1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẬN DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO GIỜ HỌC VĂN HỌC SỬ Ở THPT (BÀI KHÁI QUÁT GIAI ĐOẠN VĂN HỌC) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

99 883 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng bản đồ tư duy vào giờ học Văn học Sử ở THPT (Bài Khái Quát Giai Đoạn Văn Học)
Tác giả Phạm Thị Châu
Người hướng dẫn GS.TS Phan Trọng Luận
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 3,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNLuận văn được hoàn thành vào tháng 11 năm 2012 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Phan Trọng Luận.. Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc đến thầy g

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành vào tháng 11 năm 2012 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Phan Trọng Luận.

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn khoa học: GS.TS Phan Trọng Luận, thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, phòng sau đại học cùng các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là thầy Vũ Thanh đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo, các đồng nghiệp trong trường Đại học Tây Nguyên, trường THPT Phan Bội Châu, trường THPT Lý Tự Trọng cùng gia đình đã động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu.

Hà Nội, tháng 11 năm 2012

Tác giả Phạm Thị Châu

Trang 2

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Lịch sử vấn đề: 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 6

4 Phương pháp nghiên cứu: 6

5 Đóng góp của luận văn: 7

6 Cấu trúc luận văn: 7

B PHẦN NỘI DUNG 8

CHƯƠNG I BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG VÀO BÀI HỌC VĂN HỌC SỬ 8

1 Lý thuyết về bản đồ tư duy 8

1.1 Sự ra đời của bản đồ tư duy 8

1.2 Tác giả của Bản đồ tư duy 11

1.3 Khái niệm Bản đồ tư duy 12

1.4 Nguyên lý hoạt động của Bản đồ tư duy 12

1.5 Cách thức Lập Bản đồ tư duy: Gồm 4 bước 13

1.6 Quy tắc lập Bản đồ tư duy 16

1.7 Một số điều cần tránh khi ghi chép trên Bản đồ tư duy: 18

1.8 Một số yêu cầu khi vẽ Bản đồ tư duy: 18

2 Vai trò của tư duy khái quát và tư duy tổng hợp trong nhận thức của con người và trong dạy học: 18

2.1 Vai trò của tư duy khái quát và tư duy tổng hợp trong nhận thức của con người và trong dạy học nói chung 18

2.2 Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học: 23

2.3 Vận dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Văn học sử 27

2.3.1 Đặc điểm của bài Văn học sử ở trường THPT 27

Trang 3

2.3.2 Những khó khăn trong dạy học Văn học sử ở nhà

trường THPT 39

2.3.3 Định hướng sử dụng Bản đồ tư duy vào dạy học phần Văn học sử 41

3 Ưu điểm và hạn chế của Bản đồ tư duy: 45

3.1 Ưu điểm: 45

3.2 Hạn chế: 50

CHƯƠNG II NHỮNG HÌNH THỨC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG GIỜ VĂN HỌC SỬ 52

1 Các hình thức sử dụng Bản đồ tư duy: 52

1.1 Sử dụng bản đồ tư duy trong hoạt động cá nhân 52

1.2 Sử dụng bản đồ tư duy trong hoạt động nhóm 57

1.2.1 Cơ bản về nhóm: 57

1.2.2 Chức năng của nhóm: 58

1.2.3 Thành lập nhóm: 61

1.2.4 Sử dụng Bản đồ tư duy trong hoạt động học tập nhóm 61

1.2.5 Tiến hành họp nhóm: 63

2 Những hình thức sử dụng Bản đồ tư duy trong giờ học Văn học sử 65

CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM 86

1 Mục đích thực nghiệm: 86

2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm: 86

3 Tiến hành thực nghiệm: 88

C PHẦN KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Môn Ngữ văn là môn học giữ vị trí quan trọng trong chương trình phổthông Song theo khảo sát của các nhà giáo dục Việt Nam, trong những nămgần đây, chất lượng học văn của học sinh THPT ở nước ta ngày càng giảmsút Môn Ngữ Văn đang mất dần vị thế vốn có của nó Chúng ta có thể dễdàng nhận thấy, tình trạng học sinh không còn hứng thú với việc học Văn đãtrở thành hiện tượng phổ biến trong nhà trường phổ thông hiện nay

Thực tế cho thấy, môn Ngữ văn trong trường THPT là một trong nhữngmôn học chính có dung lượng kiến thức và số lượng tiết dạy nhiều Bộ mônnày được cấu thành bởi nhiều phân môn như: văn học, tiếng Việt, làm văn, líluận văn học Trong đó văn học chiếm dung lượng lớn nhất, và một phần nộidung có vị trí quan trọng không thể thiếu, được phân bố đều ở cả ba khối học

10, 11, 12 đó chính là phần Văn học sử

Kiến thức phần Văn học sử có vị trí cực kì quan trọng, nó trang bị chohọc sinh toàn bộ những kiến thức khái quát nhất, cơ bản nhất, tiêu biểu nhất

về một tác gia, một thời kì, một giai đoạn hay cả nền văn học dân tộc để từ đóhọc sinh có những nền tảng vững chắc đi nghiên cứu và tiếp thu từng bài họccụ thể

Tuy nhiên, việc dạy học phần Văn học sử hiện nay cũng gặp phải rấtnhiều khó khăn Dung lượng kiến thức trong mỗi tiết dạy đều quá dài và có độkhái quát lớn Để giờ học có hiệu quả, cả người dạy, người học đều phải tậptrung cao độ, làm việc hết sức khẩn trương, nghiêm túc, chuẩn bị kĩ lưỡng nếukhông sẽ không kịp thời gian Trong khi đó, kiến thức cho phần này lại rấtrộng và khô khan, cảm hứng nghệ thuật không nhiều mà chủ yếu là các kháiniệm khoa học trừu tượng, vì vậy không phải người học nào cũng tạo đượccho mình trạng thái tinh thần thoải mái, hưng phấn khi học Thậm chí nhiều

Trang 5

người còn cảm thấy mệt mỏi, kém hứng thú trong các giờ học Văn học sử.Hơn nữa phương pháp, biện pháp giảng dạy trong các giờ học này vẫn chủyếu là thuyết trình từ đầu đến hết bài để cho kịp thời gian và đảm bảo dunglượng kiến thức mà chưa có sự đổi mới nào đáng kể Do đó, rất cần thiết phảitìm ra những phương pháp, biện pháp mới nhằm nâng cao chất lượng dạy học

bộ môn Ngữ văn nói chung và phần Văn học sử nói riêng

Như chúng ta đã biết, thế kỉ XXI là thế kỉ bùng nổ thông tin, bùng nổtri thức, phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học Văn nóiriêng đã trở thành một khâu đột phá, một mũi nhọn khoa học của ngành giáodục trên con đường Hiện đại hóa Một cuộc cách mạng về phương pháp đangmở ra trước mắt người học, người dạy và các nhà nghiên cứu khoa học Lâunay, nền giáo dục của nước ta tuy có nhiều đổi mới song vẫn còn tồn tạiphương pháp dạy học “giáo điều”, vì vậy không phát huy được tính chủ động,sáng tạo của người học Phương pháp này chỉ có thể sản sinh ra những convẹt, những con rô-bốt biết nói tiếng người Nó khiến cho người học thụ độngvà vô hình chung làm lãng phí sản phẩm tuyệt diệu của tạo hóa- “não người”-hay nói cụ thể là lãng phí chất xám, trí tuệ của con người, điều này sẽ “lànhững trở lực cho bước đi của nhân loại và của mỗi dân tộc trong cuộc chạyđua về sức mạnh siêu quốc gia” (Phan Trọng Luận)

Dạy học bằng Bản đồ tư duy đang là một trong những phương phápmang lại hiệu quả cao, là “phương pháp giáo dục phổ thông… phát huy đượctính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh…bồi dưỡng phươngpháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác độngđến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Điều 24.2-Luật giáo dục) Thiết nghĩ vận dụng Bản đồ tư duy vào dạy học các bài Vănhọc sử sẽ đáp ứng được yêu cầu của Luật giáo dục, khắc phục được nhữnghạn chế trên, đồng thời giúp cho việc giảm tải đạt chất lượng

Trang 6

2 Lịch sử vấn đề:

Trên thế giới, phương pháp Bản đồ tư duy được phát triển vào cuối thậpniên 60 của thế kỉ XX bởi Tony Buzan, nó như là một cách để giúp học sinh “ghilại bài giảng” mà chỉ dùng các từ then chốt, các hình ảnh để mở rộng và đào sâucác ý tưởng

Bản đồ tư duy có cấu tạo như một cái cây có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọcxung quanh “Cái cây” ở giữa bản đồ là một ý tưởng chính hay hình ảnh trungtâm Nối với nó là các nhánh lớn thể hiện các vấn đề liên quan đến ý tưởng chính.Các nhánh lớn sẽ được phân thành nhiều nhánh nhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánhnhỏ hơn nữa nhằm thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn Sự phân nhánh cứ thế tiếptục và các kiến thức hình ảnh luôn được nối kết với nhau Sự liên kết này tạo ramột “bức tranh tổng thể” mô tả ý tưởng trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng.Cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn

Đến giữa thập niên 70 Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họđã truyền bá kĩ xảo về bản đồ cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các họcviện giáo dục

Bản đồ tư duy hiện là một công cụ đang được sử dụng bởi hơn 250triệu người trên thế giới trong đó có các công ty lớn như HP, IBM, Boeing các tổ chức giáo dục và giáo viên các nước cũng không phải là những ngườiđứng ngoài cuộc

Ở Việt Nam, thông qua khai thác internet, các tài liệu tiên tiến cùng một sốchương trình đào tạo của các chuyên gia hàng đầu thế giới, các bạn sinh viên trẻViệt Nam đã biết đến khái niệm Bản đồ tư duy từ năm 2003 Sau hơn 2 năm thainghén, dự án ứng dụng công cụ tư duy mới - Bản đồ tư duy của nhóm Tư duy mới(Do những bạn sinh viên trẻ sáng lập) đã có buổi hội thảo mở màn tại Đại họcQuốc gia Hà Nội với 10 câu lạc bộ và gần 200 học viên tham dự, chuẩn bị chocuộc hành trình đưa “Tư duy mới” vào thực tế Nhóm cũng đã có chiến lược hợp

Trang 7

tác với các tổ chức như Viện nghiên cứu con người, trung tâm phát triển kĩ năngcon người Tâm Việt, tổ chức IOGT Việt Nam (Tổ chức đào tạo về team work vànếp sống lành mạnh cho học sinh, sinh viên, thuộc Bộ giáo dục ) Bên cạnh đó,nhóm Tư duy mới còn được sự hướng dẫn của những người thầy như Giáo sưPhạm Đức Dương, Chủ tịch hội liên hiệp Đông Nam Á, Viện trưởng viện nghiêncứu văn hoá Phương Đông; Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Thành Nghị, Phó việntrưởng viện nghiên cứu con người Nhóm Tư duy mới đã đem đến cho 300 sinhviên hiện là các thủ lĩnh Đoàn, chủ nhiệm các CLB thuộc Hội sinh viên Đại họcQuốc gia, sinh viên các trường Đại học KHXH & NV Hà Nội, Đại học ngoạingữ gần 20 buổi hội thảo, đào tạo với nhiều nội dung như: cung cấp công cụ tưduy; ứng dụng sơ đồ tư duy trong khởi tạo ý tưởng, trong học tập, trong sinh hoạttập thể Qua những phương pháp hữu ích như học qua trải nghiệm, làm việcnhóm, ứng dụng cụ thể.

Trong giáo dục ở nước ta, dù chưa nhiều nhưng đã có một số trường Đạihọc và một số thầy cô ở các trường THPT ứng dụng biện pháp này vào giảng dạy.Đối với bộ môn Ngữ văn, người thầy đầu tiên phát hiện, nghiên cứu và áp dụnggiảng dạy phương pháp độc đáo này vào trường học là thầy Hoàng Đức Huy -giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.Thầy luôn dạy học với tôn chỉ: “Muốn học sinh học tích cực thì mình cũng

phải dạy tích cực” Và thầy tâm sự: “Năm 2007, đi nhà sách tôi phát hiện hàng loạt cuốn sách của Tony Buzan viết về Bản đồ tư duy Mua về đọc, một cuốn, hai cuốn rồi mười cuốn càng đọc tôi càng tự khẳng định nó rất phù hợp khi áp dụng vào giảng dạy bộ môn Văn Tôi có ba tháng hè để chuẩn bị tư liệu, soạn giáo án Khi bước vào năm học mới 2008-2009 tôi áp dụng ngay” (Báo Tuổi trẻ online - số ra thứ ba, 04/11/2008)

Cũng theo thầy Huy, thời gian ông hướng dẫn học trò làm Bản đồ tưduy thường là tiết phụ đạo hoặc giờ ra chơi của trung tâm, còn tiết dạy chính

Trang 8

khóa vẫn phải hoàn thành bài giảng theo đúng phân phối chương trình Bảnđồ tư duy được triển khai sau khi kết thúc một bài học Học sinh về nhà đọcsách, lên mạng tìm tài liệu và viết, vẽ theo cách hiểu của mình Ví dụ: mỗi bài

học sinh sẽ trình bày các ý theo cộng thức 5W + 1H Như tác phẩm Truyện Kiều sẽ có các ý: tác giả (Trong phần này sẽ có các nhánh nhỏ là: năm sinh,

cuộc đời, sự nghiệp ), tác phẩm, nội dung, nghệ thuật, lời bình về tác phẩm.Hay dạy Nhật kí trong tù có thể vẽ Sơ đồ như sau:

Trang 9

Với phương pháp dạy học trên thầy Huy đã thu hút được sự quan tâm chú

ý và yêu mến Văn học của nhiều thầy cô và các em học sinh Nâng cao rõ rệt ýthức học tập cũng như chất lượng hiệu quả bộ môn Văn mà thầy đảm nhận

Như vậy có thể khẳng định rằng vấn đề ứng dụng Bản đồ tư duy tạiViệt Nam đã được nhiều người quan tâm và bước đầu thử nghiệm trong nhiềulĩnh vực trong đó có cả giáo dục Tuy nhiên, để có một công trình nghiên cứuvà tìm hiểu sâu về ứng dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Văn, và cụ thể làdạy học Văn học sử ở trường THPT thì chưa có tác giả nào đề cập đến Do đóđây là một vấn đề mới mẻ có thể góp phần làm phong phú hơn về mặt lý luậntrong đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Ngữ Văn và nâng cao chất lượngdạy học bộ môn Ngữ Văn ở trường THPT

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả của việc vận dụng

Bản đồ tư duy vào giờ học các bài Văn học sử (Bài khái quát giai đoạn vănhọc) ở trường THPT

4 Phương pháp nghiên cứu:

4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết để thu thập tư liệu,nghiên cứu lịch sử vấn đề, nghiên cứu các tài liệu lí luận liên quan đến dạy vàhọc văn học nói chung, đặc biệt là dạy và học Văn học sử bằng cách ứng dụngBản đồ tư duy nói riêng

Trang 10

4.2 Phương pháp thống kê, phân tích:

- Nghiên cứu, phát hiện năng lực, thực trạng dạy và học Văn học sử củachúng ta ở THPT hiện nay

- Phân tích và vận dụng những vấn đề lý thuyết đã nghiên cứu vào thựctế giảng dạy các bài Văn học sử

- Thu lượm những tài liệu, kết quả thực nghiệm để hỗ trợ đánh giá kếtquả thực nghiệm

4.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Tôi tổ chức thực nghiệm dạy học và đối chứng trên nhiều đối tượng vàđịa bàn khác nhau Sau đó điều tra kết quả thực nghiệm, đối chiếu kết quảthực nghiệm giữa các lớp cùng trường, giữa các trường với nhau Từ đó đánhgiá những thành công cũng như hạn chế của giáo án thực nghiệm và lấy đólàm cơ sở để điều chỉnh và hoàn thiện đề tài

5 Đóng góp của luận văn:

Dạy học bằng Bản đồ tư duy là phương pháp dạy học tuy không mớinhưng việc vận dụng nó vào việc giảng dạy các bài Văn học sử (Bài khái quátgiai đoạn văn học) nói riêng, vào các phân môn khác của môn Ngữ văn nóichung vẫn còn ít và gặp nhiều khó khăn, lúng túng Đề tài sẽ giúp giáo viêncũng như học sinh thấy cách làm và hiệu quả của các bài học Văn học sử (Bàikhái quát giai đoạn văn học), từ đó kích thích mọi người vận dụng phươngpháp này vào trong quá trình dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng bộmôn Ngữ văn ở trường THPT

6 Cấu trúc luận văn:

A Phần mở đầu.

B Phần nội dung:

Chương I: Bản đồ tư duy và khả năng vận dụng vào bài học văn học sử.Chương II: Những hình thức sử dụng bản đồ tư duy trong giờ văn học sử.Chương III: Thực nghiệm tại một số trường THPT ở tỉnh ĐăkLăk

C Phần kết luận

Trang 11

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I.

BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG VÀO

BÀI HỌC VĂN HỌC SỬ

1 Lý thuyết về bản đồ tư duy:

1.1 Sự ra đời của bản đồ tư duy:

Bộ não con người có ước chừng một ngàn tỉ nơ-ron (tế bào não), mỗi tếbào não tựa như một con siêu bạch tuộc với hàng chục, hàng trăm, hàng nghìnxúc tu Ngài Charles Sherrington- cha đẻ của ngành sinh lý thần kinh- khinghiên cứu tế bào não đã xúc động đến mức thốt lên những lời như thơ: “Bộnão con người là vùng tối ma thuật, với hàng triệu con thoi lấp lánh uốn lượnthành các vệt sáng đan xen vào nhau và kết nên những hoa văn mạch lạc,nhưng không hề ổn định, rồi chuyển thành những hoa văn nhỏ hơn cùng nhảymúa hòa điệu, như dải Thiên Hà hòa vào vũ khúc của vũ trụ”

Khi mỗi thông điệp, suy nghĩ hay kí ức tái hiện dẫn truyền qua tế bàonão, một lộ trình điện từ hóa sinh sẽ được tạo ra Mỗi đoạn lộ trình qua từngtế bào não ấy gọi là một “vết kí ức” Tất cả vết ký ức đó, hay còn gọi là Sơ đồ

tư duy, là một trong những lĩnh vực thú vị nhất của khoa học nghiên cứu vềnão bộ

Giáo sư Roger Sperry thuộc trường Đại học California, người sau nàyđược trao giải Nobel cho công trình khoa học của mình, vào cuối thập niên 60đã công bố kết quả nghiên cứu rằng phần tiến hóa nhất của bộ não là vỏ não.Những phát hiện ban đầu của ông cho thấy hai vỏ bán cầu não có khuynhhướng phân chia thành hai nhóm chức năng tư duy chính Bán cầu não phảidường như trội hơn trong các hoạt động tư duy như nhịp điệu, nhận thức vềkhông gian, gestalt (tính toàn thể), tưởng tượng, mơ mộng, màu sắc và kíchthước Còn bán cầu não trái dường như trội hơn ở những kỹ năng tư duy khác

Trang 12

nhưng cũng không thua kém: lời nói, suy luận, số, xâu chuỗi, quan hệ tuần tự,phân tích và liệt kê Mặc dầu mỗi bán cầu não có sự trội hơn ở những hoạtđộng tư duy nhất định, nhưng về cơ bản cả hai bán cầu đều thuần thục trongmọi lĩnh vực.

Dựa trên những đặc điểm đó của não bộ, Tony Buzan đã sáng tạo raBản đồ tư duy theo nguyên lý hoạt động của bộ não Bản đồ tư duy khôngnhững sử dụng chữ, số, các dòng kẻ mà còn có thể sử dụng cả màu sắc và

Trang 13

hình ảnh Các dòng kẻ, chuỗi, chữ, số và các danh sách được xử lí bằng chứcnăng thần kinh của não trái Đây là bán cầu não được sử dụng cho các côngviệc bình thường, do đó khi sử dụng nó, tư duy sáng tạo của con người bị giớihạn Để thực sự trở nên sáng tạo, chúng cần sử dụng trí tưởng tượng- chứcnăng hoạt động của bán cầu não phải như sự tri giác màu sắc, hình ảnh, nhịpđiệu, không gian.

Với đặc điểm trên, Bản đồ tư duy kết hợp hoạt động của cả hai bán cầunão Điều này giải thích vì sao chúng ta có thể phát huy toàn bộ mọi khả năng

tư duy của mình khi sử dụng Bản đồ tư duy Như vậy Bản đồ tư duy là mộtcông cụ hỗ trợ tư duy hiện đại, một kĩ năng sử dụng bộ não rất mới mẻ Đó làmột kĩ thuật minh họa, một dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đườngnét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động của bộ não

Các nghiên cứu khoa học cũng cho thấy, trong quá trình học, bộ nãocon người chủ yếu ghi nhớ những thông tin sau:

- Các chi tiết trong phần đầu thời học (hiệu ứng ưu tiên theo trình tựxuất hiện”)

- Những chi tiết trong phần cuối thời gian học (“hiệu ứng ưu tiên theomức độ cập nhật”)

- Mọi chi tiết được liên hệ với sự việc, quy luật hay cấu trúc đã ghinhớ, hoặc liên quan đến các khía cạnh của vấn đề đang học

- Mọi chi tiết đặc sắc hay nổi bật đặc biệt lưu ý

- Mọi chi tiết đặc biệt thu hút ngũ quan

- Những chi tiết đặc biệt được cá nhân quan tâm

Từ lý thuyết về trí nhớ, Tony Buzan- người Anh, nhà văn, nhà thuyếttrình, cố vấn hàng đầu thế giới cho các chính phủ, doanh nghiệp, ngành nghề,trường đại học, trường học về não bộ, kiến thức và những kỹ năng tư duy- đã

Trang 14

chỉ rõ rằng, hai nhân tố chính của trí nhớ là liên tưởng và nhấn mạnh Trên cơsở đó, Phương pháp tư duy Mind Map (Bản đồ tư duy) ra đời

1.2 Tác giả của Bản đồ tư duy:

Bản đồ tư duy còn gọi là Sơ đồ tư duy, Lược đồ tư duy do Tony Buzansáng lập, sau đó Barry Buzan- em trai của ông- đã có nhiều nghiên cứu, đónggóp cho quá trình phát triển Lập Bản đồ tư duy của ông Tuy nhiên, từ trướcđến nay, mỗi lần nhắc đến Bản đồ tư duy người ta hầu như chỉ nghĩ đến TonyBuzan, ít ai nghĩ tới Barry, bởi như Barry đã nói “Khoảng 80% cuốn sách làcủa Tony: tất cả lý thuyết não bộ, mối liên hệ giữa sự sáng tạo và trí nhớ, cácquy luật, phần lớn kỹ thuật, hầu hết những câu chuyện, và tất cả mối liên hệvới các nghiên cứu khác Anh ấy cũng chính là người chấp bút, vì anh ấy viếtphần lớn bản thảo Đóng góp chính của tôi là sắp xếp cuốn sách, và lý luậnrằng sức mạnh thật sự của Sơ đồ tư duy được giải phóng qua việc sử dụngnhững Ý chủ đạo Ngoài ra, tôi còn đóng vai trò phê bình, khuyên can, chỉtrích, hỗ trợ và là người có chung ý tưởng”

Ý tưởng sử dụng Bản đồ tư duy được Tony nghĩ ra bắt đầu từ lúc ônghọc đại học năm thứ hai, khi ông nhận ra rằng khối lượng công việc học thuậtđang gia tăng và não bộ đang bắt đầu oằn đi do phải căng ra để suy nghĩ, sángtạo, ghi nhớ, giải quyết vấn đề, phân tích rồi viết tiểu luận, nhưng càng cốgắng bao nhiêu ông lại càng nhận được ít thành công bấy nhiêu Ông đã tìmtòi, thử nghiệm rất nhiều và cuối cùng đã phát hiện ra cách học nhằm pháthuy tối đa khả năng ghi nhớ kì diệu của não bộ Nghiên cứu “Bách khoa toànthư về não bộ và cách sử dụng nó” của ông đã trở thành cơ sở cho cuốn sáchLập Bản đồ tư duy sau này Bản đồ tư duy được chính thức giới thiệu với thếgiới lần đầu tiên vào mùa xuân năm 1974 Cùng với những quyển sách trong

Bộ sách về tư duy (The Mind Set), Bản đồ tư duy đã đưa ông đến vị trí củatác giả có sách bán chạy nhất thế giới

Trang 15

1.3 Khái niệm Bản đồ tư duy:

Theo Tony Buzan thì Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụngmàu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một

ý tưởng hay một hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽđược phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nốivới các ý trung tâm Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh.Bản đồ tư duy khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự Từ đócác ý tưởng của con người sẽ phát triển

Hay nói cách khác, Bản đồ tư duy là phương pháp kết nối mang tính đồhọa có tác dụng lưu giữ, sắp xếp và xác lập ưu tiên đối với mỗi loại thông tin(thường là trên giấy) bằng cách sử dụng từ hay hình ảnh then chốt hoặc gợinhớ nhằm làm “bật lên” những ký ức cụ thể và phát sinh các ý tưởng mới.Mỗi chi tiết gợi nhớ trong Bản đồ tư duy là chìa khóa khai mở các sự kiện, ýtưởng và thông tin, đồng thời khơi nguồn tiềm năng của bộ não kỳ diệu

1.4 Nguyên lý hoạt động của Bản đồ tư duy:

Bản đồ tư duy hoạt động theo nguyên tắc liên tưởng “ý này gọi ý kia”của bộ não Ở ý trung tâm của bản đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thểhiện một ý tưởng hay một khái niệm chủ đạo Trung tâm đó được nối với cáchình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính đó lạicó sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế sựphân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được kết nối vớinhau Chính sự liên kết này tạo ra một bức tranh tổng thể mô tả về ý trungtâm một cách đầy đủ, rõ ràng

Trang 16

1.5 Cách thức Lập Bản đồ tư duy: Gồm 4 bước:

- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)

+ Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề, hình ảnhcó thể thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởngtượng của mình Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đềkhông rõ ràng

Trang 17

+ Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh.+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấntượng sâu sắc về chủ đề.

- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm.

+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làmnổi bật

+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm

+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thểđược vẽ tỏa ra một cách dễ dàng

- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.

+ Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ chỉ nên tận dụng các từ khóavà hình ảnh

+ Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽvà thời gian

+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trênnhánh Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa

+ Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánhcấp 2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…bằngđường kẻ Các đường kẻ càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn

Trang 18

+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻcong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn.

Trang 19

+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu Chúng

ta thay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn

- Bước 4: Người viết có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan

trọng thêm nổi bật cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn

Ta có thể tóm lược cách thức tạo lập Bản đồ tư duy bằng bản đồ dưới đây:

1.6 Quy tắc lập Bản đồ tư duy: Khi lập Bản đồ tư duy cần tuân thủ 6 quy tắc sau:

- Quy tắc 1:

+ Tờ giấy nên để ngang để có thể bắt đầu bản đồ tư duy từ giữa trungtâm của tờ giấy Giúp tự do thể hiện sáng tác mà không bị gò bó bởi khuônhình chật hẹp của tờ giấy

Trang 20

+ Nên dùng hình ảnh, hình vẽ để làm trung tâm (keyword).

+ Vẽ nhánh cấp 2 từ nhánh cấp 1 và có thể vẽ thêm vài nhánh trống (đểviết thêm khi ta có thêm ý tưởng)

Trang 21

1.7 Một số điều cần tránh khi ghi chép trên Bản đồ tư duy:

- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng

- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết

- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép

- Tránh cầu kì (tô vẽ nhiều quá) hoặc Bản đồ tư duy đơn giản quákhông có thông tin, chỉ có các đề mục

1.8 Một số yêu cầu khi vẽ Bản đồ tư duy:

- Màu sắc phải phong phú, càng nhiều màu sắc càng tốt để tránh gâynhàm chán

- Thể hiện tích cực các sự kiện hoặc dự định

- Phải có từ ngữ then chốt, hình ảnh then chốt Từ then chốt chính là

“biển báo” hoặc “từ gợi nhớ” quan trọng của bộ máy phân loại dữ liệu đachiều, tức bộ não Nó còn mang một nghĩa là “chìa khóa nhớ” Từ then chốt là

từ đặc biệt đã được chọn hoặc tạo ra để trở thành điểm tham chiếu độc nhấtgiúp ta nhớ các thông tin quan trọng Từ kích thích não trái và là một thànhphần quan trọng để làm chủ trí nhớ, tuy nhiên từ sẽ được phát huy tối đa tácdụng nếu được phác thảo và chuyển thành hình ảnh then chốt Một hình ảnhthen chốt hiệu quả sẽ kích thích cả hai bên não và tác động đến tất cả các giácquan của chúng ta Thông qua các giác quan, bộ não hoạt động bằng cách tạoliên tưởng giữa hình ảnh, màu sắc, từ then chốt và ý tưởng

2 Vai trò của tư duy khái quát và tư duy tổng hợp trong nhận thức của con người và trong dạy học:

2.1 Vai trò của tư duy khái quát và tư duy tổng hợp trong nhận thức của con người và trong dạy học nói chung:

Như chúng ta đã biết, quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnhđạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học tích cực, tự giác, chủ độngtự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thực

Trang 22

hiện những nhiệm vụ dạy học Bản chất của quá trình dạy học chính là quátrình nhận thức độc đáo của học sinh

Vậy thế nào là hoạt động nhận thức? Theo triết học Mác- Lênin, nhậnthức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người- đó là sự phản ánh tâmlí của con người bắt đầu từ cảm giác đến tư duy, tưởng tượng Còn theo Từđiển Bách khoa Việt Nam, nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánhthế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy vàkhông ngừng tiến đến gần khách thể

Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức củacon người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừutượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhậnthức hiện thực khách quan Con đường nhận thức đó được thực hiện qua cácgiai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng,

từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong

Có thể nói quá trình học tập của học sinh cũng diễn ra theo công thứctrên Đó là sự phản ánh đi trước, có tính chất cải tạo mà mức độ cao nhất là sựsáng tạo Sự phản ánh đó được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của mỗi người(như qua kinh nghiệm, nhu cầu, hứng thú…) và đó là sự phản ánh tích cựccủa mỗi chủ thể

Quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cái mớicho nhân loại mà chủ yếu là sự tái tạo những tri thức mà loài người đã tạo ra.Quá trình nhận thức của học sinh cũng không diễn ra theo con đường mòmẫm, thử và sai như quá trình nhận thức nói chung của loài người, nó diễn ratheo con đường đã được khám phá, được những nhà xây dựng chương trình,nội dung dạy học gia công sư phạm Vì vậy, trong một thời gian nhất định,học sinh có thể lĩnh hội khối lượng tri thức rất lớn một cách thuận lợi

Trang 23

Tuy nhiên, để học sinh có thể lĩnh hội khối lượng tri thức lớn ấy mộtcách thuận lợi, dễ dàng, người dạy cần phải thực hiện những nhiệm vụ như:điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản,hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội, con ngườiđồng thời rèn luyện cho học sinh hệ thống kĩ năng, kĩ xảo tương ứng; Tổchức, điều khiển học sinh hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ,đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo.

Muốn vậy, người dạy cần khéo léo vận dụng các nguyên tắc dạy học,sao cho đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lậpsáng tạo của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạyhọc Khuyến khích tạo điều kiện để học sinh mạnh dạn trình bày ý kiến, ýtưởng và những thắc mắc, đề cao tinh thần hoài nghi khoa học, óc phê phán,tác phong độc lập suy nghĩ Tạo cơ hội và điều kiện để học sinh thể hiện đượcnhững ý tưởng, sáng kiến, quan điểm của mình về các vấn đề trong học tập vàthực tiễn cuộc sống Đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự pháttriển tư duy lý thuyết; Đảm bảo tính vững chắc của tri thức và sự phát triểnnăng lực nhận thức của học sinh, trong quá trình dạy học phải làm cho họcsinh nắm vững nội dung bài dạy với sự căng thẳng tối đa tất cả trí lực của họ,đặc biệt là sự tưởng tượng, trí nhớ, tư duy sáng tạo, năng lực huy động trithức cần thiết để thực hiện hoạt động nhận thức, học tập đề ra

Để làm được điều này, giáo viên phải giúp học sinh kết hợp hài hòagiữa ghi nhớ có chủ định trong quá trình lĩnh hội tài liệu học tập, hình thànhcho học sinh kĩ năng tìm những tri thức có tính chất tra cứu khác nhau đểtránh việc học thuộc lòng một cách máy móc, giáo viên thường xuyên đặt ranhững bài tập nhận thức đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ tích cực để giải quyết,sau đó giáo viên tiến hành kiểm tra, đánh giá và hình thành cho học sinh thóiquen tự kiểm tra, tự đánh giá một cách toàn diện, tích cực

Trang 24

Phải chuyển quá trình dạy học sang quá trình tự học, nghĩa là trong quátrình dạy học, cần hình thành cho người học nhu cầu, năng lực, phẩm chất tựhọc để có thể chuyển dần quá trình dạy học sang quá trình tự học, điều này cónghĩa là người học có thể tự mình tìm ra kiến thức, tự thể hiện mình và hợptác với bạn, tự tổ chức hoạt động học tập, biết cách tự kiểm tra, tự đánh giá, tựđiều chỉnh hoạt động học tập của chính bản thân mình Để thực hiện đượcnguyên tắc này, giáo viên phải thông qua phương pháp giảng dạy của mìnhmà thúc đẩy học sinh học tập và nghiên cứu độc lập, tích cực, sáng tạo, chú ýhình thành cho học sinh kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng tổ chức, kiểm tra, đánhgiá, điều chỉnh hoạt động tự học của mình, giúp học sinh hiểu rõ ý nghĩa củahoạt động tự học trong thời đại ngày nay, nêu cho các em những tấm gươngsáng về tự học để các em học tập.

Muốn thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học trên,thiết nghĩ đổi mới phương pháp dạy học là một đòi hỏi cấp bách nhằm giảiphóng và phát huy tiềm năng sáng tạo cho người học, giúp người học làm chủđược bản thân, tự tin, năng động trước cuộc sống, luôn chủ động, tỉnh táotrong việc thu lượm, sàng lọc những gì tinh túy của tri thức nhân loại Về vấn

đề này đã có rất nhiều ý kiến khác nhau, Xô- cơ- rát từng nói “dạy làm thếnào để cho học sinh thấy nó ở chính nó”, Khổng Tử cũng có quan điểm rấttiến bộ- ông cho rằng “học cách học thế nào cũng quan trọng như học cái gì”,và cũng không phải tình cờ mà một vị tổng thống Mỹ nói “mục đích cuốicùng phải đạt của giáo dục là người học biết tự học”

Như vậy, có thể nói tự học là con đường cứu giúp cho mỗi con ngườitrước mâu thuẫn giữa khát vọng cao đẹp về học vấn với hoàn cảnh ngặt nghèocủa cuộc sống cá nhân, nó tạo ra tri thức bền vững cho mỗi con người Tự họclà chìa khóa vàng, là con đường tự khẳng định, con đường sống, con đường

Trang 25

thành đạt, con đường hạnh phúc của những ai muốn vươn lên đỉnh cao trí tuệcủa thời đại thông tin siêu tốc ngày nay.

Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy, bức tranh chung về phương phápgiảng dạy tại các cấp học của chúng ta hiện nay là tập trung vào kĩ năng tưduy phân tích, nghĩa là dạy cho người học cách hiểu các khái niệm, thảo luậntheo phương pháp định sẵn, loại bỏ những hướng đi không đúng, tìm ra câutrả lời đúng nhất Thậm chí, nhiều nơi phương pháp thuyết trình (thầy giảngtrò ghi) vẫn chiếm ưu thế, nhiều giáo viên chưa chú trọng đến việc giới thiệu,yêu cầu, bắt buộc người học phải tham khảo những tài liệu gì Phương phápgiảng dạy này đã làm mất đi một hình thái khác của tư duy, đó là tư duy sángtạo Tư duy sáng tạo tập trung vào khám phá các ý tưởng, phát triển thànhnhiều giải pháp, tìm ra nhiều phương án trả lời đúng thay vì chỉ có một

Hậu quả của phương pháp giảng dạy cũ dẫn đến sự thụ động của ngườihọc trong việc tiếp cận tri thức Sự thụ động này là nguyên nhân tạo chongười học sự trì trệ, ngại đọc tài liệu, ngại tranh luận, thiếu khả năng thuyếttrình, lười tư duy và thiếu tính sáng tạo trong tư duy khoa học Sự giao tiếptrao đổi thông tin trong lớp hầu như chỉ mang tính một chiều

Tìm hiểu các quốc gia có nền giáo dục phát triển trên thế giới, ta sẽthấy họ đặc biệt quan tâm đến việc phát triển tư duy sáng tạo, khả năng làmviệc độc lập và khả năng làm việc theo nhóm của người học Các quốc gianày áp dụng áp dụng nhiều phương pháp khác nhau nhằm khích lệ và tạo điềukiện tốt nhất để người học phát triển khả năng sáng tạo của mình

Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng đào tạo, chúng ta đã cải tiến đồng

bộ về nhiều mặt, từ chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy đến đội ngũgiáo viên, trong đó việc đổi mới phương pháp giảng dạy được xem là mộttrong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mộtcách bền vững, vì đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ tạo điều kiện tốt cho

Trang 26

người học có thể phát huy hết khả năng tư duy của mình, biến quá trình họccủa người học thành quá trình phát triển tư duy sáng tạo Từ thực tế trên chothấy, để nâng cao chất lượng đào tạo, việc đổi mới phương pháp đào tạo tạiViệt Nam là việc làm cấp thiết và cần tiến hành một cách đồng bộ Đổi mớiphương pháp giảng dạy sẽ cung cấp những cơ hội đặc biệt để nhận thức rõnhững giá trị quan trọng, thực chất trong cuộc sống Điều đó làm tăng khảnăng mà thực ra là yêu cầu giáo viên không ngừng nâng cao trình độ hiểubiết Vì vậy, vai trò mới của người giáo viên trở thành nhân tố kích thích trí tòmò của người học, mài sắc thêm năng lực nghiên cứu độc lập, tăng cường khảnăng tổ chức, sử dụng kiến thức và khả năng sáng tạo.

Trong các phương pháp mới được đề xuất và vận dụng trong nhữngnăm gần đây, dạy học bằng Bản đồ tư duy đặc biệt được các nhà nghiên cứu,nhà khoa học và giáo viên giảng dạy cũng như học sinh quan tâm Cùng vớicác phương pháp dạy học tích cực khác, việc triển khai dạy học bằng Bản đồ

tư duy chính là một công cụ phù hợp mà các trường đang thực hiện để tiếnhành giảm tải đạt chất lượng

2.2 Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học:

Ý tưởng áp dụng Bản đồ tư duy trong dạy học xuất phát từ chuyện kểcủa một du học sinh nước ngoài, khiến cha mẹ cháu quyết tâm nghiên cứu đềxuất đưa phương pháp tiên tiến này vào trường học Việt Nam TS Trần ĐìnhChâu cùng với TS Đặng Thị Thu Thuỷ là hai tác giả đầu tiên ở Việt Nam phổbiến Bản đồ tư duy tới hệ thống các trường phổ thông Hai người biết đến Bảnđồ tư duy là nhờ con gái- con thứ hai của gia đình họ Qua câu chuyện về cácgiờ học thú vị bằng Bản đồ tư duy mà cô con gái kể lại trong dịp về nước nghỉhè năm 2006, TS Châu có suy nghĩ rằng: tại sao không tìm cách nghiên cứu ápdụng phương pháp này vào Việt Nam và áp dụng như thế nào cho phù hợp?

Trang 27

Cheryl Cheah - hiện là sinh viên trường Imperial College London chobiết: Tại Singapore, Bản đồ tư duy là một phương pháp học mà hầu hết họcsinh đều được làm quen từ khi mới 11-12 tuổi Ở độ tuổi đó, trường RafflesGirls’ School, nơi cô học đã mời riêng một chuyên gia về hướng dẫn và giúpcác học sinh có thể vẽ Bản đồ tư duy ngay sau đó Theo Cheryl, cô và các bạnđã rất hào hứng học tập bởi bị cuốn hút bởi màu sắc, hình ảnh rực rỡ và ghinhớ nhanh kiến thức

“Thầy cô rất linh hoạt trong việc áp dụng Bản đồ tư duy trong giảngdạy Thầy cô có thể giới thiệu Bản đồ tư duy ở đầu hoặc cuối bài giảng Cũngcó khi sau một bài giảng, thầy cô đưa ra chủ đề chung và yêu cầu học sinhđóng góp các ý, các nhánh để vẽ Bản đồ tư duy ôn tập chính bài giảng trongbuổi hôm đó Nhiều khi thầy cô giao bài tập về nhà cho học sinh tổng kết kiếnthức đã học bằng Bản đồ tư duy Theo kinh nghiệm của bản thân em, nếu thầy

cô giới thiệu bài giảng bằng quá trình lập Bản đồ tư duy và sau đó kết thúc bàihọc bằng chính Bản đồ tư duy đó sẽ giúp học sinh nhanh chóng nắm ngayđược ý chính của bài học, nhớ nhanh hơn và lâu hơn”, Chua Song Guan, sinhviên trường National Taiwan Univesity chia sẻ

Nói về lợi ích của việc học bằng Bản đồ tư duy, Cho Wen Jing - sinhviên trường Warwick University cho biết: “Khi ở lứa tuổi nhỏ và vừa, bài họccòn đơn giản, việc sử dụng Bản đồ tư duy rất thuận tiện vì dễ làm, dễ nhớ Ởcác lớp cuối phổ thông và các bài học phức tạp hơn thì không thể chỉ sử dụngBản đồ tư duy mà phải kết hợp thêm nhiều phương pháp khác Để ôn tập lạicác bài học trong một cuốn sách, ngoài việc học bình thường, em và các bạncũng thường tóm tắt mỗi chương thành một Bản đồ tư duy và lưu trữ lại thànhmột tập Sau đó, chúng em lật lại tập Bản đồ tư duy đó để ôn tập, nhớ lạinhững kiến thức cơ bản nhất Một lợi ích rất lớn của Bản đồ tư duy là khi họcvà làm việc theo nhóm Mỗi người có thể đóng góp một ý vào Bản đồ tư duy

Trang 28

hoặc phụ trách vẽ một Bản đồ tư duy riêng biệt sau đó sẽ ghép lại thành mộtbức tranh tổng thể.”

Từ năm 2011, ứng dụng phương pháp Bản đồ tư duy trở nên rộng khắp.Nhiều nước trên thế giới đã ứng dụng Bản đồ tư duy trong giảng dạy, học tập,làm việc, kinh doanh… từ 15-20 năm nay Nhưng người Việt mới chỉ biết đếnBản đồ tư duy trong vài năm trở lại đây Giữa lúc cả xã hội bức xúc với “đọc -chép” và thói quen “học vẹt” của nhiều học sinh thì việc ứng dụng Bản đồ tưduy cùng với các phương pháp dạy học tích cực khác đã đem lại rất nhiều lợiích TS Trần Đình Châu đã chủ trì nhóm nghiên cứu một cách kĩ lưỡng và thammưu được với Bộ GD-ĐT đưa thành chuyên đề ứng dụng Bản đồ tư duy hỗ trợđổi mới phương pháp dạy học tới các cán bộ quản lý và giáo viên THCS

Trong những năm gần đây, TS Trần Đình Châu cùng các cán bộ nghiêncứu thuộc Viện Nghiên cứu Giáo dục Việt Nam, Dự án Phát triển Giáo dụcTHCSII kết hợp với Vụ Giáo dục Trung học và Cục Nhà giáo của Bộ GD-ĐTvà Sở GD-ĐT các tỉnh đến các vùng miền của đất nước để nghiên cứu vànhân rộng dần phương pháp mới này, với hy vọng sẽ giúp học sinh thoát khỏilối học vẹt, đóng góp phần mình vào công việc chung của ngành giáo dục.Trên 30 bài báo khoa học cùng với 4 cuốn sách: “Dạy tốt- học tốt các mônhọc bằng Bản đồ tư duy” dùng cho Giáo viên và học sinh từ lớp 4 đến lớp 12và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của hai Tiến sỹ Trần ĐìnhChâu và Đặng Thị Thu Thuỷ do Nhà xuất bản giáo dục phát hành đã thu hútmạnh sự quan tâm của các cấp quản lý giáo dục và đội ngũ thầy cô giáo, phụhuynh và các em học sinh phổ thông

Thầy Đặng Ngọc Thuận (trường Lộc Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình) chiasẻ: “Với thời gian chưa dài vận dụng Bản đồ tư duy trong dạy học môn Hóahọc bản thân tôi thấy có nhiều mặt tích cực Học sinh nắm kiến thức bài họcmột cách chủ động hơn, không khí hoạt động của học sinh trong các giờ học

Trang 29

sôi nổi, mọi học sinh đều tích cực tham gia Có thể khẳng định đây là mộtbiện pháp để chống học sinh ngồi sai lớp”

Năm 2010, ứng dụng Bản đồ tư duy trong dạy và học đã được triểnkhai thí điểm tại 355 trường trên toàn quốc và được cả giáo viên cũng nhưhọc sinh các trường hồ hởi tiếp nhận Nhiều Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạosau khi được Dự án THCSII tập huấn cho cốt cán cấp THCS đã chủ động phổbiến đến cả cấp tiểu học và trung học phổ thông Kết quả ghi nhận ban đầucho thấy: việc vận dụng Bản đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành chohọc sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, “định vị trongđầu” được các kiến thức, sự kiện cơ bản, có cách nhìn vấn đề một cách hệthống, khoa học, học tốt không chỉ kiến thức trong sách vở mà còn cả từ thựctiễn cuộc sống Trước kết quả khả quan này, năm 2011, Bộ GD-ĐT đã quyếtđịnh đưa chuyên đề phương pháp dạy học bằng Bản đồ tư duy thành 1 trong 5chuyên đề tập huấn cho giáo viên THCS trên toàn quốc

Thứ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Nguyễn Vinh Hiển đã khẳng định:toàn ngành nỗ lực giảm tải mạnh mẽ nội dung dạy học theo 5 tiêu chí trênnguyên tắc vẫn phải giữ được mạch kiến thức và tính thống nhất của chươngtrình Điều đó có nghĩa là giảm tải những nội dung trùng lặp, nhàm chán,không phù hợp…nhưng không giảm yêu cầu Muốn vậy cùng với giảm tảiphải tiến hành áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, từng bước chuyểncách dạy và học từ chỗ trang bị kiến thức cho người học sang dạy học sinhcách tiếp nhận và tìm tòi kiến thức, vận dụng vào thực tế và biến thành kỹnăng của riêng mình

Theo ông Vũ Đình Chuẩn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học của BộGiáo dục- Đào tạo, ngoài tính khoa học, phương pháp học này có nhiều ưuđiểm phù hợp với điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất của ngành giáo dục ViệtNam: “Bản đồ tư duy có thể áp dụng cho nhiều vùng khác nhau, đặc biệt tại

Trang 30

các vùng nghèo, giáo viên có khi chỉ cần một tấm bản đồ dùng rồi, một tờ lịchdùng rồi, chỉ cần một mặt giấy cũng có thể vẽ được Sơ đồ tư duy Học sinh cóthể học trên một mặt bằng, thậm chí là một nền đất Chính vì tính linh hoạtnên áp dụng nó khả thi”.

Qua thực tế ứng dụng, nhiều giáo viên đánh giá: Kết hợp với cácphương pháp dạy học tích cực khác mà ngành giáo dục đã và đang triển khai,Bản đồ tư duy sẽ là đòn bẩy góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giúp họcsinh tích cực chủ động và có tư duy tốt hơn

Trong “Tổng kết Dự án phát triển giáo dục Trung học cơ sở II” ngày 26tháng 06 năm 2012 tại Hà Nội, Bản đồ tư duy được đánh giá “là một trongnhững sản phẩm được coi là “đặc sản” của dự án

2.3 Vận dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Văn học sử:

2.3.1 Đặc điểm của bài Văn học sử ở trường THPT:

2.3.1.1 Dung lượng và loại bài Văn học sử trong bộ môn Ngữ văn ở THPT

Các bài văn học sử là những nhận định, những đánh giá của các nhànghiên cứu văn học về lịch sử văn học dân tộc trong cái nhìn bao quát của cảmột nền văn học, từng bộ phận, từng thời kỳ văn học và từng tác gia văn học.Với hình thức là những văn bản nghị luận gồm nhiều phần, mỗi phần trình bàymột vấn đề bằng hệ thống luận điểm và các luận cứ để làm rõ từng luận điểm

Bộ SGK Ngữ văn THPT hiện hành được “xây dựng như một chỉnh thểvăn hóa mở trong nhiều quan hệ…” Theo tinh thần đổi mới của chương trìnhgiáo dục phổ thông “hệ thống tri thức văn học được cấu trúc một cách hợp lýtrên các phương diện lịch sử và loại thể Trình tự lịch sử văn học dân tộc vẫnđược chú ý trong sự đối sánh với văn học nước ngoài Song tiêu chí loại thểđược chú trọng hơn so với chương trình cũ” Tiếp tục quan tâm đến sự pháttriển của loại thể, Sách giáo viên Ngữ văn 11 có bổ sung thêm: “…khi tiếpcận các văn bản văn học, chúng ta tiếp tục quan tâm đến sự phát triển của loại

Trang 31

thể Nhưng không nên chỉ chú trọng loại thể mà coi nhẹ sự phát triển về lịch

sử ở THPT cần cung cấp cho học sinh những tri thức khái quát và hệ thống

về văn học Kiến thức có tính lịch sử rất cần thiêt cho sự hình thành thói quenvà khả năng tư duy tổng hợp ở học sinh Mỗi văn bản được nhìn từ góc độloại thể lại cần được đặt cào hệ thóng lịch sử…”

Rõ ràng, cấu trúc chương trình cải cách lần này có sự thay đổi, lịch sử vănhọc không còn là cơ sở độc tôn Vì vậy chúng ta cần phải khai thác các kiến thứcvăn học sử một cách hệ thống, khoa học, cụ thể trong quá trình đọc - hiểu vănbản để bù đắp cho sự không độc tôn đó Những kiến thức trong bài khái quát vềthời kỳ, giai đoạn, tác gia, tác phẩm là tiền đề tạo cơ sở cho việc đọc hiểu cácvăn bản Ngược lại khi đọc hiểu các văn bản trên tinh thần khắc sâu các kiếnthức văn học sử sẽ góp phần làm sáng tỏ các nhận định, luận điểm…

Mặc dù, chương trình cải cách lần này không xem nhẹ tri thức văn học

sử, nhưng so với chương trình cải cách lần trước (văn học chỉnh lý hợp nhất2000) thì nó có phần “giảm tải” hơn “Chương trình Ngữ văn THPT hướngchủ yếu vào đọc văn chứ không phải văn học sử, tri thức văn học sử chủ yếuchỉ giúp cho đọc văn có căn cứ về ngữ cảnh lịch sử”

Căn cứ vào các bài văn học sử trong bộ sách giáo khoa cơ bản, ta thấyở chương trình THPT có tất cả 11 bài, cụ thể như sau:

KHỐI

LỚP

SỐ TIẾT

VHS

TIẾT THEO PPCT

4 Khái quát Văn học dân gian Việt Nam

32 Khái quát Văn học Việt Nam từ thế kỉ

X đến hết thế kỉ XIX33

59 Tác gia Nguyễn Trãi

Trang 32

82 Tác gia Nguyễn Du

7 Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

22 Tác gia Tố Hữu

Nhìn vào bảng thống kê ta thấy với một dung lượng kiến thức đồ sộnhưng phần văn học sử chỉ chiếm một vị trí rất khiêm tốn trong chương trình.Được phân bố chủ yếu ở đầu và giữa các kì học Các bài khái quát thườngnằm ở đầu mỗi kì học hoặc phần học, còn các bài tác gia văn học thì thườngđược bố trí sau khi học tác phẩm

Số tiết khái quát về thời kỳ, giai đoạn văn học, về tác giả, tác phẩm sovới chương trình trước đây có giảm đi đáng kể Cụ thể, lớp 11 chỉ còn 2 tácgia: Nam Cao, Nguyễn Đình Chiểu (bớt đi Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu) Tuynhiên, phần tri thức về các tác gia có phần cô đọng, ngắn gọn hơn - hầu nhưkhông có bài học riêng về tác gia mà chúng là một phần của tác phẩm Ví dụhọc tác gia Nam Cao gộp chung với giảng dạy Chí Phèo

Các bài khái quát về tác phẩm (giới thiệu tác phẩm) cũng giới hạn Vídụ, trước đây SGK văn học lớp 11 có giới thiệu tác phẩm Lục Vân Tiên củaNguyễn Đình Chiểu, SGK Ngữ văn hiện nay không có, các em chỉ tiếp xúcvới một đoạn trích ngắn (Lẽ ghét thương)

Trang 33

Chương trình Ngữ văn THPT hiện hành quan niệm: lịch sử chính trị vàlịch sử văn học có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không nên đồng nhất haivấn đề đó “Nên chú ý nêu lên những đặc điểm về quan hệ giữa ngôn ngữ vớidân tộc, về tư tưởng nghệ thuật, về phong cách, về thi pháp… mang tính chấtthời đại và cá nhân ở mỗi thời kỳ, khiến cho thời kỳ trước được phân biệt vớithời kỳ sau” Các bài văn học sử ở THPT thuộc các loại bài sau:

- Loại bài khái quát về văn học: Loại này gồm 2 bài đều ở chương trình lớp 10, trong đó bài “Tổng quan văn học Việt Nam” có lượng kiến thức khái

quát cao nhất, cung cấp cái nhìn toàn diện về nền văn học Việt Nam, còn bài

“khái quát văn học dân gian Việt Nam” thì cung cấp cho học sinh những kiếnthức cơ bản về văn học dân gian như đặc trưng cơ bản, hệ thống thể loại vànhững giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam

- Loại bài khái quát về thời kỳ văn học: Gồm 3 bài chia đều ở 3 khối, bài “Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX” (lớp 10), bài “Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945” (lớp 11), và bài “Khái quát văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỷ XX” (lớp 12) Những bài học loại này

chứa một dung lượng kiến thức lớn, có sự đan xen giữa kiến thức khái quát vàkiến thức cụ thể, nó cung cấp cho học sinh cái nhìn về các giai đoạn phát triểncủa nền văn học dân tộc, thành tựu về tác phẩm, thể loại và đặc điểm về nộidung, hình thức của văn học qua từng giai đoạn

- Loại bài khái quát về tác gia: Loại bài này có tất cả 6 bài được phân

bố như sau: Lớp 10 có Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, lớp 11 có Nguyễn ĐìnhChiểu, Nam Cao, còn lớp 12 có Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh và Tố Hữu.Loại bài này thường được biên soạn theo hai luận điểm chính: Cuộc đời- conngười tác giả và Sự nghiệp văn chương (gồm tác phẩm chính, quan điểm sángtác, thành tựu, đặc điểm nội dung sáng tác, phong cách của tác giả)

Trang 34

Có thể nói, ở bậc THPT các bài văn học sử khá đa dạng và phức tạp,nhưng được biên soạn rất công phu và hợp lý Chúng được sắp xếp theo tiếntrình lịch sử văn học, cung cấp kiến thức từ khái quát đến cụ thể nhằm làmtăng thêm vốn hiểu biết về lịch sử văn học dân tộc cho học sinh Không chỉsắp xếp chặt chẽ các bài học, lượng tri thức trong mỗi bài cũng được cân nhắctheo hệ thống luận điểm khoa học, mỗi dung lượng kiến thức đều được xáclập trong mối tương quan giữa tri thức khái quát và tri thức cụ thể Tri thứckhái quát chủ yếu là những nhận định về văn học như giai đoạn, xu hướng, tácgiả, thể loại, tác phẩm Còn tri thức cụ thể là tri thức minh họa cho nhận địnhvăn học hoặc tri thức về tác giả, tác phẩm, có khi là một câu thơ hay một đoạntrích Có thể thấy rõ điều này qua bài “Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ

X đến hết thế kỷ XIX”, như ở mục 3 trang 107 về “Giai đoạn từ thế kỷ XVIII

đến nửa đầu thế kỷ XIX”, kiến thức khái quát là: Về phương diện nội dung, văn học thế kỷ XVIII -nửa đầu thế kỷ XIX chứng kiến sự xuất hiện của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa Minh họa cho nó là những kiến thức cụ thể sau: “nổi bật lên trong sáng tác văn học giai đoạn này là tiếng nói đòi quyền sống, đòi hạnh phúc và đấu tranh giải phóng con người, trong đó có phần con người cá nhân, nhất là người phụ nữ Những tác phẩm tiêu biểu là Chinh phụ ngâm- nguyên tác chữ Hán của Đặng Trân Côn, bản dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm (?), Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Bà Huyện Thanh Quan, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái,… Nguyễn Du với các tập thơ chữ Hán và đặc biệt là kiệt tác Truyện Kiều được coi là đỉnh cao nhất của văn học trung đại Việt Nam Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,…vẫn tiếp tục tinh thần nhân đạo truyền thống nhưng đồng thời hướng nhiều vào thế giới tình cảm riêng tư và ý thức cá nhân của con người”.

Trang 35

Nhìn chung, nhờ những kiến thức cụ thể mà sự trừu tượng của nhữngkiến thức khái quát đã dễ nắm bắt hơn, tuy nhiên để chuyển tải cho học sinhhiểu sâu vấn đề thì hoàn toàn không đơn giản, bởi chính những kiến thức cụthể như ví dụ trên vẫn còn có tính khái quát rất cao, thời gian dành cho nhữngbài văn học sử không nhiều, hơn nữa lượng kiến thức không chỉ thiên về kháiquát, mà còn là kiến thức tổng hợp của nhiều tri thức thuộc các lĩnh vực khácnhau như tri thức xã hội, lịch sử, kinh tế, chính trị…tất cả những tri thức nàyđều có liên quan, soi chiếu cho nhau, cái này làm cơ sở để nảy sinh cái kia vàngược lại Như vậy không thể xem nhẹ kiến thức nào, tất cả đều phải giúp họcsinh nắm bắt được Để làm được điều này thiết nghĩ dạy học theo các phươngpháp truyền thống là khó đạt được mục tiêu.

2.3.1.2 Đặc điểm kiến thức và phương pháp truyền đạt hiện tại

Tầm quan trọng của kiến thức Văn học sử trong bộ môn Ngữ văn ởtrường THPT là điều không cần phải bàn cãi Chúng ta đều biết, Văn học sửlà một ngành khoa học rất rộng và khó Nếu nền văn học dân tộc có lịch sửtrải dài suốt hơn một ngàn năm thì Văn học sử cũng có độ tuổi như vậy Kiếnthức Văn học sử là kiến thức tổng quát, rộng lớn, bao trùm, khái quát toàn bộtiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc cũng như những kiến thức cơbản nhất về xu hướng văn học, trào lưu vận động của văn học, các khuynhhướng, thời kì, giai đoạn văn học và các hiểu biết cơ bản nhất về tác gia vănhọc Mỗi thời kì, giai đoạn, khuynh hướng văn học đều mang trong mìnhnhững đặc điểm riêng biệt Nó mang dấu ấn và hơi thở của lịch sử, văn hoá,phong tục tập quán và nếp sống văn minh của thời kì đó Tác giả văn họcchính là những người đã kì công, tâm huyết đem những tinh hoa của cuộcsống vào văn học Mỗi người đều nhìn nhận cuộc sống ở những góc độ khácnhau, mỗi người có những thói quen sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh khác nhau,mỗi người đều bị ảnh hưởng, tác động bởi gia đình, bạn bè và xã hội khác

Trang 36

nhau … tất cả những cái đó tạo nên phong cách cá nhân của từng tác giả Mỗiphong cách ấy lại đem đến sự phong phú và đa dạng cho nền văn học dân tộc.

Những năm gần đây, Văn học sử đã bắt đầu được các nhà nghiên cứuquan tâm và đi sâu vào tìm kiếm, thống kê những kết quả, thành tựu Trongcác trường phổ thông và các trường chuyên nghiệp, các tiết Văn học sử cũngđã thực sự được chú trọng, thể hiện trong số lượng các tiết dạy, bài dạy và sựphân bố của các bài đó trong chương trình dạy Tuy nhiên, chúng ta đều nhậnthấy rằng kiến thức Văn học sử rất nhiều, khô khan và khó gây được hứng thúvới người học Thực tế cho thấy, ở trường phổ thông khi học đến các bài Vănhọc sử, cả thầy và trò đều cảm thấy lúng túng Thầy thì lúng túng vì khôngbiết làm sao cho vừa dạy hết được chương trình, vừa giúp cho học sinh hiểubài, nhớ bài và thích bài mình dạy Còn học sinh lúng túng vì câu hỏi, bài tậpvà những kiến thức ở những bài này quá nhiều, làm thế nào để có thể tìmđược những tài liệu liên quan giúp cho học và hiểu bài tốt hơn, vừa làm thếnào để có thể ghi nhớ tốt nội dung bài học một cách hiệu quả Thông thườngtâm lý chung cả thầy và trò đều không thích những bài học văn học sử nàytrong chương trình Vậy làm thế nào để cả thầy và trò thay đổi tâm lý, thái độkhi học những bài học này?

Khi ta chưa thể có cách gì thay đổi được dung lượng, nội dung chươngtrình bài học thì ta hãy thử đi tìm hiểu phương pháp dạy và học xem liệu cócách nào có thể thay đổi chất lượng, hiệu quả giảng dạy để chuyển từ nhữngtiết học khó thành những tiết học bình thường, đơn giản được không?

Hiện nay, ở nhà trường THPT bộ môn ngữ văn với những đặc thù riêngthường sử dụng các phương pháp biện pháp dạy học như: thuyết trình, đọc -hiểu, nghiên cứu, đàm thoại… Riêng phần Văn học sử, phương pháp chủ yếunhất mà các thầy cô hay sử dụng có lẽ là phương pháp thuyết trình Bởi chỉvới vẻn vẹn 45 phút ngắn ngủi trên lớp, các thầy cô không có cách nào khác

Trang 37

để có thể đi hết nội dung chương trình bao gồm cả một thời kì, giai đoạn vănhọc thậm chí cả một nền văn học Việc lấy dẫn chứng minh hoạ cho học sinhrất hạn chế, bởi nếu sa đà không cẩn thận giáo viên sẽ bị cháy giáo án còn họcsinh lại không thể hoặc rất khó tự nghiên cứu các bài khái quát do trình độ vàđiều kiện của các em chưa thể đáp ứng yêu cầu của bài Do vậy hầu hết nhữngtiết này giáo viên chỉ đi lướt được phần nông, phần rộng của bài học, cònphần sâu phần hay thì hầu như không giáo viên nào có thể đề cập tới Việc đốithoại, đàm thoại lắng nghe ý kiến trao đổi cảm thụ của các em học sinh trênlớp cũng hầu như là không có vì thời gian rất hạn hẹp, gò bó Do đó khi gặpnhững bài học này, hầu hết giáo viên và học sinh không tìm được sự say mê,hào hứng học tập Với tâm lý đó, đa phần các tiết dạy Văn học sử đều khôngcho được kết quả như người dạy mong muốn.

Đã đến lúc, chúng ta cần tìm ra giảỉ pháp để khắc phục tình trạng, tâm

lý chán nản, thờ ơ với các giờ học Văn học sử và trả lại cho nó vẻ đẹp cũngnhư giá trị vốn có của nó Không có cách nào khác ngoài việc tìm ra mộtphương pháp, biện pháp hỗ trợ tư duy, học tập và giảng dạy một cách hiệuquả Sau một thời gian nghiên cứu và thực hành, tôi thấy hoàn toàn có thể ứngdụng những thành tựu nghiên cứu về Bản đồ tư duy vào dạy học phần Vănhọc sử, từ đó có thể nâng cao được chất lượng giảng dạy cũng như học tập bộmôn này Bởi kết cấu của các bài văn học sử là hệ thống những luận điểm,luận cứ

Chẳng hạn, ở bài “Tổng quan văn học Việt Nam” trong Ngữ văn 10 (bộ

chuẩn) đã có những nhận định tổng quát, luận điểm, luận cứ sau đây:

+ Các bộ phận hợp thành của văn học Việt Nam: gồm có 3 luận điểm:

- Luận điểm 1: “Văn học Việt Nam bao gồm các sáng tác ngôn từ vớihai bộ phận có quan hệ mật thiết với nhau: văn học dân gian và văn học viết”

Trang 38

- Luận điểm 2: “Văn học dân gian là các sáng tác tập thể và truyềnmiệng của nhân dân lao động”.

- Luận điểm 3: “Văn học viết là sáng tác của trí thức, được ghi lại bằngchữ viết, tác phẩm văn học viết mang đậm dấu ấn tác giả”

Ở SGK Ngữ văn 10 (bộ nâng cao) được trình bày như sau:

- Luận điểm 1: “Nhìn một cách tổng quát, nền văn học nước ta gồm hai

bộ phận phát triển song song và luôn có ảnh hưởng qua lại sâu sắc: văn họcdân gian và văn học viết ”

- Luận điểm 2: “Văn học dân gian nằm trong tổng thể văn hóa dân gian

ra đời từ xa xưa và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay Bộ phận văn học này

do người bình dân sáng tác và phổ biến theo lối truyền miệng”

- Luận điểm 3: “Văn học viết do tầng lớp trí thức sáng tạo nên, chínhthức ra đời từ khoảng thế kỉ thứ X như một bước nhảy vọt của tiến trình lịch

sử văn học dân tộc”

+ Quá trình phát triển của văn học Việt Nam: Có 3 luận điểm, đó là:

- Luận điểm 1: “Quá trình phát triển của văn học Việt Nam gắn chặtvới lịch sử chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước Nhìn tổng quát, văn họcviết Việt Nam trải qua ba thời kì lớn: Văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX,Văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945, Văn học từ sauCách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX”

- Luận điểm 2: “Văn học trung đại Việt Nam được viết bằng chữ Hánvà chữ Nôm” (văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX được gọi là văn họctrung đại)

- Luận điểm 3: “Văn học hiện đại Việt Nam (từ đầu thế kỉ XX đến hếtthế kỉ XX) đã có mầm mống ở cuối thế kỉ XIX Trải qua một giai đoạn giaothời ngắn từ đầu thế kỉ XX đến những năm 30, văn học Việt Nam đã bước

Trang 39

vào quỹ đạo của văn học hiện đại là nền văn học tiếng Việt chủ yếu đượcviết bằng chữ quốc ngữ”.

SGK Ngữ văn 10 (bộ nâng cao) cũng phân định các thời kì phát triểncủa văn học viết Việt Nam giống như ở SGK Ngữ văn 10 (bộ cơ bản) Songcó 4 luận điểm sau:

- Luận điểm 1: “Lịch sử văn học gắn chặt với lịch sử xã hội, lịch sửchính trị của đất nước Tuy nhiên không nên đồng nhất lịch sử văn học vớilịch sử chính trị, xã hội”

- Luận điểm 2: “Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, nền văn học Việt Namphát triển dưới các triều đại phong kiến Nó bao gồm hai bộ phận phát triểnsong song: văn học dân gian và văn học viết; bộ phận văn học viết gồm haithành phần: văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm”

- Luận điểm 3: “Thời kì đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám

1945, tuy chỉ diễn ra gần nửa thế kỉ, nhưng có nhiều chuyển biến lớn, phảnánh những đổi thay sâu sắc trên đất nước ta về mặt xã hội và ý thức”

- Luận điểm 4: “Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX,nền văn học mới trên đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, trở nênthống nhất về tư tưởng và hướng hẳn về đại chúng nhân dân”

Có thể tóm lược lại để ghi nhớ như sau: văn học Việt Nam phát triểnqua ba thời kì lớn:

- Thời kì từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX (văn học trung đại)

- Thời kì từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 (văn họcgiao thời đến hiện đại)

- Thời kì từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX (nền vănhọc mới Việt Nam)

+ Con người Việt Nam qua văn học:

Trang 40

Đây là phần thứ ba của bài “Tổng quan văn học Việt Nam” ở SGK Ngữvăn 10 (bộ chuẩn) Còn ở SGK Ngữ văn 10 (bộ nâng cao) thì phần thứ ba nàycó đề mục là: “Một số nét đặc sắc truyền thống của văn học Việt Nam”.

Những nhận định khái quát ở mục “Con người Việt Nam qua văn học”như sau:

- Luận điểm tổng quát: “Văn học Việt Nam thể hiện tư tưởng tình cảm,quan niệm chính trị, văn hoá, đạo đức, thẩm mĩ của con người Việt Namtrong nhiều mối quan hệ đa dạng”

- Luận điểm về Con người Việt Nam trong quan hệ với thế giới tự nhiên:

“Tình yêu thiên nhiên là một nội dung quan trọng của văn học ViệtNam” Các luận cứ:

* Văn học dân gian đã kể lại quá trình ông cha ta nhận thức, cải tạo,chinh phục thế giới tự nhiên

* Thơ ca trung đại có hình tượng thiên nhiên gắn với lí tưởng đạo đứcthẩm mĩ

* Trong văn học hiện đại, hình tượng thiên nhiên thể hiện tình yêu quêhương, đất nước, yêu cuộc sống, tình yêu lứa đôi

- Luận điểm về Con người Việt Nam trong quan hệ quốc gia, dân tộc:

“Có một dòng văn học yêu nước phong phú và mang giá trị nhân vănsâu sắc xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam” Các luận cứ:

* Tinh thần yêu nước trong văn học dân gian thể hiện nổi bật qua tìnhyêu làng xóm, quê cha đất tổ

* Chủ nghĩa yêu nước trong văn học trung đại thể hiện chủ yếu qua ýthức sâu sắc về quốc gia, dân tộc

* Chủ nghĩa yêu nước trong văn học Cách mạng gắn liền với sự nghiệpđấu tranh giai cấp và lí tưởng xã hội chủ nghĩa

Ngày đăng: 19/04/2014, 18:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w