1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT

88 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài............................................................................................ 2 2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 3 3.Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 3 4. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 4 5. Giả thuyết khoa học ...................................................................................... 4 6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4 7. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VA THỰC TIỄN....................................... 6 1. Phương pháp sư phạm tương tác................................................................... 6 1.1 Dạy học dựa vào tương tác.......................................................................... 6 1.2 Các tác nhân ............................................................................................... 6 1.2.1 Người học ............................................................................................ 6 1.2.2 Người dạy ............................................................................................ 7 1.2.3 Môi trường........................................................................................... 7 1.3 Các dạng tương tác trong dạy học.............................................................. 8 1.3.1 Tương tác người dạy- người học ......................................................... 9 1.3.2 Tương tác người học- người học ....................................................... 10 1.3.3 Tương tác người dạy, người học- môi trường ................................... 11 1.4 Phương pháp học, phương pháp dạy và ảnh hưởng của môi trường (các thao tác) ........................................................................................................... 13 1.5. Ưu, nhược điểm của quan điểm sư phạm tương tác................................. 17 1.5.1. Ưu điểm ............................................................................................ 17 1.5.2 Hạn chế.............................................................................................. 18 2. Phương pháp dạy học theo dự án................................................................ 18 2.1 Khái niệm dạy học theo dự án................................................................... 18 87 2.2 Những đặc điểm của phương pháp dạy học theo dự án............................ 19 2.3 Mục tiêu của dạy học theo dự án .............................................................. 20 2.4 Những tiêu chuẩn của dạy học theo dự án ................................................ 20 2.5 Các giai đoạn của dạy học theo dự án....................................................... 22 2.6 Phương pháp đánh giá kết quả trong dạy học theo dự án......................... 23 2.7 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học theo dự án..................... 24 2.7.1 Vai trò của giáo viên ......................................................................... 24 2.7.2 Vai trò của học sinh........................................................................... 25 2.8 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án...................................... 26 2.8.1Ưu điểm.............................................................................................. 26 2.8.2 Nhược điểm....................................................................................... 26 3 Thực trạng giảng dạy môn Toán tại Trường THPT..................................... 27 3.1 Thực trạng việc dạy của Giáo viên ........................................................... 27 3.2 Thực trạng việc học của Học sinh............................................................. 27 Kết luận chương 1 ........................................................................................... 29 CHƢƠNG II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƢƠNG TƢƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG THỐNG KÊ .......................................... 30 2.1Nội dung kiến thức chương........................................................................ 30 2.1.1 Phân tích nội dung kiến thức chương ............................................... 30 2.1.1. Những yêu cầu về nội dung kiến thức, kĩ năng, thái độ mà học sinh cần đạt được...................................................................................... 31 2.2 Tìm hiểu tình hình thực tế dạy và học nội dung kiến thức ....................... 31 2.3 Một số điểm lưu ý khi dạy học chương Thống kê .................................... 37 2.4 Khả năng vận dụng quan điểm sư phạm tương tác vào dạy học môn Toán....38 2.5 Tăng cường tương tác khi dạy học theo dự án......................................... 39 2.5.1 Tương tác giữa người học với người học ........................................ 39 2.5.2 Tương tác giữa người dạy với người học ........................................ 40 2.5.3 Tương tác giữa người học với môi trường....................................... 43

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

 -

T¡NG C¦êNG T¦¥NG T¸C TRONG D¹Y HäC THèNG K£

ë TR¦êNG TRUNG HäC PHæ TH¤NG

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Hà Nội, 2014

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất nước ta đang trong thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Vì thế việc đổi mới phương pháp dạy học đóng vai trò hết sức quan trọng Quan điểm chung của đổi mới phương pháp dạy học đã được khẳng định là tổ chức cho học sinh được học trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác tích cực, chủ động và sáng tạo mà cốt lõi là làm cho học sinh học tập tích cực, chủ động, hay nói một cách khác giáo viên phải lấy người làm trung tâm nhằm chống lại thói quen học tập thụ động Quan điểm này một lần nữa đã được nêu rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI ( Nghị quyết số 29- NQ/TW- 2013) với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển

từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chưc hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học.”

Chương trình phổ thông hiện nay vấn đề dạy học dựa trên các hoạt động của học sinh có sự hướng dẫn của giáo viên đã được nhiều thầy cô giáo quan tâm, nghiên cứu Tuy nhiên, việc khai thác các hoạt động trong thực tiễn giảng dạy còn nhiều hạn chế, vì hầu hết đều chưa thấy hết được tác dụng to lớn của phương pháp trên nên chưa được coi trọng Ngoài ra, giáo viên chưa

có nhiều kinh nghiệm, thiếu cơ sở lí luận để xây dựng các hoạt động tương thích với nội dung trên

Trang 3

Thống kê là khoa học về các phương pháp thu thập, tổ chức, trình bày, phân tích và xử lí số liệu Ngày nay, thống kê được ứng dụng rộng rãi vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và các ngành kinh tế, khoa học Số người học tập và làm việc liên quan đến thống kê ngày càng đông đảo Hơn nữa, Thống kê với các bài toán thường gắn liền với đời sống thực tế góp phần tăng

sự hứng thú, tích cực học tập cho học sinh, mang toán học gần gũi với đời sống con người và giáo dục thế giới quan khoa học cho học sinh.Vì thế, tăng cường việc dạy và học nội dung thống kê là cần thiết và quan trọng

Tuy nhiên, việc dạy và học nội dung thống kê gặp nhiều khó khăn Hầu hết các giáo viên chưa đặt trọng tâm vào việc giảng dạy nội dung này, hơn nữa việc nhận thức cũng cần đến loại hình tư duy mới đó là quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng và giải quyết vấn đề dựa trên sự phân tích các số liệu khảo sát và điều tra Thực tế cho thấy học sinh khi học nội dung thống kê chỉ nắm kiến thức một cách máy móc, không hiểu rõ bản chất, ý nghĩa với thực tế đời sống

Từ những lí do trên, để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy

học nội dung thống kê ở trường THPT, nên đề tài được chọn là: “Tăng cường tương tác trong dạy học Thống kê ở trường Trung học phổ thông”

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng một số biện pháp nhằm tăng cường tương tác trong dạy học nội dung thống kê ở trường THPT

3.Nhiệm vụ nghiên cứu

 Hệ thống hóa lí luận về sự tương tác trong dạy học

 Xây dựng một số biện pháp khi dạy và học nội dung thống kê, đặc biệt

là phương pháp dạy học theo dự án và dạy học theo phân nhóm

 Điều tra thực trạng dạy và học thống kê ở trường THPT

 Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quả của

Trang 4

những biện pháp đề ra

4 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy và học nội dung thống kê ở trường THPT

5 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và vận dụng hợp lí các biện pháp nhằm tăng cường tương tác dạy học nội dung thống kê thì sẽ giúp cho học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo và góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học, tăng tính thực tiễn nội dung này

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu các tài liệu về lí luận và phương pháp dạy học môn Toán

có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu về chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên, …có liên quan đến đề tài

6.2 Phương pháp điều tra quan sát

- Tìm hiểu việc dạy và học nội dung thống kê ở trường THPT thực nghiệm

- Điều tra, thu thập ý kiến của các giáo viên và học sinh về tính hiệu quả của các biện pháp đã được xây dựng

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành dự giờ và dạy học một số tiết ở trường THPT thực nghiệm để kiểm tra, đánh giá giờ học qua bài soạn

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

1.1 Phương pháp sư phạm tương tác

1.2 Phương pháp dạy học theo dự án

1.3 Thực trạng giảng dạy môn Toán tại Trường THPT

Trang 5

Tổng kết chương 1

Chương 2: Một số giải pháp tăng cường tương tác trong dạy học nội dung Thống kê ở THPT

2.1 Nội dung kiến thức chương

2.2 Tìm hiểu tình hình thực tế dạy và học nội dung kiến thức

2.3 Một số điểm lưu ý khi dạy học chương Thống kê

2.4 Khả năng vận dụng quan điểm sư phạm tương tác vào dạy học môn Toán

2.5 Tăng cường tương tác khi dạy học theo dự án

2.6 Đề xuất qui trình dạy học theo dự án

2.7 Đề xuất giải pháp tổ chức hoạt động nhóm sử dụng kĩ thuật “ các mảnh ghép” với nhóm 3-3-3

2.8 Thiết kế và tổ chức dạy học một số kiến thức trong nội dung Thống kê

Trang 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VA THỰC TIỄN

1 Phương pháp sư phạm tương tác

1.1 Dạy học dựa vào tương tác

Theo quan điểm dạy học hiện đại, dạy học cần thiết xem xét trên ba phương diện:

- Về phương diện xã hội- lịch sử, dạy học là quá trình và kết quả của sự tái sản xuất và phát triển những giá trị kinh nghiệm xã hội cơ bản, có chọn lọc, ở từng cá nhân thuộc những thế hệ người học nhất định để thực hiện những chức năng phát triển cá nhân và cộng đồng

- Về phương diện tâm sinh lí: Dạy học là hình thức phổ biến của sự phát triển cá nhân và cộng đồng Mỗi cá nhân trong bất kì xã hội nào cũng đều phát triển dưới hai hình thức: hình thức cá biệt, của riêng cá nhân và môi trường hoạt động cá nhân quy định; hình thức phổ biến, chung cho cả thế hệ hoặc vài thế hệ người thuộc cộng đồng nhất định

- Về mặt sư phạm: Dạy học chính là việc gây ảnh hưởng có chủ định đến hành vi học tập và quá trình học tập của người học, tạo ra môi trường và những điều kiện để người học duy trì việc học, cải thiện hiệu quả chất lượng học tập, kiểm soát quá trình và kết quả học tập của họ

“ Dạy học là quá trình người dạy tiến hành các thao tác có tổ chức và định hướng giúp người học bằng hoạt động của bản thân, từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kĩ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được

để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các yêu cầu thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học

1.2 Các tác nhân

1.2.1 Người học

- Với năng lực cá nhân và trách nhiệm của mình, người học tham gia vào một quá trình để kiến tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành thái độ

Trang 7

Người học tìm cách học và tìm cách hiểu, từ đó chuyển hóa những tri thức của nhân loại thành kiến thức riêng của mình

- Với tư cách là một tác nhân theo phương pháp sư phạm tương tác, người học trước hết là người đi học chứ không phải là người được dạy Trong quá trình nhận thức, người học phải dựa trên chính tiềm năng của mình, khai thác những kinh nghiệm, những tri thức đã được tích lũy để tiếp cận, khám phá những chân trời mới Nhờ vào sự hứng thú, người học tham gia tích cực

và biết tiếp tục quá trình học bằng cách đặt ra nhiệm vụ học tập cho chính bản thân mình và phải hoàn thành nó Đồng thời người học phải tham gia vào dự

án học tập của tập thể, hoàn thành nhiệm vu mà tập thể giao phó, chia sẻ, giúp

đỡ, đóng góp những ý kiến để tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ đã đề ra

1.2.2 Người dạy

- Bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình, người dạy chỉ cho người học mục đích cần đạt, gợi cho họ hứng thú học tập, hướng dẫn cho họ cách học, giúp học khắc phục khó khăn, phát hiện và sửa chữa sai lầm

- Người dạy chỉ cho người học mục tiêu mà học phải đạt được, sắp xếp nội dung, lựa chọn phương pháp dạy học và xây dựng môi trường cởi mở, làm cho người học hứng thú học và đưa họ tới đích Người dạy cần phải tạo cơ hội cho người học được hoạt động, được bày tỏ, được thể hiện và tự khẳng định được mình, tránh sự áp đặt một chiều

- Chức năng chính của người dạy là giúp đỡ người học học và hiểu Người dạy phục vụ người học và phải làm nảy sinh tri thức ở người học theo cách của một người hướng dấn

1.2.3 Môi trường

- Môi trường là toàn bộ các yếu tố bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng đến con người Xung quanh người học và người dạy là thế giới vật chất, gia đình, nhà trường, xã hội, chính trị và văn hóa Tất cả các yếu tố này tạo thành

môi trường của người dạy và người học

Trang 8

- Môi trường là một tác nhân đóng một vai trò có ý nghĩa quan trọng vì

nó liên quan tới cả việc dạy và việc học

Môi trường bên trong: Chỉ các mối quan hệ nội tại bên trong của người dạy, người học như: tiềm năng trí tuệ, những xúc cảm, những giá trị của cá nhân, vốn sống, giá trị đạo đức, phong cách dạy và học

Môi trường bên ngoài: Chỉ các yếu tố bên ngoài người học , người dạy như: môi trường( không gian vật chất và tâm lí, thời gian, ánh sáng ), người dạy ( hình thức bên ngoài, đời sống nội tâm, kĩ năng giao tiếp, ) ảnh hưởng tới người học Người học, đặc biệt là tập thể HS với không khí học tập thi đua của lớp ảnh hưởng tới người dạy, nhà trường, tính di truyền, tập tính của cha

mẹ, những giá trị truyền thống, sự quan tâm của bố mẹ, xã hội, chế độ chính

trị, hệ thống định hướng, chính sách kinh tế- xã hội

Bộ ba tác nhân: người dạy, người học, môi trường tạo thành hạt nhân của phương pháp sư phạm tương tác

1.3 Các dạng tương tác trong dạy học

Vấn đề xác định và phân loại tương tác trong dạy học là công việc khó khăn bởi tính chất tích hợp và cơ động của nó trong hoạt động dạy học Tuy nhiên, việc làm này là quan trọng không chỉ giáo dục nhà trường mà cả đối với giáo dục bên ngoài nhà trường Bởi khi nào chúng ta nhận diện và thâu tóm được các tương tác đấy thì lúc đó mới nghĩ đến chuyện làm nảy sinh, tổ chức, điều khiển nhằm đạt được mục đích giáo dục đề ra

Tương tác là sự tác động qua lại trực tiếp giữa các yếu tố trong một cấu trúc hoặc giữa các cấu trúc với nhau trong một không gian, một thời gian cụ thể Trong quá trình dạy học, sự tương tác là sự tác động qua lại trực tiếp giữa người học với người học, giữa người học với người dạy trong một không gian, trong một thời gian nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập và các mục tiêu dạy học đã được xác định Sự tham gia tích cực của mỗi thành viên vào hoạt động tương tác sẽ thúc đẩy hoạt động chung của lớp học và đạt được mục tiêu đã định, đồng thời tạo sự gắn bó giữa các thành viên

Trang 9

Tương tác trong dạy học được quy về ba loại hay ba dạng tương tác chính:

 Tương tác người dạy- người học

 Tương tác người học- người học

 Tương tác người học, người dạy- môi trường

1.3.1 Tương tác người dạy- người học

Tương tác người dạy – người học là một trong những mối quan hệ tương tác chủ đạo trong dạy học Đồng thời cũng là phương tiện để người dạy và người học cùng điều chỉnh hoạt động của bản thân để quá trình dạy học đảm bảo tính thống nhất, vừa sức đối với người học

Người học thông qua hoạt động học, tác động đến người dạy thông tin dưới dạng các câu hỏi, thái độ, cử chỉ,… Người dạy đáp lại các tác động này

từ người học bằng các thông tin như câu trả lời, sự động viên, hoặc những lời khuyên…Như vậy, trong tương tác nêu trên thì người học đã tác động và người dạy đã phản ứng một cách chính xác và kịp thời trong môi trường mà

cả hai đều chấp nhận [6,41]

Người dạy, bằng phương pháp sư phạm của mình đã tác động đến người học thông qua những gợi ý về hướng đi Khi cần thiết người dạy chỉ cho người học các giai đoạn phải vượt qua, các phương tiện cần sử dụng và các kết quả cần đat được Khi đó người dạy đã tác động tới người học bằng cách này hay cách khác với mục đích để người học đạt được mục tiêu học tập của mình Khi nhận được tác động của người dạy, phản ứng của người học là đi theo con đường do người dạy vạch ra, lúc này nếu người học cảm thấy sung sướng và thỏa mãn, người học sẽ dễ dàng có cảm tình với người dạy, ngược lại họ sẽ cảm thấy nản lòng hoặc thiếu hứng thú Lúc này, người dạy đã hành động và người học thì phản ứng Một phản ứng tích cực hoặc tiêu cực về phần người học có thể thôi thúc người dạy tiếp tục hoặc tự điều chỉnh lại phương pháp sư phạm của mình Tất cả sự thỏa mãn hay hứng thú đều thể hiện sự phản ứng của người học trước sự tác động của người dạy Đôi khi, người dạy

Trang 10

tạo ra những chướng ngại, vật cản để gia tăng cơ hội hoạt động và học tập cho người học Người học đáp lại những tác động từ người dạy bằng cách đi theo con đường mà người dạy vạch ra

Trong mối quan hệ tương tác này, xu hướng nắm thế chủ động nghiêng

về phía người dạy, tức là người dạy thường áp đặt, điều khiển Tuy nhiên, theo quan điểm đổi mới giáo dục thì xu hướng này cần vận hành theo theo hướng ngược lại, nghĩa là người học cần nắm thế chủ động, tích cực thực hiện

và tham gia tương tác với thầy để tìm kiếm nguồn động lực, tìm kiếm hướng giải quyết vấn đề của bản thân hay nhiệm vụ học tập Chừng nào, sự dịch chuyển vai trò nắm thế chủ động từ thầy sang trò được thực hiện tối ưu, khi

ấy quá trình học mới thực sự hướng vào người học, người học mới được đặt ở

vị trí trung tâm

1.3.2 Tương tác người học- người học

- Tương tác người học- người học trong dạy học là quá trình giao tiếp nhằm trao đổi lẫn nhau về mặt thông tin, ý tưởng, quan điểm tình cảm bên trong và giữa các chủ thể người học với nhau nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ học tập

- Xét về trình độ tương tác mà người học tham gia trong quá trình học tập thì ta có thể phân thành các giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1: Người học tiến hành các tương tác với đối tượng vật chất bên ngoài môi trường Lúc này người học sử dụng các giác quan để tác động vào đối tượng, những hành động vật chất này của người học làm cho đối tượng bộc lộ những dấu hiệu, bản chất, quy luật hay tính xu thế vận động và chiếm lĩnh chúng

- Giai đoạn 2: Người học tương tác với thầy, với bạn học để chia sẻ và trao đổi nhằm chính xác hóa và tường minh hóa nhận thức ban đầu Khi đó, tính cá nhân trong nhận thức đã giảm nhiều và tri thức mới mang tính khách quan và khoa học hơn

Trang 11

- Giai đoạn 3: Người học tương tác với chính bản thân mình hay tương tác nội tâm để suy xét lại vấn đề, tiến hành các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, đánh giá để nhận thức vấn đề học tập một cách đầy đủ và sâu sắc hơn Chính tương tác này đưa người học phát triển lên một trình độ mới, tạo tiền đề cho sự sáng tạo trong quá trình học tập

Như vậy tương tác người học - người học có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình học tập của mỗi cá nhân Chính nó tạo ra sự phát triển mạnh

mẽ nhất ở người học Do đó, khi tổ chức các tương tác sư phạm trong quá trình dạy học, người dạy phải điều khiển theo hướng dịch chuyển mọi dạng tương tác về quan hệ tương tác này (mà quan trọng nhất là tương tác nội tâm) Bởi chỉ khi nào ngườ i học tích cực trao đổi, chia sẻ, thậm chí cạnh tranh với nhau trong học tập; chỉ khi nào họ day dứt, băn khăn với vấn đề khắc khoải trong tâm trí, thì khi ấy họ mới thực sự học và cho dù kết quả của các tương tác đó là gì thì cũng đã được xem là thành công trong dạy học

1.3.3 Tương tác người dạy, người học- môi trường

Trong quá trình dạy học, người dạy và người học không chỉ chịu sự tác động từ môi trường mà còn tác động trở lại cải tạo môi trường để phục vụ, nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học

Môi trường tác động tới người học, người dạy và hoạt động của họ trên những phương diện sau:

 Tác động từ phía bên ngoài bao gồm: môi trường vật chất xung quanh, bạn học, gia đình, nhà trường, xã hội

 Tác động từ phía bên trong chủ thể bao gồm: tiềm năng, giá trị, nhân cách…

Như vậy, việc tác động cải tạo môi trường dạy học nhằm nâng cao tính tương tác của môi trường dạy học nhằm nâng cao tính tương tác của môi trường dạy học cần tiến hành một cách tổng thể từ việc cải tạo môi trường vật chất: nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh, đến việc chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết bị,

đồ dùng dạy học; tạo bầu không khí thân mật, vui vẻ hợp tác trong lớp học; sự

Trang 12

Người học

chuẩn bị về tâm lí, kiến thức để người học tham gia vào quá trình tương tác tích cực với các thành tố khác trong hoạt động dạy học để đồng hóa tri thức Quan niệm trên thể hiện một cách nhìn toàn diện, biện chứng về yếu tố môi trường và sự ảnh hưởng của nó tới người học nói riêng và toàn bộ hoạt động dạy học nói chung Song ở đây cần xác định rõ đâu là giới hạn thực sự về vai trò của người dạy trong việc tạo dựng và tổ chức môi trường để sự tác động của nó tới người học và hoạt động học theo hướng có lợi nhất Sự tác động của yếu tố môi trường lên hoạt động dạy học không thể kiểm soát hết được Chúng

ta chỉ có thể nhận diện, tổ chức và điều khiển một số tác động của các yếu tố từ môi trường Tất nhiên, những yếu tố thường có ảnh hưởng rất lớn và đôi khi mang tính quyết định tới hiệu quả của hoạt động dạy học Việc ý thức đầy đủ các yếu tố môi trường và tác động của chúng tới hoạt động dạy học luôn cần thiết Vì sự ảnh hưởng từ môi trường ấy phải được tính đến cả ở tầm vĩ mô và

vi mô, cả ở việc xây dựng chương trình đến quá trình triển khai nó trong thực tiễn, cả ở việc quản lí đến cấp độ thực thi việc dạy học, cả ở việc lập kế hoạch dạy học đến thực tế tổ chức hoạt động dạy hoc trên lớp học

Như vậy, người dạy cần tổ chức môi trường dạy học để nó có thể đáp ứng tốt cho nhu cầu người học Trong phạm vi ảnh hưởng của mình, người dạy có thể tạo ra môi trường dạy học hiệu quả thông qua việc thiết kế và tổ chức các tình huống dạy học

Mối quan hệ qua lại giữa ba tác nhân của QĐSPTT được thể hiện qua sơ

đồ sau:

Hình 1 Mối liên hệ giữa ba tác nhân của quan điểm sư phạm tương tác

Trang 13

Như vậy, QĐSPTT đặc biệt làm gia tăng giá trị các mối quan hệ tác động qua lại của ba tác nhân người học, người dạy và môi trường Sự tham gia đa dạng của ba tác nhân người học, người dạy và môi trường là nguồn gốc của các quan hệ năng động giữa chúng, đó cũng chính là yếu tố đặc trưng nhất của QĐSPTT

1.4 Phương pháp học, phương pháp dạy và ảnh hưởng của môi trường (các thao tác)

Trong hoạt động sư phạm, cùng với các tác nhân, các thao tác cũng có một vị trí hết sức quan trọng, đó là các hành động của người học khi học, của người dạy khi giúp đỡ người học trong quá trình học và các hành động này đều chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh Như vậy, về bản chất, hoạt động sư phạm bao gồm phương pháp học và phương pháp sư phạm, cả hai phương pháp này đều chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh

* Phương pháp học: Người học có nhiệm vụ là học cách học Để

đạt được nhiệm vụ này người học phải có một phương pháp học Phương pháp học là hình ảnh khái quát của một quá trình mà người học với tư cách

là tác nhân chính tiến hành để kiến tạo, thu lượm, chiếm lĩnh tri thức hay rèn luyện một kỹ năng mới Phương pháp học miêu tả con đường mà người học phải đi theo bằng cách đưa ra hành động học, trong đó người học phải sử dụng tất cả các năng lực của cá nhân mình (kiến thức, kinh nghiệm đã tích luỹ được, huy động hệ thống thần kinh, ) để lĩnh hội một tri thức mới

* Phương pháp sư phạm : Người dạy tự nguyện từ bỏ vai trò chủ thể,

người dạy trở thành người đạo diễn, thiết kế, tổ chức, trọng tài, cố vấn, kích thích những hoạt động nhận thức, kiến tạo tri thức của người học Người dạy không phải là người thông báo tri thức có sẵn cho người học, người học phải hoạt động để tự mình kiến tạo hoặc tham gia kiến tạo tri thức Phương pháp sư phạm là hình ảnh khái quát của toàn bộ quá trình can thiệp của người dạy nhằm mục đích hướng người học thực hiện phương pháp học

Trang 14

Người dạy mong muốn tạo nên một không khí thuận lợi cho người học, do vậy cần đến tri thức, kinh nghiệm, phẩm chất sư phạm của mình và chú ý đến các khả năng của môi trường cũng như nhu cầu của người học Người dạy giúp đỡ người học

* Ảnh hưởng của môi trường : “Môi trường là toàn bộ các yếu tố và

các điều kiện xung quanh và ảnh hưởng đến con người” Khi nói tới môi trường đó không chỉ là yếu tố bên ngoài còn chỉ ra các yếu tố bên trong của người dạy và người học Đây chính là cách nhìn mới về môi trường văn hoá dạy học nói riêng, môi trường văn hoá giáo dục nói chung Đó là tiềm năng xúc cảm, giá trị, vốn sống, phong cách, nhân cách M ố i quan hệ biện chứng giữa yếu tố bên trong và bên ngoài, khẳng định vai trò chủ động của người học và người dạy trước những tác động từ bên ngoài

Môi trường có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến người dạy và người học và hoạt động của họ Sự ảnh hưởng này đến từ nhiều phía, có khi ảnh hưởng từ một yếu tố, có khi ảnh hưởng cộng hưởng của nhiều yếu tố một lúc làm cho tác động của môi trường được gia tăng và phức tạp hơn đến người học và tác động sư phạm của người dạy

Những đòi hỏi của môi trường buộc người học và người dạy phải thích nghi, qua đó làm phát triển chính họ (sắp xếp lại hệ thống giá trị, kinh nghiệm, nâng cao vốn sống,…) Người dạy và người học có thể thay đổi được môi trường Điều này được thể hiện ở sự tác động qua lại, tương hỗ giữa người dạy, người học và môi trường; hành động của người này gây nên phản ứng của người kia Người dạy với phong cách dạy của mình tác động lên người học làm cho người học thay đổi phong cách học của mình Như vậy, môi trường là tập hợp của nhiều nhân tố và các giá trị khác nhau Các nhân tố và giá trị này tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động dạy và học

Môi trường của hệ thống học và dạy khác nhau ở chỗ: môi trường của hoạt động học có người dạy và các yếu tố xoay quanh phương pháp học,

Trang 15

yếu tố bên trong là của người học Môi trường của hoạt động dạy thì có người học và các yếu tố xoay quanh phương pháp dạy, yếu tố bên trong là của người dạy Sự vận động tương hỗ của phương pháp dạy và học đều chịu tác động phù hợp của các yếu tố bên ngoài nhưng hiệu quả lại phụ thuộc nhiều vào mức độ phù hợp của các yếu tố bên trong của người dạy và người học, chẳng hạn như sự phù hợp về xúc cảm, giá trị, phong cách Trong hoạt động sư phạm, phạm vi tác động của môi trường tập trung ở ba yếu tố chính và sự ý thức của người dạy và người học về ảnh hưởng của yếu tố môi trường là rất quan trọng

Hình 2 Tác động của môi trường đến hoạt động dạy và học

Theo sơ đồ trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy cơ chế tương tác của môi

trường đến người học có thể diễn ra theo hai hướng sau:

- Hướng thứ nhất, môi trường tương tác trực tiếp đến người học;

- Hướng thứ hai, môi trường tương tác đến người học thông qua người dạy Trong thực tế dạy học, hướng tương tác thứ nhất mang tính tự phát và thường diễn ra ở tầm vĩ mô nên khó kiểm soát, còn hướng tương tác thứ

Môi trường

Trang 16

hai lại ít được người dạy quan tâm khai thác, do đó trở nên mờ nhạt Vì vậy, trước đây, môi trường chưa được phát huy đúng chức năng trong quan hệ với các yếu tố khác của hệ dạy học, đặc biệt là với yếu tố học.Thực tiễn dạy học ở trường THPT, khó có thể cùng một lúc xem xét và khai thác tất cả các tác động có lợi của môi trường đến người học và phương pháp học của họ

Vì vậy, trong phương pháp sư phạm của mình, người dạy phải xác định một

số yếu tố của môi trường để tác động vào (những yếu tố bên trong người học) nhằm phát huy các tác động tích cực và hạn chế các tác động không có lợi của môi trường đến hoạt động dạy và học

Vấn đề đặt ra là người dạy tác động vào môi trường bằng cách nào

để môi trường tác động tích cực đến người học? Người dạy không tác động trực tiếp vào môi trường mà tác động thông qua một yếu tố trung gian, để thông qua yếu tố trung gian ấy tác động đến các yếu tố khác của môi trường, làm cho các yếu tố này trở nên có ý nghĩa đối với người học Yếu tố trung gian đó là gì, khai thác nó như thế nào?

Trong quá trình diễn ra hoạt động sư phạm các yếu tố của môi trường có thể gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến người học và người dạy, điều đó làm cho người học phải thay đổi và thích nghi với những điều kiện

ấy Như vậy, môi trường gây ảnh hưởng đến phương pháp học và phương

pháp sư phạm, quan hệ của môi trường đến người học là quan hệ ảnh hưởng

Trang 17

Bảng 1 Sự phối hợp bộ ba tác nhân, chức năng và thao tác của PPSPTT

Phương pháp học Phương pháp dạy Các yếu tố của môi trường

1.5 Ưu, nhược điểm của quan điểm sư phạm tương tác

1.5.1 Ưu điểm

- PPSPTT xác định cấu trúc của quá trình dạy học bao gồm ba yếu tố: Người dạy – Người học và Môi trường, đó là ba nhân tố trung tâm, cơ bản nhất của hoạt động dạy học

- PPSPTT khẳng định chức năng của từng yếu tố: Người học– người thợ, người dạy – người hướng dẫn, môi trường và các ảnh hưởng của nó

- PPSPTT xác định mối quan hệ qua lại (các liên đới) giữa các yếu tố

và giữa các bộ phận trong một yếu tố

- PPSPTT phân tích rõ bộ máy học và tính năng động của nó (cơ sở thần kinh nhận thức), cùng các điều kiện khác (vốn sống, phong cách, xúc cảm) ở người học làm cơ sở cho tác động sư phạm đạt hiệu quả cao

- PPSPTT mô tả một cách toàn diện và phong phú (môi trường vật chất, môi trường tinh thần, môi trường bên trong và môi trường bên ngoài) mà trước đây, trong lý luận dạy học, các điều kiện này chưa được quan tâm và đánh giá đúng mức về ảnh hưởng của chúng tới việc tổ chức các hoạt động sư phạm của người dạy PPSPTT cũng thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố bên trong và bên ngoài, khẳng định vai trò chủ động của người học và người dạy trước những tác động từ bên ngoài

- PPSPTT xác nhận các thành phần không thể thiếu của PPSPTT là: sự hứng thú, sư phạm hợp tác và sư phạm thành công, các khâu của hoạt động dạy học: lập kế hoạch, dẫn dắt hoạt động và giao tiếp (tổ chức hoạt động và hợp tác)

Trang 18

Bên cạnh những ưu điểm trên, PPSPTT vẫn còn một số hạn chế như sau

1.5.2 Hạn chế

- Trong PPSPTT, môi trường được nhìn nhận ở nhiều bình diện, nhiều mức độ khác nhau, nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc xem xét môi trường như một yếu tố tĩnh, có sẵn, tồn tại xung quanh và ảnh hưởng đến người dạy, người học và hoạt động của họ Điều quan trọng không chỉ ở chỗ xác định, cụ thể hoá quan hệ qua lại đa dạng, phức tạp giữa môi trường và người học mà cần chỉ ra được những phương tiện, cách thức để khai thác những tác động tích cực và hạn chế các tác động không tích cực của môi trường đến người học và phương pháp học của họ

- Trong PPSPTT, những gì thuộc về nội dung (kiến thức) thì được tác giả đồng hoá vào nhân tố môi trường Trong khi đó, kiến thức đã tồn tại từ trước đến nay và vận động như một nhân tố thuộc cấu trúc của hoạt động dạy học

2 Phương pháp dạy học theo dự án

2.1 Khái niệm dạy học theo dự án

Dự án: Thuật ngữ “ dự án” trong tiếng Anh là “ project” có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế Khái niệm dự án ngày nay được hiểu là một dự định, một kế hoạch trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực và cần thực hiện nhằm thực hiện mục tiêu đề ra

Dạy học theo dự án (Project Based – Learing ) là một phương pháp dạy học tích cực trong đó GV hướng dẫn HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự độc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả

Trong phương pháp DHTDA nhấn mạnh đến việc hướng dẫn HS thực hiện dự án học tập gắn liền với thực tiễn và gắn liền với nội dung môn học Các hoat động của dự án học tập được thiết kế một cách có hệ thống, liên quan tới nhiều lĩnh vực và kết quả của dự án là những sản phẩm có thể công

bố, giới thiệu được như: sản phẩm thật, bài viết, bài báo cáo

Trang 19

DHTDA hướng người học đến việc tiếp thu các kiến thức và hình thành các kỹ năng thông qua quá trình giải quyết một vấn đề có tính chất phức hợp Các DHTDA cho phép tạo ra cho người học có nhiều cơ hội học tập hơn, đa dạng hơn về chủ đề và quy mô, có thể được tổ chức rộng rãi ở các cấp học, bậc học khác nhau DHTDA đặt người học vào những vai trò tích cực như: Người giải quyết vấn đề, điều tra viên hay người viết bài báo cáo

2.2 Những đặc điểm của phương pháp dạy học theo dự án

- Định hướng thực tiễn và nghề nghiệp

Quá trình thực hiện dự án học tập phải luôn gắn liền với thực tiễn, phải

có sự kết hợp giữa lí thuyết và sự vận dụng lí thuyết vào thực tiễn Sản phẩm

phải có ý nghĩa thực tiễn nhất định

- Định hướng hứng thú người học

Trong dạy học dự án, người học tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học GV đóng vai trò là người tư vấn, hướng dẫn, định hướng hành động DHTDA chú ý đến hứng thú, nhu cầu của người học Người học được tham gia trong quá trình chọn lựa đề tài, nội dung học tập

phù hợp, tự chọn các nguồn thu thập thông tin

- Định hướng hành động

Kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, huy động nhiều giác quan Học sinh khám phá, giải thích và tổng hợp thông tin một cách ý nghĩa

- Tính tự lực cao của người học

Học sinh tham gia tích cực và tự lực vào tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học

- Cộng tác làm việc

Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, việc học mang tính

xã hội DHTDA thúc đẩy sự cộng tác giữa HS và GV, giữa các HS với nhau Nhiều khi, sự cộng tác được mở rộng đến cộng đồng Sự làm việc mang tính cộng tác của HS có tầm quan trọng như phương tiện làm phong phú hơn và

mở rộng sự hiểu biết của HS về những điều các em đã học

Trang 20

- Tạo ra môi trường học tập tương tác

2.3 Mục tiêu của dạy học theo dự án

- DHTDA hướng đến sự phát triển các kĩ năng tư duy, nhận thức như: phân tích, tổng hợp, đánh giá, tư duy sáng tạo, tư duy tích cực

- DHTDA hướng tới việc nâng cao kĩ năng chuyên môn, kĩ năng sử dụng các thiết bị khoa học kĩ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập

- DHTDA hướng tới các vấn đê của thực tiễn nhằm kết hợp chặt chẽ nội dung học tập và thực tiễn

- DHTDA hướng đến phát triển các kĩ năng cơ bản như kĩ năng giao tiếp,

kĩ năng giải quyết vấn đề phức hợp, các vấn đề mâu thuẫn, kĩ năng làm việc theo nhóm

2.4 Những tiêu chuẩn của dạy học theo dự án

- Dự án phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình dạy học, thông qua các hoạt động của dự án người học tiếp cận và chiếm lĩnh được các tri thức

cốt lõi của nội dung học tập

- Xuyên suốt dự án phải có các câu hỏi định hướng, là cái sẽ hướng người học đến việc phát hiện ra các vấn dề, các nội dung cốt lõi của môn học Câu hỏi định hướng sẽ giúp dự án tập trung vào những hoạt động dạy học trung tâm

Có ba dạng câu hỏi định hướng: câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung

Trang 21

Câu hỏi khái quát( CHKQ): Là những câu hỏi giới thiệu khái quát nhất,

đầy đủ nhất những ý tưởng xuyên suốt bài học Câu hỏi khái quát thường có đặc điểm:

- Bao quát được các nhiệm vụ học tập quan trọng của bài học

- Đòi hỏi tư duy bậc cao, không thể trả lời bằng việc đơn thuần là nhắc lại những kiến thức Học sinh phải vận dụng nhiều kiến thức và kết hợp với thực tiễn để có thể trả lời được

- Được diễn giải bằng ngôn ngữ của HS nhằm thu hút sự chú ý của học sinh, khơi dậy lòng ham muốn giải quyết vấn đề

- Được lặp lại một cách tự nhiên thông qua người học và lịch sử môn học

- Dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác làm mở rộng vấn đề, mở rộng tính phức tạp và phong phú của vấn đề

Câu hỏi bải học( CHBH): Là những câu hỏi bó hẹp trong một chủ đề

hoặc một bài học cụ thể CHBH dùng để hỗ trợ và phát triển CHKQ Câu hỏi bài học có đặc điểm:

- Thường mở ra và gợi ý những hướng nghiên cứu, thảo luận

-Được thiết kế nhằm khuyến khích và duy trì sự hứng thú của học sinh, cho phép học sinh trả lời theo cách sáng tạo, độc đáo Các câu hỏi này nên có tính mở để có thể phù hợp với các sở thích khác nhau của người học

- Đòi hỏi tư duy bậc cao, không thể trả lời bằng việc nhắc lại những kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa

Câu hỏi nội dung( CHND): Là những câu hỏi hỗ trợ trực tiếp kiến thức

về nội dung và mục tiêu bài học, là những câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời dựa trên thực tế bài học Câu hỏi nội dung hầu hết chú trọng vào sự kiện hơn là

giải thích hiện tượng, liên quan trực tiếp đến hệ thống kiến thức học sinh thu

Các CHND giúp HS xác định ai, cái gì, ở đâu và khi nào cũng như hỗ trợ cho câu hỏi bài học và câu hỏi khái quát bằng cách nhấn mạnh vào việc hiểu các nội dung chi tiết trong bài

Trang 22

- Phải thách thức người học tạo ra cái mới, đó là các kĩ năng mới, những hiểu biết mà người học chưa từng có trước đó và họ đã tự mình tìm ra các tri

thức đó để giải quyết các công việc của mình

- DHTDA phải tăng khả năng tự chủ, khả năng tự đưa ra quyết định,

tăng thời gian tự làm việc và tăng trách nhiệm của mỗi cá nhân

- DHTDA phải “ thực”, tức là đề tài cần gắn với đời sống thực tế xung quanh chứ không phải là các tình huống giả định Học sinh thể hiện việc học của mình trước những đối tượng thực tế, tham khảo các chuyên gia trong lĩnh

vực nghiên cứu, hoặc trao đổi thông qua công nghệ hiện đại

- DHTDA cần có bước nghiệm thu dự án và đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng Khi triển khai dự án luôn luôn kiểm chứng mức độ lĩnh hội bằng các phương pháp đánh giá khác nhau Học sinh được xem mẫu và hướng dẫn trước để thực hiện Cần tạo cơ hội để rà soát, phản hồi, điều chỉnh trong suốt

quá trình thực hiện

2.5 Các giai đoạn của dạy học theo dự án

Mỗi DAHT thường gồm ba giai đoạn chính sau:

- Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành dự án

Trong giai đoạn này người học được tích lũy các kiến thực cơ bản của môn học, người học tìm mối liên hệ với cuộc sống xung quanh và phát hiện ra các tình huống có vấn đề từ đó hình thành nên ý tưởng của dự án và chuẩn bị các công việc để thực hiện dự án Trong giai đoạn này người dạy ngoài nhiệm

vụ truyền đạt các kiến thức cơ bản của môn học còn nhiệm vụ khéo léo đặt người học vào trong các tình huống có vấn đề để người học dựa trên đó hình thành các dự án giải quyết những vấn đề đó, sau đó người dạy kiểm tra tính khả thi của kế hoạch được đề ra bởi người học và đóng góp ý kiến

- Giai đoạn 2: Thực hiện dự án

Đây là giai đoạn quan trọng khi người học bằng chính những kiến thức

cơ bản của mình có , thu thập thông tin, dữ liệu để thực hiện các nhiệm vụ của

Trang 23

dự án Giai đoạn này người học phải đặt nhiều câu hỏi để giải quyết các nhiệm vụ của mình Người học phải học cách làm việc nhóm, học cách tư duy bậc cao, học cách vượt qua khó khăn Và quan trọng nhất, đây là giai đoạn phát hiện ra được những năng lực phẩm chất, thế mạnh của mình và dần dần định hướng nghề nghiệp tương lai cho bản thân Trong toàn bộ giai đoạn này, người dạy chỉ đóng vai trò là cố vấn và hỗ trợ người học để thực hiện các công việc của dự án

-Giai đoạn 3: Đánh giá và nghiệm thu dự án

Trong giai đoạn này, người học bằng những kiến thức của mình thu nhận được sẽ phải bảo vệ dự án của mình và đưa ra các bằng chứng chứng minh cho sự thành công của dự án dựa trên các mục tiêu ban đầu Người dạy sẽ tổ chức các hoạt động để giúp người học thể hiện được những kết quả thu được Với ba giai đoạn trên, thực tế khi tiến hành DHTDA, người dạy có thể linh hoạt chia nhỏ các giai đoạn hoặc chia một giai đoạn thành nhiều bước thực hiện sao cho phù hợp với hoàn cảnh, với đối tượng HS

2.6 Phương pháp đánh giá kết quả trong dạy học theo dự án

2.6.1 Các kiểu đánh giá trong quá trình dạy học

1 Tiền đánh giá: Mục đích là để biết trình độ xuất phát của học sinh khi bắt đầu tiếp nhận một chủ đề mới của chương trình học Dựa vào đó giáo viên xây dựng kế hoạch học tập cho phù hợp với trình độ của người học

2 Đánh giá quá trình: được dùng thường xuyên trong quá trình dạy học

để theo dõi sự tiến bộ của HS từ đó GV thay đổi biện pháp, kế hoạch giảng dạy cho phù hợp

3 Đánh giá tổng kết: nhằm xem xét kết quả học tập của học sinh sau một giai đoạn nhất định theo quy định chung Từ đó GV thu thập thông tin về HS đề điều chỉnh mục tiêu, nội dung phương pháp dạy học ở các nội dung tiếp theo 1.3.1 Các công cụ đánh giá trong quá trình dạy học theo dự án

Đánh giá là một yếu tố quan trọng trong quá trình dạy học nói chung và

Trang 24

DHDA nói riêng Đối với DHDA thì học sinh đóng vai trò trung tâm nên việc kiểm tra đánh giá trong suốt quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc la rất cần thiết cho học sinh Trong DHDA thường sử dụng các loại phiếu đánh giá sau: phiếu đánh giá cá nhân, sổ theo dõi dự án

Phiếu đánh giá cá nhân: Phiếu được phát cho học sinh ngay từ lúc bắt đầu dự án và được thu lại khi dự án kết thúc Nó cho phép học sinh tự đánh giá năng lực bản thân Có thể cho học sinh tự đánh giá trước và sau khi thực hiện dự án để theo dõi sự thay đổi của bản thân

Sổ theo dõi dự án: Được phát cho học sinh ngay từ đầu Sổ theo dõi dự

án cho phép giáo viên được quá trình thực hiện dự án của học sinh Sổ theo dõi dự án bao gồm:

- Các ý tưởng ban đầu

- Kế hoạch thực hiện dự án

- Phiếu phân công nhiệm vụ trong nhóm

- Thông tin quan sát, tranh ảnh, bài viết

- Biên bản thảo luận nhóm

- Bảng đánh giá quá trình thực hiện dự án

2.7 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học theo dự án

2.7.1 Vai trò của giáo viên

Vai trò của GV trong dạy học dự án khác biệt so với vai trò mà hầu hết các GV đã quen thuộc Trong lớp học truyền thống, GV nắm giữ tất cả những kiến thức và truyền tải đến HS; sự giao tiếp, trao đổi thông tin trong lớp học truyền thống chỉ mang tính một chiều Với DHTDA giáo viên không còn điều khiển tư duy cho HS nữa mà vai trò lúc này là người hướng dẫn, người tư vấn, là bạn học, cho phép người học tự xây dựng kiến thức của họ

- Khi bắt đầu dự án, các nguồn tài liệu tham khảo ban đầu rất quan trọng

để giúp người học có thêm kiến thức và định hướng các công việc cần làm Vì vậy GV cần cung cấp các nguồn tài liệu tham khảo đa dạng cho HS; tư vấn thêm cho dự án; các phầm mềm tin học

Trang 25

- Dành thời gian tích hợp trên lớp để người học thực hiện các công việc: thảo luận nhóm, viết đề cương dự án, viết- chỉnh sửa- kiểm tra các bản báo cáo GV cần đưa ra các phản hồi sớm nhất liên quan đến dự án để người học kịp điều chỉnh trong quá trình thực hiện

- GV cần truyền cảm hứng được cho người học Với đặc điểm DHTDA, đặc biệt là những dự án kéo dài, người học thường bị chi phối bởi nhiều yếu

tố và khi thực hiện dự án sẽ có những thời điểm người học bị bế tắc và chán nản dễ dẫn đến việc từ bỏ Khi đó, GV bên cạnh việc hướng dẫn cho HS truyền đạt kiến thức giúp họ giải quyết vấn đề, tạo động lực cho người học, giúp họ tái tạo hứng thú và thực hiện tiếp dự án

2.7.2 Vai trò của học sinh

DHTDA cũng làm thay đổi vai trò của HS Học sinh được đưa ra nhiều quyết định, được cộng tác làm việc, được đưa ra sáng kiến, được trình bày trước đám đông Mặc dù lúc đầu có thể là thách thức lớn, nhưng hầu hết học sinh đều nhận thấy công việc dự án này rất ý nghĩa, có liên quan thực tế đến đời sống và rất hấp dẫn Vì vậy, người học rất tích cực, thực hiện tốt dự án và ghi nhớ nhanh kiến thức mới

- Tham gia lựa chọn đề tài, nội dung học tập sao cho phù hợp với khả năng và hứng thú của từng cá nhân qua đó khuyến khích được tích cực, tự

lực, tính trách nhiệm và sự sáng tạo của HS

- HS làm việc với các thành viên trong nhóm trong một khoảng thời gian

nhất định để giải quyết những nội dung học tập phức hợp

- HS hệ thống kiến thức, thiết lập mối quan hệ giữa các nội dung kiến

thức của môn học và được tạo điều kiện học tập trong môi trường hợp tác

- HS phải tạo ra các sản phẩm học tập đáp ứng các yêu cầu đề ra, đảm bảo tính thẩm mý, khoa học, kinh tế do đó khơi gợi sự tò mò và óc sáng tạo của người học qua việc cho phép chủ dộng, tự do tưởng tượng trong quá trình

học tập

Trang 26

2.8 Ƣu điểm và nhƣợc điểm của dạy học theo dự án

2.8.1Ưu điểm

- Đối với GV : Góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp và sự hợp tác với đồng nghiệp trong quá trình dạy học; tạo cơ hội xây dựng các mối quan hệ với

người học; tạo ra nhiều cơ hội học tập hơn trong dạy học

- Đối với HS : Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập; lượng kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô hình dạy học khác do khi tham gia vào DAHT, HS sẽ trách nhiệm hơn so với các hoạt động trong mô hình dạy học truyền thống; có cơ hội phát triển những

kĩ năng như: giải quyết vấn đề, hợp tác, giao tiếp Người học cũng học được các kĩ năng nghiên cứu và các kĩ năng quan sát mà họ khó có được từ các bài

giảng theo những PPDH truyền thống

- Đối với dạy học: Góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, giúp việc học tập trong nhà trường giống hơn với

việc học tập trong thế giới thật

2.8.2 Nhược điểm

- Đối với nội dung chương trình: Không phải nội dung nào trong chương trình cũng có thể tổ chức DHTDA được hiệu quả Vì vậy, GV cần phải nghiên cứu kĩ mục đích, yêu cầu và nội dung chương trình của môn học để lựa chọn,

xây dựng các nội dung kiến thức để có thể tổ chức DHTDA được hiệu quả

- Đối với GV: GV cần nhiều thời gian để chuẩn bị các vấn đề liên quan đến DAHT; GV đã quen với các PPDH, các hình thức tổ chức dạy học truyền thống nên ngại không muốn thay đối trong quá trinh dạy học của mình đặc biệt là phương pháp DHTDA, các kiến thức đòi hỏi phải có sự liên hệ với

thực tiễn và ứng dụng CNTT, điều này thực sự sẽ gây khó khăn có các GV

- Đối với HS: HS cần nhiều thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành DAHT; HS đã quen với vai trò thụ động trong những PPDH, những hình thức tổ chức dạy học truyền thống nên những thói quen cũ sẽ là những

cản trở chính khi vận dụng DHTDA

Trang 27

3 Thực trạng giảng dạy môn Toán tại Trường THPT

3.1Thực trạng việc dạy của Giáo viên

Hiện nay, chương trình học của môn Toán tại các trường THPT nặng về

lí thuyết và thi cử đã kéo theo phương pháp dạy của GV cũng phải đáp ứng theo mục tiêu “ thi cử ” của chương trình Tiến hành điều tra 50 GV về các phương pháp thường sử dụng trong giờ dạy môn Toán cho kết quả như sau:

Câu hỏi 1 : Trong quá trình giảng dạy, Thầy(Cô) thường sử dụng phương pháp dạy học nào và mức độ sử dụng phương pháp đó như thế nào?

Bảng 1.1: Các phương pháp giảng dạy tại Trường THPT

xuyên

Thỉnh thoảng

Ít sử dụng

Chưa sử dụng bao giờ

Phương pháp dạy học theo dự án 0% 2% 6% 92%

Từ kết quả khảo sát trên cho thấy GV vẫn chủ yếu sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống là thuyết trình và vấn đáp Các phương pháp dạy học tích cực vẫn chưa được áp dụng nhiều Số những GV lựa chọn phương pháp lấy người học làm trung tâm như: hoạt động nhóm, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là GV các môn ngoại ngữ, các bộ môn xã hội, các môn khoa học còn ít được vận dụng

3.2 Thực trạng việc học của Học sinh

Thống kê điều tra với 100 HS về việc tham gia vào các phương pháp dạy học tích cực nói chung và phương pháp DHTDA nói riêng cho một số kết quả sau:

Trang 28

Câu hỏi 1: Trong giờ học môn Toán trên lớp hiện nay, em thường được tham gia vào các hoạt động nào nhất?

Bảng 1.2: Các hoạt động của HS thường tham gia trong giờ học Toán

1 Lên lớp nghe giảng lí thuyết và làm bài tập 100%

3 Thực hành và vận dụng toán học vào thực tiễn 5%

Với một chương trình Toán nặng về lí thuyết, phương pháp thuyết trình được 100% các Thầy, Cô sử dụng làm phương pháp sử dụng chính Các học sinh đều được ít được đề cập đến việc vận dụng Toán vào đời sống thực tiễn Điều này được dự đoán khi chương trình thi Toán không có bất kì kiến thức hay câu hỏi nào liên quan đến việc vận dụng toán học vào đời sống

Câu hỏi 2: Em mong muốn được tham gia hoạt động học tập nào trong giờ học môn Toán?

Bảng 1.3: Mong muốn của học sinh về hoạt động học tập trong giờ học

môn Toán

1 Nghe giảng lý thuyết và làm bài tập 70%

4 Thực hành vận dụng toán học vào đời

sống thực tiễn

81%

Từ số liệu trên ta thấy, bên cạnh việc tiếp thu kiến thức phục vụ cho việc thi

cử, có đến 81% học sinh mong muốn được thực hành vận dụng toán học vào

Trang 29

trong đời sống thực tiễn, điều đó chứng tỏ các em học sinh quan tâm nhiều hơn đến những kiến thức mà các em có thể vận dụng vào trong đời sống thực tiễn Như vậy, từ các phân tích ở trên chúng tôi nhận thấy: nguyện vọng của học sinh là được hiểu và vận dụng cái mình học vào giải quyết đời sống thực tế của các em là rất lớn Hơn nữa, nền giáo dục Việt Nam đang

cố gắng để giáo dục và phát triển toàn diện các em học sinh và trang bị cho các em các kiến thức và kĩ năng cơ bản để các em có thể sử dụng ngay khi rời ghế nhà trường

Kết luận chương 1

Trong chương này, chúng tôi trình bày cơ sở lí luận hiện đại cho đề tài Chúng tôi đã đưa ra một số khái niệm được dùng trong luận văn, hệ thống các luận điểm khoa học làm căn cứ khoa học cho giả thuyết của đề tài

PPSPTT nhằm tạo ra ở người học sự tham gia, hứng thú và trách nhiệm Nó khẳng định vai trò của người dạy là người xây dựng kế hoạch, hướng dẫn hoạt động và hợp tác; vai trò của môi trường gây ảnh hưởng quan trọng đến phương pháp dạy và phương pháp học

Muốn việc vận dụng PPSPTT đạt hiêu quả cao, trong quá trình dạy học phải tạo ra các tương tác phù hợp giữa người dạy, người học, môi trường

và nội dung kiến thức để các tương tác không chỉ diễn ra giữa người dạy

và người học, người học và người học, người dạy và môi trường mà ngược lại còn diễn ra giữa người học và người dạy, người học và môi trường, người dạy tác động đến môi trường – môi trường tác động đến người học – người học tác động đến người dạy và ngược lại

Tác dụng tích hợp khi tổ chức dạy học theo dự án được khẳng định ở chỗ: nó gắn kết được giữa lí thuyết và thực hành, làm cho vốn kiến thức của học sinh được liên kết, được mở rộng, được củng cố sâu hơn vì nguồn tư liệu được sưu tầm rất đa dạng và phong phú, giúp các em bước đầu tập dượt, làm quen với công việc của người nghiên cứu như biết cách xử lí tư liệu, tự phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề

Trang 30

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯƠNG TƯƠNG TÁC

TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG THỐNG KÊ

2.1Nội dung kiến thức chương

2.1.1 Phân tích nội dung kiến thức chương

Thống kê được đưa vào SGK và nằm rải rác trong các lớp ở bậc Tiểu học đến Trung học phổ thông Những nội dung như bảng thống kê số liệu (lớp 3), số trung bình cộng (lớp 4), biểu đồ ( lớp 5), tỷ số, tỷ số phần trăm

Với chương trình lớp 7 Thống kê được đưa vào chương trình SGK một cách có hệ thống ngay từ đầu học kì II, gồm các bài sau:

Bài 1: Thu thập số liệu, bảng số liệu thống kê ban đầu

Bài 2: Bảng tần số các giá trị của dấu hiệu

Bài 3: Biểu đồ

Bài 4: Số trung bình

Yêu cầu đối với học sinh không chỉ dừng lại ở mức độ nhận biết, học sinh phải hiểu được một số khái niệm cơ bản như: bảng số liệu thống kê ban đầu, dấu hiệu, giá trị của dấu hiệu Biết tiến hành thu thập số liệu từ các cuộc điều tra nhỏ; biết cách tìm các giá trị khác nhau trong bảng số liệu thống kê và tần số tương ứng, lập được bảng “ tần số”, biểu diễn được bằng cột đứng các mối liên hệ nói trên và nhận xét sơ bộ sự phân phối các giá trị của dấu hiệu, biết tính số trung bình cộng, tìm mốt của dấu hiệu

Với chương trình lớp 10, nội dung Thống kê được học ở chương V của học kì II, nội dung bao gồm:

Bài 1: Bảng phân bố tần số và tần suất

Bài 2: Biểu đồ

Bài 3: Số trung bình cộng, Số trung vị, Mốt

Bài 4: Phương sai và độ lệch chuẩn

Trang 31

Qua việc trình bày những nội dung của thống kê được đưa vào môn Toán ỏ trên, ta thấy nội dung thống kê có những thay đổi đáng kể theo chiều hướng ngày càng được trình bày có hệ thống hơn và đầy đủ hơn Thống kê được trinh bày từ cấp tiểu học, đến trung học phổ thông, và trình bày trong những chương riêng ở lớp 7 và lớp 10

2.1.1 Những yêu cầu về nội dung kiến thức, kĩ năng, thái độ mà học sinh cần đạt được

- Biết tính số trung bình, số trung vị, mốt, phương sai và độ lệch chuẩn

2.2 Tìm hiểu tình hình thực tế dạy và học nội dung kiến thức

Việc dạy học toán ở nhà trường phổ thông nói chung và dạy học kiến thức thống kê nói riêng hiện nay đang rơi vào tình trạng bị coi nhẹ thực hành

và ứng dụng toán học vào đời sống Mối liên hệ toán học với thực tế còn yếu, học sinh ít được về mặt toán học hóa các tình huống bắt đầu từ những vấn đề trong cuộc sống thực tiễn Thực trạng ấy, theo tôi có thể do những nguyên nhân sau:

Trang 32

- Tất cả các SGK môn toán và hầu hết các tài liệu tham khảo, rất ít quan tâm đến các bài toán thực tế hoặc ít quan tâm đến các ứng dụng trong các lĩnh vực ngoài toán học

a Phương pháp thu thập dữ liệu

Ở mảng kiến thức này, SGK nêu:

Khi thực hiện điều tra thống kê ( theo mục đích đã định trước), cần xác định tập hợp các đơn vị điều tra, dấu hiệu điều tra và thu thập các số liệu

Tập hợp các đơn vị điều tra là tập hợp 31 tỉnh, mỗi một tỉnh là một đơn

vị điều tra Dấu hiệu điều tra là năng suất lúa hè thu năm 1998 của mỗi tỉnh

Ở đây, SGK đưa ra ví dụ có nội dung thực tiễn nhưng không đưa ra vấn

đề thực tiễn, do đó không đưa ra cách xây dựng được bài toán phỏng thực tiễn

mà chỉ đưa ra dạng bài toán mô hình toán học Các khái niệm cũng chỉ được nhắc lại một cách sơ sài thông qua ví dụ 1 chứ không đưa ra khái niệm về dấu hiệu, đơn vị điều tra…

b.Phương pháp trình bày số liệu

Có hai nội dung được xem xét trong phần này là phương pháp trình bày bảng và phương pháp trình bày biểu đồ

SGK thông qua ví dụ 1 ở trên, thấy có 5 giá trị khác nhau:

x  xuất hiện 4 lần và gọi n1 4 là tần số của giá trị x1 , tương tự

cho các giá trị còn lại Giá trị x1 có tần số là 4 chiếm tỉ lệ là 4 12,9%

31 và gọi đó là tần suất của giá trị, tương tự cho các giá trị còn lại

Trang 33

Sau đó, lập bảng:

Năng suất lúa

Sang phần bảng phân bố tần số và tần suất ghép lớp, SGK đưa ra ví dụ 2:

Ví dụ 2: Để chuẩn bị may đồng phục cho học sinh, người ta đo chiều

cao của 36 học sinh trong một lớp học và thu được các số liệu thống kê ghi trong bảng:

158 152 156 158 168 160 170 166 161 160 172 173

150 167 165 163 158 162 169 159 163 164 161 160

164 159 163 155 163 165 154 161 164 151 164 152 Tiếp theo, SGK nêu: Để xác định hợp lí số lượng quần áo cần may cho mỗi “ kích cỡ” ta phân số liệu trên như sau:

Trang 34

Lớp số đo chiều cao (cm) Tần số Tuần suất (%)

lí do để phân lớp cho các số liệu cũng chưa thật thuyết phục và cũng chỉ có tính áp đặt cho ví dụ này Vậy nên khi đứng trước một vấn đề thực tiễn khác học sinh sẽ không biết xử lí

Sau khi tính toán SGK có nêu: số liệu trên cho ta cơ sở để xác định số

lượng quần áo cần may của mỗi cỡ Chẳng hạn, vì số học sinh có chiều cao thuộc lớp thứ nhất chiếm 16,7% tổng số học sinh, nên số quần áo cần may thuộc cỡ tương ứng với lóp đó chiếm 16,7% số lượng quần áo được may Ta cũng chỉ có kết luận tương tự đối với lớp khác Nếu lớp học trên đại diện được cho toàn trường thì có thể áp dụng kết quả đó để may quần áo cho học sinh toàn trường

Ở đây SGK thực hiện 2 bước: Lúc đầu đưa ra ví dụ rồi dùng kiến thức toán học để tính toán, sau đó dùng kết quả để làm cơ sở cho vấn đề đặt ra Tuy nhiên

36 học sinh trong một lớp học thì không thể nào đại diện cho học sinh cả trường được nên ví dụ trên cũng chỉ mang tính hình thức mà thôi Trong phần này SGK cũng chưa làm cho học sinh thấy được nhu cầu và ý nghĩa thật sự của việc chia lớp, trong mỗi lớp cũng chưa nêu giá trị đại diện cho lớp

Trang 35

Biểu đồ

SGK trình bày 3 loại biểu đồ: biểu đồ tần suất hình cột, biểu đồ đường

gấp khúc tần suất, biểu đồ hình quạt SGK nêu : Ta có thể mô tả một cách

trực quan các bảng phân bố tần suất ( hoặc tần số), bảng phân bố tần suất ( hoặc tần số ) ghép lớp bằng biểu đồ hoặc đường gấp khúc

Sau đó đưa ra ví dụ cho từng loại biểu đồ nhưng trong đó chỉ có biểu đồ đường gấp khúc tần suất là có trình bày cách vẽ còn 2 loại còn lại SGK chỉ đưa ra biểu đồ mà không trình bày cách vẽ

Ở đây, SGK cũng chưa làm cho học sinh thấy rõ nhu cầu của việc lập biểu đồ cũng như ý nghĩa của biểu đồ trong việc trình bày số liệu

c.Xử lý số liệu

Phần này, SGK giới thiệu các số đặc trưng của mẫu số liệu gồm: số trung bình, số trung vị, mốt và các tham số đo độ phân tán: phương sai, độ lệch chuẩn

+ Số trung bình cộng

SGK trình bày 2 cách tính số và công thức tính số trung bình cộng

Trường hợp bảng phân bố tần số - tần suất:

n n n n

Trong đó n i, f i lần lượt là tần số, tần suất của các giá trị x i

Trường hợp bảng phân bố tần số, tuần suất ghép lớp:

Trang 36

Ở đây nhu cầu để xuất hiện số trung bình cộng không được đề cập đến,

ví dụ trên không xuất phát từ vấn đề thực tiễn đặt ra mặc dù ví dụ có nội dung thực tiễn SGK chưa nêu được ý nghĩa của số trung bình cộng mà chỉ ngầm ẩn qua phần nhận xét của học sinh Do đó học sinh cũng chưa hiểu được tại sao phải tính số trung bình và ý nghĩa thực sự của nó khi dùng để giải quyết một vấn đề thực tiễn đặt ra

+ Số trung vị

SGK đưa ra ví dụ: Điểm thi toán cuối năm của một nhóm 9 học sinh lớp

6 là: 1, 1, 3, 6, 7, 8, 8, 9, 10 Điểm trung bình của nhóm là: x  5,9

Sau đó nhận xét: hầu hết học sinh trong nhóm có số điểm vượt điểm trung bình và có những điểm vượt rất xa Như vậy điểm trung bình không đại diện được cho trình độ học lực của nhóm

Ở đây nhu cầu xuất hiện số trung vị SGK có đề cập đến thông qua ví dụ

trên, ngoài ra SGK có nêu: Khi các số liệu thống kê có sự chênh lệch lớn thì

số trung bình không đại diện được cho các số liệu đó Khi đó ta chọn số đặc trưng khác làm đại diện thích hợp hơn, đó là số trung vị

Tuy nhiên vấn đề thực tiễn cũng chưa được đặt ra, ví dụ trên cũng chỉ thuần túy về mặt toán học, ý nghĩa của số trung vị chưa được đề cập rõ

+ Phương sai và độ lệch chuẩn

SGK đưa ra ví dụ, các số liệu cho sẵn dưới dạng 2 dãy số liệu, trung bình cộng của mỗi dãy số liệu bằng nhau Sau đó tính bình phương các độ lệch, trung bình cộng các bình phương độ lệch và gọi đó là phương sai SGK cũng đưa một ví dụ tính phương sai trong trường hợp mẫu số liệu thống kê dạng ghép lớp Tuy nhiên trước đó khi chưa tính bình phương các độ lệch SGK đã nhận xét được độ phân tán của dãy số liệu Điều đó cho thấy việc tính phương sai không còn ý nghĩa Vì thế mà ví dụ mà SGK đưa ra vẫn chưa đạt

SGK nêu : nếu để ý đơn vị đo thì đơn vị đo của phương sai là bình phương đơn vị đo của dấu hiệu được nghiên cứu Muốn tránh điều này, có thể dùng căn bậc hai của phương sai gọi là độ lệch chuẩn

Trang 37

Phương sai và độ lệch chuẩn ở đây nhìn chung thì SGK cũng chỉ trình bày cho học sinh về cách tính toán còn về ý nghĩa cũng thể hiện một cách mờ nhạt Phương sai và độ lệch chuẩn không được xuất phát từ vấn đề thực tiễn, nhu cầu xuất hiện không được đề cập đến Và cũng vì không xuất phát từ vấn

đề thực tiễn nên sau khi tính phương sai và độ lệch chuẩn thì không nêu nhận xét, ý nghĩa hay kết luận được gì

Từ sự phân tích trên, nhận thấy rằng: hầu hết các ví dụ mà SGK nêu ra đều có nội dung thực tiễn, nhưng đã được phát biểu dưới dạng ngôn ngữ toán học.Một số bài có yêu cầu nhận xét hay nêu ý nghĩa nhưng do vấn đề thực tiễn không được đặt ra nên việc nêu ý nghĩa hay nhận xét cũng chỉ mang tính hình thức chứ không phản ánh được ý nghĩa thật sự của nó

- Giáo viên ít có điều kiện tiếp cận với các công cụ hỗ trợ dạy học hiện đại Bên cạnh đó, trình độ nhận thức của học sinh vẫn còn thấp nên giáo viên chủ yếu dạy những gì mà SGK trình bày, phần bài tập mở rộng ít được cung cấp thêm

- Học sinh thường học thuộc công thức, quy tắc để tính các số đặc trưng, các em không quan tâm đến ý nghĩa của những con số đó, không biết các con

số đó có ý nghĩa gì, dùng để làm gì? Điều đó làm cho học sinh không thấy được ý nghĩa của các bài học

2.3 Một số điểm lưu ý khi dạy học chương Thống kê

- Từ bảng số liệu ta có thể lập được bảng phân bố tần số, tần suất Từ bảng này có thể rút ra được những nhận xét có giá trị thực tiễn

- Biểu đồ giúp ta có hình ảnh trực quan về tình hình phân bố của các số liệu

- Số trung bình ( trung bình cộng ) phản ánh mức độ bình quân của bảng

số liệu thông kê Khi các số liệu có sự chênh lệch thì số trung bình không đại diện cho các số liệu

- Khi sắp thứ tự các số liệu thành dãy không giảm thì số đứng chính giữa của dãy số đó gọi là số trung vị (M e ) nếu kích thước mẫu N là một số lẻ Nếu N

Trang 38

là số chẵn thì ta lấy trung bình cộng của hai số liệu đứng thứ (

- Mốt (M O) của một bảng phân bố tần số là giá trị có tần số lớn nhất

2.4 Khả năng vận dụng quan điểm sư phạm tương tác vào dạy học môn Toán

Qua nghiên cứu SGK và chương trình môn Toán THPT, chúng tôi nhận thấy môn Toán THPT nói chung và nội dung chương Thống kê nói riêng có nhiều điều kiện thuận lợi để vận dụng PPSPTT vào tổ chức hoạt động học tập Chúng tôi đã tiếp cận hướng tăng cường tương tác vào dạy học nội dung Thống kê dựa trên một số đặc điểm sau:

- Về đặc điểm môn Toán, thứ nhất phải kể tới tính trừu tượng cao độ

và tính thực tiễn phổ dụng Thứ hai, là tính lôgic và tính thực nghiệm của

Toán học Với tính tò mò, ham hiểu biết của mình những câu hỏi “Vì sao?”,

“Làm thế nào”, luôn xuất hiện đòi hỏi người học phải tìm hiểu, muốn khám

phá, trinh phục thử thách

- Cùng với việc tạo điều kiện cho HS kiến tạo tri thức và rèn luyện kỹ năng Toán học cần thiết, môn Toán còn có tác dụng góp phần phát triển năng lực trí tuệ như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá,… rèn luyện những đức tính, phẩm chất của người lao động mới như tính cẩn thận, chính xác, tính kỷ luật, tính phê phán, tính sáng tạo, bồi dưỡng óc thẩm mỹ Những đặc điểm này sẽ tạo điều kiện để HS được huy động và vận hành bộ

Trang 39

máy học của mình vào quá trình khám phá kiến thức, hình thành kỹ năng Đặc điểm này thuận lợi để tổ chức các hoạt động nhóm và thực hiện các tương tác trong PPSPTT

- Môn Toán THPT cung cấp vốn văn hoá Toán học phổ thông một cách

có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh bao gồm kiến thức, kỹ năng, phương pháp tư duy; môn Toán còn là công cụ giúp cho việc dạy và học các môn học khác Thông qua học toán, HS được phát triển tư duy nhìn nhận sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ giữa con người với nhau theo quy luật Như vậy, môn Toán chứa đựng nhiều tiềm năng để kích thích sự hứng thú học tập của người học

- Ngoài các đặc điểm chung của môn Toán, các kiến thức của chương Thống kê mang đặc điểm gần gũi thực tế, dễ kích thích sự hứng thú học tập

và việc vận hành bộ máy học của HS để thực hiện nhiệm vụ học tập

2.5 Tăng cường tương tác khi dạy học theo dự án

2.5.1 Tương tác giữa người học với người học

Trong hoạt động nhóm, có thể tạo ra và thực hiện tốt các tương tác trong tất cả các bước Trong đó thể hiện rõ nhất là sự tương tác giữa người học với người học, người học với người dạy

Sự tương tác giữa người học với người học thể hiện rõ nhất trong quá trình các nhóm thảo luận, các cá nhân trao đổi, hợp tác, giao lưu, tranh luận với nhau; ý kiến của HS này được đưa ra sẽ tác động đến HS khác, HS khác tác động trở lại bằng việc tiếp thu, bổ sung hay phản bác những ý kiến, quan điểm đó Giữa các thành viên trong nhóm tồn tại sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực Sự phụ thuộc này khuyến khích các cá nhân làm việc cùng nhau Các thành viên trong nhóm phấn đấu vì lợi ích chung Sự nỗ lực của mỗi thành viên trong nhóm là hết sức cần thiết và không thể thiếu đối với sự thành công của nhóm Sự đóng góp của mỗi thành viên xuất phát từ khả năng của mỗi người hoặc từ vai trò, trách nhiệm của người đó với công việc chung

Trang 40

Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm mang đến sự tương tác trực tiếp tác động đến sự thành công của nhau “ Học sinh dành cho nhau sự cộng tác có ý nghĩa và hiệu quả, trao đổi các thông tin, kiến thức cũng như cách lập luận về kiến thức có hiệu quả cao hơn Học sinh dành cho nhau sự phản hồi để tiếp tục nâng cao khả năng thể hiện của mình trước nhiệm vụ được giao ” [5, 64] Học sinh cùng nhau ủng hộ những quyết định đúng đắn, tác động nhau, phấn đấu cho mục tiêu chung Học sinh được hoạt động trong sự hợp tác và cảm thấy sự tin tưởng của các bạn khác đối với mình, thôi thúc phấn đấu vì mục tiêu chung Đặc biệt, học sinh sống trong bầu không khí chân tình, cởi mở, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau “ Sự tương tác trực tiếp thể hiện thông qua việc chia sẻ tri thức của mình cho những người khác trong nhóm, thảo luận nội dung đang học với tư duy hội thoại có phê phán Thông qua sự tương tác này, học sinh được tự kiểm tra sự hiểu biết của mình, được giải thích bằng lời cách thức giải quyết vấn đề của mình “ [5, 64] Tuy nhiên, trong sự tương tác không tránh khỏi những ý kiến đối lập, song qua thảo luận vì lợi ích chung, những ý kiến đối lập dễ dàng tìm được tiếng nói chung Sự tương tác trong nhóm học sinh đòi hỏi sự trao đổi qua lại tích cực giữa các thành viên trong nhóm Tương tác trực tiếp có tác động tốt đối với học sinh như: tăng cường động cơ học tập, kích thích sự giao tiếp, lập luận; phát triển mối quan hệ gắn bó, trách nhiệm quan tâm đến nhau với các thành viên tham gia

2.5.2 Tương tác giữa người dạy với người học

Sự tương tác giữa người học và người dạy được thể hiện rõ nét nhất trong quá trình giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm và hướng dẫn các nhóm, lớp thảo luận và giáo viên tổng kết Hoạt động của giáo viên trong DHTDA là rất quan trọng GV là người khởi xướng các mối quan hệ hợp tác giữa GV – nhóm - HS Giáo viên bằng chiến lược tổ chức của minh sẽ khơi dậy được tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân HS đồng thời tạo không khí

Ngày đăng: 03/09/2015, 15:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.  Mối liên hệ giữa ba tác nhân của quan điểm sư phạm tương tác. - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
Hình 1. Mối liên hệ giữa ba tác nhân của quan điểm sư phạm tương tác (Trang 12)
Hình 2. Tác động của môi trường đến hoạt động dạy và học - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
Hình 2. Tác động của môi trường đến hoạt động dạy và học (Trang 15)
Hình thành dự án - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
Hình th ành dự án (Trang 44)
Sơ đồ tổ chức nhóm - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
Sơ đồ t ổ chức nhóm (Trang 47)
Hình ảnh minh  họa có chọn lọc, đẹp  5 - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
nh ảnh minh họa có chọn lọc, đẹp 5 (Trang 49)
Hình ảnh minh họa chọn lọc, đẹp  10 - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
nh ảnh minh họa chọn lọc, đẹp 10 (Trang 50)
3  Buổi 2  Hình thành dự án  Hoạt  động  nhóm,  phân  công - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
3 Buổi 2 Hình thành dự án Hoạt động nhóm, phân công (Trang 53)
Bảng phân bố tần số -  tần suất, biểu đồ - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
Bảng ph ân bố tần số - tần suất, biểu đồ (Trang 60)
Bảng thống kê size áo của các học sinh nam - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
Bảng th ống kê size áo của các học sinh nam (Trang 64)
Bảng thống kê size áo của các học sinh nữ - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
Bảng th ống kê size áo của các học sinh nữ (Trang 65)
Bảng phân công nhiệm vụ của các thành viên ( Trích sổ dự án nhóm 2) - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
Bảng ph ân công nhiệm vụ của các thành viên ( Trích sổ dự án nhóm 2) (Trang 69)
Bảng thông số - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
Bảng th ông số (Trang 71)
Bảng thống kê size áo của các học sinh nam - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
Bảng th ống kê size áo của các học sinh nam (Trang 73)
Bảng thống kê kết quả kiểm tra thực nghiệm: - Luận văn thạc sĩ: Tăng cường tương tác trong dạy học thống kê ở THPT
Bảng th ống kê kết quả kiểm tra thực nghiệm: (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w