1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của xu hướng toàn cầu hóa đến số thu thuế tại các quốc gia ASEAN giai đoạn 2000 2019

77 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA ĐẾN SỐ THU THUẾ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN GIAI ĐOẠN 2000-2019 Tóm tắt: Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá tác động của toàn cầu hóa đến số thu

Trang 1

PHẠM THỊ NGỌC MỸ

TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA ĐẾN

SỐ THU THUẾ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN

GIAI ĐOẠN 2000-2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

PHẠM THỊ NGỌC MỸ

TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA ĐẾN

SỐ THU THUẾ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN

GIAI ĐOẠN 2000-2019

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS BÙI THỊ MAI HOÀI

TP Hồ Chí Minh – Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Tác động của xu hướng toàn cầu hóa đến số thu thuế tại các quốc gia ASEAN giai đoạn 2000-2019” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Phạm Thị Ngọc Mỹ

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TÓM TẮT - ABSTRACT

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Mô hình thực nghiệm và phương pháp kiểm định 4

1.4.1 Mô hình thực nghiệm 4

1.4.2 Phương pháp kiểm định 5

1.5 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN SỐ THU THUẾ 6

2.1 Toàn cầu hóa 7

2.1.1 Khái niệm về xu hướng toàn cầu hóa 7

2.1.2 Cách thức đo lường toàn cầu hóa 8

2.2 Tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế của các quốc gia 10

2.2.1 Lý thuyết cạnh tranh thuế 10

2.2.2 Lý thuyết hài hòa thuế 14

Trang 5

2.2.3 Cạnh tranh thuế, hài hòa thuế và toàn cầu hóa 17

2.3 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 20

Tóm tắt chương 2 24

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM ĐỊNH26 3.1 Mô hình thực nghiệm 27

3.2 Phương pháp kiểm định 30

3.3 Dữ liệu nghiên cứu và nguồn thu thập 31

Tóm tắt chương 3 36

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Thực trạng về xu hướng toàn cầu hóa và chính sách thuế của các quốc gia ASEAN 38

4.1.1 Toàn cầu hóa 38

4.1.2 Chính sách thuế 40

4.2 Tác động của xu hướng toàn cầu hoá đến số thu thuế tại các quốc gia ASEAN giai đoạn 2000-2019 45

4.2.1 Kiểm định tính dừng 45

4.2.2 Kiểm định mối quan hệ đồng liên kết 46

4.2.3 Kiểm định tác động của xu hướng toàn cầu hoá đến số thu thuế tại các quốc gia Đông Nam Á 47

Tóm tắt chương 4 51

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Khuyến nghị chính sách 55

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 56

Trang 6

CÁC PHỤ LỤC 57

Phụ lục 01: thống kê mô tả các biến nghiên cứu 57

Phụ lục 02: kết quả kiểm định tính dừng 58

Phụ lục 03: Kết quả kiểm định mối quan hệ đồng liên kết 61

Phụ lục 04: Kết quả ước lượng đồng liên kết 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Kỳ vọng dấu tác động của biến độc lập đến số thu thuế của các quốc

gia Đông Nam Á 30

Bảng 3.2: Cách thức đo lường và nguồn thu thập các biến 32

Bảng 3.3: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 34

Bảng 3.4: Hệ số tương quan giữa các biến 35

Bảng 4.1: Thuế suất các loại thuế chính tại các quốc gia Đông Nam Á năm 2018 42

Bảng 4.2: Xu hướng cắt giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) ở một số quốc gia Đông Nam Á 43

Bảng 4.3: Kết quả kiểm định tính dừng các biến nghiên cứu 46

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định mối quan hệ đồng liên kết 47

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định bằng phương pháp FMOLS và DOLS 48

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Các cấp độ hài hòa thuế 15

Biểu đồ 4.1: Xu hướng toàn cầu hóa tại các quốc gia Đông Nam Á 38

Biểu đồ 4.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế các quốc gia Đông Nam Á 39

Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ chi tiêu công trên GDP tại các quốc gia Đông Nam Á 45

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Asian Development Bank Ngân Hàng Phát triển Châu Á ASEAN Association of Southeast Asian

Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông

Nam Á DOLS Dynamic Ordinary Least

Square

Phương pháp bình phương bé

nhất động

FDI Foreign Direct Fnvestment Đầu tư trực tiếp nước ngoài FMOLS Fully Modified Ordinary Least

Square

Phương pháp bình phương bé nhất đã điều chỉnh IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

KOF KOF globalization index Chỉ số toàn cầu hóa KOF OECD Organisation for Economic Co-

operation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển

Kinh tế UNDP United Nations Development

Programme

Chương trình Phát triển Liên

Hiệp Quốc

Trang 9

TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA ĐẾN SỐ THU THUẾ

TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN GIAI ĐOẠN 2000-2019

Tóm tắt: Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá tác động của toàn cầu hóa

đến số thu thuế tại các quốc gia ASEAN giai đoạn 2000-2019 Lý do học viên lựa chọn và thực hiện đề tài nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh thực tiễn và khoảng trống nghiên cứu Số liệu thực tế cho thấy việc nghiên cứu tác động của toàn cầu hóa đến

số thu thuế tại các quốc gia Đông Nam Á rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay Trong khi đó, các nghiên cứu thực nghiệm về tác động này vẫn còn nhiều tranh luận Theo đó, ý nghĩa thực nghiệm của luận văn là cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế tại các quốc gia này Bằng các phương pháp hồi quy đồng liên kết với dữ liệu bảng, kết quả kiểm định cho thấy toàn cầu hóa có tác động âm có ý nghĩa đến số thu thuế tại các quốc gia Đông Nam

Á giai đoạn nghiên cứu này Dựa trên kết quả kiểm định, tác giả đề xuất các giải pháp để các quốc gia ASEAN thiết kế các chính sách thuế phù hợp hơn với bối cảnh toàn cầu hóa

Từ khóa: Toàn cầu hóa, số thu thuế, ASEAN

Trang 10

THE EFFECTS OF GLOBALIZATION ON TAXATION IN ASEAN

COUNTRIES IN THE PERIOD 2000-2019

Abstract: The objective of the Master thesis is to evaluate the impact of

globalization on tax revenue in ASEAN countries in the period 2000-2019 The reason for writing comes from practical contexts and research gaps Actual data shows that the study of the effects of globalization on tax revenues in Southeast Asian countries is essential in the current context Meanwhile, empirical studies of this effect are still controversial Accordingly, the empirical contribution of this Master thesis is to provide empirical evidence on the impact of globalization on tax revenues in these countries By the cointegrated regression methods with panel data, the empirical results show that globalization has a significant negative impact on tax revenues in Southeast Asian countries in this research period Based on the research results, the author proposes solutions for ASEAN countries to design tax policies more appropriate in the context of globalization

Keywords: Globalization, tax revenue, ASEAN

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu

Toàn cầu hoá đang là xu hướng tất yếu và ngày càng được mở rộng trên toàn thế giới (Flyverbom, 2012; Scholte, 2005; Steger, 2017) Xu hướng này được tạo ra bởi

sự tương tác ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức và các cá nhân (Steger, 2017) Toàn cầu hóa không chỉ làm mờ đi đường biên giới giữa các quốc gia mà còn thu hẹp các khoảng cách kinh tế, chính trị cũng như văn hóa và xã hội của thế giới

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều về những tác động kinh tế của xu hướng này, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển (Kilic, 2015; Pereira, 2010) Pereira (2010) nhận định, xu hướng toàn cầu hóa mở ra thành công cho nhiều quốc gia đang phát triển và mới nổi song xu hướng này cũng khiến nhiều quốc gia khác

bị “tụt lại phía sau” - “others fall behind” Trong đó, tác động của toàn cầu hóa đến

số thu thuế của các quốc gia vẫn là vấn đề được thảo luận ở các hội nghị quốc tế cũng như được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu (Genschel & Seelkopf, 2016; Jha

& Gozgor, 2019; Overesch & Rincke, 2011; Ranjan & Gözgör, 2018)

Theo đó, việc học viên nghiên cứu tác động của xu hướng toàn cầu hóa đến

số thu thuế của các quốc gia Đông Nam Á xuất phát từ hai lý do: (1) bối cảnh nghiên cứu và (2) bối cảnh thực tiễn

Về bối cảnh nghiên cứu, tác động của xu hướng toàn cầu hóa đến số thu thuế của các quốc gia vẫn còn nhiều tranh luận Genschel & Seelkopf (2016) luận giải,

xu hướng toàn cầu hóa làm tăng căng thẳng tài khóa theo các hướng khác nhau Một mặt, xu hướng toàn cầu hóa khiến công dân phải đối mặt với nhiều rủi ro kinh tế hơn, từ đó, thúc đẩy họ yêu cầu chính phủ phải bảo trợ xã hội nhiều hơn (buộc chính phủ phải thu thuế nhiều hơn) Mặc khác, xu hướng này khiến các quốc gia cạnh tranh thuế với nhau nhiều hơn, buộc họ phải kích hoạt một “cuộc đua xuống đáy”, làm suy yếu khả năng của chính phủ đối với bảo trợ xã hội

Trang 12

Hơn nữa, lược khảo các nhiên cứu trước cho thấy, tác động của toàn cầu hoá đến số thu thuế, toàn cầu hóa thường được đo lường gián tiếp thông qua độ mở thương mại Tuy nhiên, việc sử dụng các chỉ số trung gian (ví dụ như dòng chảy thương mại và vốn đầu tư) để đo lường toàn cầu hóa không thể phản ánh một cách

rõ ràng mức độ toàn cầu hóa vì tác nhân chính trị và xã hội ảnh hưởng đến toàn cầu hóa là không thể tránh khỏi Theo đó, ở luận văn này, tác giả hướng đến đánh giá tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế thông qua chỉ số toàn cầu hóa KOF

Một cách khái quát, các nghiên cứu thực nghiệm thể hiện hai xu hướng trái chiều Một số nghiên cứu đưa ra nhận định xu hướng toàn cầu hóa làm gia tăng số thu thuế của các quốc gia (Garrett, 1995; Karkalakos & Makris, 2008; Quinn, 1997; Swank, 1998) song một số khác lại kết luận điều ngược lại (Bretschger, 2010; Bretschger & Hettich, 2002; Winner, 2005) Hơn nữa, cách thức đo lường về toàn cầu hóa vẫn còn nhiều tranh luận

Về bối cảnh thực tiễn, việc nghiên cứu tác động của xu hướng toàn cầu hóa đến số thu thuế tại các quốc gia Đông Nam Á rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay Năm 2015 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới của các quốc gia Đông Nam Á với sự ra đời của cộng động kinh

tế chung ASEAN Economic Community- AEC (Das, 2015; Lee & Fukunaga, 2014; Onyusheva & cộng sự, 2018; Thanh & cộng sự, 2014) Tuy nhiên, các quốc gia ASEAN chưa đạt được thỏa thuận về chính sách hài hòa thuế nói chung (chỉ thỏa thuận ở việc cắt giảm thuế quan) (Lee & Fukunaga, 2014; Thanh & cộng sự, 2014) Trong khi đó, số liệu thực tế cho thấy xu hướng cạnh tranh bằng chính sách thuế (cắt giảm thuế suất, tạo ra nhiều ưu đãi thuế) trong việc thu hút FDI giữa các quốc gia Đông Nam Á Theo đó, xu hướng cạnh tranh này tạo ra nhiều thách thức cho những quốc gia có tỷ lệ chi tiêu công cao trong khu vực như Việt Nam, Lào hay Indonesia (Thanh & cộng sự, 2014)

Chính vì những vấn đề trên, học viên thực hiện đề tài “Tác động của xu hướng toàn cầu hóa đến số thu thuế tại các quốc gia ASEAN giai đoạn 2000-2019”

Trang 13

Luận văn xem xét ảnh hưởng của xu hướng toàn cầu hóa đến số thu thuế của các quốc gia ASEAN giai đoạn 2000-2019 Từ kết quả kiểm định này, học viên đề xuất các khuyến nghị về chính sách thuế của Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Như đã trình bày, mục tiêu nghiên cứu chính luận văn là đánh giá tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế tại các quốc gia ASEAN giai đoạn 2000-2019 Tuy nhiên,

để đạt được mục tiêu nghiên cứu này, tác giả lần lượt giải quyết các mục tiêu cụ thể như sau:

- Xác định các yếu tố tác động đến số thu thuế của một quốc gia

- Xác định cách thức đo lường mức độ toàn cầu hóa

- Đánh giá tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế tại các quốc gia ASEAN

giai đoạn 2000-2019

Bài viết kỳ vọng cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế tại các quốc gia Đông Nam Á Từ cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp để các quốc gia ASEAN thiết kế các chính sách thuế phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa

Theo đó, câu hỏi nghiên cứu mà luận văn cần phải giải đáp là: Xu hướng

toàn cầu hóa tác động đến số thu thuế tại quốc gia ASEAN giai đoạn 2000-2019 là như thế nào?

1.3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữa xu hướng toàn cầu hóa và số thu thuế tại các quốc gia nghiên cứu Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của đề tài còn là mối quan

hệ giữa các biến kiểm soát như giá trị nông nghiệp, quy mô dân số, thu nhập bình quân đầu người, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, số năm học trung bình, chỉ số tuổi thọ kỳ vọng, chỉ số chất lượng thể chế chính trị và số thu thuế của các quốc gia phân tích

Trang 14

Phạm vi nghiên cứu: mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và số thu thuế được luận giải theo các cơ sở lý thuyết khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, mối quan hệ giữa hai yếu tố này chủ yếu được luận giải dựa trên lý thuyết cạnh trạnh thuế và hài hòa thuế

Phạm vi thu thập dữ liệu: Để thực hiện luận văn, học viên thực hiện thu thập các dữ liệu kinh tế vĩ mô tương ứng nhằm đo lường các biến nghiên cứu ở các quốc gia ASEAN từ 2000 đến 2019 Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu được lấy từ những nguồn đáng tin cậy như Quỹ tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF)

và Ngân Hàng Phát triển Châu Á (The Asian Development Bank - ADB) Riêng chỉ

số toàn cầu hóa KOF (KOF Globalisation Index) được thu thập từ Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ - ETH Zürich

1.4 Mô hình thực nghiệm và phương pháp kiểm định

1.4.1 Mô hình thực nghiệm

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, học viên điều chỉnh mô hình của Bird & cộng sự (2006) và Thanh & cộng sự (2014) để kiểm định tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2000-2019 Tuy nhiên, khác các nghiên cứu trước, luận văn sử dụng chỉ số toàn cầu hóa KOF (biến GLOBAL) thay

vì sử dụng độ mở thương mại Bên cạnh đó, dựa vào lược khảo lý thuyết và bối cảnh thực tiễn ở các quốc gia phân tích, học viên lựa chọn và đưa thêm các biến kiểm soát phù hợp vào mô hình thực nghiệm (Castro & Camarillo, 2014; Hoài & Hùng, 2016) Theo đó, mô hình thực nghiệm có dạng như sau:

TAXREV là số thu thuế trên GDP

GLOBAL là chỉ số toàn cầu hóa

Trang 15

Xit là tập hợp các biến kiểm soát, bao gồm: Thu nhập bình quân đầu người (GDPpc); Giá trị ngành nông nghiệp (AGR); Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); Quy mô dân số (POP); Số năm học trung bình (SCHOOL); Chỉ số tuổi thọ

kỳ vọng (LIFEEXP) chỉ số chất lượng thể chế chính trị (INS)

i là quốc gia i và t là năm thứ t

Để áp dụng các phương pháp hồi này, các kiểm định tính dừng và kiểm định đồng liên kết cũng được thực thi

1.5 Kết cấu luận văn

Ngoài chương tổng quan nghiên cứu, phần còn lại của luận văn có cấu trúc sau: Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế

Chương 3: Mô hình thực nghiệm và phương pháp kiểm định

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách

Trang 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA

ĐẾN SỐ THU THUẾ

Chương 2 trình bày các vấn đề về khái niệm toàn cầu hóa, cách thức đo lường và cơ

sở lý luận về tác động của xu hướng toàn cầu hóa đến số thu thuế của các quốc gia

Trước tiên, học viên khái lược các khái niệm có liên quan về toàn cầu hóa và các cách thức đo lường toàn cầu hóa từ các nghiên cứu trước Tiếp theo, các nền tảng lý thuyết liên quan đến tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế được trình bày Cụ thể, tác giả mô tả lý thuyết cạnh tranh thuế và hài hòa thuế Hai lý thuyết nền tảng này cung cấp cơ sở cho các chiến lược thuế ở nhiều quốc gia trên thế giới Cuối cùng, tổng quan những nghiên cứu trước có liên quan

Tóm lại, cấu trúc chương hai gồm các mục sau: Đầu tiên trình bày các khái niệm về toàn cầu hóa; phần hai mô tả cơ sở lý thuyết về tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế và phần cuối cùng lược khảo các công trình nghiên cứu trước liên quan đến tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế

Trang 17

2.1 Toàn cầu hóa

2.1.1 Khái niệm về xu hướng toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa, mà cụ thể là xu hướng gia tăng giao thương, đầu tư quốc tế đã tạo ra nhiều vận hội cho các tập đoàn đa quốc gia mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh đến những thị trường mới, giúp đa dạng hóa thị trường và gia tăng lợi nhuận Tuy nhiên, cùng với vận hội này, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt: cạnh tranh giữa công ty với công ty, giữa các quốc gia với nhau ngày càng khốc liệt trên thị trường toàn cầu

Trước hết, câu hỏi đầu tiên cần được giải đáp là khái niệm về “Toàn cầu hoá (globalization)” Lược khảo nghiên trước cho thấy, chưa có sự thống nhất về khái niệm toàn cầu hóa (Al-Rodhan & Stoudmann, 2006; De Vries, 2010) Chúng ta có thể bắt đầu với định nghĩa toàn cầu hóa của Flynn & Giráldez (2004) Theo các học giả, toàn cầu hóa là sự tồn tại bền vững của thương mại toàn cầu, khi tất cả hàng hóa chính được trao đổi liên tục và quy mô trên toàn thế giới, tạo ra tác động sâu sắc và lâu dài đến tất cả các đối tác thương mại Tương tự, theo Hall & Soskice (2001), toàn cầu hóa hàm ý cho sự dịch chuyển vốn đầu tư và gia tăng thương mại quốc tế trong nền kinh tế hiện đại Toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ bởi mối quan

hệ thương mại quốc tế tăng lên nhanh chóng do giảm chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc, cùng với việc giảm các rào cản thương mại và các chế độ tài chính tự do hơn Điều này đã dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ của đầu tư trực tiếp nước ngoài Như vậy, các định nghĩa trên gắn chặt toàn cầu hóa với quan hệ thương mại quốc tế hay dịch chuyển vốn đầu tư Tuy nhiên, toàn cầu hóa không chỉ là thúc đẩy thương mại quốc tế hay vốn đầu tư (De Vries, 2010)

Trong khi đó, ở góc độ khác, Steger (2002) định nghĩa, toàn cầu hóa hàm ý việc tăng sự tiếp xúc, tương tác và trao đổi giữa các đối tác, qua đó, giảm dần các rào cản thương mại Toàn cầu hóa thay đổi hình thức tiếp xúc của con người, hướng tới sự phụ thuộc và hội nhập lớn hơn, cả về thời gian và không gian Quá trình này dẫn đến sự gia tăng các tương tác trên toàn thế giới, tác động sâu sắc và lâu dài của

Trang 18

các dòng hàng hóa, vốn, con người và thông tin mở rộng Tương tự, Norris (2000) nhận định, toàn cầu hóa tạo ra các mạng lưới kết nối giữa các chủ thể ở khoảng cách

đa lục địa thông qua nhiều dòng chảy bao gồm con người, thông tin và ý tưởng, vốn

và hàng hóa Đó là một quá trình làm xói mòn biên giới các quốc gia, tích hợp các nền kinh tế, công nghệ, quản trị và văn hóa quốc gia, tạo ra các mối quan hệ phức tạp, phụ thuộc lẫn nhau Tuy nhiên, các khái niệm về toàn cầu hóa này có nghĩa rộng, rất khó để đánh giá cũng như đánh giá tác động của xu hướng này trong phân tích thực nghiệm

Theo đó, từ các nghiên cứu trước, Dreher (2006a); (Dreher, 2006b) và Adam

& cộng sự (2013) nhận định, toàn cầu hóa là quá trình tạo ra các mạng lưới kết nối giữa các chủ thể trên toàn thế giới thông qua nhiều dòng chảy bao gồm con người, thông tin và ý tưởng, vốn và hàng hóa Theo đó, toàn cầu hóa là một khái niệm đa chiều với ba khía cạnh chính:

 Toàn cầu hóa kinh tế: được thể hiện thông qua dòng chảy hàng hóa, vốn

và dịch vụ cũng như nhận thức và thông tin đi cùng với trao đổi thị trường

 Toàn cầu hóa chính trị: được thể hiện thông qua sự phổ biến của các

chính sách của chính phủ

 Toàn cầu hóa xã hội: được thể hiện thông qua sự truyền bá thông tin, ý

tưởng, hình ảnh và con người

Trong phạm vi luận văn này, học viên kế thừa định nghĩa về toàn cầu hóa của Dreher (2006a); (Dreher, 2006b) và Adam & cộng sự (2013) Theo đó, toàn cầu hóa có khái niệm đa chiều gồm ba khía cạnh: (1) kinh tế; (2) chính trị và (3) xã hội

2.1.2 Cách thức đo lường toàn cầu hóa

Cũng như khái niệm toàn cầu hóa, cách thức đo lường về toàn cầu hóa còn nhiều quan điểm trái chiều (Adam & cộng sự, 2013; Dreher, 2006a, 2006b) Giai đoạn đầu, các nghiên cứu thường sử dụng các chỉ số về thương mại quốc tế để đo lường toàn cầu hóa như độ mở thương mại hay dòng vốn đầu tư như chỉ số tự do hóa tài chính của Quinn (1997) hay FDI (Allison, 2000; Beer & Boswell, 2001; Bretschger

Trang 19

& Hettich, 2002; Chanda, 2005; Garrett, 1995; Quinn, 1997; Rodrik, 1998) Theo quan điểm, toàn cầu hóa là khái niệm đa chiều với ba khía cạnh, Adam & cộng sự (2013) nhận định, các cách thức đo lường dựa trên dòng chảy thương mại quốc tế hay vốn đầu tư có thể phản ánh khía cạnh kinh tế qua mức độ hội nhập kinh tế trên thị trường hàng hóa và thị trường vốn quốc tế Tuy nhiên, các chỉ số này lại không phản ánh được hai khía cạnh còn lại của khái niệm toàn cầu hóa

Trong khi đó, chỉ số toàn cầu hóa KOF (The KOF globalization index) được phát triển bởi Dreher (2006a) hướng đến đo lường khái niệm toàn cầu hóa trên cả ba khía cạnh1 Theo Adam & cộng sự (2013), việc ứng dụng chỉ số này trong các nghiên cứu thực nghiệm đã mở ra giai đoạn mới cho các nghiên cứu về toàn cầu hóa Lược khảo nghiên cứu trước cho thấy, việc sử dụng các chỉ số trung gian (ví dụ như dòng chảy thương mại và vốn đầu tư) để đo lường toàn cầu hóa không thể phản ánh một cách rõ ràng mức độ toàn cầu hóa vì tác nhân chính trị và xã hội ảnh hưởng đến toàn cầu hóa là không thể tránh khỏi Trong khi đó, chỉ số toàn cầu hóa KOF nắm bắt tốt hơn các đặc điểm xã hội và chính trị của khái niệm toàn cầu hóa so với chỉ số trung gian khác (Adam & cộng sự, 2013; Dreher, 2006a, 2006b) Do đó, việc

sử dụng chỉ số cụ thể thay vì các chỉ số trung gian khác có thể thu được các kết quả thực nghiệm hiệu quả hơn (Adam & cộng sự, 2013; Dreher, 2006a, 2006b; Kalayci, 2019; Katircioğlu & Zabolotnov, 2019; Zerrin & Dumrul, 2018)

Hiện nay, mặc dù còn một số tranh luận, chỉ số KOF đo lường khái niệm này được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu thực nghiệm như: các nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và tăng trưởng kinh tế hay phát triển tài chính (Katircioğlu & Zabolotnov, 2019; Kaurin & Simic, 2017; Suci & cộng sự, 2016); mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và bất bình đẳng thu nhập (Abakumova & Primierova, 2018; Balan & cộng sự, 2015; Dreher & Gaston, 2008); mối quan hệ

1 https://kof.ethz.ch/en/forecasts-and-indicators/indicators/kof-globalisation-index.html

Trang 20

giữa toàn cầu hóa và ô nhiễm môi trường (Dogan & Deger, 2016; Kalayci, 2019; Koengkan & cộng sự, 2019) và mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và thuế2

Ngoài ra, Adam & cộng sự (2013) và Dreher (2006) còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng chỉ số toàn cầu hóa KOF thay vì sử dụng các chỉ số trung gian để đo lường đa khía cạnh của khái niệm toàn cầu hóa, đặc biệt là đối với mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và chính sách thuế Các học giả luận giải, sử dụng các chỉ số trung gian (ví dụ như dòng chảy thương mại và vốn đầu tư) để đo lường toàn cầu hóa không thể phản ánh một cách rõ ràng mức độ toàn cầu hóa vì tác nhân chính trị và xã hội ảnh hưởng đến toàn cầu hóa là không thể tránh khỏi Đáng chú ý,

sự thiếu sót này có tầm ảnh hưởng lớn trong tác động đến số thu thuế bởi các tác nhân chính trị và kinh tế gây ra các mâu thuẫn về thuế suất Vì vậy, từ những lập luận trên, học viên sử dụng chỉ số toàn cầu hóa KOF để đo lường xu hướng toàn cầu hóa, qua đó, đánh giá tác động của xu hướng này đến số thu thuế tại trường hợp nghiên cứu các quốc gia Đông Nam Á

2.2 Tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế của các quốc gia

Một trong những nền tảng lý thuyết được sử dụng phổ biến để luận giải tác động của toàn cầu hóa đến chính sách thuế là lý thuyết cạnh tranh thuế và hài hòa thuế (Edwards & Mitchell, 2008; Gaigné & Riou, 2007; Mitchell, 2004; Neumann & cộng sự, 2009; Tanzi, 1996; Teather, 2002)

2.2.1 Lý thuyết cạnh tranh thuế

Cạnh tranh thuế xảy ra khi người nộp thuế thực hiện giảm gánh nặng thuế bằng cách dịch chuyển vốn hoặc lao động (di cư) từ các quốc gia có thuế suất cao sang các quốc gia có thuế suất thấp nhằm giảm gánh nặng thuế Trong khi đó, sự hài hòa thuế được thiết lập nhằm định hướng các chính phủ thành viên áp dụng một mức thuế tương tự hoặc giống hệt nhau dù người nộp thuế làm việc, tiết kiệm, mua sắm hoặc đầu tư ở bất kỳ quốc gia thành viên nào (Mitchell, 2004) Trên thực tế, cạnh

2 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và thuế được trình bày ở mục 2.3

Trang 21

tranh thuế và hài hòa thuế đóng vai trò rất quan trọng đối với chiến sách thuế của chính phủ và hành vi của người nộp thuế Hai lý thuyết nền tảng này cung cấp cơ sở cho các chiến lược thuế ở nhiều quốc gia trên thế giới

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thực tế, hai lý thuyết này thường mâu thuẫn lẫn nhau buộc các chỉnh phủ phải lựa chọn Đã có nhiều cuộc tranh luận về cạnh tranh thuế và hài hòa thuế trong nhiều thập kỷ Có ý kiến cho rằng cạnh tranh thuế thúc đẩy phát triển kinh tế (Mitchell, 2004; Razin & Sadka, 2012; Tiebout, 1956) Ngược lại, một số học giả khác tin rằng cạnh tranh thuế nói chung là có hại

và sự hài hòa thuế phải được thiết lập (Oates, 1972; Teather, 2002; Weiner & Ault, 1998; Wilson & Wildasin, 2004; Zodrow & Mieszkowski, 1986) Trong đó, nghiên cứu của Tiebout (1965) và Oates (1972) là các nghiên cứu tiên phong, đặt nền tảng cho hai hướng lập luận khác nhau liên quan đến cạnh tranh thuế và hài hòa thuế

Ở một phương diện, Tiebout (1956) lập luận rằng các công dân đều có thể lựa chọn một cộng đồng (quốc gia) làm nơi sinh sống Trong khi đó, mỗi quốc gia cung cấp một hỗn hợp khác nhau về hàng hóa công cộng và chính sách thuế Vì vậy, các công dân sẽ lựa chọn các quốc gia/ cộng đồng có chính sách thuế ưu đãi nhất để sinh sống và làm việc Hiện tượng này được gọi là “bỏ phiếu bằng chân (voted by their feet)”, các cá nhân từ bỏ các quốc gia có thuế suất cao sang những quốc gia có thuế suất thấp hơn để nhận được lợi nhuận sau thuế là lớn nhất (Edwards & Mitchell, 2008; Mitchell, 2004; Teather, 2002)

Điều này buộc các quốc gia phải cắt giảm thuế suất để giữ lại và thu hút các yếu tố sản xuất như vốn và lao động (Mitchell, 2004; Razin & Sadka, 2012) Tuy nhiên, thuế là nguồn thu chính cho chi tiêu công Vì vậy, để đảm bảo nguồn lực này, buộc quốc gia phải tiến hành hiệu quả cả chính sách thuế lẫn chính sách chi tiêu công Điều này gia tăng hiệu quả cho các quốc gia, do đó, không có lợi ích từ việc hài hòa thuế (Tiebout, 1956) Theo đó, lý thuyết của Tiebout ủng hộ xu hướng cho phép di chuyển tự do các yếu tố sản xuất như vốn và lao động và khuyến khích các quốc gia duy trì hệ thống thuế một cách độc lập Một cách khái quát, kết quả của

Trang 22

quá trình này sẽ là phần thưởng cho các quốc gia có mức thuế suất ưu đãi và là tổn thất cho các chính phủ có chính sách tài khóa chưa hiệu quả và buộc họ phải thực thi các cải cách tài khóa hiệu quả (Mitchell, 2004; Razin & Sadka, 2012; Tiebout, 1956)

Trên thực tế, giống như các hình thức cạnh tranh khác, cạnh tranh thuế có nhiều tác động tích cực Trước hết, công dân có thể nhận được nhiều hơn thu nhập sau thuế do gánh nặng thuế thấp hơn Quan trọng hơn, theo Mitchell (2004) và Curzon-Price (2008), tác động tích cực chính của cạnh tranh thuế là chống lại sự lãng phí của các chính phủ Người lao động và nhà đầu tư đều muốn kiếm được thu nhập/lợi nhuận sau thuế là tốt nhất và cơ hội sinh lời của họ không bị giới hạn ở biên giới quốc gia, vì vậy họ có xu hướng từ bỏ các quốc gia có chính sách thuế quá cao Mặc dù chính sách thuế chỉ là một phần trong sự cạnh tranh giữa các quốc gia, tuy nhiên, vì tác động trực tiếp đến thu nhập của người lao động và vốn đầu tư nên

nó đóng vai trò quan trọng Như đã chỉ ra, chính sách thuế quá nặng và các thủ tục phức tạp, rườm rà khiến các nhà đầu tư và người lao động (đặc biệt là người lao động có trình độ cao) rời bỏ các quốc gia này để sang các quốc gia khác Việc tạo ra

sự giàu có ở khu vực tư nhân được đánh giá cao (Edwards & Mitchell, 2008)

Từ góc nhìn vĩ mô, thuế suất thấp đối với thu nhập, đầu tư và tiêu dùng có thể diễn ra hoạt động kinh tế (Edwards & Mitchell, 2008; Mitchell, 2004) Nếu cạnh tranh thuế lành mạnh, mọi người sẽ được hưởng lợi từ mức thuế thấp Do áp lực cạnh tranh thuế, mỗi quốc gia phải cải cách hệ thống thuế hiệu quả hơn cũng như hợp lý hóa các chi tiêu của chính phủ Áp lực cạnh tranh này không chỉ kích thích phân bổ hiệu quả nguồn lực mà còn tăng cường thúc đẩy phát triển kinh tế Các cải cách thuế dựa trên thị trường giúp kinh tế tăng trưởng nhanh hơn và nâng cao mức sống người dân Qua đó, các quốc gia sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn và thu hút thêm đầu tư trong và ngoài nước (Mitchell, 2004; Teather, 2002)

Mặt khác, mặc dù cạnh tranh thuế có nhiều lan tỏa tích cực, quá trình này có thể gây hại cho hiệu quả kinh tế trong nhiều trường hợp Theo nghiên cứu của Oates

Trang 23

(1972), sự cạnh tranh thuế có thể làm cho mức thuế suất giảm xuống mức thấp không hiệu quả vì các chính phủ không thể đảm bảo cung cấp đầy đủ các hàng hóa

công cộng cần thiết Oates (1972, p 143) ngụ ý tác hại của cạnh tranh thuế: "Kết

quả của cạnh tranh thuế có thể là xu hướng duy trì mức sản lượng thấp hơn mức sản lượng hiệu quả của các hàng hóa, dịch vụ công cộng Trong nỗ lực giữ mức thuế thấp để thu hút doanh nghiệp đầu tư, các quan chức địa phương có thể giữ chi tiêu công dưới mức mà lợi ích cận biên bằng chi phí cận biên"

Theo đó, các nghiên cứu chỉ trích cạnh tranh thuế đa phần ủng hộ một lập luận chung là: cạnh tranh thuế đối với những yếu tố di động như vốn và lao động có thể gây ra tổn hại đến hiệu quả cung cấp hàng hóa công cộng Do đó, hài hòa thuế nên được chính phủ áp dụng (Oates, 1972; Sinn, 1997; Zodrow & Mieszkowski, 1986) Trong các nghiên cứu này, các học giả đề cập đến sự thiếu hụt hàng hóa công cộng là kết quả của cạnh tranh vốn đầu tư và chính sách thuế Kết quả này thường được gọi là hiện tượng “cuộc đua tới đáy (race to bottom)” Do cạnh tranh thuế, việc cắt giảm thuế liên tiếp làm cho các quốc gia tham gia trở nên thiếu hụt nguồn lực tài chính trầm trọng, qua đó, việc cung cấp hàng hóa công cộng sẽ giảm xuống dưới mức tối ưu Theo đó, các nghiên cứu đề xuất những quy tắc về hài hòa thuế nhằm đảm bảo nguồn lực để cung cấp hàng hóa công cộng (Tanzi, 1996; Teather, 2002; Wilson & Wildasin, 2004)

Ngoài ra, bởi chi tiêu công thường không linh hoạt giảm xuống theo quá trình cắt giảm thuế suất, thâm hụt tài khóa và nợ công có thể tăng lên do cạnh tranh thuế Trong trường hợp chi tiêu công bị cắt giảm, không có gì đảm bảo rằng những

gì bị cắt sẽ là mức không hiệu quả (Mitchell, 2004) Do đó, cạnh tranh thuế có thể gây ra suy thoái thuế Các thành phần thuế hiệu quả có thể được thay thế bằng thuế không hiệu quả Hệ thống thuế có thể kém công bằng hơn do sự thay đổi gánh nặng thuế đối với các yếu tố bất động khi hệ số Gini (hệ số về bất bình đẳng thu nhập) tăng lên ở hầu hết các quốc gia (Tanzi, 2008)

Trang 24

Một số học giả cho rằng cạnh tranh thuế nói chung có hại cho nhiều quốc gia Cạnh tranh thuế có thể được xem là quá trình các quốc gia cạnh tranh nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và dòng vốn quốc tế thông qua cắt giảm thuế suất và

ưu đãi thuế Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều trường hợp cạnh tranh thái quá đã trở thành “cạnh tranh thuế có hại (hamful tax competition)” Nhiều quốc gia cạnh tranh thuế không lành mạnh bằng cách không thu thuế hoặc áp thuế suất rất thấp, giảm nhẹ gánh nặng thuế bằng các biện pháp ưu đãi thuế và che giấu thông tin thuộc về người nộp thuế (Brown, 1999; Weiner & Ault, 1998) Các quốc gia hành động theo cách này không chỉ dẫn đến tổn thất cơ sở thuế của các quốc gia khác mà còn làm tổn hại đến doanh thu thuế toàn cầu

Ngoài ra, cạnh tranh thuế có hại làm giảm hiệu quả phân bổ vốn, phân phối lại gánh nặng thuế quốc gia (làm gia tăng gánh nặng thuế vào các yếu tố ít di động hơn) và làm suy yếu nền dân chủ bằng cách buộc chính phủ sửa đổi hệ thống thuế theo cách mà cử tri không mong muốn Khi các chính phủ liên tục sửa đổi các hệ thống thuế để “cạnh tranh nhau”, nó cũng tạo ra xu hướng gia tăng sự phức tạp trong các hệ thống thuế quốc gia và quy tắc thuế quốc tế (Edwards & Mitchell, 2008; Mitchell, 2004)

2.2.2 Lý thuyết hài hòa thuế

Trên thực tế, bất kỳ tác hại nào của cạnh tranh thuế là lý do chính để các quốc gia mong muốn liên kết theo hướng hài hòa thuế Hài hòa thuế nói chung được hiểu là

“một quá trình điều chỉnh hệ thống thuế của các khu vực tài phán khác nhau trong việc theo đuổi một mục tiêu chính sách chung”(Kopits & Kopits, 1992) Theo lý

thuyết hài hòa thuế, người nộp thuế có thể nhận được nhiều lợi ích từ chính sách thuế nếu chính thuế được hài hòa là tốt (Mitchell, 2004) Trong khi đó, các chính phủ được bảo vệ khỏi tác động tiêu cực của cạnh tranh thuế Bên cạnh đó, mặc dù thực tế cho thấy hài hòa thuế có nghĩa là thuế suất cao hơn, nó cũng có nghĩa là việc kiểm soát và hạn chế hiện tượng đánh thuế hai lần vào thu nhập và đầu tư được thực hiện tốt hơn (Edwards & Mitchell, 2008; Mitchell, 2004)

Trang 25

Dựa trên nghiên cứu của Velayos & cộng sự (2008), các mô hình hài hòa thuế bao gồm năm cấp độ, được mô tả theo dạng hình chóp với mức độ hài hòa tăng dần Một cách khái quát, các mô hình hài hòa thuế được thiết lập dựa trên mức độ cam kết chính trị giữa các quốc gia thành viên

Biểu đồ 2.1: Các cấp độ hài hòa thuế

Nguồn: Velayos & cộng sự (2008)

(1) Mức độ tiêu chuẩn hóa

Tiêu chuẩn hóa là cấp độ hài hòa thuế ở mức cao nhất Mức độ này được định nghĩa

là các chính sách thuế của các quốc gia thành viên gần như tương tự nhau, có cùng mức thuế suất hoặc cân bằng gánh nặng thuế đối với từng loại thuế

(2) Mức độ tương thích

Các quốc gia thành viên điều chỉnh cấu trúc thuế để khắc phục hoặc bù đắp cho các tác động gây biến dạng thị trường bởi sự khác biệt trong gánh nặng thuế trong quá trình hội nhập kinh tế Điều này không có nghĩa là các yếu tố của cấu trúc thuế

Trang 26

giống hệt nhau (về mức thuế hoặc gánh nặng thuế) mà các điều chỉnh này hướng đến sự phát triển chung

(3) Mức độ phối hợp

Là mức độ “trung bình” trong các cấp độ hài hòa thuế Mức độ phối hợp bao gồm các nỗ lực của các quốc gia thành viên để các chính sách, cơ chế quản lý thuế của các thành viên được hài hòa, có thể phối hợp với nhau

(4) Mức độ hợp tác

Hợp tác, hỗ trợ trên cơ sở có đi có lại Nghĩa là, một quốc gia cung cấp thông tin về thuế của mình cho các quốc gia khác với kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được thông tin từ quốc gia đối tác hoặc vì lợi ích chung (ví dụ như hiệp định đánh thuế trùng giữa hai quốc gia hợp tác) Hợp tác không bao gồm việc chia sẻ cùng một chính sách thuế (chính sách thuế chung) nhưng là nền tảng để hài hòa thuế ở các mức độ cao hơn

Sự hợp tác góp phần vào sự thống nhất của việc áp dụng các biện pháp thuế giữa các khu vực tài phán để thiết lập hợp tác song phương và đa phương, qua đó, có thể điều chỉnh quản lý thuế hiệu quả hơn

(5) Mức độ hội tụ

Hội tụ là một hành động tự phát như một giải pháp cho các vấn đề thuế giữa hai quốc gia trở lên, là kết quả của toàn cầu hóa và sự cạnh tranh thuế Tuy nhiên, theo Afrianto (2018), các nỗ lực giải quyết các vấn đề thuế ở cấp độ này thường xảy ra khi các chính phủ không thể phớt lờ các vấn để về thuế được nữa chứ không phải ở mức độ hợp tác

Thực tế cho thấy, phần lớn các tài liệu về cạnh tranh thuế và hài hòa thuế ứng dụng trong thực tế trong những thập niên qua chủ yếu ở các quốc gia Châu Âu

vì các thành viên Liên minh châu Âu (European Union- EU) là một ví dụ điển hình cho việc cạnh tranh rồi tiến tới hài hòa thuế Vào những năm 1990, do toàn cầu hóa, nhiều nghiên cứu đã đưa ra báo động về tác động tiêu cực của cạnh tranh thuế Trong giai đoạn này, có rất nhiều cảnh báo ở châu Âu rằng toàn cầu hóa và cạnh

Trang 27

tranh thuế sẽ làm cho hoạt động kém hiệu quả ở các cơ sở tài chính nhà nước Sự cạnh tranh thuế làm nhiều chính phủ lo sợ rằng họ sẽ bị mất nguồn thu, dẫn đến nguy cơ về một “cuộc đua tới đáy" (Edwards & Mitchell, 2008; Mitchell, 2004)

Đáp lại, nhiều nhà kinh tế và chính trị gia đề xuất các chính phủ nên theo đuổi việc hài hòa thuế, tương thích các cấu trúc thuế với nhau Một số nghiên cứu ủng hộ sự cần thiết của các quy tắc nghiêm ngặt về hài hóa thuế xuyên quốc gia như đặt ra mức thuế suất hài hòa và quy định chính phủ phải đảm bảo cung cấp đủ các hàng hóa công cộng Theo đó, chính sách hài hòa thuế dần được hình thành ở EU

Về cơ bản, các thoả thuận này yêu cầu các quốc gia thành viên dần hài hòa hệ thống thuế của mình theo một tiêu chuẩn chung và hạn chế cạnh tranh thuế (Mintz, 2004; Mitchell, 2004; Tyc, 2008)

Ngoài ra, trước áp lực tổn thuế toàn cầu ngày càng lớn bởi toàn cầu hóa và cạnh tranh thuế có hại, OECD đã tổ chức một dự án chống cạnh tranh thuế có hại

vào những năm 1990s, bước ngoặt là việc xuất bản chuỗi báo cáo "Cạnh tranh thuế

có hại: Một vấn đề toàn cầu mới nổi" và công bố một danh sách đen về các thiên

đường thuế3

Với các quốc gia ASEAN, phần lớn các thành viên là các quốc gia đang phát triển, vấn đề hài hòa thuế rất cần được đưa ra để xem xét cẩn trọng Hài hòa thuế ở mức độ cao cần trình độ quản lý thuế tốt và sự phối hợp hiệu quả giữa các quốc gia Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển mà cụ thể là các quốc gia ASEAN đa phần lại có hiệu suất quản lý thuế rất thấp (được biểu thị bằng tổng số giờ để tuân thủ thuế cao) Vì vậy, hài hòa thuế ở mức độ hội tụ và phối hợp có thể là lựa chọn tốt cho ASEAN để khởi đầu các hợp tác chính trị nhằm thiết kế chính sách hài hòa thuế ở mức độ cao hơn, khắc phục tác động tiêu cực của cạnh tranh thuế

2.2.3 Cạnh tranh thuế, hài hòa thuế và toàn cầu hóa

3 https://www.oecd-ilibrary.org/taxation/harmful-tax-competition_9789264162945-en

Trang 28

Theo Neumann & cộng sự (2009), mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và chính sách thuế thường ngụ ý về khả năng các chính phủ lựa chọn thiết lập chính sách thuế độc lập hay hài hòa với các quốc gia khác trong bối cảnh toàn cầu hóa Điều này phụ thuộc và nhiều yếu tố Nếu lao động và vốn có thể dễ dàng di chuyển từ khu vực tài phán này sang khu vực tài phán khác, bất kỳ nỗ lực đánh thuế nào vào các yếu tố này (cao hơn so với quốc gia láng giềng) sẽ dẫn đến sự dịch chuyển vốn và lao động

từ các khu vực thuế suất cao sang khu vực thuế suất thấp Với sự hiện diện của các

cơ sở thuế có tính di động cao này, sự lựa chọn chính sách thuế của chính phủ sẽ có tác động vượt ra ngoài biên giới của chính nó cũng như bị ảnh hưởng bởi các hành động của các quốc gia khác

Hay nói một cách khác, toàn cầu hóa đẩy mạnh hơn các tác động tích cực lẫn tiêu cực của toàn cầu hóa (Adam & cộng sự, 2013; Kammas, 2011; Neumann & cộng sự, 2009) Một mặt, toàn cầu hóa đặt ra áp lực đáng kể, thúc đẩy các quốc gia phải cải cách chính sách thuế hiệu quả hơn trên toàn thế giới Khi dòng chảy thương mại quốc tế và dịch chuyển vốn trở nên tự do hơn (cũng như thông tin được truyền tải dễ dàng qua phương tiện truyền thông), việc một chính phủ áp đặt một mức thuế suất quá cao trở nên khó duy trì Xu hướng toàn cầu hóa cũng thúc đẩy người lao động “bỏ phiếu bằng chân”, gây ra mối lo ngại đáng kể cho các quốc gia có thuế suất cao (Mitchell, 2004) Ngoài ra, với nguồn lao động nhập cư và vốn đầu tư tăng lên ở nước sở tại, cạnh tranh thuế trong trường hợp này không những không dẫn đến giảm số thu thuế mà còn có thể làm tăng số thu thuế (mặc dù thuế suất giảm nhưng

cơ sở thuế tăng lên) so với hài hòa thuế (Razin & Sadkay, 2011)

Mặc khác, khi hàng hóa và vốn dịch chuyển tự do hơn, cạnh tranh thuế dễ dẫn đến “cạnh tranh thuế có hại (hamful tax competition)” (Edwards & Mitchell, 2008; Mitchell, 2004; Teather, 2002) Nhiều quốc gia cạnh tranh không lành mạnh bằng cách thực hiện biện pháp ưu đãi thuế quá mức hoặc che giấu thông tin người nộp thuế Quá trình này làm tổn thất cơ sở thuế của các quốc gia khác cũng như làm tổn hại đến doanh thu thuế toàn cầu (Brown, 1999; Weiner & Ault, 1998) Nghiêm trọng hơn, cạnh tranh thuế có hại và toàn cầu hóa là nguyên nhân chính tạo ra các

Trang 29

“thiên đường thuế (Tax haven)” (Mitchell, 2004) Một thiên đường thuế có thể là

một tiểu bang, một quốc gia hoặc lãnh thổ áp đặt mức thuế thấp hoặc không thu thuế Có nhiều tranh luận về thiên đường thuế, tuy nhiên, đặc điểm chung của của các thiên đường thuế là họ tạo ra các chính sách thuế và các chính sách có liên quan nhằm mục đích hỗ trợ cho người nộp thuế thực hiện ẩn lậu thuế, giảm thiểu hoặc trốn tránh các nghĩa vụ thuế tại các quốc gia khác trên thế giới OECD hiện nay đã công bố danh sách đen về các thiên đường thuế, những nơi hỗ trợ cho các hành vi trục lợi về thuế cũng như tạo điều kiện cho sự không tuân thủ thuế của người nộp thuế ở các quốc gia khác4

Thực tế cho thấy, các quốc gia Đông Nam Á đang đẩy mạnh quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới với việc thành lập cộng động kinh tế chung ASEAN Economic Community- AEC (Das, 2015; Kawai & Naknoi, 2015; Lee & Fukunaga, 2014; Onyusheva & cộng sự, 2018; Thanh & cộng sự, 2014) Theo đó, ASEAN đang trở thành thị trường quan trọng trong thương mại quốc tế và

là điểm đến của dòng vốn đầu tư quốc tế, mở ra “kỷ nguyên Đông Nam Á” (Kawai

& Naknoi, 2015) Tuy nhiên, mặc dù thành lập cộng đồng kinh tế chung song các quốc gia lại chưa đạt được một thỏa thuận về chính sách hài hòa thuế (chỉ thỏa thuận ở việc cắt giảm thuế quan) (Lee & Fukunaga, 2014; Thanh & cộng sự, 2014) Thực tế cho thấy xu hướng cạnh tranh bằng chính sách sách thuế (cắt giảm thuế suất, tạo ra nhiều ưu đãi thuế) trong việc thu hút FDI giữa các quốc gia Đông Nam

Á (Thanh & cộng sự, 2014) Cùng với xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh

mẽ, điều này đặt ra không ít nghi ngại về một cạnh tranh thuế giữa các quốc gia

Thêm vào đó, Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hướng đến tự do hóa thương mại, dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan Điều này đặt ra áp lực lớn đối với số thu thuế của các quốc gia Đông nam Á Cụ thể, theo cam kết giữa các quốc gia ASEAN, thuế xuất nhập khẩu giữa các quốc gia ASEAN sẽ về 0% vào năm 2020 (Lee &

4 https://www.oecd-ilibrary.org/taxation/harmful-tax-competition_9789264162945-en

Trang 30

Fukunaga, 2014; Thanh & cộng sự, 2014) Tương tự, các hiệp định thương mại như Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực - RCEP giữa các quốc gia ASEAN và 6 đối tác thương mại lớn (Trung Quốc, Ấn Độ, Australia, Hàn Quốc, Nhật Bản, New Zealand) và hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP ( Một hiệp định thương mại FTA thế hệ mới có một số quốc gia Đông Nam

Á là thành viên như Việt Nam, Brunei, Malaysia) cũng hướng đến dần dỡ dơ bỏ hàng rào thuế quan5 Theo đó, dựa vào lý thuyết và bối cảnh thực tiễn, học viên kỳ vọng tác động âm của chỉ số toàn cầu hóa đến số thu thuế tại trường hợp nghiên cứu này:

Giả thuyết H 1 : Toàn cầu hóa tác động âm đến số thu thuế của các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2000-2019

2.3 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

Lược khảo những nghiên cứu trước cho thấy, tác động của toàn cầu hóa đến chính sách thuế được thực nghiệm ở nhiều nghiên cứu khác nhau nhưng kết quả đạt được vẫn còn nhiều mâu thuẫn Dựa vào phân loại cách thức đo lường khái niệm toàn cầu hóa, các nghiên cứu thực nghiệm về đề tài này có thể chia làm hai giai đoạn

Trong giai đoạn đầu, do chưa có chỉ số cụ thể đo lường khái niệm toàn cầu hóa, các chỉ số về dòng chảy thương mại quốc tế (độ mở thương mại) hay dịch chuyển vốn quốc tế (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI) thường được các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng để đo lường toàn cầu hóa

Một trong những nghiên cứu thực nghiệm tiên phong trong việc kiểm định tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế là nghiên cứu của Garrett (1995) Sử dụng dữ liệu của mười lăm quốc gia OECD giai đoạn 1967-1990, nghiên cứu xem xét sự tương tác giữa các yếu tố chính trị trong nước (ví dụ như hệ tư tưởng chính trị), các yếu tố kinh tế và hội nhập quốc tế (toàn cầu hóa) tác động như thế nào đến chính sách tài khóa của các quốc gia phân tích Liên quan đến tác động của toàn cầu

5 http://www.trungtamwto.vn/fta

Trang 31

hóa đến chính sách thuế, Garrett (1995) sử dụng sự biến thiên của số thu thuế trên GDP làm biến phụ thuộc và độ mở thương mại quốc tế trên GDP là biến đo lường toàn cầu hóa (mức độ hội nhập quốc tế) Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động dương của thương mại quốc tế đến số thu thuế tại trường hợp nghiên cứu này Tương tự, với dữ liệu của mười bảy quốc gia tiên tiến giai đoạn 1966-1993, nghiên cứu của Swank (1998) cũng sử dụng độ mở thương mại nhằm thể hiện toàn cầu hóa, kết luận rằng xu hướng toàn cầu hóa có tác động tích cực đến

số thu của thuế thu nhập doanh nghiệp

Trong khi đó, nghiên cứu của Rodrik (1998) với dữ liệu của mười tám quốc gia OECD từ năm 1965 đến năm 1991 kết luận rằng gia tăng thương mại quốc tế (so với GDP) có tác động tiêu cực đến thuế suất thực tế của các quốc gia phân tích Tương tự, Bretschger & Hettich (2002) Bretschger và Hettich (2002, 2005) cho thấy tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đến thuế suất doanh nghiệp thực tế tại 12 quốc gia OECD trong giai đoạn 1967-1996 Với dữ liệu bảng của năm mươi lăm quốc gia giai đoạn 1980-1995, Slemrod (2004) cho thấy mở cửa thương mại (toàn cầu hóa)

có tác động tiêu cực với thuế suất theo luật định nhưng tác động tích cực với số thu thuế trên GDP tại các quốc gia phân tích

Các yếu tố về dịch chuyển vốn quốc tế cũng được một số nghiên cứu thực nghiệm khác sử dùng để đo lường toàn cầu hóa Với dữ liệu bảng của mười quốc gia OECD giai đoạn 1965-1996, nghiên cứu của Hays (2003) sử dụng ba chỉ số vốn quốc tế khác nhau để đo lường toàn cầu hóa và kết luận rằng sự dịch chuyển vốn quốc tế (toàn cầu hóa) có tác động tiêu cực mạnh mẽ đến thuế suất của các quốc gia phát triển Trong khi đó, nghiên cứu của Quinn (1997) sử dụng chỉ số tự do hóa tài chính để đo lường toàn cầu hóa ở ba mươi tám quốc gia giai đoạn 1974-1991 Nghiên cứu chỉ ra tác động khác nhau của toàn cầu hóa đến số thu thuế của các quốc gia khác nhau

Có thể thấy rằng, các nghiên cứu giai đoạn này thường sử dụng các chỉ số thương mại và dịch chuyển vốn quốc tế để đo lường toàn cầu hóa Theo đó, khái

Trang 32

niệm toàn cầu hóa gắn chặt toàn cầu hóa với quan hệ thương mại quốc tế hay dịch chuyển vốn đầu tư Tuy nhiên, toàn cầu hóa không chỉ là thúc đẩy thương mại quốc

tế hay vốn đầu tư (De Vries, 2010) Hay nói cách khác, Dreher (2006b) và Adam & cộng sự (2013) luận giải, toàn cầu hóa là một khái niệm đa chiều với ba khía cạnh (kinh tế, xã hội, chính trị) Nhưng, các chỉ số này lại không phản ánh được hai khía cạnh còn lại của khái niệm toàn cầu hóa

Theo đó, Dreher (2006a) nghiên cứu và thiết lập chỉ số toàn cầu hóa KOF nhằm đo lường toàn cầu hóa ở cả ba khía cạnh Bộ chỉ số toàn cầu hóa KOF mở ra giai đoạn tiếp theo cho các nghiên cứu về mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và chính sách thuế (Dreher, 2006a; Onaran & Boesch, 2014; Öz-Yalaman & cộng sự, 2019; Ranjan & Gözgör, 2018)

Onaran & Boesch (2014) đánh giá tác động của chỉ số toàn cầu hóa KOF đến thuế suất thực tế trung bình tại mười lăm quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (EU)

và mười ba quốc gia Trung và Đông Âu (CEE) trong giai đoạn 1970-2007 Mặc dù không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa giữa toàn cầu hóa và thuế vốn hoặc thuế tiêu dùng song nghiên cứu lại cho thấy mối quan hệ tích cực giữa toàn cầu hóa kinh tế

và thuế thu nhập cá nhân tại nhóm các quốc gia thuộc liên minh Châu Âu (EU) Đối với mười ba quốc gia khối CEE, nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa toàn cầu hóa kinh tế và thuế vốn, mối quan hệ tiêu cực đối với thuế tiêu dùng và không có mối quan hệ nào đối với thuế thu nhập cá nhân

Trong khi đó, Ranjan & Gözgör (2018) đánh giá tác động của toàn cầu hóa đến chính sách thuế bằng cách sử dụng chỉ số toàn cầu hóa KOF với một trăm bốn mươi chín quốc gia giai đoạn 1970-2015 Kết quả chỉ ra, chỉ số toàn cầu hóa KOF

có tác động tiêu cực đáng kể đến thuế thu nhập doanh nghiệp tại các quốc gia phân tích Tương tự, Öz-Yalaman & cộng sự (2019) sử dụng chỉ số toàn cầu hóa KOF để đánh giá tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại ba mươi ba quốc gia giai đoạn 1998-2016 Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ

Trang 33

nghịch biến giữa chỉ số toàn cầu hóa và thuế thu nhập doanh nghiệp tại các quốc gia phân tích

Chỉ số toàn cầu hóa KOF đo lường cả ba khía cạnh của toàn cầu hóa Nhưng, lược khảo các nghiên cứu trên thì số lượng các nghiên cứu ứng dụng chỉ số toàn cầu hóa KOF để đánh giá tác động của toàn cầu hóa đến chính sách thuế vẫn còn khiêm tốn và không giống nhau ở các trường hợp nghiên cứu khác nhau Do đó, luận văn

sử dụng chỉ số toàn cầu hóa KOF để đánh giá tác động của toàn cầu hóa đến chính sách thuế tại các quốc gia ASEAN giai đoạn 2000-2019

Trang 34

Trong khi đó, một trong những nền tảng lý thuyết được sử dụng phổ biến để luận giải tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế là lý thuyết cạnh tranh thuế và hài hòa thuế Cạnh tranh thuế xảy ra khi người nộp thuế thực hiện giảm gánh nặng thuế bằng cách dịch chuyển vốn hoặc lao động từ các quốc gia có thuế suất cao sang các quốc gia có thuế suất thấp hơn Hài hòa thuế nói chung được hiểu là quá trình điều chỉnh hệ thống thuế của các khu vực tài phán khác nhau trong việc theo đuổi một mục tiêu chính sách chung

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thực tế, hai lý thuyết này thường mâu thuẫn lẫn nhau, buộc các chỉnh phủ phải lựa chọn Mặc dù có nhiều tác động tích cực song bất kỳ tác hại nào của cạnh tranh thuế là lý do để các số quốc gia mong muốn liên kết theo hướng hài hòa thuế Theo đó, mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và chính sách thuế thường ngụ ý về khả năng các chính phủ lựa chọn các chính sách thuế độc lập hay hài hòa với các quốc gia khác trước bối cảnh toàn cầu hóa

Tương tự, dựa theo phân loại cách thức đo lường toàn cầu hóa, các nghiên cứu thực nghiệm về đề tài này có thể chia làm hai giai đoạn với điểm mốc là việc ra đời chỉ số toàn cầu hóa KOF Có nhiều nghiên cứu khác nhau về tác động của toàn cầu hóa đến chính sách thuế được thực hiện nhưng kết quả nghiên cứu vẫn còn

Trang 35

nhiều mâu thuẫn Dựa vào lý thuyết và bối cảnh thực tiễn tại các quốc gia Đông Nam Á, tác giả kỳ vọng tác động âm của chỉ số toàn cầu hóa đến số thu thuế tại

trường hợp nghiên cứu này

Trang 36

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM ĐỊNH

Chương 3 của luận văn trình bày mô hình thực nghiệm, phương pháp nghiên cứu và

dữ liệu nghiên cứu Lược khảo các nghiên cứu trước cho thấy, toàn cầu hóa là mội khái niệm đa khía cạnh và cách thức đo lường vẫn còn nhiều tranh luận Chỉ số tòan cầu hóa KOF ngày càng được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu thực nghiệm

để đo lường khái niệm toàn cầu hóa

Ở chương này, học viên trình bày mô hình thực nghiệm nhằm đánh giá tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2000-2019 Cụ thể, học viên điều chỉnh mô hình thực nghiệm của Bird & cộng sự (2006) và Thanh & cộng sự (2014) Sử dụng chỉ số toàn cầu hóa KOF để đo lường khái niệm toàn cầu hóa Ngoài ra, dựa vào lược khảo lý thuyết và bối cảnh thực tiễn đối với các quốc gia phân tích, học viên đưa thêm các biến kiểm soát phù hợp vào

mô hình thực nghiệm Trong nội dung chương này, các phương pháp kiểm định và

dữ liệu nghiên cứu cũng được trình bày

Theo đó, nội dung của chương được cấu trúc thành ba phần chính như sau: phần đầu tiên trình bày về mô hình thực nghiệm, phần thứ hai là phương pháp kiểm định và phần thứ ba trình bày về dữ liệu nghiên cứu và nguồn thu thập

Trang 37

3.1 Mô hình thực nghiệm

Học viên điều chỉnh mô hình thực nghiệm của Bird & cộng sự (2006) và Thanh & cộng sự (2014) để kiểm định thực nghiệm tác động của toàn cầu hóa đến số thu thuế tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2000-2019 Theo Thanh & cộng sự (2014),

mô hình thực nghiệm về các nhân tố tác động đến số thu thuế có dạng như sau: 𝑇𝐴𝑋𝑅𝐸𝑉𝑡 = 𝑓( 𝐺𝐷𝑃𝑡, 𝐴𝐺𝑅𝑡, 𝑃𝑂𝑃𝑡, 𝑇𝑟𝑎𝑑𝑒𝑡)

Trong đó,

TAXREV là số thu thuế trên GDP

GDP là thu nhập bình quân đầu người

AGR là giá trị ngành nông nghiệp

POP là quy mô dân số

TRADE là độ mở thương mại

Như đã trình bày ở chương trước, cách thức đo lường dựa trên dòng chảy thương mại quốc tế phản ánh khía cạnh kinh tế của toàn cầu hóa thông qua mức độ hội nhập kinh tế trên thị trường hàng hóa, tuy nhiên, chỉ số này lại không phản ánh được hai khía cạnh còn lại của khái niệm toàn cầu hóa Theo đó, khác với Thanh & cộng sự (2014), luận văn sử dụng chỉ số toàn cầu hóa KOF (biến GLOBAL) thay vì

sử dụng độ mở thương mại Bên cạnh đó, dựa vào lược khảo lý thuyết và bối cảnh thực tiễn đối với các quốc gia phân tích, học viên lựa chọn và đưa thêm các biến kiểm soát phù hợp vào mô hình thực nghiệm (Castro & Camarillo, 2014; Hoài & Hùng, 2016) Theo đó, mô hình thực nghiệm có dạng như sau:

TAXREV là số thu thuế trên GDP

GLOBAL là chỉ số toàn cầu hóa

Trang 38

Xit là tập hợp các biến kiểm soát, bao gồm: Thu nhập bình quân đầu người (GDPpc); Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); Giá trị ngành nông nghiệp (AGR); Quy mô dân số (POP); Số năm học trung bình (SCHOOL); Chỉ số tuổi thọ

kỳ vọng (LIFEEXP); Chỉ số chất lượng thể chế chính trị (INS)

i là quốc gia i và t là năm thứ t

Dựa vào lược khảo lý thuyết và bối cảnh thực tiễn tại các quốc gia Đông Nam Á, các biến kiểm soát được tác giả đưa vào mô hình có thể được luận giải khái quát như sau:

Thu nhập bình quân đầu người (GDPpc): Đây là biến số thể hiện cho mức độ phát triển kinh tế Mức thu nhập cao thường làm tăng nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ Thu nhập cao hơn cũng làm tăng khả năng thanh toán tổng thể trong xã hội Kinh tế phát triển được kỳ vọng là tạo ra số thu thuế cao hơn (Fox & Gurley, 2005) Gupta (2007) cũng tìm thấy được GDP bình quân đầu người là một trong các yếu tố quyết định mạnh mẽ đến hoạt động thu thuế Bối cảnh thực tiễn tại các quốc gia Đông Nam Á cho thấy, hầu hết các quốc gia phân tích đều là các quốc đang phát triển với mục tiêu hàng đầu là phát triển kinh tế Theo đó, luận văn kỳ vọng tác động dương của thu nhập bình quân đầu người đối với số thu thuế tại trường hợp nghiên cứu này

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Dòng vốn FDI giúp tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế (Gugler & Brunner, 2007) Các công nghệ hiện đại cùng

kỹ năng quản lý chuyên nghiệp của các doanh nghiệp nước ngoài thúc đẩy doanh nghiệp nội địa phải đổi mới và nền kinh tế phát triển hơn Thông qua quá trình này, hoạt động sản xuất kinh doanh được mở rộng và số thu thuế được kỳ vọng gia tăng (Castro & Camarillo, 2014; Gugler & Brunner, 2007) Theo đó, luận văn kỳ vọng FDI sẽ có tác động tích cực đến số thu thuế (Castro & Camarillo, 2014)

Giá trị ngành nông nghiệp (AGR): Giá trị ngành nông nghiệp được đo bằng giá trị nông nghiệp trên GDP Nông nghiệp là một ngành khó đánh thuế Vì vậy, các quốc gia đang phát triển thường giảm hoặc miễn phần lớn thuế các hoạt động nông

Ngày đăng: 29/10/2020, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w