Với mục tiêu phân tích đánh giá thực trạng tình hình phát triển của mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2007 đến 2013, cũng như xem xét sự tác động
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án “Phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Ngoài những thông tin thứ cấp có liên quan đến nghiên cứu đã được trích nguồn, toàn bộ kết quả trình bày trong luận án được rút ra từ việc phân tích nguồn dữ liệu tác giả thu được từ quá trình điều tra, phỏng vấn cá nhân Tất cả dữ liệu được sử dụng trong luận án đều trung thực
và nội dung luận án chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khác nào khác
Tác giả của luận án
Nguyễn Thị Diệu Chi
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận án này được hoàn thành, trước hết, bằng sự nỗ lực và nghiêm túc trong nghiên cứu của Tác giả, nhưng không thể thiếu sự giúp đỡ, tư vấn nhiệt tình và trách nhiệm của rất nhiều người Những sự giúp đỡ và tư vấn đó không chỉ hỗ trợ tác giả hoàn thành Luận án đúng tiến độ, mà còn rất hữu ích trên con đường nghiên cứu và giảng dạy sau này Tác giả xin bày tỏ lời tri ân sâu sắc và lòng biết ơn chân thành tới:
GS.TS Phạm Quang Trung đã nhận lời hướng dẫn, chỉ bảo và định hướng nghiên cứu của Luận án
Ban Lãnh đạo, các thầy cô giáo của Viện Ngân hàng Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và hỗ trợ nhiệt tình về chuyên môn để luận án được hoàn thành tốt hơn
Ban Lãnh đạo, các cán bộ thuộc Viện Đào tạo Sau đại học – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện về các thủ tục hành chính và hướng dẫn quy trình thực hiện trong quá trình tác giả học và bảo vệ Luận án Các cán bộ làm việc trong các tổ chức tài chính ngân hàng Việt Nam đã tham gia khảo sát để tác giả có những thông tin sát thực nhất về vấn đề nghiên cứu
Các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã đọc và đóng góp ý kiến để tác giả hoàn thành Luận án
Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, chia sẻ, động viên, thông cảm và tạo mọi điều kiện hỗ trợ cho tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận án
Nguyễn Thị Diệu Chi
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU xii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 9
1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 9
1.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 15
1.3 Phương pháp nghiên cứu 22
1.3.1 Tiếp cận vấn đề nghiên cứu 22
1.3.2 Hệ thống dữ liệu 22
1.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 23
1.3.4 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu 23
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG 26
2.1 Tổng quan về lĩnh vực tài chính ngân hàng 26
2.1.1 Lĩnh vực tài chính ngân hàng 26
2.1.2 Một số tổ chức tài chính trung gian 26
2.2 Hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng 31
2.2.1 Khái niệm hoạt động mua bán và sáp nhập 31
2.2.2 Hình thức mua bán và sáp nhập 35
2.2.3 Phương thức thực hiện mua bán và sáp nhập 39
2.2.4 Quy trình thực hiện mua bán và sáp nhập 41
2.3 Phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng 51
2.3.1 Khái niệm phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập 51
2.3.2 Sự cần thiết phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng 51
2.3.3 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của hoạt động mua bán và sáp nhập trong
lĩnh vực tài chính ngân hàng 54
Trang 42.4 Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động mua bán và sáp nhập lĩnh vực tài chính
ngân hàng 57
2.4.1 Nhân tố ngoài doanh nghiệp 58
2.4.2 Nhân tố thuộc doanh nghiệp 61
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM 63
3.1 Khái quát về lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam 63
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 63
3.1.2 Lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam thời gian qua 67
3.2 Thực trạng hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam 71
3.2.1 Giai đoạn từ trước 1997 71
3.2.1 Giai đoạn từ 1997 đến 2005 72
3.2.2 Giai đoạn từ 2005 đến 2007 74
3.2.3 Giai đoạn từ 2007 đến nay 76
3.3 Đánh giá thực trạng phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực
tài chính ngân hàng Việt Nam 85
3.3.1 Số lượng và giá trị thương vụ mua bán và sáp nhập 85
3.3.2 Chất lượng các thương vụ mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính
ngân hàng Việt Nam 90
3.3.3 Kết luận chung về thực trạng phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam 100
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ NHÓM ĐỀ XUẤT VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP TRONG LĨNH VỰC
TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 117
4.1 Triển vọng phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam 117
4.2 Một số nhóm đề xuất và khuyến nghị nhằm phát triển hoạt động mua bán
và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam 122
4.2.1 Đề xuất đối với Nhà nước và các cơ quan chức năng 122
4.2.1.1 Hoàn thiện thể chế và xây dựng khung pháp lý chuyên biệt cho hoạt động mua bán và sáp nhập 122
Trang 54.2.1.2 Nghiên cứu biên độ và thời gian tăng tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần của các
nhà đầu tư nước ngoài tại các tổ chức tài chính Việt Nam 126
4.2.1.3 Phổ biến kiến thức về mua bán và sáp nhập và khuyến khích các tổ chức
chủ động thực hiện M&A bằng nhiều hình thức 127
4.2.1.4 Ban hành quy trình chuẩn cho các thương vụ mua bán và sáp nhập
tại thị trường Việt Nam 130
4.2.1.5 Ban hành hướng dẫn cụ thể về công tác định giá hoạt động mua bán
và sáp nhập 140
4.2.1.6 Ban hành các quy định bắt buộc về minh bạch trong công bố thông tin
tài chính doanh nghiệp 144
4.2.1.7 Khuyến khích hình thành các tổ chức tư vấn hoạt động mua bán và sáp nhập chuyên nghiệp 144
4.2.2 Đề xuất đối với các tổ chức tài chính ngân hàng 145
4.2.2.1 Xây dựng chiến lược, kế hoạch, mục tiêu mua bán và sáp nhập cụ thể 145
4.2.2.2 Tuân thủ chặt chẽ quy định về minh bạch và công bố thông thông tin 146
4.2.2.3 Kết hợp chặt chẽ với các tổ chức tư vấn trong quá trình thực hiện mua bán và sáp nhập 146
4.2.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp 148
4.2.3 Khuyến nghị đối với các cơ quan, ban ngành chức năng 149
4.2.3.1 Khuyến nghị chung 149
4.2.3.2 Khuyến nghị cụ thể 150
4.2.3.2.1 Đối với Nhà nước 150
4.2.3.2.2 Đối với Bộ Tài chính 152
4.2.3.2.3 Đối với Ngân hàng Nhà nước 153
4.2.3.2.4 Đối với Ủy ban chứng khoán Nhà nước 154
KẾT LUẬN 156
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ xiii
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO xiv
PHỤ LỤC xxi
Phụ lục 1 Bảng khảo sát về hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam xxi
Trang 6Phụ lục 2 Kết quả khảo sát xxvi Phụ lục 3 Các kết quả ước lượng mô hình Probit cho thấy mối quan hệ giữa tình hình kinh doanh của doanh nghiệp tài chính và khả năng doanh nghiệp sẽ thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập xxxiv Phụ lục 4 Giải thích ý nghĩa mô hình Probit đánh giá mối quan hệ giữa tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng doanh nghiệp sẽ thực hiện thương vụ mua bán và sáp nhập trong các tổ chức tài chính ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2007 -
2013 xxxvii Phụ lục 5 Quy định pháp lý về hoạt động mua bán và sáp nhập tại Việt Nam xxxix Phụ lục 6 Tình hình tài chính của 22 tổ chức tài chính ngân hàng Việt Nam đã thực hiện M&A giai đoạn 2007 - 2013 xl
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Ngân hàng Phát Triển Châu Á
Công ty quản lý tài sản ANZ Australia and New Zealand Banking Group Ltd
Tập đoàn tài chính Úc NewZealand BIDV Bank for Investment and Development of Vietnam
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIS Bank for International Settlements
Ngân hàng thanh toán quốc tế
Ngân hàng Trung Hoa
Ngân hàng Xây Dựng Trung Hoa
Trang 8EBIT Earning Before Interest and Tax
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu FICOMBANK Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất
Chiết khấu dòng tiền vốn chủ sở hữu
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tổng sản phẩm quốc nội GIADINHBANK Ngân hàng thương mại cổ phần Gia Định
Công ty bảo hiểm toàn cầu
Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội HSBC Hongkong and Shanghai Banking Corporation
Tập đoàn Ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải
Chuẩn mực kế toán quốc tế
Ngân hàng Công Nghiệp Nhật Bản ICBC International Commerce Bank of China
Ngân hàng Thương Mại Quốc Tế Trung Hoa
IFRS International Financial Reporting Standards
Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế
LIENVIETBANK Ngân hàng thương mại cổ phần Liên Việt
LIENVIETPOSTBANK Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt
Trang 9M&A Mergers and Acquisitions
Mua bán và sáp nhập
Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long
Tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ
Ngân hàng thương mại cổ phần Mỹ Xuyên
Lợi nhuận sau thuế - Thu nhập ròng
Sàn chứng khoán New York
Khoản hỗ trợ phát triển chính thức
Thị trường phi tập trung PVI Petro Vietnam Insurance Joint Stock Corporation
Công ty cổ phần bảo hiểm dầu khí Việt Nam
Công ty kiểm toán Pricewaterhousecoopers
Trang 10QĐ Quyết định
Hệ số thu nhập trên tài sản
Hệ số thu nhập trên vốn chủ sở hữu SACOMBANK Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
SEABANK Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á
Công ty tài chính Sài Gòn
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội SOUTHERN BANK Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam
SSI Saigon Securities Joint Stock Company
Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn
TECHCOMBANK Ngân hàng thương mại cổ phần
Kỹ Thương Việt Nam TINNGHIABANK Ngân hàng thương mại cổ phần Tín Nghĩa
UNCTAD United Nations Conference on Trade and Development
Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương Mại và Phát Triển
Đô la Mỹ
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam
Công ty cổ phần chứng khoán Bản Việt
Trang 11Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam VIETINBANK Ngân hàng Công Thương Việt Nam
VNPT Vietnam Posts and Telecommunications Group
Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam
Bảng xếp hạng doanh nghiệp Việt Nam
Chi phí sử dụng vốn bình quân
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 12DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Phân loại hoạt động mua bán và sáp nhập 32
Sơ đồ 2.2 Thực hiện đề xuất phương án sáp nhập 42
Sơ đồ 2.3 Chính thức thỏa thuận thực hiện M&A 43
Biểu đồ 3.8 Đánh giá một số hạn chế ảnh hưởng tới sự phát triển của hoạt động M&A
trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam 109
Biểu đồ 3.9 Đánh giá mức độ quan trọng dẫn tới giao dịch M&A trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam gặp thất bại 113
Biểu đồ 3.10 Đánh giá mức độ am hiểu về M&A 113
Trang 13DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thương vụ mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1997 đến 2004 73 Bảng 3.2 Một số thương vụ mua bán và sáp nhập trong ngành Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2007 đến nay 77 Bảng 3.3 Một số thương vụ M&A điển hình trong ngành bảo hiểm giai đoạn
2005 đến 2013 81 Bảng 3.4 Mô tả các biến tài chính đưa vào mô hình phân tích tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp tài chính ngân hàng giai đoạn trước và sau khi thực hiện M&A và xác suất doanh nghiệp sẽ thực hiện M&A 92 Bảng 3.5 So sánh tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp tài chính ngân hàng 94 Bảng 3.6 Mô hình Probit cho thấy mối quan hệ giữa tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và xác suất doanh nghiệp tài chính sẽ thực hiện M&A 97 Bảng 3.7 Kết quả thực nghiệm mô hình Probit đánh giá mối quan hệ giữa tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và xác suất doanh nghiệp tài chính sẽ thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập 98
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trên thế giới, các hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) được hình thành từ rất sớm, phổ biến ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển Đánh dấu cho sự ra đời của hoạt động M&A được khởi nguồn vào cuối thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ thứ 20, tuy nhiên sự phát triển mạnh nhất của hoạt động này chỉ thực sự diễn ra vào những năm 90 của thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 Đi đầu là lĩnh vực tài chính ngân hàng của Mỹ, sau đó là Châu Âu, Châu Mỹ La Tinh và cuối cùng là các quốc gia tại khu vực Châu
Á Huttchison và Mason (2001) [59] Trong vài năm gần đây, các thương vụ mua bán
và sáp nhập trên thế giới không ngừng gia tăng về cả số lượng và giá trị các thương vụ Năm 2013, tổng giá trị M&A toàn cầu đạt 2.215 tỷ USD với khoảng 10.000 thương
vụ Goldman Sachs (2014) Giải pháp tài chính này đã trở thành một trong những vấn
đề được quan tâm không chỉ tại các quốc gia phát triển mà cả ở các quốc gia đang phát triển, đặc biệt phổ biến trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
Việt Nam sau gần 30 năm cải cách kinh tế, có thể thấy thời điểm này nền kinh
tế đang chuyển động theo hướng chuẩn bị cho một chu kỳ phát triển kinh tế mới (bắt đầu vào năm 2011), thời điểm mà các doanh nghiệp tư nhân nội địa buộc phải hợp tác cùng nhau trong bất kỳ phương thức nào để gia tăng quy mô và năng lực cạnh tranh hoặc sẽ phải chọn lựa việc chuyển giao cho các doanh nghiệp nước ngoài Trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế quốc tế, hệ thống các tổ chức tài chính ngân hàng (TCNH) Việt Nam đã lớn mạnh vượt bậc, tăng trưởng nhanh về số lượng cũng như chất lượng,
mở rộng mạng lưới hoạt động rộng khắp cả nước, tạo tiền đề vững chắc cho Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, đồng thời đóng góp to lớn cho quá trình tăng trưởng kinh tế đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành công khi hội nhập, các tổ chức này cũng đã bộc lộ một số bất cập, yếu kém như vốn điều lệ và tính thanh khoản thấp, tỷ lệ nợ xấu gia tăng, trình độ quản trị còn yếu, nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập Thực trạng này đặt ra vấn đề cấp bách là phải tái cấu trúc hệ thống tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại (NHTM), công ty chứng khoán (CTCK)
và công ty bảo hiểm (CTBH) Khi yêu cầu tái cấu trúc đặt ra, hoạt động M&A doanh
Trang 15nghiệp thành công sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao sức mạnh toàn diện, lợi thế cạnh tranh, đồng thời thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nền kinh tế
Bên cạnh đó, thị trường M&A Việt Nam cũng mới chỉ thực sự sôi động và phát triển trong 7 năm trở lại đây từ 2007 cùng với sự bùng nổ của thị trường chứng khoán Trong đó, các thương vụ đầu tư vốn cổ phần khi nhà đầu tư nước ngoài tiến hành mua
cổ phần của các tổ chức tài chính, đánh dấu cho những thương vụ M&A đầu tiên trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam Việc các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các tổ chức tài chính ngân hàng nói riêng tham gia vào hoạt động M&A trong những năm qua hoàn toàn theo chiều hướng tích cực và không nằm ngoài quy luật phát triển của các doanh nghiệp trên thế giới, điển hình là các doanh nghiệp tài chính
Một là, hoạt động mua bán và sáp nhập góp phần cải thiện cơ cấu doanh nghiệp
và độ mở cửa thị trường, sự gắn kết và nâng cao khả năng cạnh tranh trong môi trường kinh doanh toàn cầu Bởi khi Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường tài chính vào năm 2020, các doanh nghiệp tài chính trong nước cần đủ mạnh để có thể tồn tại trong môi trường kinh doanh quốc tế
Hai là, hoạt động mua bán, sáp nhập là một giải pháp tốt trong tái cấu trúc toàn
hệ thống tài chính, góp phần giảm bớt số lượng, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường Bởi hiện nay, Việt Nam có 5 (trong đó 4 ngân hàng đã cổ phần hóa nhưng Nhà nước vẫn chiếm cổ phần chi phối, còn lại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vẫn chưa được cổ phần hóa), 34 ngân hàng thương mại cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh và 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài chiếm, 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 18 công ty tài chính, 95 công ty chứng khoán và 59 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ và rất nhiều các tổ chức tài chính tín dụng khác, số lượng các doanh nghiệp tài chính là khá lớn trên quy mô của thị trường và toàn bộ nền kinh tế Do đó, hoạt động mua bán và sáp nhập sẽ góp phần loại bỏ những bất cập, chênh lệch quá lớn về tài chính và nâng cao năng lực quản trị của các tổ chức, hướng tới xây dựng một nền tài chính Việt Nam phát triển về chất lượng và bền vững
Ba là, hoạt động mua bán và sáp nhập các tổ chức tài chính sẽ góp phần ngăn chặn được sự đổ vỡ, phá sản của một số tổ chức tài chính Điều này có thể gây nên những ảnh hưởng tiêu cực đến toàn hệ thống tài chính Thời gian qua lĩnh vực tài
Trang 16chính ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như chất lượng tài sản kém, khó khăn về thanh khoản, chất lượng lợi nhuận thấp, yếu kém về quản trị và quản
lý rủi ro Nhiều tổ chức tài chính địa phương quá nhỏ, quy mô vốn thấp, yếu kém về năng lực quản trị đã nhanh chóng nâng tầm thành các tổ chức có quy mô quốc gia, do vậy, sớm bộc lộ những yếu kém trong khâu quản lý dòng tiền, cũng như sử dụng hiệu quả nguồn vốn Điều này gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tới hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung Do vậy, hoạt động mua bán và sáp nhập góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp tài chính không rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khánh kiệt về nguồn vốn, phải tuyên bố phá sản từ đó khôi phục lại hoạt động kinh doanh
Bốn là, hoạt động mua bán và sáp nhập làm thay đổi cơ cấu sở hữu, quyền kiểm soát, điều hành, năng lực tài chính và quy mô kinh doanh của tổ chức tài chính, từ đó góp phần mở ra những cơ hội kinh doanh mới, tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính và doanh nghiệp trong nền kinh tế
Năm là, hoạt động mua bán và sáp nhập là kênh thu hút các nguồn lực nước ngoài hiệu quả Bởi cùng với quá trình toàn cầu hóa, các nhà đầu tư sẽ tìm kiếm cơ hội
ở các quốc gia khác và lĩnh vực tài chính luôn là đích đến đầu tiên mà các nhà đầu tư hướng tới Thông qua hoạt động mua bán và sáp nhập, các tổ chức tài chính sẽ có cơ
hội thực hiện các hoạt động đầu tư hoặc bán cổ phần cho các đối tác nước ngoài
Hoạt động mua bán và sáp nhập đem lại nhiều lợi ích đối với các tổ chức tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung Do vậy, việc chú trọng tập trung phát triển giải pháp tài chính quan trọng này đóng vai trò cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, hoạt động mua bán và sáp nhập mới chỉ thực sự phát triển tại Việt Nam trong 7 năm trở lại đây, do vậy nó còn khá mới cả về thực tiễn lẫn lý luận Một số nghiên cứu gần đây mới dừng lại ở việc giải quyết một số khía cạnh, nội dung nhất định của hoạt động mua bán và sáp nhập, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào đi sâu, có tính chất
hệ thống về hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại thị trường Việt Nam Xuất phát từ thực tế trên, nghiên cứu về việc cần phải phát triển giải pháp tài chính này là cần thiết cả về lý luận và thực tiễn
Nghiên cứu về hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân
Trang 17hàng nhằm giải quyết nhiều vấn đề, cần có sự xem xét và đánh giá cụ thể về: hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động mua bán và sáp nhập và sự phát triển của hoạt động này trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các phương thức, quy trình thực hiện và một số nhân tố chính tác động tới hoạt động này trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Trong đó xem xét và đánh giá để thấy được có mối liên hệ mật thiết giữa kết quả hoạt động kinh doanh của của doanh nghiệp và khả năng, xác suất doanh nghiệp tài chính sẽ thực hiện các thương vụ mua bán và sáp nhập
Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam” làm đề tài để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Tác giả luận án nghiên cứu những vấn đề cơ
bản về hoạt động mua bán và sáp nhập và sự phát triển của hoạt động này trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Với mục tiêu phân tích đánh giá thực trạng tình hình phát triển của mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam giai đoạn
2007 đến 2013, cũng như xem xét sự tác động của hoạt động mua bán và sáp nhập tới tình hình hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính trên thị trường, tập trung vào
3 nhóm tổ chức là ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm
để thấy có mối liên hệ mật thiết giữa tình hình kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp
và khả năng doanh nghiệp sẽ thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập Từ kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động mua bán và sáp nhập có những tác động tích cực tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi thực hiện thương vụ Do vậy, tác giả nhận định cần phải phát triển hoạt động này trong lĩnh vực tài chính Việt Nam là cần thiết trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, cũng từ đó tác giả đưa ra một số đề xuất, khuyến nghị nhằm phát triển hoạt động này trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam đến năm 2020
- Mục tiêu nghiên cứu cụ thể: Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu tổng quát, toàn
bộ luận án sẽ nghiên cứu từ các vấn đề mang tính lý luận cơ bản của hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, đến thực trạng tình hình phát triển hoạt động này trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam thời gian qua, cụ thể trong
3 nhóm tổ chức tài chính trung gian là Ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm Từ đó, tác giả đưa ra dự báo triển vọng, đề xuất, và khuyến nghị
Trang 18nhằm phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam đến năm 2020 Các mục tiêu cụ thể như sau:
i Nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động mua bán và sáp nhập và sự phát triển của hoạt động này trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
ii Phân tích thực trạng phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam
iii Đánh giá thực trạng phát triển của hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam thông qua sự gia tăng về số lượng và giá trị của các thương vụ mua bán và sáp nhập trong ngành tài chính ngân hàng Việt Nam
iv Đánh giá sự ảnh hưởng của hoạt động mua bán và sáp nhập tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và xem xét mối quan hệ giữa tình hình kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp tài chính với khả năng, xác suất doanh nghiệp
sẽ thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập
v Dự báo triển vọng phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam
vi Đề xuất và khuyến nghị nhằm phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam đến năm 2020
- Câu hỏi nghiên cứu: để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, luận án trả
lời một số câu hỏi sau:
i Thực trạng hoạt động mua bán và sáp nhập tại các tổ chức tài chính Việt Nam
cụ thể trong ba nhóm tổ chức tài chính trung gian là ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm trong giai đoạn 2007 đến 2013 diễn biến ra sao về số lượng, giá trị và chất lượng thương vụ ?
ii Hoạt động mua bán và sáp nhập có ảnh hưởng thế nào tới tình hình kinh doanh của doanh nghiệp tài chính giai đoạn sau thương vụ mua bán ?
iii Kết quả kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp có ảnh hưởng thế nào tới khả năng doanh nghiệp sẽ tiến hành các thương vụ mua bán trong tương lai ?
iv Triển vọng, xu hướng phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam thời gian tới ?
v Cần những giải pháp gì để phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh
Trang 19vực tài chính ngân hàng Việt Nam ?
vi Nhà nước, các bộ ngành liên quan cần có những chính sách hỗ trợ ra sao để tạo điều kiện cho sự phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam từ nay đến năm 2020 ?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động mua
bán và sáp nhập và tình hình phát triển của hoạt động này trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Trong luận án, tác giả nghiên cứu hoạt động mua bán
và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam thời gian qua, cụ thể giai đoạn 2007 đến 2013, tập trung ở ba nhóm tổ chức tài chính trung gian là Ngân hàng, công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm M&A được xem xét trên phương diện là giải pháp tài chính quan trọng góp phần hỗ trợ doanh nghiệp tài chính nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó, tác giả tập trung xem xét đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của 22 doanh nghiệp tài chính ngân hàng đại diện cho toàn bộ thị trường để thấy có sự tác động tích cực của hoạt động mua bán và sáp nhập tới kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp sau khi thực hiện thương vụ mua bán Thêm vào đó, tác giả cũng xem xét, đánh giá để thấy có mối liên hệ mật thiết giữa tình hình kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp tới xác suất, khả năng các doanh nghiệp tài chính nói chung sẽ tiến hành các thương vụ mua bán và sáp nhập
Tác giả luận án sử dụng bộ dữ liệu khảo sát 833 cán bộ làm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng của 34 ngân hàng và các chi nhánh, 16 công ty chứng khoán, 7 công
ty bảo hiểm, 10 công ty tài chính và 23 tổ chức liên quan tới lĩnh vực tài chính như quỹ đầu tư, công ty tư vấn tài chính để đánh giá về triển vọng phát triển của hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam giai đoạn
2014 đến 2020
- Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu khảo sát tập trung chủ yếu từ năm 2007 đến năm 2013 Các đề xuất
và khuyến nghị đến năm 2020 Tác giả lựa chọn nghiên cứu sâu từ năm 2007, bởi đây
là thời điểm có sự tăng trưởng đột biến của các thương vụ M&A trong lĩnh vực tài chính Việt Nam, đây cũng là năm đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc của các chỉ tiêu
Trang 20kinh tế vĩ mô Ngoài ra, thời kỳ này cũng đánh dấu việc thực thi nhuần nhuyễn hệ thống các văn bản pháp quy mới như Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu Tư 2005, Luật chứng khoán 2006 và nhiều văn bản pháp lý khác
- Giới hạn nghiên cứu: Hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực ngân
hàng tài chính là vấn đề rộng, bao gồm nhiều khía cạnh nghiên cứu như phương thức, quy trình, cách thức, tổ chức, các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ giữa tình hình hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính và sự phát triển của các thương vụ mua bán và sáp nhập, sự tác động của hoạt động mua bán và sáp nhập tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau thương vụ mua bán Sau khi tiến hành khảo sát, đánh giá,
và phân tích báo cáo tài chính của 22 tổ chức tài chính giai đoạn 2007 đến 2013 cho thấy hoạt động mua bán và sáp nhập có tác động tích cực tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, luận án của tác giả sẽ tập trung vào đánh giá sự gia tăng của số lượng, giá trị, chất lượng của các thương vụ mua bán tại các tổ chức tài chính ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2007 đến 2013, đồng thời xem xét mối quan hệ giữa tình hình kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp tài chính và khả năng phát triển của các thương vụ mua bán trong tương lai
4 Đóng góp mới của luận án
Trên cơ sở kế thừa nền tảng lý luận và thực tiễn của nhiều nghiên cứu độc lập
từ trước về hoạt động mua bán và sáp nhập, luận án có một số đóng góp mới, khác biệt với các nghiên cứu trước đây cụ thể như sau:
(1) Tác giả lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu hoạt động mua bán và sáp nhập trên phạm vi của cả 3 loại hình tổ chức tài chính trung gian đặc thù của lĩnh vực tài chính là ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm thay vì chỉ nghiên cứu hoạt động này tại một nhóm tổ chức riêng biệt như các nghiên cứu trước
(2) Trên cơ sở nguồn số liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính của 22 tổ chức tài chính ngân hàng đại diện trên thị trường đã thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập, luận án
đã xử lý số liệu nhằm phân tích, đánh giá và cho thấy có sự tác động tích cực của hoạt động mua bán và sáp nhập tới tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp giai đoạn sau thương vụ mua bán
(3) Nghiên cứu không chỉ đưa ra các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của hoạt động
Trang 21mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng như các nghiên cứu trước,
mà tác giả đã thực hiện khảo sát bằng phiếu hỏi để thấy rõ có mối liên hệ giữa tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và sự phát triển của hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
(4) Tác giả đã vận dụng mô hình hồi quy định lượng Probit để tiến hành đánh giá và chứng minh hoạt động mua bán và sáp nhập có ảnh hưởng tích cực tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tài chính, và mối quan hệ mật thiết giữa tình hình kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp tới xác suất doanh nghiệp sẽ tiến hành các thương vụ mua bán và sáp nhập
(5) Tác giả đã sử dụng tối đa nguồn dữ liệu của các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế đã công bố để thực hiện phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động mua bán
và sáp nhập và sự phát triển của hoạt động này trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2007 đến 2013 Từ đó, đưa ra một số nhóm đề xuất và khuyến nghị tới Nhà nước, Bộ Tài Chính, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Chứng Khoán Nhà nước nhằm tăng cường rà soát và hoàn thiện kịp thời các văn bản chính sách điều tiết lĩnh vực tài chính ngân hàng để tạo điều kiện cần thiết hỗ trợ doanh nghiệp, tạo nền tảng cho quá trình phát triển của hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam đến năm 2020
5 Cấu trúc của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục sơ
đồ, bảng biểu, Danh mục tài liệu tham khảo, và Phụ lục, Luận án được cấu trúc thành
Trang 22CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có một số tác giả nghiên cứu về hoạt động mua bán và sáp nhập, tuy nhiên số lượng không nhiều và cũng chỉ tập trung vào một số khía cạnh nhất định của hoạt động mua bán Hơn nữa, số lượng thương vụ cũng không nhiều và đa phần tập trung vào giai đoạn từ 2007 trở lại đây, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Do vậy, nghiên cứu hoạt động mua bán và sáp nhập và sự phát triển của hoạt động này trong toàn bộ lĩnh vực tài chính ngân hàng trong 3 nhóm
tổ chức tài chính trung gian gồm ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán và các công ty bảo hiểm là một vấn đề mới, nhất là khi Việt Nam đang thực hiện chính sách
mở cửa lĩnh vực tài chính, bãi bỏ các rào cản phân biệt giữa doanh nghiệp tài chính trong nước và các doanh nghiệp tài chính nước ngoài theo các cam kết quốc tế đã ký Nghiên cứu của Trần Ái Phương (2008) [25] đánh giá hoạt động mua bán và sáp nhập là cơ hội cho các ngân hàng gia tăng lợi nhuận, hình thành các nguồn thu nhập mới, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, giúp tổ chức xây dựng và phát triển chiến lược quảng bá thương hiệu, nâng cao lợi thế kinh tế theo quy mô và đạt được những lợi thế kinh tế từ các cơ hội Nghiên cứu đánh giá hoạt động mua bán và sáp nhập là quan trọng khi các ngân hàng nhỏ hợp nhất lại với nhau dưới cùng một chủ sở hữu, bộ máy quản lý, từ đó tạo cơ sở hỗ trợ tổ chức hợp nhất vận hành tốt hơn, tập trung hơn, các hoạt động kinh doanh sẽ có thể được điều tiết tốt hơn thông qua cơ chế chia sẻ nguồn lực và tạo thêm nhiều cơ hội mới khi sáp nhập hoặc hợp nhất Tuy nhiên mặc dù hoạt động M&A trong ngành tài chính ngân hàng rất phổ biến trên thế giới nhưng lại khá mới tại thị trường Việt Nam, chính vì vậy Việt Nam cần tận dụng lợi thế là người đi sau để phát huy các lợi thế từ công cụ tài chính quan trọng này Nghiên cứu tập trung vào các giải pháp phát triển hoạt động M&A theo hướng tự các ngân hàng nội địa sáp nhập lại với nhau để hình thành các tập đoàn tài chính nội địa Bài nghiên cứu chưa đề cập tới hoạt động M&A có yếu tố nước ngoài, mà trên thực tế M&A là công cụ tài chính có cả yếu tố trong nước và ngoài nước Trong đó, một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên xu thế M&A toàn cầu là sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 23Theo xu hướng phát triển chung và cam kết mở của thị trường tài chính ngân hàng của Chính phủ Việt Nam, không còn sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, do vậy, khi đề cập tới M&A cần phải quan tâm tới cả khía cạnh nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
Vương Hoàng Quân, Trần Trí Dũng và Nguyễn Thị Châu Hà (2009) [35, tr 45] tập trung nghiên cứu, đề cập đến khái niệm của hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A), các hình thức mua bán và sáp nhập, những thuận lợi và khó khăn của việc phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập tại thị trường Việt Nam Nghiên cứu đi sâu vào tình hình M&A ở Việt Nam liên quan tới số lượng và giá trị thương vụ, một số hạn chế và phân tích nguyên nhân Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những khía cạnh cơ bản nhất, nêu một cách chung chung về hoạt động mua bán và sáp nhập,
32-mà chưa đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể như lĩnh vực tài chính ngân hàng
Nghiên cứu của Nguyễn Hòa Nhân (2009) [12, tr 25-32] đã tiến hành nêu lên thực trạng hoạt động mua bán và sáp nhập tại thị trường Việt Nam, đánh giá sự cần thiết phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập bởi M&A là công cụ tài chính quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu chỉ ra những lợi ích cơ bản mà công cụ M&A hỗ trợ doanh nghiệp nhằm đảm bảo hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững, là tiền đề cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp Bởi, hoạt động M&A là một công cụ tài chính đặc biệt, nó thường xuất hiện nhiều trong giai đoạn khi nền kinh
tế gặp khó khăn, các doanh nghiệp thua lỗ không thể tiếp tục tồn tại, điều này buộc các doanh nghiệp hoặc tuyên bố phá sản hoặc sử dụng công cụ M&A để liên kết với các đối tác mới để có thể tiếp tục tồn tại trên thị trường Trong nghiên cứu, tác giả cũng nêu rõ cụm từ M&A hiện khá phổ biến và được gọi là “Sáp nhập (Mergers) và Thâu tóm (Acquisitions) Tác giả đã tiến hành hệ thống hóa các loại hình sáp nhập, nêu điểm giống và khác nhau giữa các loại hình sáp nhập Bên cạnh đó, tác giả nêu lên những khó khăn, thách thức của hoạt động M&A trong tất cả các lĩnh vực tại thị trường Việt Nam trong giai đoạn 2005-2008 Tuy nhiên, với dung lượng hạn chế của bài báo, việc
đề cập toàn diện nhiều vấn đề M&A sẽ không đảm bảo được chiều sâu của các nội dung nghiên cứu Do vậy, nhìn chung các thông tin tác giả đưa ra mang tính chất liệt
kê, dàn trải của hoạt động mua bán và sáp nhập trong của nền kinh tế Việt Nam thời gian qua Ngoài ra, phần giải pháp cũng chỉ mang tính chất chung chung, bài viết chưa nêu rõ giải pháp cụ thể để thực hiện các đề xuất nêu ra
Trang 24Nguyễn Mạnh Thái (2009) [13] dự báo trong thời gian tới sẽ có khoảng 500.000 doanh nghiệp Việt nam đặt mục tiêu thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài và phát triển thị trường Do vậy, đây chính là cơ hội và triển vọng cho một thị trường M&A phát triển Nghiên cứu cho rằng, M&A là một sự lựa chọn tốt đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài khi họ đánh giá cao tiềm năng phát triển của Việt Nam Việt nam đã, đang và sẽ mở rộng cánh cửa dịch vụ tài chính, viễn thông, đây là cơ hội cho thị trường M&A Việt Nam với các nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, hiện nay hệ thống cơ sở pháp lý về hoạt động M&A còn nhiều bất cập, thiếu sự thống nhất, nằm rải rác trong nhiều văn bản, là rào cản trực tiếp cho việc tiếp cận M&A của các doanh nghiệp Nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở việc đề cập sự phát triển thị trường mua bán
và sáp nhập ở tất cả các loại hình doanh nghiệp mà không tập trung riêng cho lĩnh vực tài chính ngân hàng
Nghiên cứu của tác giả Bùi Thanh Lam (2009) [1, tr 23-28] khẳng định M&A
là phương thức hữu hiệu và là giải pháp tốt để cấu trúc lại hệ thống ngân hàng, tạo cơ
sở tập trung nguồn lực, mở rộng phát triển mạng lưới, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, giảm chi phí, đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, “làm sạch” các doanh nghiệp yếu kém và là phương thức thu hút đầu tư trực tiếp và gián tiếp hiệu quả, thúc đẩy thị trường chứng khoán và thị trường quốc gia phát triển Nghiên cứu chỉ tập trung vào thực trạng hoạt động mua bán và sáp nhập trong ngành ngân hàng, không đề cập tới tổng thể lĩnh vực tài chính ngân hàng Trong nghiên cứu, tác giả tập trung vào các giải pháp mang tính pháp lý vĩ mô mà không đề cập tới các giải pháp khác ở khía cạnh vi mô Để tạo cơ sở cho M&A phát triển trên cơ sở thực trạng nghiên cứu, ngoài yếu tố pháp lý còn có rất nhiều yếu tố như bản thân doanh nghiệp tham gia vào hoạt động M&A, năng lực cán
bộ công tác liên quan tới M&A và tư duy của doanh nghiệp trong việc minh bạch công
bố các thông tin tài chính phục vụ cho công tác M&A
Nghiên cứu điển hình của Trịnh Thị Phan Lan và Nguyễn Thùy Linh (2010) [30] cho rằng sự hòa hợp về văn hóa là một trong những nhân tố quyết định tới sự thành công của một thương vụ M&A Trong đó, sự hòa hợp văn hóa trong M&A không có nghĩa là sự xâm phạm nét riêng của tổ chức về văn hóa, mà nếu thật sự có sự “thôn tính” của nền văn hóa này với một nền văn hóa khác thì đó không gọi là hòa hợp hay hòa nhập văn hóa Sự hòa nhập về mặt văn hóa chính là quá trình doanh nghiệp đi tìm
Trang 25ngôn ngữ chung cho một cuộc sống chung hay sự tồn tại của doanh nghiệp sau khi sáp nhập hoặc hợp nhất Nghiên cứu chỉ ra sự hài hóa về văn hóa doanh nghiệp sẽ góp phần tới 36% sự thành công của một thương vụ M&A Do hạn chế của một bài báo, tác giả không thể bao quát tất cả các vấn đề ảnh hưởng tới sự thành công hay thất bại của một thương vụ M&A mà chỉ tập trung vào yếu tố văn hóa Bên cạnh yếu tố văn hóa còn có rất nhiều nhân tố tạo nên sự thành công hay thất bại của một thương vụ M&A như cách doanh nghiệp đối xử với nhân viên, cung cấp các thông tin liên quan tới thương vụ M&A một cách đầy đủ tới mọi nhân viên trong doanh nghiệp, cách thức điều hành của ban lãnh đạo mới
Nghiên của của Trần Đình Cung, Lưu Minh Đức (2010) [27] đã làm rõ các khái niệm về mua bán và sáp nhập trên góc độ quản trị doanh nghiệp, quản trị công ty Nhìn chung, tác giả chỉ tập trung phân tích về hoạt động mua bán và sáp nhập dưới góc độ quản trị doanh nghiệp với vai trò của nhà quản lý doanh nghiệp nói chung mà không
đề cập tới các vấn đề mua bán và sáp nhập ở góc độ doanh nghiệp tài chính
Theo Vũ Thống Nhất (2011) [34] nội dung cơ bản của nghiên cứu đề cập tới hoạt động M&A trong ngành ngân hàng và một số nhân tố tác động tới hoạt động M&A của ngành ngân hàng Trong đó, nghiên cứu nhấn mạnh một trong những nhân
tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng tới hoạt động M&A của ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn hiện nay là sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng ảnh hưởng tới quyết định M&A của doanh nghiệp Do vậy, doanh nghiệp cần phải sáp nhập, hợp nhất nhằm tăng quy mô, thị phần Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở việc nêu lên các nhân tố,
mà chưa có sự đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đó tới hoạt động M&A trong ngành ngân hàng ở mức độ thế nào Bên cạnh đó, một phần do tính hạn chế của một bài báo nên nghiên cứu cũng không thể đi sâu phân tích từng nhân tố ảnh hưởng thế nào tới hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính Việt Nam
Tác giả Harry Hoan Tran CFA và Thuan Nguyen FCCA, trong báo cáo tư vấn tài chính của Tập đoàn StoxPlus Việt Nam (2011) [8] cho rằng các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng do chất lượng tài sản kém, khó khăn về thanh khoản, chất lượng lợi nhuận thấp, yếu kém về quản trị
và về quản lý rủi ro Do vậy, Chính phủ cần phải nhanh chóng đưa ra chương trình tái
cơ cấu ngành thông qua công cụ mua bán và sáp nhập để giúp các ngân hàng không bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Từ đó, hướng tới mục tiêu hỗ trợ các ngân
Trang 26hàng giải quyết 3 vấn đề là giảm nợ xấu, tăng vốn sở hữu và nâng cao tính thanh khoản của hệ thống Tuy nhiên, điểm hạn chế của nghiên cứu là chỉ dừng lại ở việc nêu lên tình hình thực tế hoạt động tại một số ngân hàng Việt Nam mà không bao quát toàn bộ ngành tài chính Ngoài ra, tác giả cũng chỉ giới hạn phạm vi trong việc phân tích sự phát triển của hoạt động mua bán và sáp nhập riêng cho ngành ngân hàng, mà hiện nay hoạt động M&A có thể xuất hiện trong nhiều lĩnh vực, ngay cả trong lĩnh vực dịch vụ tài chính cũng bao gồm cả công ty bảo hiểm và công ty chứng khoán
Nghiên cứu của Trần Phi Hùng (2011) [29] khẳng định hoạt động M&A tại Việt Nam còn rất sơ khai, tuy nhiên đây là một thị trường hứa hẹn nhiều cơ hội đầu tư cho các tổ chức, cá nhân cả trong và ngoài nước Hiện số lượng và giá trị giao dịch M&A tại Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn khi so sánh với nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên các thương vụ đã diễn ra phần nào có tác động tích cực đến nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng M&A đã dần khẳng định là một giải pháp hiệu quả giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh thông qua thay đổi quy mô
và tái cấu trúc bộ máy quản lý, điều hành Nghiên cứu đề cập tới những thuận lợi, cơ hội của M&A đối với nền kinh tế Việt Nam cũng các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và cơ hội, nghiên cứu không xem xét tới những thách thức có thể ảnh hưởng tới việc phát triển hoạt động M&A tại thị trường Việt Nam Bởi thực tế cho thấy, dù giá trị lợi ích đạt được từ M&A là rõ và có đóng góp lớn trên thị trường, thì cũng còn nhiều vấn đề khác cần giải quyết nhằm tạo cơ hội cho M&A phát triển như vấn đề pháp lý, sự am hiểu về M&A, mức độ minh bạch của các thông tin công bố, vấn đề nhân sự…
Võ Văn Cần, Huỳnh Thị Xuân Mai (2011) [31] nghiên cứu quy trình thực hiện M&A tại nhiều quốc gia trên thế giới Nghiên cứu chỉ ra rằng một trong những công
cụ tài chính hữu ích trong thời kỳ kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp trước nguy cơ phá sản, M&A là “tấm phao cứu sinh” hiệu quả Nghiên cứu cho ra rằng M&A tới đây
sẽ phát triển mạnh trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, y tế, khai thác mỏ, công nghệ, dịch vụ tài chính và các sản phẩm tiêu dùng Tại thị trường Châu Á, hoạt động M&A
sẽ tăng mạnh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, bất động sản, hàng tiêu dùng, viễn thông và hàng không Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu rộng nên nghiên cứu giới hạn
ở việc thống kê các quy trình M&A của một số quốc gia, khu vực mà chưa hệ thống hóa để nêu lên một quy trình M&A cơ bản mà có thể đáp ứng và áp dụng phù hợp tại
Trang 27thị trường Việt Nam
Tác giả Vũ Anh Dũng (2012) [32] nghiên cứu quy trình tiến hành một thương
vụ M&A gồm 4 giai đoạn chính là lập kế hoạch chiến lược, điều tra và lựa chọn doanh nghiệp, tiến hành đàm phán và hợp nhất doanh nghiệp Tuy nhiên, hoạt động M&A tại Việt Nam hiện nay đa phần tập trung vào hình thức bán hay nhượng lại một phần cổ phần cho các đối tác chứ chưa thực sự là hình thức hợp nhất hay mua lại toàn bộ 100%
cổ phần sở hữu giữa các bên giống như hoạt động M&A quốc tế Trong những trường hợp như vậy thì quy trình M&A đơn giản hơn nhiều so với thực tế quy trình của một thương vụ M&A thực sự Nghiên cứu tập trung vào một khía cạnh của thương vụ M&A, đó là quy trình thực hiện một thương vụ và không hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan tới hoạt động mua bán và sáp nhập cũng như hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
Điểm chung của các bài viết và công trình nghiên cứu trên mới dừng lại ở nêu những kiến thức khái quát về hoạt động mua bán và sáp nhập, tình hình phát triển chung của hoạt động này tại thị trường Việt Nam Các nghiên cứu hạn chế đi sâu vào phân tích một lĩnh vực, ngành nghề cụ thể hoặc do những hạn chế về thời lượng nghiên cứu, nên các nghiên cứu thường chỉ nêu ra mà không chứng minh Bên cạnh
đó, các nghiên cứu tập trung tới một khía cạnh nào đó của M&A Điều đáng quan tâm khi tiến hành xem xét M&A là khả năng tập trung kinh tế, hình thành các tổ chức lớn mạnh hơn, góp phần giảm đi số lượng các doanh nghiệp cùng cung ứng một loại hình sản phẩm/dịch vụ, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường thì các nghiên cứu không đề cập tới
Tóm lại, các nghiên cứu trước đây về hoạt động mua bán và sáp nhập đã có những đóng góp quan trọng về cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động M&A, cũng như sự hình thành và phát triển của hoạt động này tại thị trường Việt Nam Tuy nhiên,
do đây là công cụ tài chính vẫn còn khá mới, đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển và tiềm năng phát triển hơn nữa trong thời gian tới, đặc biệt đối với lĩnh vực tài chính ngân hàng, do vậy đòi hỏi một nghiên cứu sâu hơn trong từng lĩnh vực, ngành nghề cụ thể Trong đó nghiên cứu thực trạng phát triển hoạt động mua bán sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam thông qua việc đánh giá sâu mức độ ảnh hưởng cụ thể của hoạt động mua bán và sáp nhập tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau mua bán là một vấn đề cần thiết để nghiên cứu trong bối cảnh hệ
Trang 28thống tài chính ngân hàng Việt Nam thực hiện quá trình tái cấu trúc ngành
1.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Hoạt động mua bán và sáp nhập khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt là các thương vụ trong ngành tài chính Các nghiên cứu về vấn đề này cũng rất nhiều và tập trung ở nhiều khía cạnh khác nhau của thương vụ mua bán Sau đây là một số công trình nghiên cứu của nước ngoài về hoạt động mua bán và sáp nhập nói chung và hoạt động này trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng:
Stevens, K.L., (1973) [86, tr 149-158] tiến hành phân tích định lượng một số yếu
tố tài chính ảnh hưởng tới quyết định thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập của doanh nghiệp Stevens, K.L đưa ra mô hình đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định của doanh nghiệp khi tiến hành M&A trên cơ sở 7 biến độc lập là (1) Mức độ tăng trưởng của doanh nghiệp, (2) Quy mô vốn doanh nghiệp, (3) Lợi nhuận của doanh nghiệp, (4) Đòn bẩy tài chính, (5) Chính sách cổ tức, (6) Tính thanh khoản của
cổ phiếu, (7) Quy mô của thị trường chứng khoán Trên cơ sở mô hình nghiên cứu, tác giả rút ra kết luận, nhân tố ảnh hưởng lớn nhất tới quyết định của doanh nghiệp khi thực hiện M&A chính là tình trạng lợi nhuận của doanh nghiệp và quy mô vốn của doanh nghiệp Trong khi đó, Simkowwitz, và R.J Monroe (1971) [83, tr 1 - 14] lại nhìn nhận mục tiêu hợp nhất của doanh nghiệp ở khía cạnh tình trạng thanh khoản của
cổ phiếu, lợi nhuận doanh nghiệp, quy mô thị trường tài chính, và các đặc tính khác của thị trường
Nghiên cứu của nhóm tác giả Neter, J và Wasserman (1974) [72] đưa ra mô hình
dự đoán xác suất xảy ra thương vụ mua bán và sáp nhập trong tổ chức tài chính ngân hàng trên cơ sở đánh giá các biến tài chính độc lập tác động tới khả năng tổ chức tài chính sẽ thực hiện M&A Nghiên cứu thực hiện thu thập dữ liệu trong 5 năm tài chính của 50 tổ chức tài chính như ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư…tại Châu Âu mà đã thực hiện các giao dịch M&A Trên cơ sở dữ liệu, các tác giả tiến hành đánh giá mô hình xác suất xảy ra các thương vụ M&A theo mô hình nghiên cứu lựa chọn 9 biến độc lập có sự tác động ảnh hưởng tới xác suất xảy ra M&A (1) Mức độ thanh khoản, (2) Tình trạng lợi nhuận của doanh nghiệp, (3) Quy mô của doanh nghiệp, (4) Tình trạng kinh doanh của doanh nghiệp, (5) Mức độ tăng trưởng doanh thu, (6) Thu nhập trên cổ phiếu, (7) Đặc điểm của thị trường cổ phiếu, (8) Thị
Trang 29giá của cổ phiếu, và (9) Chính sách cổ tức của doanh nghiệp Sau khi nghiên cứu kết quả cho thấy với xác suất 63,75% doanh nghiệp sẽ thực hiện M&A nếu tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản tăng lên và lợi nhuận giảm đi với mức độ tin cậy 95% và 90%, có
ý nghĩa thống kê Sig 0.000
Nghiên cứu của Neely Walter (1987) [71] khẳng định trong hoạt động kinh doanh đặc biệt liên quan tới hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, một quy luật đơn giản đó là tồn tại hay không tồn tại Các ngân hàng cần sự tăng trưởng nhất định trong chu kỳ kinh doanh để duy trì và tăng thị phần, tạo ra lợi thế kinh tế và đem lợi tức cho các cổ đông Trong quá trình đó, các thương vụ mua bán và sáp nhập đóng vai trò quan trọng giúp cho doanh nghiệp tăng trưởng nhanh hơn so với đối thủ cạnh tranh và hạn chế khả năng doanh nghiệp không thể tạo ra lợi tức cho cổ đông hay buộc phải tuyên bố phá sản Mua bán và sáp nhập là một phần quan trọng của bất cứ một nền kinh tế tăng trưởng tốt nào, trong nền kinh tế đó, các doanh nghiệp có thể tạo ra doanh thu cho cả chủ sở hữu và các nhà đầu tư
Benston thực hiện nghiên cứu (1995) [41, tr 27] đã chỉ ra một trong những động
cơ ảnh hưởng tới quyết định của tổ chức tài chính ngân hàng khi thực hiện các giao dịch M&A là tăng lên cơ hội tăng doanh thu, giảm chi phí Ngoài ra, trong nghiên cứu cũng phân tích rõ hơn động cơ mà các nhà tài chính ngân hàng khi thực hiện một thương vụ M&A là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp đạt được, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh thời kỳ hậu sáp nhập hoặc hợp nhất Tuy nhiên, điểm hạn chế của nghiên cứu mới chỉ đề cập tới doanh thu như một biến tài chính ảnh hưởng tới quyết định thực hiện M&A của tổ chức, trong khi đó quyết định M&A của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nhiều các biến tài chính khác như vốn chủ sở hữu, lợi nhuận, thị phần Nghiên cứu của Vaare E (1995) [90] đã đi sâu nghiên cứu sự khác biệt về văn hóa ảnh hưởng tới kết quả của các thương vụ mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Nghiên cứu bao gồm phân tích đánh giá sự tác động của yếu tố văn hóa lên các quyết định của doanh nghiệp thời kỳ hậu sáp nhập đặc biệt là các vấn đề liên quan tới chính sách nhân sự Thêm vào đó, trong nghiên cứu, tác giả cũng đánh giá sự tác động trên cơ sở chấm điểm theo bảng hỏi theo tỷ lệ phần trăm các ảnh hưởng tới kết quả thương vụ Tuy nhiên, các tiêu chí đánh giá sự tác động của các yếu
tố văn hóa tới kết quả của các thương vụ mua bán không phải là yếu tố duy nhất tạo nên kết quả của một thương vụ Nếu nghiên cứu chỉ tập trung vào vấn đề văn hóa để
Trang 30đưa ra kết luận cho kết quả của thương vụ M&A thì trên thực tế cũng như về mặt lý luận đều chưa đầy đủ
Cartwright S., Cooper và Jordan (1996) [46, tr 263 - 269] nghiên cứu hai cách tiếp cận các thương vụ M&A có yếu tố nước ngoài Trong đó, cách tiếp cận truyền thống là cách tiếp cận trên khía cạnh tổ chức hay doanh nghiệp, hoạt động M&A được nhấn mạnh tới sự phù hợp của chiến lược và mục đích kinh doanh của doanh nghiệp Cách tiếp cận về phía tổ chức tập trung vào mức độ phù hợp của tổ chức liên quan, trong đó các tổ chức khi tham gia vào thương vụ M&A có phù hợp về văn hóa, hệ thống, các quyết định quản lý và các mối quan hệ cộng đồng Việc tách biệt này có thể được hiểu thông qua việc đưa ra các quyết định về M&A và thực hiện các thương vụ M&A Trong khi cách tiếp cận truyền thống, thì hoạt động M&A được xem xét trong quá trình thực hiện M&A, trong khi đó cách tiếp cận về phía tổ chức, hoạt động M&A lại gắn trực tiếp với việc quản lý quá trình hợp nhất hai doanh nghiệp
Nghiên cứu của Hutchison và Mason (2001) [59] nghiên cứu các phương thức, hình thức, quy trình thực hiện một thương vụ mua bán và sáp nhập trong hệ thống ngân hàng Nghiên cứu phân tích hình thức M&A, đánh giá ưu nhược điểm và đưa ra nhận định về các phương thức, hình thức nào phù hợp với tổ chức là ngân hàng Trong
đó, nghiên cứu nhấn mạnh phương thức mua tài sản, mua cổ phiếu là khá phổ biến trong ngành ngân hàng Tuy nhiên, dù dưới bất kỳ hình thức nào, hoạt động sáp nhập
và hợp nhất trong ngành ngân hàng cũng cần cân nhắc tới các vấn đề như tài chính doanh nghiệp, quy định pháp lý và các vấn đề thuế điều chỉnh Hoạt động M&A cần đảm bảo ba mục tiêu quan trọng là thông tin tài chính rõ ràng, minh bạch, có sự tham gia tích cực từ tất cả các bên, doanh nghiệp mua và doanh nghiệp bán, và có sự đảm bảo về quyền lợi và trách nhiệm giữa tất cả các bên về quyền hạn, vốn, tài sản, trách nhiệm, báo cáo tình hình tài chính, các loại thuế phải nộp, hợp đồng và các cam kết trách nhiệm khác
John T Barkoulas và Christopher F Baum (2001) [65] nghiên cứu những cản trở, khó khăn trong quá trình thực hiện một thương vụ M&A tại các ngân hàng, lấy một ngân hàng điển hình tại Mỹ để phân tích, đánh giá Nghiên cứu rút ra kết luận rằng các tổ chức tham gia cần kiên trì vượt qua những thử thách ban đầu để hướng tới mục tiêu chung tốt hơn có thể đạt được sau sáp nhập, hợp nhất Một trong những thách thức của quá trình thực hiện thương vụ là việc thống nhất quan điểm, hành vi giữa các
Trang 31bên vì mỗi doanh nghiệp đều có văn hóa kinh doanh và cách thức kinh doanh riêng trước M&A Do vậy, để sáp nhập, hợp nhất thành một doanh nghiệp với mục tiêu phát triển kinh doanh thống nhất đòi hỏi sự nỗ lực và kiên trì của tất cả các bên tham gia và hài hòa lợi ích của các doanh nghiệp liên quan
Nghiên cứu của Josep L Bower (2002) [66] xem xét các vấn đề liên quan tới quản trị của các ngân hàng trong quá trình sáp nhập Trong đó, đề cập tới cách quản lý
và tính toán, liên quan tới tài sản của ngân hàng trong quá trình sáp nhập Có ba vấn đề
về quản trị liên quan tới hoạt động M&A đó là các mục tiêu kinh doanh mà lãnh đạo doanh nghiệp đi mua mong muốn đạt được từ thương vụ M&A, hai là thời gian hoàn thành thương vụ và ba là quá trình thực hiện thương vụ Hoạt động mua bán và sáp nhập là một quá trình kinh doanh, ở đó, nhà quản lý cần phải học làm thế nào để quản trị tốt nhất Điều nhà quản lý mong muốn đạt được là khả năng tiếp cận các giá trị nguồn lực, thỏa thuận thương vụ với giá hợp lý, hài hòa lợi ích các bên và gắn kết hai doanh nghiệp sau sáp nhập vì mục tiêu phát triển kinh doanh chung Tuy nhiên, điểm hạn chế của nghiên cứu là chỉ giới hạn ở khía cạnh quan điểm của doanh nghiệp đi mua trong việc quản trị các vấn đề liên quan tới quan điểm về phía hoạt động mua hoặc thâu tóm một doanh nghiệp mà không đề cập tới doanh nghiệp bán
David Logan Scott (2003) [48] chỉ rõ quá trình hợp nhất là sự kết hợp của hai hay nhiều công ty, trong đó có tài sản và trách nhiệm pháp lý của (những) công ty được công ty khác tiếp nhận Mặc dù hãng bị mua lại có thể làm một tổ chức khác đi rất nhiều sau quá trình bị mua lại, nhưng nó vẫn là thực thể ban đầu Còn, sáp nhập là quá trình sáp nhập tài sản như máy móc, một bộ phận hay thậm chí là toàn bộ công ty của các công ty tham gia vào thương vụ và hình thành nên một doanh nghiệp mới hay một pháp nhân mới Tác giả cho rằng M&A là một dạng của hoạt động đầu tư, vì vậy
để đầu tư hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp cả bên mua và bên bán cần hiểu rõ quy trình đầu tư ra sao để có thể nhận được kết quả đầu tư là tối ưu nhất
Ingo Walter (2004) [61, tr 70-108] nghiên cứu các công việc, hoạt động liên quan tới các thương vụ trong ngành tài chính Trong đó chỉ ra một số nguyên nhân chính dẫn tới thương vụ thành công hoặc thất bại Ngoài ra, trong nghiên cứu cũng xem xét các vấn đề liên quan tới các nguồn lực được phân bổ trong hoạt động sáp nhập, mua lại, chỉ ra một số lý do chính khi các tổ chức tài chính sử dụng công cụ M&A Một số lý do được đưa ra đó là khả năng thâm nhập vào thị trường mới, tạo ra
Trang 32dòng sản phẩm mới, tăng khả năng cung cấp sản phẩm, doanh nghiệp trở nên năng động hơn, nâng cao khả năng tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới doanh nghiệp, hạn chế rủi ro trong kinh doanh, mở rộng thị phần quốc tế, thâm nhập thị trường mới và giảm mức độ cạnh tranh từ các đối thủ trên thị trường
Nghiên cứu của Robert G Eccles và Thomas C Willson (2005) [78] đã đề cập tới vấn đề định giá doanh nghiệp trong đó có đề cập tới giá trị cộng hưởng mà doanh nghiệp đạt được từ hoạt động mua bán và sáp nhập Nghiên cứu này đã thống kê và chỉ
ra cơ sở tạo nên giá trị cộng hưởng của một thương vụ M&A, hay cách xác định giá trị cộng hưởng doanh nghiệp có được từ M&A
Jarrod Mc Donald, Max Coulthard và Paul de Lange (2005) [63] tập trung đi sâu vào vai trò và tầm quan trọng của việc định giá trong việc tạo nên sự thành công của thương vụ M&A Định giá đúng giá trị doanh nghiệp là một công việc cần thiết để xem xét các mục tiêu có thể đạt được từ M&A Trong đó, điều quan tâm đầu tiên là lập
kế hoạch cho hoạt động định giá, từ đó doanh nghiệp có thể xác định được đúng giá trị của doanh nghiệp tương ứng Nghiên cứu định nghĩa “định giá là một hoạt động tích cực, tại đó các bên tham gia vào thương vụ cần phải cố gắng tìm hiểu và hỗ trợ lẫn nhau, tránh sự hiểu lầm nhằm đảm bảo đi đến một mức giá sáp nhập hợp lý nhất” Tác giả đưa ra kết quả của công tác định giá, là cơ sở cho các đánh giá mục tiêu doanh nghiệp có đạt được hay không Kết quả liên quan tới các mục tiêu mà doanh nghiệp tập trung như dòng tiền, mức độ ổn định tài chính và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp giai đoạn hậu sáp nhập Có thể khẳng định, quá trình định giá là một trong những khâu cần thiết tạo nên sự thành công của một thương vụ mua bán và sáp nhập Hơn nữa, tính phức tạp của hoạt động này sẽ ngày càng tăng lên, đặc biệt khi nó liên quan tới yếu tố nước ngoài
Matt H Evans (2009) [69] thực hiện xem xét các vấn đề liên quan tài chính ảnh hưởng tới quyết định thực hiện mua bán và sáp nhập của doanh nghiệp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sử dụng công cụ mua bán và sáp nhập là một trong những cách quản
lý tài chính khá ưu việt của doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính và cần sự hỗ trợ từ bên ngoài Tuy nhiên, khi sử dụng công
cụ tài chính này, doanh nghiệp cũng cần phải lường trước những khó khăn, thách thức
và những rào cản khi thực hiện Và điều này hoàn toàn có thể giải quyết nếu các doanh nghiệp đều có nhưng hiểu biết cơ bản về M&A như M&A là gì, quy trình ra sao,
Trang 33phương thức thực hiện thế nào Nghiên cứu đưa ra năm giai đoạn chính của một thương vụ M&A gồm: Xem xét tổng thể khả năng thực hiện thương vụ M&A; Xác định và nghiên cứu các mục tiêu có thể đạt được từ thương vụ; Đánh giá các mục tiêu
đã đưa ra; Tiến hành đàm phán giữa các bên có liên quan, và Giải quyết các vấn đề sau khi sáp nhập hoặc hợp nhất
Nghiên cứu của Herrera Partners (2009) [58] xem xét lợi ích các bên đạt được từ thương vụ hợp nhất Thông thường sau khi hợp nhất, doanh nghiệp có cơ hội tăng doanh số, tăng thị phần và thu hút được nguồn nhân tài từ doanh nghiệp trước hợp nhất Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải chấp nhận hi sinh về thời gian và chi phí trước khi đạt được các mục tiêu trên Điểm tập trung, trọng tâm, trọng điểm, quyết định sự thành công của thương vụ M&A là việc lựa chọn được doanh nghiệp hướng tới giá trị mục tiêu trong kinh doanh tương tự nhau, đảm bảo mức độ hài hòa về mục tiêu, chiến lược kinh doanh của cả hai bên Nghiên cứu này đồng thời khẳng định một liên minh giữa hai doanh nghiệp với nhau có thể là một sự lựa chọn tốt cho quá trình tăng trưởng của doanh nghiệp khi mà việc sáp nhập cổ phần của các doanh nghiệp không khả thi Thêm vào đó, liên minh cũng cần được tiến hành trên cơ sở đảm bảo mối quan hệ đối tác thành công, chia sẻ các giá trị và triết lý trong kinh doanh với mục tiêu hướng tới sự tăng trưởng cao hơn so với trước khi hình thành các liên minh, hợp nhất
Jefferson Wells (2009) [64, tr 57-82] “Mergers & Acquistions: Turning your vision into reality” thực hiện phân tích sâu về thực tế các thương vụ M&A trên thế giới Trên thực tế, có khoảng 2/3 số thương vụ mua bán và sáp nhập bị thất bại hay không đạt được kết quả như mong đợi Một số lý do chính gây nên sự thất bại của các thương vụ M&A đó là các bên thiếu kinh nghiệm giao dịch, không thỏa thuận được các vấn đề liên quan tới nguồn lực nội bộ thời điểm giao kết hợp đồng, định giá giá trị doanh nghiệp thiếu chính xác, không có kế hoạch đánh giá quá trình thực hiện thương
vụ, không quan tâm tới vấn đề liên quan tới nhân sự của doanh nghiệp bị sáp nhập Do vậy, bước quan trọng đầu tiên nhằm hướng tới một thương vụ M&A thành công là cả hai bên bán và mua cần phải xác định rõ mục tiêu chung cần đạt được và tìm ra tiếng nói chung để đạt được những mục tiêu đó
Nghiên cứu của Michael.E.S Frankel (2010) [70] đã hệ thống hóa rõ thuật ngữ M&A (Mergers and Acquisitions), đây là thuật ngữ được dùng để chỉ sự Sáp nhập và
Trang 34Thâu tóm của các doanh nghiệp Trong đó, Sáp nhập là hình thức kết hợp của hai hay nhiều doanh nghiệp, thường có cùng quy mô, thống nhất với nhau, hình thành một doanh nghiệp mới, thâu tóm/thôn tính/hợp nhất là hình thức kết hợp của hai hay nhiều doanh nghiệp nhưng không hình thành một pháp nhân mới Tuy nhiên về bản chất, sáp nhập, hợp nhất hay mua lại chính là cơ sở để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua cắt giảm bộ máy hành chính, mở rộng cơ sở vật chất và nâng cao thị phần Xét về bản chất thì nội dung cốt lõi, không thay đổi của hoạt động M&A chính
là chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp với mục đích tập trung tư bản, mở rộng quy mô doanh nghiệp, trên cơ sở thực hiện những mục tiêu chiến lược, sách lược của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cũng đưa ra các bước cần thiết để thực hiện trong quá trình mua bán và sáp nhập doanh nghiệp Nghiên cứu không đề cập cụ thể một loại hình doanh nghiệp mà chỉ nghiên cứu hoạt động mua bán và sáp nhập chung cho tất cả các doanh nghiệp và nhà đầu tư quan tâm tới M&A
Roger Neeland (2012) [80, tr 123-168] mô tả các hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nghiên cứu đi sâu phân tích quá trình mua bán và sáp nhập trên cả quan điểm của người mua và người bán theo kinh nghiệm của các bên tham gia Nghiên cứu tổng kết bốn công đoạn cần lưu ý trong quá trình tiếp cận một thương vụ M&A là lập kế hoạch M&A, xác định mục tiêu của M&A, tiếp cận thực hiện mục tiêu đó và tiến hành đàm phán thương vụ giữa các bên Khi tham gia thương vụ M&A, doanh nghiệp cần cân nhắc việc tiến hành thương vụ thì cả doanh nghiệp mua và doanh nghiệp bán cần phải lập thành một nhóm, thực hiện công việc hướng tới mục đích chung và giúp cho thương vụ dễ dàng giao dịch, dẫn tới thành công một cách dễ dàng hơn Thêm vào đó việc phát triển các chiến lược phục vụ cho quá trình M&A cũng đòi hỏi sự thống nhất ý kiến giữa cả nhóm thành viên, những người có sự hiểu biết rõ nhất về thương vụ và hài hòa mục tiêu của cả bên mua và bên bán Điểm quan trọng nhất tạo nên sự thành công hay thất bại của một thương vụ M&A đó chính là việc quan điểm về chiến lược và lợi ích đạt được của người mua và người bán có nhằm hướng tới một mục tiêu chiến lược chung hay không
Những nghiên cứu trên đa phần xoay quanh các khía cạnh khác nhau của hoạt động mua bán và sáp nhập tại các ngân hàng và một số tổ chức tài chính Và đây là nhưng kinh nghiệm quý báu thực hiện các thương vụ trên thế giới và luận án này sẽ kế thừa về mặt lý luận và thực tiễn Đặc biệt, luận án kế thừa và phát triển mô hình của
Trang 35Neter, J và Wasserman, Stevens, K.L.,và Simkowwitz, và R.J Monroe để xây dựng một mô hình mới trên cơ sở kết hợp các mô hình đã nghiên cứu để đánh giá sự tác động của các kết quả hoạt động kinh doanh tới sự phát triển của các thương vụ M&A trong các tổ chức tài chính ngân hàng Việt Nam thời gian qua
Những nghiên cứu về hoạt động mua bán và sáp nhập trong ngành ngân hàng nói riêng và các tổ chức tài chính ngân hàng nói chung cả ở tầm vi mô và vĩ mô trên thế giới cũng như ở Việt Nam là nguồn tư liệu quan trọng trong quá trình thực hiện luận án của tác giả Những tư liệu quan trọng này là nguồn hỗ trợ tác giả thực hiện nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận về hoạt động mua bán và sáp nhập, đánh giá
sự ảnh hưởng tích cực của hoạt động mua bán và sáp nhập tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tài chính Để từ đó thấy rằng, phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam là một giải pháp tốt và cần thiết
Từ đó, tác giả luận án đưa ra một số đề xuất, khuyến nghị nhằm phát triển hoạt động này vì sự phát triển bền vững và ổn định của nền tài chính Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển
1.3 Phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Tiếp cận vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu chủ yếu sử dụng cách tiếp cận hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam dưới góc độ nghiên cứu tổng thể hoạt động mua bán và sáp nhập của các doanh nghiệp tài chính ngân hàng trong nền kinh
tế, trong đó M&A đóng vai trò là giải pháp tài chính quan trọng góp phần nâng cao và cải thiện tình hình kinh doanh của doanh nghiệp tài chính Qua tình hình kinh doanh của doanh nghiệp sau hoạt động mua bán và sáp nhập, luận án chứng minh có có mối liên hệ mật thiết giữa hoạt động mua bán và sáp nhập với tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, để thấy rằng phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập là cần thiết để phát triển nền tài chính Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp tài chính ngân hàng Việt Nam nói riêng
1.3.2 Hệ thống dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp: Nguồn số liệu tác giả sử dụng trong luận án chủ yếu được lấy
từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (số 49 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm – Hà Nội) Bên cạnh đó, tác giả còn tiếp cận nguồn số liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính,
Trang 36báo cáo kết quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm được thu thập trong giai đoạn từ 2007 đến 2013 Ngoài ra, tác giả còn sử dụng nguồn số liệu từ website của các tổ chức tài chính
có uy tín trên thị trường để đảm bảo mức độ tin cậy của số liệu như VACO, Price Water Coopers (PWC), KPMG, A&C
Dữ liệu sơ cấp: Đề tài thực hiện khảo sát, điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn
lấy ý kiến các cán bộ đang công tác trong lĩnh vực dịch vụ tài chính Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn từ 01/06/2012 đến 31/12/2013
1.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
Theo nhà nghiên cứu Hair và Bollen (1989) [56], khi sử dụng phương pháp ước lượng thì kích thước mẫu tối thiểu cho một nghiên cứu khảo sát phiếu hỏi sẽ được thực hiện với tối thiểu là từ 100 đến 150 quan sát [Hair và Bollen 1989] Thêm vào đó, phương pháp ước lượng trên cơ sở đánh giá kết quả định lượng,
số quan sát thực hiện để đảm bảo mức độ tin cậy của số liệu thống kê với thời gian từ 5 năm trở lên và số quan sát tối thiểu 100 Do vậy, tác giả luận án đã thực hiện phát ra 1000 phiếu điều tra, tổng số phiếu thu về là 916 phiếu chiếm
tỷ lệ 91,60% Sau khi nhập dữ liệu và làm sạch số liệu không phù hợp thì phiếu khảo sát hợp lệ được sử dụng để xử lý số liệu là 833 phiếu, chiếm tỷ lệ 90,94
%, thỏa mãn yêu cầu để đảm bảo mức độ tin cậy của số liệu điều tra với tỷ lệ
thống kê trên 90% (α ≤ 10%)
Tác giả đã thực hiện điều tra, khảo sát lấy ý kiến của các cán bộ đang làm việc trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ tài chính tại 34 ngân hàng và các chi nhánh, 16 công ty chứng khoán, 7 công ty bảo hiểm, 10 công ty tài chính và 23 các tổ
chức liên quan tới lĩnh vực tài chính
1.3.4 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Số liệu thứ cấp được phân loại và hệ thống hóa theo năm tài chính trên cơ sở báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các tổ chức và số liệu về giá trị và số lượng các thương vụ mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
Số liệu sơ cấp được tổng hợp và xử lý thông qua phần mềm SPSS phiên bản 11.5.0 và phần mềm EVIEW phiên bản 6 sau khi xem xét, loại bỏ các số liệu không
Trang 37phù hợp Luận án sử dụng kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính trong việc đánh giá dữ liệu sơ cấp và thứ cấp
Phương pháp thống kê mô tả: trên cơ sở thống kê các dữ liệu và số liệu thu thập được, tác giả thực hiện việc mô tả và diễn giải các số liệu trên cơ sở mô tả và chỉ ra những đặc tính cơ bản nhất của nguồn dữ liệu thu thập
Phương pháp tổng hợp, phân tích kinh tế: Trên cơ sở tổng hợp, phân tích một
số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để rút ra những vấn đề lý luận cụ thể về hoạt động mua bán và sáp nhập
Phương pháp nghiên cứu so sánh và phương pháp logic: nhằm phân tích, đánh giá, xem xét có sự tác động tích cực của hoạt động mua bán và sáp nhập lên kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính ngân hàng giai đoạn trước và sau khi thực hiện thương vụ mua bán và sáp nhập
Phương pháp phân tích theo cấu trúc logic của các tài liệu thu thập được: dựa trên các tài liệu thu thập được, tác giả tiến hành phân tích các số liệu, đặc biệt là các số liệu thực tế về các thương vụ mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
để từ đó rút ra xu hướng, triển vọng phát triển của hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng thời gian tới
Phương pháp điều tra, thống kê, mô hình hóa: kiểm định đánh giá mối quan hệ giữa tình hình kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp và khả năng, xác suất doanh nghiệp sẽ thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập
Trong phương pháp mô hình hóa, tác giả sử dụng mô hình hồi quy Probit [14, tr 404], [72, tr 168] để xem xét, đánh giá mối quan hệ giữa tình hình kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp tài chính và khả năng, xác suất doanh nghiệp sẽ thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập Mô hình được sử dụng đánh giá gồm 7 các biến tài chính chính
là vốn chủ sở hữu (VONSH), doanh thu (DTHU), tổng tài sản (TS), lợi nhuận trước thuế (LNT), ROE, nợ xấu (NOXAU), dư nợ (DUNO), mô hình có dạng:
F(Ii = βo + β1VONSH + β2DTHU + β3TS + β4LNT + β5ROE + β6NOXAU +
β7DUNO)
)π2(
1 _t /2
7DUNO β 6NOXAU β 5ROE β 4LNT β 3TS β 2DT β 1VONSH
β
o
_
2 / 1
2
+ +
+ + + + +
(1.1)
Trang 38= F(Ii) = 1 / 2 _( o β1VONSH β2DT β3TS β4LNT β5ROE β6NOXAU β7DUNO) /2
2e
) π
để biến phụ thuộc nhận giá trị bằng 1 hoặc bằng 0 khi các biến định lượng độc lập thay đổi Đồng thời, mô hình nghiên cứu những ảnh hưởng của biến độc lập là một số biến tài chính như doanh thu, vốn chủ sở hữu, lợi nhuận, nợ xấu đến xác suất để biến phụ thuộc là hoạt động mua bán và sáp nhập nhận giá trị là 1 hoặc 0 hay doanh nghiệp có/không thực hiện hoạt động mua bán và sáp nhập [14]
Phương pháp kiểm định thống kê toán : Phân tích phương sai – ANOVA, kiểm định T-Test, kiểm định F là phương pháp để đánh giá sự tác động của các biến độc lập tới biến phụ thuộc Biến phụ thuộc trong mô hình là hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam theo mô hình hồi quy tuyến tính và biến độc lập là các biến liên quan tới tình hình kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp
Trang 39CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP TRONG
LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG 2.1 Tổng quan về lĩnh vực tài chính ngân hàng
2.1.1 Lĩnh vực tài chính ngân hàng
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm đạt mục tiêu của chủ thể ở những điều kiện nhất định Khi xã hội có sự phân công lao động sẽ dẫn tới sự chiếm hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động, nền sản xuất hàng hóa ra đời và từ đó tiền tệ xuất hiện Các quỹ tiền tệ được tạo lập và được sử dụng bởi các tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội hay cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng và đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Các quan hệ kinh tế đó làm nảy sinh phạm trù tài chính
Cùng với quá trình phát triển của xã hội, khi Nhà nước ra đời đã thúc đẩy sự phát triển của hoạt động tài chính đặc biệt là hoạt động tài chính của các tổ chức trung gian hay còn gọi là tổ chức tài chính ngân hàng
Lĩnh vực tài chính ngân hàng được coi là hệ tuần hoàn vốn của nền kinh tế Tài chính ngân hàng là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế, với những hoạt động chủ yếu là tiền tệ, tín dụng, thanh toán, huy động vốn Mặc dù, lĩnh vực tài chính ngân hàng không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, song với đặc điểm hoạt động đặc thù là chu chuyển dòng tài chính, do đó lĩnh vực này đóng vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc gia và khu vực
2.1.2 Một số tổ chức tài chính trung gian
2.1.2.1 Ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại nói riêng và hệ thống tài chính ngân hàng nói chung đang ngày càng chiếm một vị trí quan trọng và vô cùng nhạy cảm trong nền kinh tế, liên quan tới hoạt động của đời sống kinh tế xã hội
Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc Hội thông qua ngày 16/06/2010 có hiệu lực thực thi từ 01/01/2011 thì
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại
Trang 40hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã ” (mục 2 Điều 4) và “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản“ (mục 12 Điều 4) [102]
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về NHTM, tuy nhiên có thể nhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất là nhận tiền ký thác để sử dụng vào các nghiệp
vụ cho vay, chiết khấu và các nghiệp vụ kinh doanh khác
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng, với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Tuy nhiên, do nhu cầu tất yếu của nền kinh tế thị trường, các ngân hàng không ngừng tăng cường mở rộng các danh mục các sản phẩm ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, sử dụng nguồn vốn có hiệu quả và thu lợi nhuận cao Về cơ bản có thể xắp xếp các hoạt động đó vào một trong ba nhóm:
- Hoạt động huy động tiền gửi
- Hoạt động tín dụng
- Hoạt động cung cấp các dịch vụ
* Huy động tiền gửi:
Ngân hàng tập trung huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế quốc dân, bên cạnh đó, khi cần vốn cho nhu cầu thanh khoản hay đầu tư cho vay, các Ngân hàng thương mại có thể đi vay từ các tổ chức tín dụng khác, từ các công ty khác, các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính Trong quá trình thu hút nguồn vốn Ngân hàng phải
bỏ ra những chi phí giao dịch, chi phí trả lãi tiền gửi, trả lãi Ngân hàng vay và các khoản chi phí khác có liên quan Những khoản chi này đòi hỏi Ngân hàng phải sử dụng vốn huy động được hiệu quả để có thể bù đắp các khoản chi phí và đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng
* Hoạt động tín dụng
- Cho vay
+ Cho vay thương mại: Ngay thời kỳ đầu, các ngân hàng đã thực hiện chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước) Sau đó bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng (là người mua), giúp