1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ thơ trần nhuận minh

129 561 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 722,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi xin điểm lại tình hình nghiên cứu về tác giả, tác phẩm của ông như sau: Sáng tác trong những năm tháng “khủng hoảng vật vã” chuyển mình từ cái cũ sang cái mới, những năm tháng

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

- -

NGUYỄN VĂN HƯNG

THƠ TRẦN NHUẬN MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thái Nguyên, năm 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

- -

NGUYỄN VĂN HƯNG

THƠ TRẦN NHUẬN MINH

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thái Nguyên, năm 2011

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong số các nhà thơ hiện đại Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX và tiếp nối

sang đầu thế kỉ XXI, Trần Nhuận Minh là nhà thơ có một khối lượng sáng tác hết sức phong phú và đa dạng Nếu chỉ dừng lại ở một vài tập thơ trong từng thời điểm thì thật khó có thể vẽ lên bức chân dung văn học của ông 25 năm trước thời kì đổi mới, người ta biết đến ông trên thi đàn, với những bài thơ hiền lành, giản dị nhưng cũng không kém phần sâu sắc, hóm hỉnh; cho đến 25 năm sau đổi mới, tính đến nay, bước đi của Trần Nhuận Minh đột ngột và dồn dập, biến ảo và sâu sắc, như cuộc sống đa chiều đang diễn ra hàng ngày

Sáng tác thơ đối với Trần Nhuận Minh là cả một quá trình đầy hạnh phúc nhưng cũng đầy lo âu và dằn vặt Làm thơ rất sớm, năm 1960, ông đã có thơ

đăng báo Tập thơ đầu tiên: Đấy là tình yêu ra đời năm 1971, sau đó ông lần lượt cho ra đời các tập thơ: Âm điệu một vùng đất (1980), Thành phố bên này

sông (1982), Hoa cỏ (1982), Nhà thơ áp tải (1989), Nhà thơ và hoa cỏ (1993), Bản Xô nát hoang dã (2003), 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh (2007) và Miền dân gian mây trắng (2008)

Quá trình sáng tác là một quá trình vận động trong nhận thức của Trần

Nhuận Minh Từ chỗ làm thơ như theo “một công thức có sẵn, là thứ thơ mang

tính chất minh họa”, ông đã cương quyết “bỏ lại đọc đường” những đứa con tinh

thần “khô cứng” của mình để đi tới con đường nghệ thuật đích thực, đó là: “Hãy

áp tải sự thật – Đến những bến cuối cùng” Trong số nhà thơ thế hệ chống Mĩ,

có lẽ, chỉ có Trần Nhuận Minh là dứt khoát từ bỏ 25 năm “thơ bao cấp của

mình” Đây không phải là đoạn tuyệt với quá khứ mà là đoạn tuyệt với một kiểu

tư duy bao cấp của ông trong quá khứ Và cũng chính từ đây, trang thơ ông thật

sự “lật cánh”

Không quan sát một cách duy cảm, mà bằng những va chạm trực tiếp với đời sống hiện thực, thơ ông thể hiện sự cảm nhận sâu sắc về những nỗi đau có

Trang 4

thực của những kiếp người, về những trạng thái xã hội đầy những khiếm khuyết, đầy những nhức nhối, xót xa qua bức chân dung số phận con người đa dạng và phức tạp

Đặc điểm nổi bật trong thơ Trần Nhuận Minh là sự đan kết thực – hư trong việc xây dựng thế giới hình tượng đã mở ra khả năng chiếm lĩnh, nắm bắt

và giải thích hiện thực, đồng thời diễn tả thế giới tâm linh vốn nhiều bí ẩn và những dấu hiệu mong manh mơ hồ, khó nắm bắt Người đọc vì thế khi tiếp cận thơ ông phải tiếp cận trong tính chất đa chiều, khái quát và phong phú Thơ ông, quả là một thứ thơ có màu sắc riêng, có phong cách riêng và có một vị trí riêng trong đời sống thơ ca hiện đại

Để đánh giá một cách xác đáng về thơ Trần Nhuận Minh, nếu chúng ta chỉ dừng lại ở một vài bài nghiên cứu thì không thể có cái nhìn khái quát về thơ ông Phải xâu chuỗi cả đời thơ nửa thế kỉ qua, dưới nhiều góc cạnh mới thấy hết được sự sáng tạo đáng trân trọng của Trần Nhuận Minh Có như vậy, chúng ta mới nhận diện được thơ Trần Nhuận Minh và khẳng định những cống hiến của ông trong văn học nghệ thuật suốt 50 năm qua Mới hiểu vì sao ông được tặng

giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho hai tập thơ: Nhà thơ và hoa cỏ

và Bản Xô nát hoang dã, về hàng chục Huân chương, Huy chương, Kỉ niệm

chương và nhiều giải thưởng văn học cao quý khác

1.2 Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá một cách thấu đáo, công bằng về những đóng góp cũng như sáng tạo độc đáo của nhà thơ Trần Nhuận Minh cho tới nay vẫn còn ở dạng rất “khiêm tốn” Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi, thì hiện tại mới có hai luận văn thạc sĩ nghiên cứu về một số phương diện nghệ thuật trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác thơ của Trần Nhuận Minh, đó là: Lê Thị

Hải Hà với đề tài: Chủ thể trữ tình trong thơ Trần Nhuận Minh, và Chung Thị Thúy với đề tài: Cảm hứng thế sự và đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh

Ngoài ra còn một số bài nghiên cứu, phê bình về tác giả, tác phẩm của Trần Nhuận Minh của các nhà nghiên cứu có uy tín như: GS Phong Lê, GS Mai

Trang 5

Quốc Liên, nhà phê bình Vũ Quần Phương…trong một số công trình nghiên cứu chung về thơ văn thời kì hiện đại; hoặc ở dạng bài nghiên cứu lẻ Chính vì vậy,

chúng tôi đã lựa chọn đề tài Thơ Trần Nhuận Minh chủ yếu nghiên cứu sâu về

thế giới hình tượng nghệ thuật của ông, mà cụ thể là hình tượng con người – một hình tượng trung tâm, nổi bật, đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của Trần Nhuận Minh, nhằm có một cái nhìn khá hệ thống và toàn diện ở cả hai phương diện: nội dung và hình thức trong sáng tác của nhà thơ này Với hi vọng sẽ góp phần nào vào việc tìm hiểu và đánh giá những nét đặc sắc, những thành công nổi bật và sự đóng góp quan trọng của nhà thơ này đối với nền thơ ca Việt Nam hiện đại (đặc biệt sau những năm 1986 trở lại đây)

1.3 Với một lí do nữa cũng rất có ý nghĩa với người thực hiện đề tài, đó là: nếu luận văn được thực hiện thành công, thì đây sẽ là một công trình nghiên cứu, một tài liệu tham khảo quan trọng giúp cho các thày cô giáo tỉnh Hải Dương (quê hương của tác giả Trần Nhuận Minh và tác giả luận văn) giảng dạy tốt hơn về một tác giả thơ nổi tiếng của vùng đất xứ Đông thời kì hiện đại

2 Lịch sử vấn đề

Trần Nhuận Minh là một trong các nhà thơ đã để lại “một vệt riêng” cho

thơ trữ tình Việt Nam cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, nên thơ ông đã thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình văn học trong thời gian qua Đã

có một số những công trình, bài viết, phê bình, giới thiệu, nghiên cứu về thơ ông Chúng tôi xin điểm lại tình hình nghiên cứu về tác giả, tác phẩm của ông như sau:

Sáng tác trong những năm tháng “khủng hoảng vật vã” chuyển mình từ cái cũ sang cái mới, những năm tháng chất chứa “những giọt nước mắt đời

không thấy”, Trần Nhuận Minh nhận thức rõ vai trò, chức năng của văn học khi

nhà thơ đưa ra quan niệm “Hãy áp tải sự thật – Đến những bến cuối cùng” Nhà

nghiên cứu Phong Lê trong bài viết “Trần Nhuận Minh ba lần định vị cho thơ”

đã thấu suốt quan niệm sáng tác này của nhà thơ Theo ông, Trần Nhuận Minh

Trang 6

đã “bám chặt và áp mặt vào đời để gợi thức và đánh động lương tâm” [13.17]

Cũng theo GS Phong Lê, thơ Trần Nhuận Minh có ba lần định vị, lần thứ nhất

là “Đi tìm hoa và cỏ hoa cỏ” [5.17], lần thứ hai là “Hành trình về với bản

thân”[16.25], lần thứ ba là “Bâng khuâng tự vấn về sự tồn tại con người trong cõi người, cõi đời”[20.30] Ba lần định vị đã “ghim” một dấu mốc cho những

bước chuyển mình của thơ Trần Nhuận Minh qua các giai đoạn sáng tác

Còn GS Mai Quốc Liên khi “Đọc thơ Trần Nhuận Minh” đã phát hiện

thấy ẩn chứa đằng sau mỗi vần thơ là “một tâm hồn thành thực, chân quê, nhưng

lại tích hợp bao tầng văn hóa xưa nay đã nhạy cảm làm sao trước dư chấn của thời đại mình đang sống”[11.39] Đó chính là lí do khiến thơ ông đi đến được

cái chân thực, cái đích thực và dò ra cái “rốn bể” của thơ là nỗi niềm chính

mình Tác giả còn khẳng định: “Thi pháp cuối cùng và cao nhất của thơ, là chỗ

nó chở cuộc đời nhẹ như không thơ, không cần đến câu chữ nữa”[25.44]

Lê Thị Hải Hà trong đề tài Chủ thể trữ tình trong thơ Trần Nhuận

Minh (Luận văn thạc sĩ khoa học ĐHHSP Hà Nội, năm 2008 ) đã nhận xét thơ

Trần Nhuận Minh như sau: “Có thể thấy thơ ông thường tập trung chú ý nhiều

hơn tới hiện thực số phận con người cụ thể với những vấn đề triết lí đạo đức nhân sinh, vừa thể hiện ý thức cá nhân của chủ thể trữ tình Trần Nhuận Minh thuộc kiểu nhà thơ trữ tình thế sự đời tư”[21.39]

Chung Thị Thúy – tác giả luận văn thạc sĩ khoa học (Đại học Vinh), năm

2009 với đề tài Cảm hứng thế sự và đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh đã

viết: “Nhưng khi lịch sử bước sang một trang mới, cuộc sống với tất cả sự nhức

nhối, bức thiết của nó, thơ ca không phải mãi say sưa ngợi ca mà phải hướng tới phản ánh toàn diện hiện thực của con người Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh là cảm hứng hướng đến những vấn đề của đời thường, thấm thía hơn nỗi buồn sau chiến tranh”[21.38] Trần Nhuận Minh cũng như

bao nhà thơ khác ý thức sâu sắc vai trò trách nhiệm xã hội của mình.Với khát

Trang 7

vọng dân chủ, ý thức tôn trọng sự thật, thơ Trần Nhuận Minh đã chạm đến cốt lõi của cuộc sống hiện thực hôm nay

Trần Nhật Thu trong bài Câu thơ như mảnh hồn người, đã viết: “Thơ

Trần Nhuận Minh có những bài, những câu, đẹp đến nao lòng, nhưng lại có những bài, những câu, đau đến xé lòng Có lẽ anh không thể viết khác được, khi

mà anh muốn “áp tải sự thật – Đến những bến cuối cùng”…[9.230]

Nguyễn Xuân Đức khi viết bài Thơ Trần Nhuận Minh, đã đánh giá cao

giá trị cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Trần Nhuận Minh Ông nhận định, Trần

Nhuận Minh “không đứng ngoài quan sát một cách duy lí mà tự hòa đồng để

cảm nhận số phận của mỗi kiếp người Có thể nói anh không chỉ sống có một kiếp người”[6.130] Với bài viết này, Nguyễn Xuân Đức đã chỉ cho ta thấy thơ

Trần Nhuận Minh viết về những con người với số phận thực bằng một tình cảm sâu sắc, chân thành

Tác giả Tô Thùy Anh sau khi đọc Nhà thơ và hoa cỏ đã cảm nhận “bỗng

thấy trước mắt mình sống lại những cảnh đời, bao số phận con người Cũng có lúc thơ anh động đến nỗi đau đời của cả một dân tộc Cái chất dung dị hồn nhiên quyện thêm chất suy tư trăn trở, dằn vặt”[8.219] kết hợp cùng một “giọng thơ nồng đượm, hàm súc, lay động hồn người” đã giúp Trần Nhuận Minh “vươn tới triết lí Đông phương cổ điển”[13.219] Điều đó càng khẳng định vững chắc

thơ Trần Nhuận Minh luôn bắt nguồn từ “truyền thống đạo đức Việt Nam ngàn

đời”[14.219]

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã gọi Trần Nhuận Minh là “người bay bằng

chân” bởi lẽ “ khi sống hết lòng với cái chân thực của cõi người, Trần Nhuận Minh được cả cái hư ảo của trời đất”[23.73]

Khi đọc Nhà thơ và hoa cỏ, tác giả Đào Tiến Thi đã nhận thấy cái Tôi

Trữ tình “luôn da diết nỗi niềm nhân thế nhưng da diết nhất là những bài có

hình tượng nhân vật”[11.265] Hình tượng nhân vật vừa ở góc độ cá thể hóa vừa

Trang 8

ở góc độ khái quát hóa, và “ám ảnh tìm về’’ với vẻ đẹp nguyên khối của con

người xưa

Nhà thơ Hữu Thỉnh trên Tạp chí Tác phẩm Mới số 5/1989 nhận định thế

giới nghệ thuật trong trong tập thơ Nhà thỏ và hoa cỏ đã “mở rộng không gian

cảm nhận, xử lí đề tài” Và cái mới trong tập thơ là “nhà thơ tiếp cận thế giới tâm hồn của người lao động với thước đo của văn hóa” Những bài thơ thành

công của Trần Nhuận Minh là sự cộng hưởng chất sống và kinh nghiệm sống, những thảng thốt bất chợt, đan xen vẻ đẹp bình dị thường ngày

Tập thơ Bản Xô nát hoang dã là bước chuyển mình của cái Tôi Trữ

tình Tác giả Đặng Văn Sinh viết bài Khát vọng về một tình yêu thần thánh đã

chỉ ra rằng “Hình tượng quán xuyến trong toàn bộ tác phẩm là cái tôi trữ tình

biến động, lúc hữu hình, lúc vô ảnh, lúc là hiện thực khách quan, lúc chỉ là giả

tưởng”[14.66] Bên cạnh đó, tác giả bài viết còn nhận thấy trong Bản Xô nát

hoang dã “thế giới hình tượng ở đây, là thế giới lưỡng phân, hai mảng sáng tối

thường phân tầng và luôn được xem xét trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của triết học cổ phương Đông”[9.168]

Nghiên cứu “Bản Xô nát hoang dã từ góc độ thiền học”, tác giả Nguyễn

Văn Sơn cho rằng tác phẩm đã “phản ánh năng lực tư duy nghệ thuật hết sức

nhạy cảm trong việc khéo léo lựa chọn hình thức thể hiện hình tượng nghệ thuật

và chất liệu ngôn ngữ thi ca”[19.178] Tất cả để nhằm thể hiện tư tưởng chỉ đạo

xuyên suốt là tư tưởng giác ngộ, nhận biết về vũ trụ nhân sinh

Nhận định về tập thơ 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh trong bài viết

“Khúc đàn bầu thân phận”, nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng: “Tác giả đã làm

một cuộc viễn du, tạm đứng ra ngoài đời mà nhìn lại chính mình…suy tưởng khái quát như ôm vào thân phận nhân gian của mọi thời, nhưng xuất phát từ thế

sự cụ thể hôm nay, từ tâm trạng bây giờ”[3.189] Giọng tự sự, miêu tả, tưởng

như quen bút của Trần Nhuận Minh, đã thành giọng trữ tình chiêm nghiệm Một cuộc đối thoại với hư không, về chính nỗi lòng mình Trần Nhuận Minh mượn

Trang 9

tiếng đàn bầu dân gian, dân tộc, nghĩ ngợi cái đời mình, cái kiếp mình, cũng là một cách tìm chân dung thời mình đang sống

Tác giả Vũ Ngọc Thảo với bài viết “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh,

đánh thức những miền tiềm thức lạ” nhận ra rằng: “Những khúc thức được xây dựng theo những cảm hứng của nhà thơ…Dòng chảy thi ca trải dài theo dòng thời gian, không gian, từ làng quê ra phố phường, từ góc tối của kẻ sĩ đến sự hèn của chính khách”[19.209]

Trong bài viết “Thi pháp ca dao trong Miền dân gian mây trắng”, tác giả

Hữu Tuân đã phát hiện: “Các đề tài là bức tranh sinh hoạt đời thường diễn ra

hàng ngày quanh ta”[11.346] Điểm mạnh của Trần Nhuận Minh ở góc này là

trào phúng kết hợp với trữ tình “Nói tập thơ nghiêng về đề tài thường nhật, giản

dị nhưng không vì thế mà đơn điệu Trái lại, rất đa dạng, nhiều bài đạt tới độ sâu triết lí nhân sinh”[4.346] Trần Nhuận Minh đã đến được cái đích là chủ

nghĩa nhân văn và truyền thống văn hóa, đạo lí dân tộc

Như vậy, xung quanh việc nghiên cứu, phê bình thơ Trần Nhuận Minh nói chung và các tập thơ cụ thể của ông nói riêng đã có nhiều ý kiến khác nhau, nhiều mức độ lí giải khác nhau Hầu hết các tác giả đều tập chung nghiên cứu các vấn đề sau:

- Cuộc đời và con đường thơ Trần Nhuận Minh: nghiên cứu, giới thiệu các tập thơ và khuynh hướng vận động thơ Trần Nhuận Minh

- Giới thiệu, nghiên cứu, đánh giá về các tập thơ: Nhà thơ và hoa cỏ, Bản Xô

nát hoang dã, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, Miền dân gian mây trắng

- Nghiên cứu về phong cách nghệ thuật thơ Trần Nhuận Minh: những bài viết này chủ yếu khai thác, khám phá điểm độc đáo, cá tính sáng tạo của nhà thơ ở những phương diện nội dung, hình thức, tư tưởng nghệ thuật…trong các tác phẩm đặc sắc Tuy nhiên, những vấn đề này cũng mới chỉ được nghiên cứu ở dạng điểm qua hoặc đưa ra các nhận xét, nhận định, chứ chưa có các công trình nghiên cứu quy mô thấu đáo

Trang 10

Như vậy, chúng ta thấy: việc nghiên cứu về thơ Trần Nhuận Minh cũng đã được nhiều người quan tâm, nhưng cho tới nay chưa có một tác giả nào trực tiếp nghiên cứu về vấn đề về hình tượng con người - một hình tượng trung tâm trong thơ Trần Nhuận Minh (bao gồm đầy đủ các tầng lớp con người trong xã hội ) trước và sau thời kì đổi mới, để thấy được cả một quá trình sáng tác thơ của ông luôn xoáy sâu vào số phận của mọi con người (thuộc mọi đối tượng khác nhau) trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước Vì vậy, đây là đề tài nghiên cứu có tính mới, chuyên sâu về thơ Trần Nhuận Minh ở góc độ thế giới hình tượng, để

từ đó, có một cái nhìn hệ thống và khá toàn diện về đặc điểm nổi bật thơ Trần

Nhuận Minh - thơ viết về “chân dung”, “thơ của những số phận con người”

Qua đó sẽ góp thêm một tiếng nói khẳng định những thành tựu, nét đặc sắc và những đóng góp quan trọng của thơ ông đối với sự vận động, phát triển của nền thơ ca hiện đại Việt Nam thời kì cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về Thơ Trần Nhuận Minh ở góc độ hình tượng con người,

do đó, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là tất cả các tập thơ của ông:

- 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh ((2007)

- Miền dân gian mây trắng ( 2008))

Tuy nhiên, chúng tôi sẽ đi sâu vào khảo sát, phân tích một số tập thơ tiêu

biểu, mang tính chất dấu mốc như: Âm điệu một vùng đất, Nhà thơ và hoa cỏ,

Bản Xô nát hoang dã, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, Miền dân gian mây trắng

Trang 11

Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu một số tác giả, tác phẩm thơ khác cùng thời với Trần Nhuận Minh (để so sánh, đối chiếu) và tham khảo một số sách lí thuyết, lí luận văn học làm cơ sở lí luận cho công trình nghiên cứu của mình

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp thống kê - phân loại

4.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu

4.3 Phương pháp phân tích ( tác giả, tác phẩm )

4.4 Một số phương pháp khác ( phương pháp tổng hợp, nghiên cứu liên ngành)

5 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu thơ Trần Nhuận Minh ở góc độ hình tượng con người (trên cả phương diện nội dung phản ánh và nghệ thuật biểu hiện), luận văn nhằm mục đích:

Chỉ ra những đặc điểm cơ bản của thế giới hình tượng con người trong thơ Trần Nhuận Minh Qua đó khẳng định những nét sáng tạo, độc đáo, mang tính đặc trưng của nhà thơ trong quá trình thể hiện hình tượng nghệ thuật trung tâm này

Chỉ ra những đóng góp quan trọng của nhà thơ Trần Nhuận Minh đối với

sự vận động và phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại, đặc biệt giai đoạn sau Đổi mới (1986 tới nay)

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm ba chương chính:

Chương 1: Thơ Trần Nhuận Minh – sự vận động không ngừng trong quá trình phát triển

Chương 2: Hình tượng con người – một hình tượng trung tâm trong thơ Trần Nhuận Minh

Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong thơ Trần Nhuận Minh

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 THƠ TRẦN NHUẬN MINH – SỰ VẬN ĐỘNG KHÔNG NGỪNG

TRONG QUA TRÌNH PHÁT TRIỂN

1.1 Trần Nhuận Minh – con người và sự nghiệp thơ ca

Trần Nhuận Minh sinh ngày 20 tháng 8 năm 1944 trong một gia đình có truyền thống nho học, tại làng Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội Khi còn là học sinh cấp 2 trường huyện, ông đã được đọc tờ báo Nhân dân có đăng bài

Hoan hô chiến sĩ Điên Biên của Tố Hữu, đó là bài thơ đầu tiên ông được “đọc

bằng mắt” (trước đây ông chỉ được nghe qua người khác) Từ đó, Trần Nhuận

Minh đã có sự ảnh hưởng của thơ Tố Hữu, ông bắt đầu làm thơ (chủ yếu là thơ

cổ động cho huyện Nam Sách – quê hương ông) Trong suốt những năm từ 1962 – 1969, ông vừa dạy học ở khu mỏ Hồng Quảng, Quảng Ninh vừa miệt mài sáng tác thơ ca Năm 1969, ông công tác tại Ban Vận động Thành lập Hội văn học Nghệ thuật Quảng Ninh, là Ủy viên Chấp hành, Thường vụ, Thư kí, Phó Chủ tịch, rồi Bí thư Đảng Đoàn, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Ninh (2 khóa), Ủy viên Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuât Việt Nam, Phó Ban công tác Nhà văn các tỉnh phía Bắc của Hội nhà văn Việt Nam Cho tới nay, Trần Nhuận Minh đã xuất bản 15 tập thơ và 3 tập văn xuôi

Đó là các tập thơ: Đấy là tình yêu (1971), Âm điệu một vùng đất (1980),

Thành phố bên này sông (1982), Nhà thơ áp tải (1989), Hoa cỏ (1982), Nhà thơ và hoa cỏ (1993 - tái bản lần thứ 19, 2009), Giọt phù sa vạn dặm (2000), Bản Xô nát hoang dã (2003-tái bản lần thứ 8, 2009), Trần Nhuận Minh - Thơ

Trang 13

với tuổi thơ (2003), Gửi lại dọc đường ( 2005 - tái bản lần thứ 4, 2009), Trần Nhuận Minh, Tuyển tập thơ (2005), 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh (2007–

tái bản lần thứ 2, 2009), Miền dân gian mây trắng (2008 – tái bản lần 1, 2009),

Bốn mùa – Four seasons (2008), Bốn mùa (2009 – Tuyển tập)

Và các tập văn xuôi: Trước mùa mưa bão (1980 – in lần thứ 5, 2010), Hòn

đảo phía chân trời ( 2000 – in lần thứ 5, 2010), Truyện chọn lọc cho thiếu nhi

(2002)

Trong suốt 50 năm miệt mài sáng tác, Trần Nhuận Minh đã khẳng định được những bước đi vững chắc và đôi khi là đột phá của mình trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Chính sự cống hiến hết mình cho thơ ca nói riêng, văn học

nghệ thuật nói chung, nhà thơ Trần Nhuận Minh “định vị” được tên tuổi của

mình trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, đặc biệt là giai đoạn từ bắt đầu đổi mới tới nay

1.2 Quá trình vận động của thơ Trần Nhuận Minh

Trong sự nghiệp 50 năm cầm bút, Trần Nhuận Minh sáng tác một số lượng tác phẩm thơ đáng nể Ông đã từng phát biểu rằng, ông rất cám ơn công

cuộc Đổi mới, chính công cuộc Đổi mới đã “sinh ra tôi lần thứ hai” Và sau này

khi làm tuyển tập, ông chỉ chọn 28 bài tiêu biểu nhất sáng tác trong vòng 25

năm, kể từ trước năm 1986 đưa vào phần phụ lục với tiêu đề Bỏ lại dọc đường

để độc giả có dịp tham khảo

Thế nhưng khách quan mà nói, khi nhìn lại chặng đường sáng tác 25 năm trước thời kì Đổi mới, thơ Trần Nhuận Minh có một quá trình vận động cùng với

xu hướng phát triển chung của nền thơ ca Việt Nam hiện đại Ông được coi là

“nhà thơ của giai cấp công nhân, nhà thơ về đề tài công nghiệp, ông đƣợc lĩnh

vinh dự, và có trách nhiệm phát ngôn và tôn vinh cho nó suốt hai thập niên 60

và 70…”[26.16,17] Do đó, khi nghiên cứu chặng đường thơ của Trần Nhuận

Minh, chúng ta không thể bỏ qua thời kì sáng tác của ông trước năm 1986

Trang 14

Vì vậy, nghiên cứu quá trình vận động thơ của Trần Nhuận Minh chúng tôi vẫn chia ra làm hai thời kì, đánh dấu hai chặng đường thơ của nhà thơ họ Trần quê hương Hải Dương nhưng lại thành danh ở vùng đất mỏ Quảng Ninh này

1.2.1 Thơ Trần Nhuận Minh thời kì 1960 – 1985

Bắt đầu sáng tác từ những năm 60 của thế kỉ XX, Trần Nhuận Minh đã

in hai tập thơ chung: Sức mới (1967) và Ca bình minh (1972) với đề tài công

nghiệp Bằng sự lao động nghiêm túc, miệt mài trong lĩnh vực nghệ thuật khi gắn bó với vùng đất vàng đen của Tổ quốc, Trần Nhuận Minh đã cho ra đời tập

thơ in riêng đầu tiên: Đấy là tình yêu (1971)

Trong bài thơ Trình bày viết năm 1970, Trần Nhuận Minh đã tự giới

thiệu về con đường lập nghiệp của mình:

Bạn ơi, tôi có hai lá phổi

Một làng Điền Trì mùa thu nước nổi

Một nửa phố mỏ Hòn Gai

Quanh năm rừng rực nắng trời

Giữa hai lá phổi lành, đây, trái tim tôi

Hai miền quê: một là vùng đồng chiêm nước trũng nhưng chứa đựng bề

dày bao tầng văn hóa; một là vùng “phố mỏ” tấp nập, đông vui “quanh năm

rừng rực nắng trời” đã gắn bó với nhà thơ và không thể tách rời Rõ ràng “phố

mỏ Hòn Gai”- vùng công nghiệp vàng đen của tổ quốc với Trần Nhuận Minh

vốn không phải là nơi chôn rau cắt rốn, nhưng ông đã gắn bó máu thịt và đã cống hiến suốt cả một thời tuổi trẻ, suốt cả quá trình hoạt động sáng tác và đã thành danh ở nơi này; còn với Nam Sách – Hải Dương – nơi đã sinh ra ông luôn

là quê hương yêu dấu, chốn đi về của tâm hồn và trái tim ông Cả hai vùng quê với hai dạng văn hóa khác nhau đã hun đúc tài năng, đã cung cấp cho Trần Nhuận Minh những chất liệu, những “tài nguyên” quý giá, phong phú để ông có thể viết lên những vần thơ, trang thơ thấm đẫm chất dân gian mềm mại, dịu dàng

Trang 15

bên cạnh chất liệu hiện thực đầy gai góc, khốc liệt, phong phú và phức tạp thời

kì hiện đại

Từ chỗ là một anh nông dân trở thành giáo viên và gắn bó với giai cấp công nhân, đã tạo nên một bước chuyển biến quan trọng trong cuộc đời và trong

sáng tác của Trần Nhuận Minh và đã làm nên “cuộc định vị lần thứ nhất” cho

thơ ông, như sự khẳng định của nhà nghiên cứu Phong Lê

Ở buổi đầu những năm 60, với đóng góp của đội ngũ thơ chủ lực của nền cách mạng, đó là cảm hứng ca ngợi vẻ đẹp của sự nghiệp giải phóng một nửa đất nước, và đồng thời là cái nhìn từ những ước mơ bao đời nay đang hiện dần lên

sự thật Trần Nhuận Minh cũng đã khẳng định mình là nhà thơ chân chính, là người con mang tình yêu lớn với quê hương và có chung khát vọng dân tộc Trong sự hấp dẫn của lí tưởng, có bao hàm những khát vọng riêng tư của tuổi trẻ Nhưng thực ra, sự hấp dẫn của vùng mỏ đối với Trần Nhuận Minh còn

có cái gì đó, mộng nhiều hơn thơ…Và đây là một trong những bài thơ ông viết

về vùng mỏ:

Nơi đây là mỏ Mạo Khê

Một vùng cung núi, bốn bề than đen

Nơi đây anh đã gặp em

Một đêm mở vỉa sao đêm đầy trời

Trang 16

Không có cái nhìn của người đồng bằng về mỏ, Trần Nhuận Minh khó

có thể đưa vào thơ những trực giác sinh động ấy, mà những người lâu năm ở đây

chưa dễ đã nói được Đây cũng chính là nét riêng, là “duyên” thơ của ông, còn

mãi đến bây giờ, góp phần giúp ta nhận ra ông trong hàng loạt những cây bút

vùng mỏ như Yên Đức, Phạm Doanh, Đào Ngọc Vĩnh…

Dễ hiểu vì sao những bài thơ được người đọc ưa thích hơn trong Đấy là

tình yêu vẫn là những bài ghi lại cảm xúc suy nghĩ từ những gì ông thân quen,

từ chiếc cổng làng:

Nơi niềm vui theo năm tháng sinh sôi

Mùi nếp thoảng bay nhịp chày khua gấp

Tiếng súng dội về bao đêm trở giấc

Trâu cọ cổng tre lấp lánh lƣỡi cày…

(Cổng làng)

Rồi những gì chung hơn, vẫn là cái làng – cái làng mới “cách mỏ ba cây

số”, nơi “có con tầu chạy ngang đồng lúa lấn vào chân mỏ” mà đôi mắt và tấm

lòng người ở đây cứ nửa quen, nửa lạ:

Sáng sáng nhìn lên mỏ

Đôi mắt thăm thẳm đen

Cầy ruộng bật than lên

Lòng bồi hồi xúc động

(Làng ven mỏ)

Nói đúng hơn, thành công bước đầu ở thơ Trần Nhuận Minh chưa phải là những bài thơ viết về người thợ, mà chủ yếu là những đổi thay dễ nhận ở môi trường mới mà ông sống Khi nhìn chặng đường đầu, Trần Nhuận Minh thấy

“thơ mình vẫn đi ven ven ngoài mỏ” Trong cách nói, nhìn có phần làm duyên,

ông bắt đầu có ý thức một cách rõ rệt và cụ thể hướng đi của thơ mình Miền đất

và con người vùng mỏ rất thơ và rất mộng Nhưng sự thơ mộng này khác hẳn những gì trước đây mà ông tưởng tượng Rằng đến với vùng mỏ, không phải đến

Trang 17

với những vinh quang giành cho tuổi hai mươi chấp nhận Chứng kiến cảnh lao động hết sức gian khổ của người thợ, ông tự nói với mình sự gian khổ của người thợ là có thật, và sự có thật của thơ mình là giả Ý nghĩ chân thành và nghiêm

khắc ấy đã hướng thơ ông đi những bước chắc chắn vào Âm điệu một vùng đất (1980) và Thành phố bên này sông (1982)

Nếu Đấy là tình yêu mới chỉ là nhận thức cảm tính về vùng mỏ mới đứng

ở bên ngoài quan sát, và viết về những người thợ mỏ, thì Âm điệu một vùng đất

và Thành phố bên này sông, Trần Nhuận Minh đã hình thành một quan niệm

thơ với ý thức trách nhiệm của một nhà thơ công nhân đứng trong đội ngũ công nhân, viết theo cách nghĩ, cách cảm của những người công nhân mỏ

Cuộc sống phát triển, giàu có thêm chất liệu mới do bàn tay và sức nghĩ, sức sáng tạo của con người Rồi từ những đổi mới này mà hình thành dần một cảm xúc mới – cảm xúc trước đời sống công nghiệp của Trần Nhuận Minh Với

bài thơ Đá cháy gồm 7 đoạn thơ, 224 câu, viết năm 1985, Trần Nhuận Minh đã làm một “cuộc định vị lần thứ hai” cho thơ mình Lửa, Than và Tỏa sáng là ba

“nhân vật” chính trong quá trình diễn ra “Đá cháy” Bài Đá cháy được xem như

là tuyên ngôn nghệ thuật của Trần Nhuận Minh Với vị trí, tư cách của một nhà thơ công nhân khao khát có thể làm nên những điều có ý nghĩa hơn trong cuộc

sống hối hả, vất vả và đang vận động tích cực này:

Tôi sẽ đầu thai làm ngọn lửa

Cháy điên khùng trong đất tối âm u

“Tỏa sáng” là cách tồn tại của quá trình diễn ra đá cháy và “không tỏa

sáng thì không tồn tại” Đó cũng là cách nhà thơ khẳng định quan điểm sống và

sáng tác của mình, đúng như nhận định của nhà nghiên cứu Phong Lê: “Một

khẳng định đến từ sứ mệnh của giai cấp công nhân, mà nhà thơ muốn (hoặc đã)

là người đại diện, khi từ là Tảng đất sét bên sông Kinh Thầy, anh đã trưởng thành tảng đá đen nguyên khối xù xì của một vùng than mênh mông – miền vàng đen trong lòng đất Đông Bắc của Tổ quốc[16.28]

Trang 18

Đây cũng chính là sự định vị lần thứ hai của nhà thơ đất mỏ này Ông đã quyết định trở thành nhà thơ của giai cấp công nhân, giai cấp tiên phong của

cách mạng Việt Nam Và nói như nhà ngiên cứu, phê bình Phong Lê thì về

“khách quan nó ghi nhận được gương mặt đất nước và gương mặt thơ một thời trong và sau chiến tranh còn chưa phai nhạt âm hưởng hào hùng của đất nước chống ngoại xâm, và trong buổi đầu sự nghiệp xây dựng chống đói nghèo còn rất giàu tự tin đến thành lãng mạn”[5.30]

Và quả thật, Trần Nhuận Minh đã thực hiện được niềm khao khát đó Ông đã trở thành một nhà thơ của giai cấp công nhân, nhà thơ của vùng mỏ Quảng Ninh với những tập thơ đã trở thành niềm tự hào của bao người công

nhân mỏ thời kì lịch sử ấy Đấy là tình yêu, Âm điệu một vùng đất và Thành

phố bên này sông, Trần Nhuận Minh là một trong không nhiều gương mặt thơ

gắn bó tâm huyết với đề tài công nghiệp, với những người thợ mỏ của đất Quảng Ninh đầy than, bụi và mầu áo thợ

1.2.2 Thơ Trần Nhuận Minh thời kì 1986 đến nay

Đại hội VI của Đảng năm 1986 là một cái mốc, một sự kiện lớn của dân tộc Và Nghị quyết 05 của Bộ chính trị về văn hóa, văn nghệ quả là một sự

“cởi trói” theo đúng nghĩa của nó cho các văn nghệ sĩ tự do hơn trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình Phương châm của Đảng ta lúc đó là “lấy dân làm

gốc” và mọi hành động cần phải “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” Nằm trong xu hướng chung đó, thơ Trần Nhuận Minh có những

sự vận động và đổi mới quan trọng Với bài thơ Nhà thơ áp tải (1989), thể hiện

một quan niệm nhân sinh quan tích cực phù hợp với thực tiễn và nhu cầu về một nền văn học mới – áp tải sự thật Vì vậy, có thể xem: Trần Nhuận Minh như là một trong những đại diện tiêu biểu của một khuynh hướng sáng tác mới – khuynh hướng phản ánh sự thật với tất cả những mặt phải – trái, trắng – đen, những sự phức tạp, sự chói gắt, sự tốt đẹp cũng như sự phũ phàng của nó một cách trung thực nhất:

Trang 19

Hãy áp tải sự thât

Đến những bến cuối cùng

( Nhà thơ áp tải)

Chính công cuộc Đổi mới đã sinh ra một nhà thơ Trần Nhuận Minh thứ hai Nhận thức được trước mặt là chân trời nghệ thuật mới vô cùng khoáng đạt,

văn học mới đã chuyển lên “đường ray”, có nghĩa là cuộc hành trình mới của

Trần Nhuận Minh được khởi động Nó được khởi động từ một cảm hứng mới về

sự thật, từ một đòi hỏi cao hơn, toàn diện hơn về nhận thức sự thật; và từ một ý thức mới, quan niệm mới đang hình thành và được khẳng định thiên về chức của nhà thơ trong thời kì mới của đất nước

Tiếp nối sự đổi mới ở giai đoạn trước, trong Hoa cỏ đã đưa Trần Nhuận Minh sang một thế giới khác, thế giới của cảnh đời và tình người Rồi từ Hoa

cỏ, ông đã in tiếp tập thơ thứ sáu có tên Nhà thơ và hoa cỏ Ở tập thơ này, Trần

Nhuận Minh đã đi sâu vào việc viết về số phận nhân dân, “viết về nỗi đau con

người”, viết về thế sự, nhân sinh với tất cả bộn bề chói gắt của nó Tập thơ đã

khắc họa tập trung đầy đủ nhất và cũng đậm nét nhất về số phận người lao động trong xã hội:

Câu thơ như gan ruột

Phơi ra giữa trời mây

Mỗi người một số phận

Ngang qua thế kỉ này

(Lời đề tựa trong tập thơ Nhà thơ và hoa cỏ)

Đã có một thời do hoàn cảnh chiến tranh, văn học cần phải thực hiện một cách hiệu quả nhất chức năng giáo dục; và do yêu cầu của chức năng giáo dục, chính trị, tư tưởng mà văn học cần phải tập trung vào việc phản ánh cái tích cực, cái tốt đẹp như là bản chất của xã hội, thì giờ đây, văn học thực sự muốn đạt được chức năng giáo dục lại phải làm sáng tỏ sự thật một cách toàn diện, không che đậy cả những mặt khuất tối, những tiêu cực tồn tại trong xã hội, và Trần

Trang 20

Nhuận Minh đã thực hiện được điều đó Trên bức tranh hiện thực trong thơ Trần Nhuận Minh, cái cũ, cái xấu, cái ác không còn ở vị trí mờ nhạt, chỉ có nhiệm vụ làm nổi bật cái mới, cái tốt đẹp, cái tích cực của xã hội mà bản thân cái cũ, cái xấu, cái ác cũng đã chứa một vị trí tương xứng để đạt một giá trị nhận thức và hiệu quả của văn học nghệ thuật là: cảnh báo những nguy cơ tiềm ẩn trong xã hội, cảnh tỉnh về nhân cách, đạo đức cho con người thời kì hiện đại

Như vậy, trong mười lăm năm đầu, kể từ Đại hội VI (1986) trở lại đây, với chủ trương “áp tải sự thật” thơ Trần Nhuận Minh đã tập trung vào việc phản ánh về số phận nhân dân ở mọi góc cạnh của đời sống Ngòi bút hiện thực của ông đã đi sâu vào từng số phận con người để mô tả, phản ánh những nỗi niềm, những tâm sự, những đớn đau, bất hạnh bên cạnh những hạnh phúc Đồng thời, ông đã khẳng định được khả năng sáng tạo nghệ thuật của mình để tạo nên một gương mặt thơ riêng, nổi lên trong dàn đồng ca chung, trong gương mặt chung của đồng đội mà không lẫn nhòa Ông tự tiến hành được cả một cuộc đi cho mình, một cuộc đối thoại, trò chuyện với bạn đọc hôm nay mà không sợ nghèo, không sợ nhạt, không sợ trùng lặp, không sợ vô bổ - đó mới là vấn đề đặt ra cho thơ ca hôm nay, càng là vấn đề đặt ra cho thơ viết về số phận nhân dân mà Trần Nhuận Minh giành cả tâm huyết, trí tuệ, tình cảm của mình vào trong đó

Nếu như tập thơ Nhà thơ và hoa cỏ được Trần Nhuận Minh hoàn thành

trong 15 năm cuối thế kỉ XX (1986 – 2001) thì sang đầu thế kỉ XXI, ông đã liên

tiếp cho ra đời 3 ba tập thơ: Bản Xô nát hoang dã (2003), 45 khúc đàn bầu của

kẻ vô danh (2007), Miền dân gian mây trắng (2008) Mỗi tập nhà thơ viết liền

một mạch, rõ ràng và liên tục với một cảm hứng riêng, say mê và nhất quán, lần lượt được xuất bản trong mấy năm đầu của thế kỉ XXI Các tập thơ của Trần

Nhuận Minh giai đoạn này đã tập trung viết về “đời sống thứ hai của con

người” Ở đây khái niệm “Nhân Dân” được thay thế bằng khái niệm“Con Người” Cuộc đời với những chiêm nghiệm suy tưởng, đúc kết,…đã trở thành

hồn vía của hiện thực Hiện thực ở đây không chỉ được nhìn nhận, thẩm thấu

Trang 21

bằng mắt, bằng tai…mà còn được thẩm thấu bằng cả tâm hồn, bằng cả đáy tâm linh sâu thẳm, hư ảo, huyễn hoặc…Thật đúng như tác giả của “Ba lần định vị

cho thơ” đã viết: Cảm rõ vị đời, anh đã có một chỗ đứng cho câu hỏi: Ta vì ai?

Ta thuộc về ai? Rồi sẽ đến với anh câu hỏi: Ta là ai? sẽ đến với những bức tranh nhân thế, không còn là tả thực mà hòa trộn với tâm linh, là sự cộng cảm giữa cảnh đời và cảm nhận về đời, để đem lại cho thơ anh một sắc diện mới với rất nhiều bâng khuâng”[6.32]

Cuộc sống hiện đại với bao sục sôi, cuộn chảy tới chóng mặt, nên nhiều khi đã lướt qua cả những mảnh đời, những số phận nhỏ bé đầy thua thiệt của con người Trần Nhuận Minh thở dài khi nhận ra những vấn đề phức tạp, đầy sự đối lập, đầy mâu thuẫn luôn tồn tại bên nhau, luôn lấn át nhau…trong cuộc sống hôm nay:

Khi hai bờ xa nối đƣợc với nhau bằng một cây cầu

Thì hồn vía con sông hoàn toàn đổi khác

Tiếng giận hờn bên này

Sự lạnh lùng bên kia

Đều lấn sang nhau

Con sông mất giới tính

Chảy miên man về phía cuối chân trời…

(Bản Xô nát hoang dã)

Nhưng ông vẫn thành tâm:

Ta giáng sinh vào tâm hồn của Cây

Cho mùa thu hiu hiu buồn trong lá

Ta giáng sinh vào trí tuệ của Đất

Để đêm xuân râm ran tiếng côn trùng

(45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh)

Với một trái tim nhạy cảm, đặc biệt là trước những nỗi buồn, bất hạnh của con người, thơ Trần Nhuận Minh vẫn ánh lên niềm tin vào những điều tốt

Trang 22

đẹp và cất lên lời tâm sự mang tính khuyên răn nhân thế, hãy biết yêu thương, giúp đỡ, trân trọng con người:

Tiền giúp người nghèo là tiền Ông Trời vay

Ông sẽ trả con ta gấp đôi, cháu ta gấp ba khi ta nằm dưới mộ

(Miền dân gian mây trắng)

Từ Trình bày rồi Đá cháy, đến Bừng thức, Vô thức, Tự thuật, Trần

Nhuận Minh đã ba lần định vị cho thơ – hay nói cách khác đi là 3 lần tự nhận thức về vai trò, chức năng của thơ, của nhà thơ trong cuộc sống thời kì hiện đại

Có thể thấy rằng ở mỗi chặng đường sáng tác, Trần Nhuận Minh đều rất

có ý thức tự đổi mới mình, tự đổi mới sự nhận thức của mình về thơ, về nhà thơ, với khát vọng là: góp thêm tiếng nói của mình vào công cuộc đổi mới văn chương, góp thêm một tiếng thơ để phản ánh hiện thực cuộc sống với tính chất phức tạp, đa chiều của nó, với sự vận động không ngừng của nó ở cả hai phía: tích cực và tiêu cực, tươi sáng và ẩn khuất

Như vậy trong nửa thế kỉ sáng tạo nghệ thuật, Trần Nhuận Minh đã tạo dựng cho mình cả một hành trình thơ, trong đó có những tập thơ bề thế, nhiều tầng, nhiều vỉa trên cả phương diên nội dung và nghệ thuật Mỗi một giai đoạn sáng tác, là một lần Trần Nhuận Minh tự đổi mới tư duy nghệ thuật của mình Một đời thơ ba lần định vị và mỗi lần đều có những sáng tạo đáng được trân trọng, được ghi nhận trong cuộc sống thơ ca Việt Nam, đặc biệt là trong đời sống văn học Quảng Ninh Trần Nhuận Minh xứng đáng là cánh chim đầu đàn trong lĩnh vực hoạt động văn học nghệ thuật, trở thành nhà thơ tiêu biểu của vùng công nghiệp mỏ than Đông Bắc của Tổ Quốc Có thể lấy lời đánh giá của

Trang 23

nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi ( Tuyển tập thơ Việt Nam thế kỉ XX, NXBGD, 2005) về

tập thơ Nhà thơ và hoa cỏ để khẳng định vị trí của Trần Nhuận Minh trong nền

thi ca hiện đại Việt Nam như sau: “Trần Nhuận Minh không hề né tránh một sự

thật nào, dù là đau đớn kinh hoàng đến đâu Tập thơ đã được tái bản (…) lần đưa Trần Nhuận Minh lên vị trí hàng đầu trong số những nhà thơ thời chống Mĩ cứu nước”

1.3 Quan niệm về nghệ thuật của nhà thơ Trần Nhuận Minh

1.3.1 Quan niệm của Trần Nhuận Minh về sứ mệnh của thi ca với hiện thực cuộc sống

Trong 50 năm cầm bút, thơ Trần Nhuận Minh luôn đồng hành cùng dân

tộc trên những chặng đường đầy cam go và thử thách Ông luôn “áp mặt vào đời

để gợi thức và đánh động lương tâm” nhằm phản ánh một cách trung thực hiện

thực cuộc sống Theo ông, “Văn học có chức năng phản ánh hiện thực, điều ấy

không có gì phải bàn Cái có điều để bàn là hiện thực là gì, hiện thực đó được nhìn bằng con mắt mở hay con mắt khép, thậm chí không nhìn bằng mắt Rồi hiện thực đó được phản ánh qua thể loại nào, ở đây hiện thực của thơ không giống với hiện thực của tiểu thuyết, không phải ở dung lượng mà ở bản chất của

nó, dù cùng một tác giả viết cùng một phương pháp sáng tác”[2.2] Đối với Trần

Nhuận Minh, hiện thực cuộc sống cần phải được nhìn nhận bằng con mắt đa chiều, cho nên những va đập của cuộc đời, những đổi thay theo guồng xoáy của thời cuộc đều được ông nắm bắt bằng cảm quan hiện thực nhạy bén Sự thật với khuôn mặt đích thực của nó, đang là mục tiêu kiếm tìm của văn học và không thể đổ lỗi cho sự thật nếu cuộc sống đang ẩn chứa và hiện hữu những sự thực đó Chỉ có thể đổ lỗi cho văn học nếu sự thật trong tác phẩm là nhạt nhẽo, gầy guộc, hoặc chỉ là sự vờn quanh, là nửa vời, hoặc không đầy đủ Nếu như trước đây, người viết còn phải đắn đo trước việc phản ánh hiện thực với những sự thật chưa đầy đủ, chưa đa chiều vì một lí do khách quan hoặc chủ quan nào đó, thì bây giờ

sự đắn đo, tránh né hiện thực với những sự thật đa chiều phong phú, phức tạp

Trang 24

của nó lại là một sự thiếu bản lĩnh hoặc vô trách nhiệm của nhà văn Và, Trần Nhuận Minh đã không đắn đo, ngại ngần khi đưa ra một tuyên ngôn trong sáng

tác của mình là: “Hãy áp tải sự thật – Đến những bến cuối cùng” (Nhà thơ áp

tải) Đây chính là một thái độ dứt khoát đầy trách nhiệm của nhà thơ đất mỏ này

đối với hiện thực xã hội

Ở từng thời kì sáng tác, Trần Nhuận Minh luôn có ý thức cố gắng làm mới mình trong nghệ thuật để khỏi bị trùng lặp với người khác hay khỏi trùng lặp với chính mình Ông luôn đặt ra cho mình một nguyên tắc đó là lấy hiện thực cuộc sống làm trung tâm để làm đối tượng phản ánh trong thơ Tuy nhiên

đó là hiện thực gì? Phản ánh như thế nào – nhằm mục đích gì? Thì lại luôn là vấn đề mà ông luôn trăn trở, kiếm tìm câu trả lời thích đáng

Như đã biết, mục đích quan trọng nhất của văn học nghệ thuật là phản ánh nhận thức, khám phá hiện thực đời sống con người theo quy luật vận hành của

xã hội để có thể phản ánh được những điều cơ bản nhất của thời đại Muốn vậy, thơ ca phải bám sát vào hiện thực phản ánh được những vấn đề thuộc về bản chất của hiện thực, của thời đại Thơ Trần Nhuận Minh đã minh chứng cho loại thơ ca bám sát vào từng chặng đường lịch sử của đất nước, cho nên thơ ông

“không bao giờ né tránh một sự thật nào, cho dù sự thật đó có đau đớn đến kinh

hoàng” [25.218] Tuy nhiên, trong cả một thời gian dài trước Đổi mới (1986)

với cơ chế bao cấp (trong đó có cả bao cấp trong tư tưởng, trong đời sống văn học nghệ thuật) - thơ Trần Nhuận Minh cũng như thơ của các tác giả khác đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của sự “bao cấp” trong sáng tạo nghệ thuật Ông cũng bám rất chắc vào hiện thực cuộc sống, cũng đã phản ánh một cách chân thực cuộc sống – nhưng đó mới chỉ là một mặt của hiện thực chứ chưa phải là tất cả các mặt của nó, nhất là các góc khuất tối sau lưng nó Vì vậy sau năm 1986, với

sự đổi mới tư duy trong sáng tạo nghệ thuật, Trần Nhuận Minh đã mau chóng phát hiện ra điều đó ở mình trong các sáng tác thuộc thời gian trước đây Ông đã nhận ra và dũng cảm quyết tự đổi mới mình, đã vượt qua chính mình để tiếp tục

Trang 25

sáng tạo nghệ thuật dưới một cách nhìn nhận, cách phản ánh mới đa chiều, phong phú hơn, và vì thế mà chiều sâu hiện thực cũng được phản ánh sinh động,

cụ thể hơn Ông đã từng tâm sự: “Hiện thực đất nước hôm nay là những biểu

hiện của một xã hội đang vận hành trong cơ chế thị trường, từng bước hội nhập với thế giới, với tất cả những mảng sáng, tối của nó Nói thật gọn, tôi rất quan tâm tới mảng hiện thực này Vì nó đang tác động rất ráo riết đến đời sống của

cả xã hội và của tất cả mọi người”[34.2] Xét trong cả quá trình, hiện thực trong

sáng tác của Trần Nhuận Minh được phản ánh như sau:

Thời kì trước 1986: đó là hiện thực cuộc sống của nhân dân, đặc biệt là của công nhân (vùng mỏ) trong sự nghiệp xây dựng đất nước và đấu tranh giải phóng miền Nam Thế giới nhân vật của ông là những chàng trai, cô gái trẻ trung, phới phới, yêu đời, hăng say lao động, hi sinh tất cả vì vùng mỏ thân yêu,

vì tương lai đất nước; cuộc sống thường ngày của họ tuy còn vất vả, thiếu thốn nhưng tràn đầy niềm vui, đầy sự yêu thương, xẻ chia của cộng đồng Trần Nhuận Minh đã từng phát biểu về hiện thực cuộc sống mà tác giả phản ánh trong

giai đoạn này cụ thể: “Giai đoạn này, tôi viết để phục vụ nhiệm vụ chính trị

trước mắt Nghĩa là viết về cái mà cuộc sống cần mình Chủ đề tư tưởng là cái nhiệm vụ chính trị cần phải đạt đến Nội dung hiện thực là thực tế nó cần phải xẩy ra, còn nó có xẩy ra thật hay không, điều đó không quan trọng Tôi nghĩ cả một nền thơ của một giai đoạn lịch sử đã được viết trong quan điểm đó, rất trong sáng và chân thành Chính vì thế mà “Toàn đất nước có chung tâm hồn,

có chung gương mặt”(Chế Lan Viên)[4.18] Nhưng đó là hiện thực của những

năm trước 1975 Sau chiến thắng năm 1975, trong niềm vui lướn lao của dân tộc, Trần Nhuận Minh cùng một số các nhà thơ, nhà văn khác đã có một sự linh cảm về những khó khăn, gian lao mới, cam go và ác liệt mới…mà nhân dân sẽ phải gánh chịu, bởi sau sự tàn phá của chiến tranh với bao hậu quả ghê gớm của

nó để lại cho dân tộc; bởi sự thay đổi cơ chế quản lí, từ cách quản lí xã hội trong thời chiến, sang quản lí xã hội thời bình với bao sự mới mẻ, lạ lẫm, đầy khó

Trang 26

khăn, thử thách! Do đó, hiện thực được phản ánh trong thơ ông không chỉ còn là một chiều (trong sáng, ngợi ca), mà là một hiện thực đa chiều hơn, nhiều mảng hiện thực trong vùng khuất tối đã được phản ánh; nhiều số phận bất hạnh, nhiều tình huống trớ trêu của kiếp người đã được mô tả với nỗi niềm xót xa, đau dớn của nhà thơ Đến thời kì 15 năm cuối của thế kỉ XX (1986 – 2000) – giai đoạn đầu của thời kì đổi mới, hiện thực trong sáng tác của ông là một hiện thực đa chiều, trong đó có số phận của nhiều tầng lớp nhân dân với những va đập của cuộc sống thời kì mở cửa với bao sự phức tạp, bao sự mâu thuẫn (ở cả trong nước và nước ngoài) Trong thơ Trần Nhuận Minh ở thời kì này có đủ các loại

người trong xã hội: “từ nhà lãnh đạo đầu tỉnh (như nhà khoán hộ Kim Ngọc)

đến một tên tướng cướp ở sân bay nước Nga, nếu có thiếu thì, có lẽ chỉ thiếu một loại người nhiễm HIV”[20.3] Hiện thực đó được phản ánh một cách sinh

động trong hai tập thơ: Nhà thơ và hoa cỏ (1993) và Giọt phù sa vạn dặm

(2000) Ông đã nêu rõ quan điểm khi cầm bút của mình giai đoạn này là:“Giai

đoạn hai, từ năm 1986, tôi viết về cái mà mình cần phải có ở tác phẩm của mình, nỗi ám ảnh của cá nhân mình trước mọi cái mắt thấy tai nghe, cùng với những tổng kết, trải nghiệm của cuộc sống mà mình tích tụ được đến lúc đó, qua lăng kính của chủ nghĩa nhân văn Không viết được như thế mình mình không sống được bình thường như mọi người”[15.18] Rồi tiếp theo 10 năm đầu thế kỉ

XXI, hiện thực trong sáng tác của Trần Nhuận Minh là: hiện thực về “cõi

Người” nói chung, với mọi nỗi niềm của CON NGƯỜI, kể cả nỗi niềm của

CON NGƯỜI trước cõi “Vô Cùng” của vũ trụ, trước sự huyền bí của tâm linh

đã được phản ánh sâu sắc, thâm trầm trong ba tập thơ: Bản xô nát hoang dã (2003), 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh (2007) và Miền dân gian mây trắng (2008)

Nhà thơ Trần Nhuận Minh đã suy nghĩ rất nhiều về cái gọi là hiện thực

và sự thật trong thơ Ông cho rằng: Bây giờ là lúc toàn bộ sự thật phải được nhìn nhận lại, cố nhiên trên lập trường và lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân Sự thật

Trang 27

và trách nhiệm phải nói thật, cùng với quyền được nói thật như chính Đảng yêu

cầu Không được giả dối, che đậy, xuyên tạc; không nên “uốn cong ngòi bút” và

“viết theo kiểu tùy thời” mà sự thật phải được phản ánh như chính nó đang tồn

tại Hầu hết các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu thơ Trần Nhuận Minh đều cho

rằng: thơ Trần Nhuận Minh là thơ thế sự Nghĩa là thơ hiện thực chủ nghĩa Cảm hứng của nó thường là những vấn đề thuộc về những mặt trái của xã hội, những biểu hiện tiêu cực của xã hội với mục đích là phê phán Vì thế giọng điệu thơ ở đây thường nhuốm vị đắng cay, chua chát, xót xa Trần Nhuận Minh cũng đã

từng nói về thơ thế sự của mình như sau: “Tôi xin nói thêm, viết về mặt trái của

đời sống và cơ chế xã hội, nhưng tôi viết với sự chia sẻ từ trong gan ruột là nỗi đau của chính mình”[8.213] Nhà thơ Bằng Việt trong lời giới thiệu thơ Trần

Nhuận Minh đăng trên Tạp chí Hội nhà văn, có nhận xét rất đúng rằng: “Anh chỉ

đau niềm đau duy nhất “đau đời” Nỗi đau nhân sinh đó, trong anh, vừa ở góc

độ cá thể hóa, vừa ở tầm phổ quát” Đó là một điều đáng quý ở nhà thơ hiền

lành nhưng sâu sắc này Ông không như một vài cây bút khác: viết về những điều tiêu cực với giọng hằn học để thỏa mãn sự bức xúc cá nhân của chính mình Ông viết về mặt trái của xã hội như sự kiếm tìm những non yếu, thiếu sót để đấu tranh, để loại bỏ, hoặc ít nhất là để cảnh báo cho tất cả mọi người! Bởi nói theo

cách nói của nhà nghiên cứu, phê bình nổi tiếng Biêlinski thì: “Một dân tộc

càng mạnh, càng vươn cao về mặt đạo đức bao nhiêu, thì nó càng dũng cảm nhìn vào mặt non yếu và những thiếu sót của mình bấy nhiêu Một dân tộc yếu hèn hoặc già cỗi, tàn tạ đến mức không thể tiến lên được nữa thì chỉ thích ca tụng mình…Một dân tộc vĩ đại, đầy sức sống không như vậy được” (dẫn theo Lê

Sơn: Tiếng cười của một trái tim nổi giận; Tạp chí văn học số 3/1976) Trong

tương quan với hiện thực, và đối chiếu với sự thật, nhà thơ Trần Nhuận Minh có

một sứ mệnh rất lớn: “sứ mệnh tìm kiếm Một sự tìm kiếm không dễ dàng, có lúc

đầy vất vả, gian truân Không hiếm những dằn vặt, khổ đau, những hi sinh trong

sự truy tìm hoặc kiên trì một chân lí” Cái cụ thể và xác định trong thơ Trần

Trang 28

Nhuận Minh không có gì khác mà chính đó là cái cụ thể và xác định của những chất liệu trực tiếp trong đời sống hiện thực, từ: một cảnh ngộ, một tâm trạng, một hình ảnh, một con người cụ thể,v.v…tất cả đều từ trong hiện thực cuộc sống

mà ra Và Trần Nhuận Minh đã tự khái quát về bút pháp hiện thực trong sáng tác

của mình: “Như vậy là tôi đã đi bằng đôi chân hiện thực để đi từ sông ra biển,

từ công nhân đến với nhân dân và từ nhân dân đến với con người”[30.3]

Theo Trần Nhuận Minh, sứ mệnh của thi ca còn phải thực hiện chức năng nhân đạo hóa con người, thanh lọc tâm hồn con người để ngày càng hoàn thiện hơn, để có thể vươn tới những tình cảm lớn lao hơn Nhưng cách giáo dục của thơ là phải thông qua những rung cảm nghệ thuật để nâng cao những năng lực thẩm mĩ cho độc giả Thơ ca không phản ánh cuộc sống một cách lạnh lùng, mà trải qua sự trăn trở, đau đớn, hi vọng với những xúc cảm thật mãnh liệt Trong tác phẩm văn học đằng sau bức tranh hiện thực đời sống bao giờ cũng chứa đựng những khát vọng thiết tha muốn thể hiện một tư tưởng, một quan niệm riêng của người sáng tác về chân lí đời sống, về cái thiện, về cái ác, về cái tốt đẹp cũng như cái xấu xa trong quan hệ giữa con người với con người Ngòi bút của ông lúc nào cũng bám sát vào cuộc sống con người và đi tới tận cùng với

từng số phận riêng của họ Ông đã từng phát biểu: “Tôi viết về nỗi đau của con

người”, nên khi đọc thơ Trần Nhuận Minh, ta thấy hiện lên những con người có

tên cụ thể, bên cạnh những con người vô danh như: Mợ Hữu, thím Hai Vui, Bá

Kim, cháu Thủy, ông Hủi, gã đánh giậm, con đĩ… ,“tên tất cả các nhân vật của

thơ tôi đều không phải là tên thật ở ngoài đời, dù bài thơ nào cũng xuất phát từ một người có thật, hoặc được gợi ý từ một việc có thật Tôi đã sử dụng phương pháp “xây dựng nhân vật điển hình” của chủ nghĩa hiện thực, để tạo dựng các chân dung thơ của mình để người đó vừa là “người đó”, với tư cách là một cá thể riêng lẻ, như tôi đã gặp hoặc sống cùng với họ, nhưng đồng thời còn là

“loại người đó” với tư cách là một khái quát nghệ thuật mang tính cộng

Trang 29

đồng”[22.217] Tất cả đều thể hiện sự phản ánh về “số phận nhân dân có những

bi kịch lạ lùng”

Là người tham gia vào lịch sử và có một phần trách nhiệm trước lịch sử, Trần Nhuận Minh có niềm tin vào chính mình, niềm tin vào nhân dân mình, cho

dù có phải trải qua đắng cay trong cuộc đời dâu bể thì nhà thơ vẫn tỉnh táo nhận

ra rằng: “Anh hãy cạn đến tận cùng cái chén cay đắng của cuộc đời, ở đáy cốc

nhất định sẽ có vị ngọt, nhưng vấn đề là anh có uống cạn cái cốc đời ấy không?

Và anh có khả năng nhận ra cái vị ngọt ấy không? Sau những rủi ro, vận may thế nào cũng rụt rè gõ cửa, cái chính là tai ta phải tinh tế nhận ra tiếng gõ cửa nhẹ nhàng đó Cũng như sau bão, thường có mưa đền cây “Không phải là niềm vui mà chính là nỗi khổ/Đã dạy tôi thành người…”[31.325] Cho nên Trần

Nhuận Minh viết về nỗi đau con người như một niềm hạnh phúc: “Tôi muốn

người đọc nhận ra nụ cười sau những giọt nước mắt và theo tôi, chỉ có những ai thẩm thấu được vị mặn chát của những giọt nước mắt mới hiểu được hạnh phúc thực sự là thế nào Đấy cũng là một cách để tiếp cận hạnh phúc”[38.2]

Có thể thấy, Trần Nhuận Minh có khả năng đổi mới tư duy và thích ứng với hoàn cảnh mới một cách nhanh chóng Đối mặt với hiện thực bề bộn, đầy khó khăn và thách thức của cuộc sống thời kì sau chiến tranh, nhà thơ không ngơ ngác, không hốt hoảng! Thật bình tĩnh, ông tự cho mình một sự thoải mái cần thiết để nhập cuộc Khéo léo, năng động và bén nhạy, ông bám sát vào từng bước đi của đời sống, tìm kiếm, khám phá, lí giải các vấn đề của đời sống từ chính cái hôm nay ngổn ngang bề bộn ấy! Bước sang thời kì đổi mới, ông lặng

lẽ và mải mốt kiếm tìm một cách nhìn nhận và phản ánh hiện thực mới: phong phú, phức tạp, đa chiều và đầy sự ngang trái, trớ trêu, cũng như biểu hiện của sự tiêu cực; Đặt chân sang thế kỉ XXI, ông tỏ ra bình tĩnh hơn, bình tâm hơn để suy

tư, chiêm nghiệm để vươn tới một tầmvóc mới: vấn đề CON NGƯỜI trong thời

kì hiện đại Có thể khẳng định: Hiện thực nhiều mặt chất chứa nhiều mâu thuẫn

Trang 30

và phức tạp ấy đã trở thành “mảnh đất phì nhiêu” cho ngòi bút ưa kiếm tìm mâu thuẫn và xung đột của Trần Nhuận Minh thả sức tung hoành

Thông qua những sáng tác cụ thể, thông qua những lời tâm sự, những ý kiến trực tiếp của nhà thơ về sứ mệnh của thi ca với hiện thực cuộc sống, chúng

ta càng thêm hiểu, thêm kính trọng và yêu mến nhà thơ – cùng với quan niệm hết sức rõ ràng, triệt để của ông là: Thi ca phải bám sát cuộc sống, phải phản ánh thật trung thực bộ mặt và bản chất cuộc sống Nếu có phê phán hiện thực cuộc sống, thì sự phê phán ấy cũng chỉ là để tự gột rửa, tự thức tỉnh, là để tự vươn lên cái Thiện, cái Mỹ mà thôi – chứ không phải là sự hằn học, phá phách và mất lòng tin vào những điều tốt đẹp!

1.3.2 Quan niệm của Trần Nhuận Minh về nhà thơ

Trong lần trả lời phỏng vấn Tạp chí Phố Hiến, nhà thơ Trần Nhuận Minh

đã thể hiện rõ quan điểm của mình trong sáng tác: “Thơ chỉ cần hay Nhƣng

trong ý nghĩ của tôi, cái hay không tách rời cái mới Không phải cái mới nào cũng hay, song bất cứ cái hay nào cũng có cái mới…Vì thế, đổi mới cũng là sự sống còn của thơ…” Trần Nhuận Minh nhấn mạnh vào cá tính sáng tạo của nhà

thơ Lao động của nhà thơ là lao động sáng tạo, nghề văn là nghề sáng tạo Không sáng tạo thì không phải là nghệ sĩ đích thực Nhà thơ đích thực không chấp nhận cách viết dễ dãi, rập khuôn, không có sự sáng tạo, không có dấu ấn riêng Trần Nhuận Minh luôn nghiêm túc, tỉnh táo nhìn lại mình và đi sâu vào những vướng mắc cần tháo gỡ trong quá trình sáng tạo của mình Ông đã truy tìm nguyên nhân dẫn đến hậu quả của lối thơ viết không sáng tạo đó là do kiểu viết theo một công thức đã định sẵn Kiểu thi sĩ như thế sẽ tạo ra một lối văn chương minh họa, ít có sự sáng tạo Sau khi đã truy tìm được nguyên nhân của

sự “dậm chân tại chỗ” trong sáng tác, Trần Nhuận Minh đặt ra vấn đề là phải

thay đổi cách nghĩ, cách viết để tìm hướng đi mới cho mình không xa rời tính dân tộc, xa rời cái căn cốt của văn học dưới sự lãnh đạo của Đảng Vì thế khi

Đảng đưa ra chủ trương: “phải nhì thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật”, thì ông

Trang 31

cũng như bao nhà văn, nhà thơ khác đã ào lên như những “chiến sĩ – nghệ sĩ” thực hiện chủ trương đúng đắn, kịp thời một cách tích cực, hết mình Đại hội VI của Đảng (1986) như một luồng sinh khí mới dẫn lưu cho

dòng chảy của thơ ông từ “sông ra biển lớn” Thơ ông đã chuyển hẳn sang

khuynh hướng thơ thế sự, đời tư Trong khi đó, nhiều nhà thơ vẫn còn dừng lại ở cảm hứng ngợi ca, hoặc là còn rụt rè hay né tránh để khỏi chạm đến những vấn

đề nhạy cảm nhất của xã hội Nhận thức được vận hội mới, Trần Nhuận Minh đã tìm được lối rẽ riêng, dám nhấn vào những nghịch cảnh trái ngang, những nghịch lí nhức nhối của đất nước, những bi kịch về số phận con người trong các sáng tác của mình Đặc biệt nhà thơ chuyên chú vào việc nhìn nhận con người ở phương diện đời thường để phát hiện và tỏa sáng tình thương, tạo nên một chiều sâu văn chương thế sự, đời tư trong thời kì hiện đại

Bài thơ Nhà thơ áp tải là mốc đầu tiên của lần “lột xác” này Với tập

Nhà thơ và hoa cỏ, Trần Nhuận Minh đã làm nên “vệt thơ chân dung” mà

Nguyễn Bùi Vợi cho rằng thơ ông đã đổi mới, đã thật sự “lật cánh để bay ở một

tầm bay mới” Thơ chân dung đã đưa Trần Nhuận Minh trở thành nhà thơ thế sự

có một vị trí đặc biệt trong lòng độc giả Và, ông đã bộc lộ quan điểm khi hướng

ngòi bút của mình sang dòng thơ thế sự: “thực ra, tôi nghĩ viết về trời đất bao

la, viết về con người, cũng tức là viết về mình đấy Và như thế, mình có mặt ở khắp mọi nơi, tự tan ra trong nỗi vui buồn của rất nhiều người Vậy thì cái được lại càng nhân lên, còn gì sung sướng hơn nữa Viết về người, vẫn cần hoa mĩ, trữ tình, nếu bài thơ yêu cầu cần phải như thế để bộc lộ một vấn đề, một cốt cách hay một nhân cách Thông thường thơ thế sự cần mộc hơn, nhưng cũng phải tinh hơn, không mộc thì mất cái chân xác, không tinh thì mất cái hàm súc,

dư ba…thơ sẽ không sống được”[21.254]

Thế nhưng không chỉ cứ mãi dừng lại ở “vệt thơ chân dung” này, “Tôi

nghĩ là mình phải bật lên một kênh khác thì mới nên viết tiếp”[11.373] Một lần

nữa nhà thơ lại rơi vào “cảm giác trống vắng” vì không biết viết như thế nào để

Trang 32

làm mới mình Trong một đêm dự biểu diễn văn nghệ, trước thể Xô nát du

dương, trầm bổng vừa như còn mơ hồ vừa như đã định hình, ông “vô cùng xúc

động”, tâm hồn nhà thơ như được tràn đầy thi hứng, với quyết tâm làm mới

mình - Bản Xô nát hoang dã ra đời Có ý kiến cho rằng, sau Bản Xô nát hoang

dã, Trần Nhuận Minh sẽ kiệt sức Đáp lại ý kiến đó, ông trả lời: “Không chỉ có

trong sáng tác mà cả ngay trong công việc,… bao giờ tôi cũng hết lòng,…làm việc hay viết, đều cố gắng đi đến tận cùng cái có thể trong cái không thể Và trở lại, như phù sa của một dòng sông, cái kiệt cùng đó sẽ bồi đắp lại cho mình, để

sẽ có một mùa thu hoạch sau”[15.374]

Người xưa nói “bất bình tắc minh”, không có tâm sự khốc liệt thì không bật ra thành tiếng kêu, không thành văn chương được Hoàn cảnh cá nhân nhà thơ, hoàn cảnh xã hội (qua các thời kì khác nhau của đất nước), hoàn cảnh của bao thân phận, bao số kiếp của con người trong vòng xoáy của cuộc đời đã là chất liệu, là cảm hứng nghệ thuật để Trần Nhuận Minh sáng tạo nên những bài thơ, tập thơ đầy tâm huyết, chất chứa gan ruột của mình! Ông đã làm nên một

“vệt thơ” riêng cho mình – hay nói cách khác: ông đã dày công lao động và sáng tạo làm nên những tác phẩm nghệ thuật có “nhan sắc” riêng biệt! Nhấn vào bản chất sáng tạo của nhà thơ, Trần Nhuận Minh cũng đề cập đến một yêu cầu có liên quan trách nhiệm của người cầm bút Nhà thơ là người hướng dẫn độc giả

về nhân sinh quan, về đạo đức và có khả năng chinh phục công chúng bằng nghệ thuật ngôn từ Vì thế mà thơ ông làm xúc động người đọc ngay cả khi ông đưa

ra những triết lí (có vẻ căng cứng) về sự vô trách nhiệm của thái độ “im lặng”, thái độ thờ ơ, lạnh lùng…của bao kẻ đối với sự bất công luôn gắn chặt với số phận của bao người nhỏ bé bất hạnh trong xã hội:

Mọi đặc quyền đều xúc phạm nhân dân

Và bất công như quả bóng lăn tròn

Từ chân người này sang chân người khác

Im lặnh là vàng ư?

Trang 33

Im lặng là tội ác

(Bản Xô nát hoang dã)

Bởi đằng sau những câu thơ này, người ta nhận thấy thái độ bất bình, lòng xót xa vô hạn của nhà thơ trước hiện thực phũ phàng Chính vì thế, với tư cách, trách nhiệm của một nhà thơ chân chính, ông nguyện đem theo cây bút suốt đời bên mình để phụng sự nhân dân, phụng sự cuộc sống:

Bạn ơi!

Ta yêu Nhân Dân

Yêu Cuộc Đời này

Và chính bạn

Ngay cả sau khi Ta chết

(45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh)

Với ông, cây bút, câu thơ cũng là một thứ vũ khí – như thanh kiếm của vị anh hùng, vì chúng cùng một mục đích: đấu tranh vì sự công bằng và hạnh phúc của con người, mặc dù đây là một cuộc đấu tranh rất lâu dài, đầy khó khăn:

Viết được một câu thơ trung thực với Nhân Dân

Tôi đã đi qua bốn mươi năm bão táp

Cả xã hội diệt trừ cái ác

Cái ác vẫn ngang nhiên cười nói giữa đời

(45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh)

Ý thức trách nhiệm của một nhà thơ có trái tim tràn đầy nhiệt huyết, với cảm hứng thế sự, đời tư đầy tâm trạng đã đem đến cho sự nghiệp thơ Trần

Trang 34

Nhuận Minh những giá trị nhân văn sâu sắc: “góp thêm một tiếng nói có hiệu

lực vào thức tỉnh lương tri của con người, mong muốn con người lương thiện hơn, yêu thương và trân trọng nhau hơn…Không ít câu thơ của tôi thấm đẫm nước mắt…Tôi yêu cuộc đời này, sống, chết cho nó, viết vì nó, và không bao giờ mất niềm tin vào nó, khi chính nó đã tự thay đổi nhiều bậc thang giá trị”[8.271]

Lời phát biểu trên của Trần Nhuận Minh cùng với những tập thơ mang đậm chất hiện thực và tính nhân văn của ông đã là một bằng chứng cho những quan niệm hết sức đúng đắn của tác giả về vai trò, trách nhiệm của nhà thơ đối với cuộc đời, với xã hội, với dân tộc

Trang 35

Chương 2 HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI – MỘT HÌNH TƯỢNG TRUNG TÂM

TRONG THƠ TRẦN NHUẬN MINH

2.1 Hình tượng người lao động – một hình tượng nổi bật, đặc sắc trong thơ Trần Nhuận Minh

Đọc toàn bộ các tập thơ của Trần Nhuận Minh, người ta nhận ra rất rõ một điều: hầu như tất cả thế giới hình tượng con người trong thơ ông đều là những người lao động Họ là những người công nhân vùng mỏ than, họ là những người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, họ là những người lao động trí óc, là những nhà thơ, nhà văn lao động cật lực trên trang giấy, trong trường học… Trong từng thời kì lịch sử của đất nước, họ luôn là những hình tượng trung tâm trong thơ của Trần Nhuận Minh Chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ thấy nhà thơ Trần Nhuận Minh đã gắn bó, đã hòa đồng với họ, đã giành hết tình cảm của: yêu thương, kính trọng, xót xa, đắng đót…trước những số phận, những cảnh ngộ của những người lao động

Khi viết về hình tượng người lao động trong các tác phẩm của mình ở hai giai đoạn lịch sử: trước và sau Đổi mới, Trần Nhuận Minh có cách nhìn nhận và thể hiện khác nhau (tuy nhiên không đối lập nhau, chỉ là sự mở rộng và bổ sung cho nhau) Nếu như trước 1986, chủ yếu là hình tượng người lao động được

phản ánh dưới góc nhìn của cộng đồng, họ hiện lên trong tư thế của cái Ta nhiều hơn tư thế của cái Tôi Tuy nhiên, ngay sau 1975 thì chân dung cái Tôi đã bắt

đầu hiện rõ hơn, cụ thể hơn Còn sau 1986 đến nay thì chân dung người lao động

trong thơ ông đã hoàn toàn mang tư cách cái Tôi, đầy tính cá thể: mỗi con người

một số phận, mỗi mảnh đời một màu sắc, cụ thể và sinh động trong sự phong phú, phức tạp của xã hội thời kì hiện đại với cơ chế thị trường đầy biến ảo và

Trang 36

đầy hiểm họa, bên cạnh bao điều tốt đẹp đã được khẳng định sau hơn 20 năm đổi mới của xã hội Việt Nam

2.1.1 Hình tượng người công nhân vùng “mỏ vàng đen” của tổ quốc

Từ một anh thanh niên vùng quê nông thôn ra thành phố và gắn bó với

vùng vàng đen Đông Bắc từ những năm 60 của thế kỉ trước, thơ Trần Nhuận

Minh mang nặng một tình yêu đất mỏ, cái lấp lánh của than đen, của giọt mồ hôi thợ mỏ đã làm nên chất thơ, và phần nào tạo nên vẻ riêng cho thơ Trần Nhuận

Minh Những tảng than đen “nguyên khối xù xì” đã trở thành tiêu chí của nguyên tắc sáng tác mà Trần Nhuận Minh kí thác và đó như một thông điệp:

Mỗi câu thơ anh viết

Nhƣ tảng kíp lê đen

Không hoa lá cầu kì

Không yếu hèn dôi trá

(4.000.000 – Âm điệu một vùng đất)

Cuộc sống của Trần Nhuận Minh trong những ngày đó là sự cộng hưởng giữa vị ngọt êm dịu của khúc hát ru nơi đồng quê với vùng sinh quyển ồn ào, náo nhiệt của miền đất “vàng đen”:

Nơi khúc dân ca nuôi chúng tôi tuổi thơ

Là nóng bỏng tiếng xe gào ủi đất

Núm ruột chúng tôi mẹ vùi sâu trong than

Day dứt chúng tôi là tình yêu đất than

(Lên tầng)

Những bài thơ viết về đất mỏ của Trần Nhuận Minh luôn được viết với một tình yêu như thế Như người thợ mỏ mở lò, khai vỉa, khơi những suối than, Trần Nhuận Minh cũng cố gắng khai thác chất liệu thơ đặc thù của vùng đất công nghiệp, trong sinh hoạt lao động của người thợ mỏ Khả năng quan sát, nắm bắt chi tiết, sống trực tiếp với lao động sản xuất, đã làm cho thơ ông giầu

Trang 37

có về chất liệu đủ sức xây dựng lên hình tượng người công nhân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội những năm 60 của thế kỉ XX

Có thể thấy, Trần Nhuận Minh viết về hình tượng người công nhân thợ

mỏ bằng một niềm rung cảm được gạn chắt từ mồ hôi, than bụi Điều đáng quý

là ngòi bút của ông không tìm chỗ dựa ở sự thi vị hóa hoặc những lời ca ngợi từ

sự nhìn ngắm bên ngoài Ngòi bút của Trần Nhuận Minh chắt chiu những vẻ đẹp ngay trong lao động nặng nhọc, lam lũ, trong đời sống thường ngày của người thợ còn nghèo nàn, vất vả

Người công nhân thợ mỏ ở vùng đất đầy nắng vàng, gió biển và bụi bặm

của than mang trong mình một “tình yêu kì lạ” Không phải là tình yêu sâu nặng

với nơi chôn rau, cắt rốn, cũng không phải là tình yêu tha thiết đầu đời dành cho một người thiếu nữ, mà là tình yêu ấm nóng của người thợ gói trọn vào than, một tình cảm máu thịt của sức trẻ đã thấm đẫm vào than:

Thế đấy, anh thợ lò bạn tôi

Anh chỉ sống hết mình với tình yêu kì lạ

Là khi anh vào than

Nhất là khi vào than

(Anh thợ lò – bạn tôi)

Tình yêu hòa trộn vào than là thế Ở vùng đất này, bao niềm vui, nỗi buồn

của người thợ đều như “vết than lặn vào da thịt” Và cũng chính nơi đây “mái

nhà còn lợp dầu, bữa ăn ca đêm còn thiếu cá, thiếu rau” nhưng vẫn thắp lên

trong trái tim người thợ một niềm tin mãnh liệt từ bàn tay lao động của mình Thành công của Trần Nhuận Minh ở chỗ ông đã nhập thân được vào cuộc đời người thợ, khám phá được chiều sâu tâm lí cùng những tâm tình của

họ Trần Nhuận Minh đã lựa chọn và sử dụng các chi tiết giàu chất thơ, giàu tính

khái quát để phản ánh hiện thực Trong trường ca Đá cháy, hình tượng người

công nhân được phác họa một cách khá sinh động và chân thực Đó là cả một tập thể công nhân, tuy công việc khác nhau, có vị trí công tác khác nhau, nhưng

Trang 38

họ lại có chung một niềm say mê trong lao động, có chung một niềm tin vào tương lai của đất nước

Có biết bao gương mặt những người công nhân, gương mặt người lao động

đã được Trần Nhuận Minh khắc họa trong tác phẩm của mình Một cô công

nhân “quét giác hót phân”; một anh công nhân “đi lò đá nhanh” trong tư thế

“chân xoạc tay giương bình khí ép”, vật lộn với “vòm đá oang oang” trong những âm thanh ầm ĩ, inh tai, nhức óc của “tiếng máy rú khê nồng”, tất cả trí tuệ

và sức mạnh thân thể của anh dồn vào công việc: “Mắt phồng căng và ngực

cuộn rung”; một anh “chống xén” ngày đêm sống trong “bụi hoang dại hai lá phổi/Mỗi ca đào một thìu lò…”; một chú “gõ ghét va gông” “tới tấp vung búa/Mắt bời bời nhòe nắng hoa bay”; một cháu gái lao động hợp đồng trong

hoàn cảnh “không gạo, chậm lương” với một công việc nặng nhọc “gánh nước

ngày ngày leo từng bậc núi”, nhưng luôn có tinh thần kỉ luật cao, có trách nhiệm

vì công việc: “cháu thì khát mà nước dành để dội/Xuống lỗ khoan sâu chảy khét

đất gan gà…”; một anh kĩ sư trắc địa, người đã “hốc hác mệt phờ” mà vẫn kiên

trì dõi “mắt nheo nheo tìm mạch vỉa than qua ống ngắm” Ngay cả những

người lãnh đạo ở vùng than này kể cả là ông Tổng giám đốc Công ty tuy đã lớn

tuổi nhưng vẫn rất trẻ trung, rất hăng say công tác: “Tuổi sáu mươi áo thun quần

soóc” và cũng rất gần gũi, ân tình với cấp dưới: “Tặng bác thợ tiện về hưu/Chiếc đồng hồ nhỏ mạ vàng” Rồi một cô thợ sơn như một vũ nữ tài hoa: “tập múa quay tròn” với dáng điệu uyển chuyển, mềm mại, “chân co lên như cái com pa

êm dịu” (Đá cháy)

Đọc thơ Trần Nhuận Minh, chúng ta được tiếp xúc với những con người

cụ thể: Cô thợ mài “dưới vòng tay tung tóe vòng hoa lửa”(Gặp cô thợ mài là

người quên cũ); cô thợ hàn “cầm que có dây điện đài, hễ bấm nhẹ lửa tung ra

bẩy sắc”(Thưa mẹ); anh thợ hầm lò hát ru con “gõ vào chân cột như khi anh đánh thìu”(Anh thợ lò – bạn tôi); rồi “người nổ mìn ở mỏ lộ thiên” với những

dây chuyền tiếng nổ “làm chúng tan những cái phải tan”; anh lái ben la, bánh xe

Trang 39

cao hơn đầu người, đổ ra đất đá phi như ngựa cổ tích, sau tràng vỗ tay của trẻ

con, biến vào trong mây đặc quánh bầu trời của vùng mỏ (Trên tầng cao 380);

rồi anh thợ gõ nồi hơi, thợ chống lò, thợ làm đường, mở vỉa…

Có những người thợ có tên, có tuổi như Anh hùng Vũ Xuân Thủy:

Năm năm liền không nghỉ một ngày công

Anh vẫn khỏe như một chiếc máy xúc

Từ người thợ, anh trở thành quản đốc

Gót chân anh in khắp nẻo công trường

Hay anh công nhân Nguyễn Văn Vỡi có chiếc chìa khóa mầu nhiệm luôn

luôn “gài vào hốc cột trước hiên nhà” như cánh tay nhô ra đón mọi người đến

chơi, đến ở:

Ở tổ lao động xã hội chủ nghĩa của anh

Người ta thấy có nhiều người trước đây hư hỏng

Có người, mấy lần bị thi hành kỉ luật

Nặng hơn, có người mỏ định tống đi

Anh nhận về tổ anh

Và sau một thời kì

Họ thành thợ giỏi

(Chiếc chìa khóa của anh Vóc)

Từ anh hùng lao động Vũ Xuân Thủy đến anh công nhân Nguyễn Văn Vóc, hai con người, hai danh vị khác nhau, nhưng ở họ lại lấp lánh vẻ đẹp của tình người, tình đời, tình giai cấp mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc

Có người thợ trọn cuộc đời dấn thân trong hầm lò Những thành quả hôm nay, từ sản lượng đạt 4.000.000 tấn đến những vỉa than óng ánh đang được phát

lộ đã in hằn dấu ấn trên đôi bàn tay chai sạn, chằng chịt những vết sẹo của người thợ già trước phút lâm chung:

Bàn tay người mở ra như cái lắc lê

Hằn vết sẹo từ thời nước mất

Trang 40

Ngón tay người run run

Dần chụm lại như một bông hoa héo

(Phút lâm chung của người thợ già)

Và đồng đội của ông, thế hệ lớp thợ trẻ tiếp nối đã có lời hứa chắc nịch với di nguyện của người đi trước bằng cả tấm lòng thành thực và một niềm tin

vĩnh cửu:

Xin người cứ yên tâm vĩnh biệt đời

Chúng tôi biết mình có bàn tay tươi trẻ

Mang sức lớn của tâm hồn trí tuệ

Của giai cấp công nhân in lên mỗi công trình

(Phút lâm chung của người thợ già)

Và biết bao người thợ khác đang ngày đêm hăng say lao động để tạo thành một chuỗi mắt xích dây chuyền vận hành suôn sẻ cho những mẻ than ra lò như: người trực máng ga, người lái cần cẩu tháp, người tán đinh đồng, người chữa xe ben lát, người lái máy xúc, người bơm xăng, người chặt gỗ trụ lò, người xạc đèn ác quy, người kéo cáp điện…Tất cả những con người ấy không ai được định danh, họ được gọi tên theo nghề nghiệp, chức vụ, nhưng điều đáng quý ở

họ là: từ lãnh đạo đến công nhân, từ kĩ sư hay lao động phổ thông, “cường tráng

hay ho hen, hiền lành hay ngang bướng, có sáng kiến hay không sáng kiến, đang làm hay sắp nghỉ hưu, những người giản dị và rắc rối, hăng hái và chán nản…”, nhưng đều “không bao giờ nghi ngờ về tương lai”

Cứ như thế, ngòi bút của Trần Nhuận Minh đi sâu vào phản ánh hình tượng người công nhân vùng đất mỏ này Nhà thơ tỏ ra rất am hiểu về mọi niềm vui, nỗi buồn của họ Trong đời người thợ, không có niềm vui sướng nào hơn

khi họ chứng kiến những vỉa than “nục nạc” nằm sâu trong lòng đất đang lộ dần

ra trước mắt Có một sự liên tưởng thú vị của anh chàng lái xe khi “những cơn

mưa khô” không phải do thiên nhiên ban phát, mà nó được xuất hiện từ chính

mồ hôi, nước mắt và những đôi bàn tay săn chắc của người thợ dội xuống, để

Ngày đăng: 04/10/2014, 03:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945-1985, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945-1985
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1997
2. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại nhận thức và thẩm định, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2001
3. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, NXB Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1984
4. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 1999
5. Bakhtin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, trường Viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin
Năm: 1992
6. Nguyễn Phan Cảnh (1984), Ngôn ngữ thơ, NXBĐH và GDCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXBĐH và GDCN
Năm: 1984
7. Mai Ngọc Chừ (2005), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, NXB Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
8. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học lí luận và ứng dụng, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học lí luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1999
9. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1996
10. Hữu Đạt (1999), Nhà văn sự sáng tạo nghệ thuật, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn sự sáng tạo nghệ thuật
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1999
11. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
12. Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (2010), Thi pháp học ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
13. Hà Minh Đức (1993) (Chủ biên), Lí luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
14. Hà Minh Đức (1994), Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
15. Hà Minh Đức (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
16. Hà Minh Đức (1971), Thơ ca Việt Nam hình thức và thể lọai, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam hình thức và thể lọai
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1971
17. Trinh Đường (Chủ biên) (1999), Thơ Việt thế kỉ XX chọn lọc và lời bình, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt thế kỉ XX chọn lọc và lời bình
Tác giả: Trinh Đường (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1999
18. Heghen- Mĩ học, (tập 2) (1999), Phan Ngọc dịch, (TL Viện văn học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học
Tác giả: Heghen- Mĩ học, (tập 2)
Năm: 1999
19. Trần Minh Hà, Trần Nhuận Vinh ( Biên soạn) (2009), Trần Nhuận Minh và ba lần định vị cho thơ, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Nhuận Minh và ba lần định vị cho thơ
Tác giả: Trần Minh Hà, Trần Nhuận Vinh ( Biên soạn)
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2009
20. Lê Thị Hải Hà (2008), Chủ thể trữ tình trong thơ Trần Nhuận Minh, Luận văn thạc sĩ Ngữ vănm, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ thể trữ tình trong thơ Trần Nhuận Minh
Tác giả: Lê Thị Hải Hà
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w