổ quốc gia do người cư trú phát hành.Những nhà đầu tư trái phiếu nội địa bao gồm người cư trú và người không cư trú
Ví dụ: trái phiếu Kho bạc Việt Nam có mệnh giá bằng đồng nội tệ (VND), phát
hành tại Việt Nam, do Kho bạc Nhà nước phát hành được bán cho người Việt Nam
và người nước ngoài
Thị trường trái phiếu nước ngoài: trái phiếu nước ngoài là trái phiếu do người
không cư trú phát hành, ghi bằng đồng nội tệ, và được phát hành tại nước có đồngtiền ghi trên trái phiếu
Ví dụ: chính phủ Việt Nam phát hành trái phiếu được định danh bằng đồng USD
và bán trên thị trường Mỹ
Thị trường trái phiếu châu Âu – Eurobond market: trái phiếu châu Âu là trái
phiếu được phát hành bởi các chính phủ, các tổ chức tài chính, các công ty bằngđồng tiền khác với đồng tiền tại nước phát hành
Ví dụ: một trái phiếu được định danh là đồng USD và được bán trên thị trường
châu Âu thì trái phiếu đó là trái phiếu Euro bởi chính phủ Việt Nam
1.2 Vai trò của thị trường trái phiếu quốc tế:
- Góp phần bổ sung nguồn lực tài chính trung và dài hạn, góp phần thúc đẩy sự tăngtrưởng và ổn định kinh tế của các nước
- Đáp ứng khả năng thanh toán của các chủ thể khác nhau khi tham gia vào các hoạtđộng tài chính quốc tế
- Góp phần hình thành và phát triển hệ thống thị trường tài chính quốc tế
1.3 Các chủ thể trong thị trường trái phiếu quốc tế:
Các chủ thể phát hành trái phiếu quốc tế:
- Chính phủ các nước: Chính phủ và các cơ quan chức năng được uỷ quyền, Chínhquyền các địa phương hay tiểu bang
- Các tổ chức quốc tế : Ngân hàng thế giới (WB),Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngânhàng châu Âu (EIB)
- Các doanh nghiệp lớn :IBM, Deutsche bank, v.v…
Trang 6Các chủ thể đầu tư:
- Đầu tư trái phiếu quốc tế chủ yếu là khu vực tư nhân : Các cá nhân , Các doanhnghiệp , Các định chế tài chính, Ngân hàng trung ương hay chính phủ các nướccũng tham gia đầu tư vào trái phiếu chính phủ của các nước khác
1.4 Tình hình thị trường trái phiếu quốc tế
Trong những năm gần đây, thị trường trái phiếu quốc tế đã đạt được những thành quảđáng kể, cụ thể như sau:
- Tổng giá trị thị trường của thị trường trái phiếu thế giới lớn hơn 50% so với các thịtrường nợ khác
- Hầu hết được định danh bởi USD, EUR, và JPY
Giá trị của các trái phiếu nội địa và trái phiếu quốc tế
( As of Year-End 2004 in U.S $ Billions)
Nguồn:EUN/RESNICK, the International Financial Management Mc Graw Hill Co.,2007
Trang 7Loại ngoại tệ dùng phát hành trái phiếu quốc tế
( As of Year-End 2003 in U.S $ Billions)
Nguồn:EUN/RESNICK, the International Financial Management Mc Graw Hill Co.,2007
Trang 8(As of Year-End 2003 in U.S $ Billions)
2 Trái phiếu quốc tế:
2.1 Đặc điểm của trái phiếu quốc tế:
Nguồn:EUN/RESNICK, the International Financial Management Mc Graw Hill Co.,2007.
Trang 9Nội địa(Domestic) Nước ngoài(Foreign) EuroNgười phát
hành (Issuer)
Khu vực tư nhân haynhà nước của đấtnước nơi thị trườngđược đặt
Chính phủ hay nhữngcông ty nước ngoài haynhững định chế quốctế.US: SEC-registered
Bất cứ một tổ chức nàovới hệ số tín nhiệmcao.Hiếm có sự xếphạng rõ ràng
Tiền tệ
(Currency)
Tiền nội địa Tiền nội địa Bất cứ loại tiền tệ quốc
tế nào được sử dụngrộng rãi
Lượng tiền thu
được sau mỗi
lần phát hành
Chính phủ Nhật vàMỹ: 5000-25000 triệuUSD Các chính phủkhác: tiêu biểu 500-
5000 USD Nhữngthành phần khác
Trái phiếu vô danhngoại trừ trên thị trườngBulldogs và Yankee
Trái phiếu vô danh
Thuế Thuế thu nhập lãi suất
đối với người nướcngoài mua trái phiếunội địa được áp dụng
ở một vài nước (Nhật,Anh, Ý,Thụy Sỹ)
Không có thuế (ngoạitrừ thị trường trái phiếunước ngoài bằng đồngsterling)
Không thuế
Trang 10Việc trả lãi Hằng năm ở một vài
thị trường ở Châu Âu;
bán niên ở những nơikhác
Như trong thị trườngnội địa tương ứng
Hằng năm cho nhữngtrái phiếu có lãi suất cốđịnh Bán niên hay theoquý đối với FRNs
Niêm yết
(Listing)
Thị trường chứngkhoán nội địa
Thị trường chứng khoánnội địa
Thường ở London hayLuxembourg Đối vớiDeutsche Mark, thịtrường chứng khoán nộiđịa
Security/coven
ants
Những trái phiếu củakhu vực tư nhânthường được bảo đảm
Không đảm bảo Không đảm bảo, thường
được đi kèm với cáccông cụ phái sinh
Nhà phát hành
(Issuing
houses)
Những ngân hàng nộiđịa lớn và những nhàmôi giới chứng khoán
Những ngân hàng nộiđịa lớn và những nhàmôi giới chứng khoán
International syndicate
Những nhà
đầu tư
Chủ yếu là nhữngngân hang nội địa vànhững định chế tàichính khác
Nội địa và ngoài nước Đa dạng Cá nhân đóng
Trái phiếu công ty:
thường hoán đổi thành
cổ phiếu
Thường là bullets Phổ biến là trái phiếu
bullets, nhưng vẫn có đadạng các loại cấu trúckhác Ví dụ: FRNschiếm 13% của thịtrường
Khu vực tư nhân:
Placed by a domesticsyndicate
international syndicateover a period
Trang 11được phát hành thôngqua một syndicate haytrực tiếp bởi người đivay.
Chủ yếu giao dịch trênOTC Stamp duty đượctính phí trên những giaodịch trong thị trườngbằng đồng yen Nhật vàđồng franc Thụy Sỹ
Giao dịch trên OTC,được tổ chức bởi nhữngngân hàng phát hành với
sự thanh toán bằngnhững công cụ của hệthống chuyển đổi book-entry đang được sửdụng như một trongnhững tiêu chuẩn của hệthống thanh toán quốc
tế trên thị trường market
Euro-2.2 Phân loại trái phiếu quốc tế:
Straight fixed rate bonds (trái phiếu có lãi suất cố định thông thường): là loại trái
phiếu có xác định thời gian đáo hạn và lãi suất được hưởng qua từng thời kì nhấtđịnh Khi mua loại trái phiếu này, nhà đầu tư được hưởng lãi định kỳ, thường làhàng năm, theo lãi suất công bố trên mệnh giá trái phiếu và được thu hồi lại vốngốc bằng mệnh giá trái phiếu khi đáo hạn
Partly – paid bonds: loại trái phiếu này giống với straight bonds về mọi phương
diện, ngoại trừ số tiền mà nhà đầu tư trả vào ngày closing date (ngày đóng cửa)
Trái phiếu chiết khấu (zero – coupon bonds): là loại trái phiếu không trả lãi định
kì mà được bán với giá thấp hơn nhiều so với mệnh giá Thực tế lợi tức nhà đầu tưnhận được là phần chênh lệch giữa giá mua của trái phiếu với mệnh giá của nó
Floating rate notes (FRNs): kì phiếu có lãi suất thả nổi là loại kì phiếu trung hạn,
khác với straight bonds về cơ sở lãi suất và sự tính toán lãi suất Mức lãi suất đượcđiều chỉnh định kì 3 hay 6 tháng một lần trên cơ sở thay đổi mức lãi suất cơ bản, ví
dụ như lãi suất LIBOR Các ngân hàng thường ưu tiên đầu tư phần vốn nhàn rỗivào FRN, do tài sản nợ của ngân hàng có đặc trưng kì hạn ngắn, cho nên đầu tưvào FRNs có thể tránh được hầu hết rủi ro từ sự biến động lãi suất Những ngườiphát hành thích FRNS vì chúng kết hợp giữa chi phí thấp hơn so với việc đi vayngân hàng và kỳ hạn thanh toán dài hơn so với trái phiếu có lãi suất cố định
Trang 12(straight bond) Những nhà đầu tư ưa thích FRNs hơn bởi vì việc thiết lập lại lãisuất theo định kỳ mang đến sự bảo vệ cao hơn cho vốn gốc.
Convertible bonds (trái phiếu chuyển đổi): loại trái phiếu này cho phép người nắm
giữ trái phiếu quyền chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty pháthành hoặc tài sản khác (other assets), theo mức lãi suất hoán đổi cố định được xácđịnh vào thời điểm phát hành
Bonds with warrants (trái phiếu với quyền mua cổ phiếu): loại trái phiếu này còn
được gọi là trái phiếu kèm chứng quyền, đối với loại trái phiếu này, nhà phát hànhchỉ trả lãi thấp hơn mức bình thường
Dual – currency bonds (trái phiếu lưỡng tệ): là trái phiếu trả lãi cố định, với tiền
lãi hoặc vốn gốc đươc thanh toán bằng hai đồng tiền khác nhau
Trái phiếu toàn cầu (global bonds): là trái phiếu được phát hành và giao dịch bên
ngoài đất nước của đồng tiền mà trái phiếu được định danh, được phát hành ởnhiều nước cùng một lúc, thường được trả lãi bán niên
Ecu-bonds: là trái phiếu được định danh bằng một đơn vị không phải là đơn vị tiền
tệ thật sự Ví dụ như trái phiếu được định danh bằng đồng SDRs
2.3 Xếp hạng tín dụng của trái phiếu quốc tế:
Những dịch vụ đánh giá có thể thực hiện việc thực hiện các nghiên cứu cần thiết
về thị trường và trái phiếu, các công ty dịch vụ nổi tiếng nhất là Standard and Poor's vàMoody's Investor Service, Inc Những công ty này điều tra về tình hình tài chính củacông ty phát hành trái phiếu hơn là điều tra về tính hấp dẫn trên thị trường của trái phiếuđó
Xếp hạng về độ tin cậy ảnh hưởng đến lãi trái phiếu mà công ty phát hành phảinêu ra để thu hút các nhà đầu tư Khi so sánh các trái phiếu có cùng ngày đáo hạn, rõ ràng
là trái phiếu được xếp hạng càng cao, lãi trái phiếu đó càng thấp và lợi suất của nó cũngthấp
Tương tự, những trái phiếu bị đánh giá thấp hơn rõ ràng là sẽ phải đưa ra một mức
lãi suất coupon cao hơn, để có thể lôi kéo sự chú ý của các nhà đầu tư quan tâm đến việc
lợi tức và khoản đầu tư gốc của họ có được hoàn lại đúng thời hạn không
Một mối nguy hiểm mà những người sở hữu trái phiếu thường phải đối mặt là khimột công ty cung cấp dịch vụ đánh giá có thể đánh giá thấp xếp hạng của một công tyhay chính quyền trong suốt thời hạn của một trái phiếu Điều này sẽ xảy ra nếu tình hìnhtài chính của công ty phát hành trái phiếu bị xấu đi, hoặc nếu công ty đánh giá nhận thấymột quyết định kinh doanh nào đó có thể tạo ra một hậu quả xấu Nếu xuất hiện nhữngđánh giá thấp như vậy, các nhà đầu tư lập tức sẽ đòi hỏi phải có một lợi suất cao hơn chocác trái phiếu hiện đang có trên thị trường Có nghĩa là trái phiếu đó sẽ bị rớt giá trên thịtrường thứ cấp Cũng có nghĩa là nếu công ty phát hành muốn lưu hành một trái phiếu
mới, trái phiếu đó phải được chào bán với lãi suất coupon cao hơn thị trường để thu hút
người mua
Hệ thống đánh giá của hai công ty cung cấp dịch vụ đánh giá lớn là khá tương tựnhau, nhưng không hoàn toàn giống nhau về cách họ gán mã cho chất lượng trái phiếu
Trang 13Cả hai công ty đều phân biệt thành cấp Aa/AA và cấp thấp hơn Hệ thống của Moody's
sử dụng hệ thống chữ số (1,2,3, ) còn công ty Standard & Poor's sử dụng kí hiệu + hoặc–
ĐÁNH GIÁ MỘT TRÁI PHIẾU:
Moody's Standard & Poor's Ý nghĩa
Aaa AAA Khả năng trả lãi trái phiếu cao nhất với ít rủi ro nhất
Công ty phát hành hoạt động rất ổn định và độc lập
Aa AA Khả năng trả lãi trái phiếu cao với mức độ rủi ro dài
hạn hơi cao
khá nguy hiểm, có thể làm thay đổi các điều kiệnkinh tế
Baa BBB Chất lượng trung bình, hoạt động hiện này vừa phải
nhưng có lẽ không đáng tin cậy trong dài hạn
không hoàn toàn được đảm bảo
rủi ro không trả được trong tương laiCaa CCC Chất lượng tồi, có nguy cơ rõ ràng không trả được
lãi trái phiếu
thanh toán lãi trái phiếu được
hạn hữu mặc dù vẫn có thể trả được lãi
3 Thị trường Eurobonds:
3.1 Sự hình thành và phát triển của thị trường Eurbonds:
Trái phiếu châu Âu đầu tiên được phát hành vào tháng 6 năm 1963, trong năm nàyviệc phát hành trái phiếu Eurobonds mới đã thu về tổng cộng là 145 triệu USD Sau đó thịtrường này phát triển một cách nhanh chóng, đặc biệt trong những năm 1980s và 1990s
Nó có một thị trường (marketplace) ở London
Những nhà chức trách Anh cho phép thị trường phát triển mà không có những quyđịnh hay hạn chế nào London đã trở thành, và vẫn tồn tại đến ngày nay, là trung tâm
Trang 14chính cho việc phát hành trái phiếu mới và giao dịch của những trái phiếu dollarEurobonds.
Tốc độ và sự giản đơn đã làm cho việc phát hành trên thị trường Eurobond trở nênthuận lợi hơn so với việc phát hành trên thị trường trái phiếus nước ngoài, chủ yếu làthị trường Yankee của Mỹ
Việc thành lập Hiệp hội của những người mua bán trái phiếu quốc tế (Association ofInternational Bond Dealers) ( AIBD) vào năm 1969 đã cung cấp một diễn đàn nhằmhoàn thiện thị trường
Việc thành lập clearing system, EuroClear và Cedel vào năm 1969 và 1970, đã giảiquyết vấn đề phân phối và tạm giữ
3.2 Đặc điểm của Eurobonds:
Trái phiếu châu Âu ghi bằng USD là hình thức phát hành phổ biến Trong năm 1996 tráiphiếu châu Âu ghi bằng USD chiếm 43,78% trên tổng số phát hành, tuy nhiên tỉ lệ này làthấp hơn nhiều so với thị trường Eurocurrency
Hầu hết các Eurobond phát hành bởi các tổ chức có hệ số tín nhiệm cao, ví dụ, hệ sốAAA và AA chiếm tới gần 80% tổng số các đợt phát hành Những nhà phát hànhEurobond tích cực nhất là các chính phủ, các tổ chức quốc tế như World Bank, EuropeanInvestment Bank và các công ty đa quốc gia Một số nhà phát hành Eurobonds ghi bằngđồng tiền không được sử dụng vào mục đích cuối cùng, mà họ chuyển đổi sang đồng tiềncần thiết khác thông qua nghiệp vụ Swap Mức lãi suất của Eurobond phụ thuộc và điềukiện thị trường và hệ số tín nhiệm của nhà phát hành Tuy nhiên, nếu cùng hệ số tínnhiệm, thì các chính phủ phát hành Eurobonds có lãi suất thấp hơn so với các công ty
Eurobonds được phát hành dưới nhiều dạng khác nhau, bao gồm:
Dạng phổ thông nhất là trái phiếu có lãi suất cố định (gọi là trái phiếu straights) Dạng thứ hai là trái phiếu có lãi suất thả nổi (floating rate notes)
Dạng trái phiếu chuyển đổi (convertible bond) Thông thường những trái phiếu
loại này có mức lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường , bù vào đó những người đầu
tư kì vọng rằng giá của trái phiếu này sẽ tăng khi chuyển đổi sang cổ phiếu Một
số trái phiếu có đính kèm giấy bảo lãnh quyền mua cổ phiếu của công ty phát hànhtại một mức giá đã định trước; và giấy bảo lãnh có thể được cắt rời khỏi trái phiếu
để chuyển nhượng mua bán một cách độc lập với trái phiếu
Thị trường trái phiếu châu Âu chủ yếu là thị trường cho vay và đi vay vốn trung hạn;hầu hết đợt phát hành chính (chiếm đến 80%) có kì hạn dưới 10 năm, mà chủ yếu là từ 5– 7 năm; điều này ngược với thị trường trái phiếu nội địa, bởi vì đặc trưng của thị trườngnội địa là thị trường vốn dài hạn, mà hầu hết các trái phiếu có kì hạn tư 10 – 30 năm.Nhiều trái phiếu châu Âu được phát hành với lãi suất cố định, số khác với lãi suất thả nổi,hay có liên quan đến việc chuyển đổi thành cổ phiếu Nhiều đợt phát hành được thôngbáo với thời gian rất ngắn nhằm tận dụng những điều kiện thuận lợi đang có sẵn trên thịtrường
Trang 15Trái phiếu vô danh là loại phổ biến nhất, nó đặc biệt hấp dẫn những nhà đầu tưquốc tế, bởi vì họ thường không muốn bộc lộ bản thân mình Một đặc điểm nữa màEurobonds hấp dẫn người đầu tư là họ không phải trả thuế thu nhập từ lãi suất Nhữngnhà đầu tư tiêu biểu trên thị trường Eurobonds có đặc trưng là họ không thật mạo hiểmtrong đầu tư, nghĩa là họ chỉ đầu tư vào những trái phiếu thật an toàn, có hệ số tín nhiệmcao, miễn sao kết quả đầu tư thu được cao hơn một chút so với trái phiếu kho bạc.
Người phát hànhs Các chính phủ; các tổ chức quốc tế, ví dụ: Ngân hàng Thế
giới, ngân hàng đầu tư châu Âu; các ngân hàng, các tổ chức tài chính có hệ số tín nhiệm AAA và AA
Kỳ hạn 10 năm hay thấp hơn; hầu hết là từ 4 – 7 năm
Vốn gốc Thông thường được hoàn trả một lần khi đến hạn (bullet
form) Ngoài ra, cũng có một số đợt phát hành khoản gôcđược hoàn trả thành nhiều lần trong thời hạn của trái phiếu.Coupon Trả hàng năm Hầu hết các trái phiếu thuộc loại “straights”,
tức có lãi suất cố định và gốc được hoàn trả một lần tại thờiđiểm đến hạn Chỉ cần ¼ số lượng phát hành có coupon với lãi suất thả nổi dựa theo lãi suất cơ bản, ví dụ như LIBOR.Mức lãi suất So với lãi suất kho bạc Mỹ, các Eurobonds có mức lãi suất
cao hơn và phụ thuộc vào độ tín nhiệm và điều kiện của thịtrường, như sau:
AAA chính phủ trong khoảng 10 – 20 điểmAAA công ty trong khoảng 30 – 40 điểm
AA chính phủ trong khoảng 30 – 50 điểm
AA công ty trong khoảng 50 – 80 điểm
A chính phủ trong khoảng 60 – 100 điểm
Trang 16A công ty trong khoảng 90 – 110 điểmBBB từ 1120 điểm trở lên
Biện pháp
bảo đảm Thông thường, đây là khoản vay chất lượng cao không có
bảo đảm Trong một vài trường hợp, trái phiếu được đảm bảo bằng thư tín dụng hay bằng tài sản thế chấp cảu công ty.Hình thức Trái phiếu vô danh Người nắm giữ trái phiếu là người sở
hữu Sự giấu tên là một trong những đặc điểm hấp dẫn nhà đầu tư
Thuế Người nắm giữ trái phiếu được miễn thuế thu nhập
3.3 Kiểm soát và điều chỉnh thị trường Eurobond:
Các chính phủ thường kiểm soát thị trường vốn nội địa bởi nhiều lý do khác nhau:
Chính phủ là người đi vay trên thị trường này nhiều hơn ai hết
Chính phủ luôn khuyến khích phát huy nội lực thông qua đầu tư nguồn vốn nội địakhan hiếm vào các trái phiếu nội địa
Chính phủ quan tâm đến khả năng trốn thuế
Chính phủ cũng quan tâm đến ảnh hưởng của các luồn vốn chạy ra (để muaEurobonds) đến giá trị đồng bản tệ (tức sự biến động của tỉ giá)
Các chính phủ luôn có sẵn trong tay những công cụ để kiểm soát phát hànhEurobonds bằng đồng tiền của nước mình Thứ nhất, NHTW có thể cấm phát hànhEurobonds bằng đồng tiền của minh nếu muốn Thứ hai, các chính phủ có thể gây áp lựclên các ngân hàng đầu tư nội địa và các ngân hàng đầu tư nước ngoài không tham dự cácđợt phát hành Eurobonds bằng cách ngầm hăm dọa rằng chính phủ sẽ chấm dứt sử dụngdịch vụ của các ngân hàng này, thậm chí rút giấy phép hoạt động trên thị trường này
Trang 173.4 Thủ tục phát hành Eurobond:
3.4.1 Việc tổ chức một syndicate Eurobond:
Eurobond được phát hành và bán thông qua những hội đồng bảo lãnh(underwriting syndicates) Những người tham gia trong nhóm này là những ngân hàngđầu tư, merchant banks và merchant banking subsidiaries của ngân hàng thương mại
Thông thường, để phát hành Eurobond đòi hỏi phải hình thành 3 nhóm: (i) nhómquản lý,(ii)nhóm bao tiêu, (iii)nhóm bán trái phiếu
Một người đi vay tiềm năng - một công ty, một ngân hàng, một tổ chức quốc tếhay một chính phủ - sẽ nhận những đề án tự nguyện Người đi vay sẽ lựa chọn trong sốnhững issuing houses này người phù hợp nhất với những yêu cầu của họ, ví dụ như vềthời gian, chi phí …
Dựa trên những đề xuất, người đi vay sẽ lựa chọn một ngân hàng đầu tư và mời
nó trở thành lead manager của việc phát hành trái phiếu và đại diện cho người đi vay.Đóng góp chủ yếu của lead manager hay issuing house nằm ở sự chuyên nghiệp của nótrong việc lựa chọn các cố vấn pháp lý liên quan đến: nhà bao tiêu, ngân hàng đại lý,nhà kiểm toán, nhà in, công ty quảng bá công cộng …; trong việc tổ chức “nhóm quảnlý” và “nhóm bao tiêu”, việc tiến hành chuẩn bị các tư liệu, quyết định thời điểm pháthành đúng lúc; sự chịu trách nhiệm với vai trò là người tạo thị trường cũng như duy trìtính thanh khoản của trái phiếu trên thị trường thứ cấp sau khi đã phát hành trái phiếu
Trong trường hợp với số lượng đặc biệt lớn sẽ có thêm một số một số người đồngquản lý (co-managers) do lead-manager mời thêm Người quản lý chính cùng với nhữngngười đồng quản lý này tạo nên “nhóm quản lý” (managing group) Lead manager trongviệc lựa chọn thêm các ngân hàng để thành lập nên nhóm quản lý sẽ có được hai thuậnlợi: (1) chia sẻ rủi ro phát hành và (2) hỗ trợ việc phát hành Ngoài ra, hai nhóm khác –nhóm bao tiêu (underwriters) và nhóm bán (selling group) cũng sẽ được mời để tham giavào quá trình đưa trái phiếu ra thị trường Thông thường, nhóm bao tiêu gồm từ 10 đến
200 ngân hàng và công ty chứng khoán đứng ra bao tiêu đợt phát hành, do đó người pháthành sẽ được đảm bảo rằng sẽ bán hết được trái phiếu Nhiệm vụ của nhóm bán là bántrái phiếu cho nhà đầu tư
Người đi vay sẽ bán trái phiếu đến nhóm quản lý Đến lượt nhóm quản lý bán tráiphiếu trực tiếp cho cả nhóm bao tiêu và nhóm bán hay bán trái phiếu cho nhóm bán,những người mà đến lượt họ sẽ bán trái phiếu cho nhóm bán Những thành viên củanhóm bán sẽ bán trái phiếu cho những nhà đầu tư cuối cùng Những người bao tiêu khácvới người bán thuần ở chỗ những người bao tiêu cam kết mua trái phiếu trước thời gianphát hành ở mức giá thấp nhất do những managers đưa ra thậm chí nếu trái phiếu khôngthể được bán cho người bán hay những nhà đầu tư cuối cùng ở mức giá cao hơn mức giáthấp nhất đã thỏa thuận trước này Những vai trò đó có thể được lồng vào nhau: nhà quản
lý cũng là người bao tiêu và người bán; và những người bao tiêu cũng thường là người
Trang 18The principal paying agent trong việc phát hành Eurobond là ngân hàng có trách
nhiệm cho việc trả lãi và vốn gốc từ những người đi vay và chi cho những nhà đầu tưcuối cùng Khi một đại lý tài chính (fiscal agent) được sử dụng trong việc phát hành mới,fiscal agent và principal agent là giống nhau Một fiscal agent là một ngân hàng được bổnhiệm để hành động như người đại diện cuả người đi vay, phân phối cho nhà đầu tưcũng như hành động như một principal agent Một tổ chức thay thế cho fiscal agent làmột trustee Một trustee hành động như một đại diện của tất cả trái chủ trong bất cứ hànhđộng pháp lý nào bắt nguồn từ việc không trả nợ đúng kỳ hạn theo điều khoản của tráiphiếu Nếu một trustee được sử dụng cho việc phát hành Eurobond mới, thì một payingagent riêng biệt sẽ được bổ nhiệm để hành động như người đại diện của người phát hànhtrái phiếu
Biểu đồ sau thể hiện tóm tắt về vai trò của những người tham gia trong việc phát hànhtrái phiếu Eurobond mới:
3.4.2 Lựa chọn một Lead-manager (quản lí chính)
Một vài issuers thường xuyên phát hành thường chọn một lead manager dựa trênduy nhất một tiêu chuẩn: chi phí thấp nhất Tuy nhiên, việc lựa chọn thường không chỉdựa trên chi phí, những nhà phát hành (issuers) tiềm năng thường tìm kiếm sự đảm bảo từnhững tiêu chuẩn khác như:
Nhà đầu tư (Investors)Fiscal Agent; hoặc
Trustee và principal agent
Trang 19Sự điều phối của syndicate: lead mangers thảo luận về sự sắp xếp cho placementphù hợp và phối hợp với nhau của việc phát hành dựa trên những điều khoản đã đềxuất.
Cam kết vốn của lead-manager: khả năng cung cấp một sự bảo lãnh đầy đủ(subdmit a fully underwritten offer) và sự đảm bảo có thể chống đỡ được cho việcphát hành (support the issue) trong trường hợp xảy ra những biến động bất lợi vềlãi suất
Hoạch định thị trường hiệu quả (Effective market making): khả năng của manager đối với việc cải thiện tính thanh khoản (liquidity) của việc phát hành Khả năng phân phối một lượng lớn sản phẩm phái sinh có thể đưa vào cấu trúc củatrái phiếu
lead-Market standing: khả năng của lead manager để chứng minh những mối quan hệtốt với những người khác tham gia trên thị trường
Top Lead Managers of Eurobond (all currencies) Issues (1998)
Nguồn: IFR New Issue League Tables
3.4.3 Kế hoạch theo thời gian (Traditional Time Schedule) đối với một đợt phát hành mới :
Trang 20Không giống với thị trường trong nước, thị trường Eurobond không có những thủtục đăng ký cũng như waiting queues Một đợt phát hành mới thường diễn ra trong vòng
3 tuần
Thông thường, 2 tuần trước ngày thông báo (announcement day), lead manager
và người đi vay (borrower) sẽ họp lại trong những cuộc họp sơ bộ (preliminarydiscussions) Họ sẽ thảo luận về những điều khoản (coupon, amount, offering price) củamột trái phiếu, ngoại trừ trường hợp của một thỏa thuận đã mua (bought deal), nhữngđiều khoản này vẫn sẽ được giữ lại tạm thời cho đến ngày phát hành chính thức (formaloffering day) Một đại lý tài chính (fiscal agent) hay trustee và principal paying agent sẽđược lựa chọn, và nếu trái phiếu được niêm yết trên thị trường chứng khoán (thường ởLuxembourg hay London) thì sẽ cần thêm một listing agent Một vài tuần trước khi pháthành trái phiếu trên thị trường, một bản cáo bạch sẽ được công bố Bản cáo bạch sẽ miêu
tả về người đi vay và lịch sử của nó Đối với người đi vay là công ty (corporateborrower), báo cáo tài chính kế toán cũng sẽ được đưa thêm vào bản cáo bạch, trong khiđối với người đi vay là chính phủ sẽ có những dữ liệu về ngân hàng trung ương và GNP
có liên quan
Vào ngày thông báo, sẽ có một thông cáo báo chí thông báo về việc phát hànhmới, và những tờ faxes thư mời sẽ được gửi để mời các ngân hàng khác tham gia vàosyndicate Những người tham gia tiềm năng (vào syndicate) sẽ có một tuần đến 10 ngày
để trả lời (gọi là “offering period” hay “subscription period”) Nếu người đi vay khôngnổi tiếng, người đi vay ở thời điểm này bắt đầu một tour hay “ road show”, ở nhữngtrung tâm tài chính lớn
Lead manager, trong khi đó, sẽ giữ một syndicate book trong đó ghi lại toàn bộnhu cầu (total demand) đối với đợt phát hành trái phiếu này Khi lãi suất của trái phiếuđược công khai, lead-manager sẽ bắt đầu thực hiện việc phân chia sơ bộ trái phiếu chonhững thành viên của syndicate, trong khi chờ nhận hợp đồng đã được ký của nhóm bán
và nhóm bao tiêu
Vào cuối thời gia đăng ký (sudscription), những điều khoản định giá trái phiếucuối cùng được quyết định giữa những ngân hàng quản lý (tức nhóm quản lý) (managingbanks) và người đi vay Sau đó, underwriters có một ngày để chấp nhận hay bác bỏ cácđiều khoản này Cuối cùng, những trái phiếu được phát hành chính thức (vào ngày pháthành) khi người đi vay và managing banks ký bản hợp đồng subscription mà thiết lậpnhững điều khoản cuối cùng của trái phiếu Vào thời điểm này syndycate đã có hiệu lựcmua trái phiếu từ người đi vay với giá đã thỏa thuận trước
Trang 21Vào cuối khoảng thời gian ổn định (stabilization period) (ngày đóng cửa), nhữngthành viên syndicate trả tiền cho những trái phiếu mà họ đã mua bằng tiền gửi vào tàikhoản ngân hàng được mở bởi lead manager Những nhà đầu tư cuối cùng vào thời điểm
đó nhận book-entry credit cho những trái phiếu họ đã mua Một mẩu quảng cáo của tráiphiếu sau đó sẽ được in trên các tờ báo hay tạp chí tài chính
Những trái phiếu vô danh thuộc về các nhà đầu tư cá nhân có thể được lấy từ mộtvăn phòng của paying agent sau 90 ngày
Sơ đồ dưới đây thể hiện một bản thời gian biểu điển hình:
Traditional Timetable of New Eurobond Offering
Thông báo phát hành Eurobond( Announcement of Eurobond Issue)
Đăng kí những điều khoản cuối cùng
( Signing of final terms; Offering Day
Ngày đóng cửa ( Closing day)Các thành viên nhóm bán trả tiền mua trái phiếu (Selling group members pay for bonds)Người đi vay nhận được tiền
(Borrower receives funds)
Syndicate stabilization ( Ổn định Syndicate)Khoảng thời gian đăng kí 7-10 ngày
(7-10 day subscription period) (Gray market period)
Trang 223.4.4 Sự đa dạng trong thủ tục phát hành
Một số những biến thể trong thủ tục truyền thống trong việc phát hành trái phiếuEurobond mới vẫn tồn tại Những biến thể này là nhằm đáp ứng cho áp lực cạnh tranh vàrủi ro lãi suất
Bought deal là một ví dụ điển hình Trong bought deal, lead manager mua toàn bộtrái phiếu phát hành từ người đi vay theo các điều khoản đã được thiết lập - lượng, lãisuất, giá phát hành - trước ngày thông báo phát hành (announcement date) Việc thiết lậpgiá trước này là do sự cạnh tranh giữa những ngân hàng đầu tư để có thể giành được sự
ủy quyền Họ cạnh tranh với nhau bằng cách đưa ra một hợp đồng trọn gói trước Nhữngissuing houses sẽ phải chịu rủi ro bảo lãnh (underwriting risk) Độ lớn của rủi ro vànhững cam kết vốn có liên quan làm cho bought deal market trở thành một thị trường hạnchế Chỉ có ít hơn 30 issuing houses trên khắp thế giới có đủ nguồn lực để cạnh tranh trênthị trường này
Ví dụ: tháng 4 1980, CSFB mua toàn bộ trái phiếu qua đêm trị giá 100 triệu USD
từ General Motirs Aceptance Corporations Chỉ ngay sau khi CSHB sắp xếp syndication
Buoght deal thì rất phổ biến với những người đi vay vì 2 lý do (1) tổng thời gianhao tốn để mang trái phiếu ra thị trường thì được rút ngắn và (2) nó loại trừ đi rủi ro về
sự những thay đổi về giá trước khi phát hành trái phiếu – ví dụ như trong thời gian graymarket
Một điển hình khác là auction issue (tender system) (phát hành thông qua hệthống đấu thầu), trong đó người đi vay thông báo kỳ hạn và lãi suất của trái phiếu mới vàmời những nhà đầu tư đưa ra giá đấu thầu Những nhà đầu tư quốc tế đưa ra mức giátrên một tỉ lệ phần trăm của mệnh giá (ví dụ 98.9), cùng với sự tuyên bố số lượng tráiphiếu họ sẵn sàng mua ở giá đó Người đi vay sau đó sẽ bán trái phiếu, bắt đầu với ngườitrả giá cao nhất và hạ xuống từ từ cho đến khi tất cả trái phiếu đều đã được chia phần.Việc phát hành thông qua hệ thống đấu thầu sẽ giúp loại bỏ đi phí quản lý và chi phísyndication
Ví dụ: Peruvian Central Bank thông báo phát hành 100,000 trái phiếu Treasury
Bills với đơn giá là 1000 USD thời hạn 1 năm Lãi suất đấu thầu cao nhất là 95.3 % , vớilượng đưa ra là 30.000.000 USD, được nhận phần đầy đủ( đó là, 30,000 T-bills) Lãisuất đấu thầu cao thứ 2 là 95.1% , với lượng đưa ra là 40000000 USD, được nhận phần
Trang 23đầy đủ(40,000 T-bills) Lãi suất đấu thầu cao thứ 3 của 95.0% , với lượng đưa ra là60,000,000 USD, được nhận 50% lượng đề xuất ( 30,000 T-bills) Do đó, tất cả những
sẽ nhận lệnh mua hoặc bán với người kinh doanh và sẽ nhận thu nhập hoa hồng cho mỗigiao dịch thành công
Reporting dealers bị bắt buộc phải nộp một danh sách những chứng khoán mà họgiao dịch vào cuối mỗi ngày hành chính cùng với giá mà họ chuẩn bị mua hoặc bánchúng Thông tin này được xử lý bởi AIBD (*) và sẽ được in trong những danh sách giátạo thành một nguồn thông tin công khai về giá cả của Eurobonds
3.5.2 Liquidity
Mặc dù vậy, phần lớn trái phiếu Eurobonds thường thiếu tính thanh khoản Tuynhiên, sự thiếu tính thanh khoản này không có gì là đáng ngạc nhiên , mà được biểu hiệntrong bảng sau Lượng outstanding trung bình của một đợt phát hành trái phiếu quốc tế,vào khoảng $100 triệu, trong đó thị trường trái phiếu chính phủ chỉ chiếm một phần nhỏ,
và hơn nữa, thời gian nắm giữ trung bình dài hơn đến 4 đến 10 lần Hầu hết doanh thutrong thị trường trái phiếu quốc tế tập trung trong một vài đợt phát hành lớn, mà phần lớnđược phát hành bởi những người đi vay quốc tế hay có uy tín cao
Để tăng tính thanh khoản trên thị trường Eurobond, hai hệ thống thanh toán quốc
tế chính đã ra đời:
Euro-clear1 được thành lập năm 1969 ở Brussels hoạt động dưới sự bảolãnh của Morgan
CEDEL được thành lập năm 1970 ở Luxembourg bởi một nhóm ngân hàng
ở châu Âu và được mua lại bởi Deutsche Borse năm 2002, hiện tại đượcbiết đến như là Clearstream2
Hai hệ thống thanh toán này đã làm cho việc giao dịch trên thị trường thứ cấp trởnên dễ dàng hơn Tất cả những giao dịch đều diễn ra trên cơ sở ẩn danh; người đi vay vàngười cho vay không biết danh tính của nhau Rủi ro của người cho vay cũng sẽ đượcđảm bảo ở mức thấp nhất bởi vì những hệ thống thanh toán này sẽ đảm bảo việc hoàn trảlại những chứng khoán mà người cho vay đã mua (hay tiền tương đương) nếu người đi va