1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOẠT ĐỘNG MUA BÁN SÁP NHẬP TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH- NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

11 187 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 228,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 HOẠT ðỘNG MUA BÁN SÁP NHẬP TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH- NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM Lương Minh Hà Học viện Ngân hàng ðược ñánh giá là khu vực năng ñộng và ñầy triển vọng trong thời kỳ chuyể

Trang 1

1

HOẠT ðỘNG MUA BÁN SÁP NHẬP TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH-

NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

Lương Minh Hà Học viện Ngân hàng

ðược ñánh giá là khu vực năng ñộng và ñầy triển vọng trong thời kỳ chuyển ñổi sang nền

kinh tế thị trường, khu vực tài chính- ngân hàng ñang trở thành một trong những mối quan tâm hàng ñầu của các nhà ñầu tư chiến lược theo phương thức sáp nhập và hợp nhất (M&A) Trên cơ sở phân tích những nhân tố tác ñộng tới hoạt ñộng M&A trong lĩnh vực tài chính ngân hàng thời gian gần ñây, bài viết sẽ tập trung phân tích hoạt ñộng M&A nổi bật nhất trong lĩnh vực tài chính ngân hàng năm 2009 ñối với 3 loại hình, ñó là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ngân hàng, các công ty chứng khoán và các công ty bảo hiểm Cuối cùng là một số quan ñiểm dự báo về triển vọng M&A khu vực này năm 2010

1 NHÂN TỐ TÁC ðỘNG TỚI M&A TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THỜI GIAN GẦN

ðÂY

Có nhiều yếu tố chi phối hoạt ñộng M&A trong lĩnh vực tài chính ngân hàng và còn tùy thuộc vào từng thời ñiểm khác nhau với ñặc thù riêng của mỗi quốc gia, ngành nghề[3] Ở Việt Nam vài năm trở lại ñây, do ảnh hưởng bởi sức ép ngày càng lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài cũng như các quy ñịnh về mặt pháp lý, không ít doanh nghiệp ñã tìm ñến M&A như một phương thức hữu hiệu ñể bảo vệ chính mình Trong ñiều kiện như vậy, M&A của các chủ thể kinh doanh dịch vụ tài chính ngân hàng bị chi phối bởi nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp

1.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Sự tham gia của các công ty nước ngoài là nhân tố quan trọng gây sức ép cạnh tranh ngày

càng lớn trong ngành Bằng các cam kết song phương và ña phương, nước ta bước vào hội nhập kinh tế bằng việc ñón nhận sự tham gia của các ñối tác nước ngoài vào thị trường nội

ñịa Nhiều năm trở lại ñây, xu thế ñó ngày càng phát triển và ñem lại không ít thuận lợi cũng

như khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam

Trong lĩnh vực ngân hàng, mốc 01/4/2007 có ý nghĩa rất quan trọng, ñây là thời ñiểm mà từ

ñó về sau các ngân hàng nước ngoài ñược chính thức thành lập chi nhánh 100% vốn nước

ngoài tại Việt Nam Mặc dù còn những hạn chế về việc huy ñộng vốn bằng VND từ các thể nhân trong nước và những quy ñịnh về thành lập chi nhánh con trực thuộc, song hoạt ñộng của những chi nhánh này tại Việt Nam rất khả quan

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), hiện nay khối các tổ chức tín dụng (TCTD) ở nước ta có khoảng 45 chi nhánh của 33 ngân hàng nước ngoài, 05 ngân hàng liên doanh với 20 chi nhánh phụ thuộc, 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 08 TCTD có vốn

ñầu tư nước ngoài và 56 văn phòng ñại diện [17] Nếu tính ñến số lượng và thị phần thì các

TCTD này chiếm tỷ lệ không lớn, chỉ xấp xỉ 20% [20] Nhưng xét cả một quá trình của hơn 3

Trang 2

2

năm hoạt ñộng và trong một tương lai dài hạn thì những kết quả này cho thấy ñây thực sự sẽ

là cản trở không hề nhỏ ñối với khối ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước

Với những hậu thuẫn vững chắc từ những ñịnh chế tài chính lớn, với kinh nghiệm và công nghệ hiện ñại, việc cạnh tranh ñể giành thị phần dựa vào những lợi thế trên dường như nghiêng hẳn về phía ngoại Trong khi các ngân hàng nội lại vượt trội về mức ñộ quen thuộc với thị trường, thị phần lớn sẵn có

Thị trường tài chính của Việt Nam còn rất non trẻ, ngoài Ngân hàng Chính sách và 4 NHTM Nhà nước, thì phần lớn các NHTMCP còn lại ñều có quy mô trung bình và nhỏ ðặc ñiểm của các ngân hàng này là tập trung kinh doanh dịch vụ ngân hàng bán lẻ, chủ yếu ở các nội ñô lớn

và mạng lưới còn rất mỏng Những yếu ñiểm như vậy khiến cho các ngân hàng này không khỏi lo lắng tìm kiếm ñối tác là các ñịnh chế tài chính lớn ñể tồn tại

Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, hoạt ñộng của khối nước ngoài thậm chí còn mạnh mẽ hơn, có thể nói là chiếm thị phần lấn át so với các doanh nghiệp trong nước [9] Hiện nay, thị trường của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo hiểm có 49 doanh nghiệp cùng hoạt ñộng (27 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 11 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ,

1 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm), trong ñó có 21 doanh nghiệp nước ngoài với không ít những tên tuổi lớn như Prudential, AIA, Manulife, Daiichi Life…

Theo nhiều nghiên cứu, thị trường bảo hiểm Việt Nam mà ñặc biệt là bảo hiểm nhân thọ ñang còn rất tiềm năng, có thể nói là hàng ñầu ở Châu Á Sức hấp dẫn ñó khiến các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng muốn tham gia và tham gia là ñiều tất yếu Trong khi ñó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này có quy mô nhỏ, hoạt ñộng kém hiệu quả hay cho ñến nay vẫn chưa ñáp ứng ñủ mức vốn pháp ñịnh theo yêu cầu [8]

Trên một phân khúc thị trường tài chính khác, nhiều công ty chứng khoán (CTCK) cũng ñang

ñứng trước lựa chọn hoặc là tìm ñối tác hợp nhất, sáp nhập hoặc là giải thể Khác với các

ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm, cho tới nay vẫn chưa có công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Từ năm 1995, Chính phủ cho phép thành lập CTCK liên doanh nước ngoài với tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần của ñối tác nước ngoài tại các doanh nghiệp này tối

ña là 49% [27] Theo một nghiên cứu mới ñây[4], từ khi ñược cấp phép góp vốn tại thị trường

chứng khoán Việt Nam, ñã có 12 thương vụ mua bán cổ phần của các CTCK diễn ra, trong ñó

11 thương vụ có bên ñi mua là các công ty nước ngoài và hầu hết trong số ñó nắm giữ tỷ lệ tối

ña ñược phép là 49% Tuy nhiên, sự cải thiện cơ cấu tài chính cũng như hiệu quả hoạt ñộng

một cách ñáng kể[2] của các CTCK có liên doanh với ñối tác nước ngoài cho thấy sức ép lớn lên vai các CTCK quy mô nhỏ và 100% vốn trong nước

Thị trường tài chính Việt Nam ngày càng có sự tham gia của nhiều gương mặt lớn ñến từ các cường quốc trên thế giới Trong lĩnh vực ngân hàng [23] có thể kể ñến như HSBC, Standard Chartered, ANZ Thị trường bảo hiểm Việt Nam hơn một thập kỷ qua cũng bị chia sẻ một tỷ

lệ thị phần không nhỏ[10], [11] cho các doanh nghiệp lớn ñến từ Anh, Mỹ, Nhật Bản như Prudential, AIA, Daiichi Mutual Life Với những lợi thế vượt trội về thâm niên hoạt ñộng, kinh nghiệm quản lý, uy tín, khả năng cạnh tranh của những doanh nghiệp này là không thể chối cãi Trong khi, nếu xét trên những phương diện ñó, các doanh nghiệp trong nước, kể cả doanh nghiệp Nhà nước vẫn yếu thế hơn, nhất là về quy mô vốn, kế ñến là kinh nghiệm hoạt

ñộng trên trường quốc tế, ñầu tư khoa học công nghệ

Mặc dù Chính phủ Việt Nam vẫn ñang duy trì những quy ñịnh nhằm bảo vệ các doanh nghiệp trong nước trước sức ép ñến từ bên ngoài như việc hạn chế tỷ lệ góp vốn tại các CTCK, các

Trang 3

3

NHTM[14], quy ñịnh về thành lập công ty con, công ty 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Song, những cam kết quốc tế song phương cũng như ña phương mà ñặc biệt là cam kết trong

lộ trình gia nhập WTO ñã và ñang nhanh chóng ñược thực hiện Những rào cản thương mại ngăn cách thị trường trong và ngoài nước ñang dần ñược xóa nhòa Về lâu về dài, ñiều ñó

ñồng nghĩa với câu chuyện của những con cá lớn và những con cá bé trong môi trường bình ñẳng mà những con cá bé không còn ñược bảo hộ nhiều như trước nữa Khách quan mà nói,

trên một số thị trường nhất ñịnh, khối doanh nghiệp ngoại có sức ảnh hưởng khác nhau Chẳng hạn, ñối với thị trường tiền tệ nơi mà các ngân hàng là các ñối tượng kinh doanh chủ yếu, các ngân hàng ngoại chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn song hoạt ñộng của họ ñang dần hiệu quả Bằng chứng là năm 2009, khối này vẫn kinh doanh có lãi với lợi nhuận xấp xỉ 18% mặc dù mới gia nhập thị trường, trong khi ñó không ít ngân hàng trong nước ñiêu ñứng do tác ñộng khủng hoảng tài chính[17],[18],[20]

Trên thị trường bảo hiểm, nhiều doanh nghiệp ngoại quốc có thị phần áp ñảo dù mới tham gia hơn 10 năm Thêm vào ñó, một ñiều ñáng ñược lưu tâm khi xem xét cạnh tranh trong khối các doanh nghiệp bảo hiểm ñó là tình trạng cạnh tranh không lành mạnh ñã và ñang diễn ra mà cho tới nay các cơ quan giám sát vẫn chưa có biện pháp cải thiện hiệu quả[9] Tình trạng này gây không ít hậu quả cho cả người dùng dịch vụ lẫn các doanh nghiệp bảo hiểm So với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ngân hàng và môi giới chứng khoán, thì ñây là một ñặc

ñiểm nổi bật của thị trường bảo hiểm Việt Nam khiến cho nhu cầu tăng năng lực cạnh tranh

mà trước hết là tăng năng lực tài chính trở nên thực sự bức thiết

Trên thị trường chứng khoán, hiện chưa có CTCK 100% vốn nước ngoài do qui ñịnh không cho phép, song những doanh nghiệp có công ty nước ngoài góp vốn ñã ñược cải thiện ñáng kể

về phương diện tài chính và qua ñó là kết quả kinh doanh[2] Trong vòng vài ba năm trở lại

ñây, ñã có hơn 10 thương vụ mua lại cổ phần của các CTCK[4] giúp cho các doanh nghiệp

này nhỉnh hơn hẳn những doanh nghiệp quy mô nhỏ ñang “thoi thóp” khác Và dù hiện nay có hơn 100 CTCK nhưng thị phần chủ yếu vẫn thuộc về các `ñại gia' như TSC, SSI, FPT, ACBS[24]…

Từ sức ép ñó, quá trình phát triển tự nhiên sẽ ñào thải những cá thể ốm yếu, không khỏe mạnh Có thể gọi ñây là quá trình thanh lọc ñể cho ra ñời một môi trường cạnh tranh mạnh mẽ hơn của những ñối thủ xứng ñáng thật sự ñể từ ñó lành mạnh hóa thị trường và ñem lại lợi ích tối ña cho người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ Kết cục của những “con cá bé” trong cuộc chiến này không gì khác ngoài việc phải “vịn” vào “con cá lớn” khác hoặc bị những con cá này “nuốt chửng” Khi ñó, sáp nhập, mua bán là tất yếu

Sức ép tăng vốn ñiều lệ ñược coi là một trong những nhân tố quan trọng nhất thời ñiểm

này thúc ñẩy việc mua bán cổ phần giữa các doanh nghiệp với nhau Nhằm thanh lọc thị trường và tăng hiệu quả hoạt ñộng, Chính phủ ñã lần lượt ban hành các văn bản pháp quy bắt buộc các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, các CTCK phải ñảm bảo mức vốn pháp ñịnh thì mới ñược tiếp tục hoạt ñộng trên thị trường

Các ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, các công ty bảo hiểm sẽ không quá nóng vội ñể thực hiện bán hay mua cổ phần với ñối tác chiến lược khi việc mua bán ñó không thực sự cấp thiết, không quyết ñịnh sự tồn vong của chính doanh nghiệp mình Năm 2011 sẽ là mốc quan trọng

ñối với những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ngân hàng ñể tăng vốn ñiều lệ ñủ ñiều kiện

hoạt ñộng Theo Nghị ñịnh 141/2006/Nð-CP về danh mục vốn pháp ñịnh của TCTD ñược cấp phép, ñến 31/12/2010 các TCTD ñược cấp phép thành lập và hoạt ñộng phải có tổng vốn

ñiều lệ thực góp hoặc ñược cấp tương ñương mức vốn pháp ñịnh ðối với các NHTM cổ

Trang 4

4

phần, mức vốn pháp ñịnh là 3.000 tỷ VND (tương tự với quỹ tín dụng nhân dân TW, ngân hàng ñầu tư, ngân hàng hợp tác) Con số này ñối với ngân hàng chính sách, ngân hàng pháp triển là 5.000 tỷ VND

Hiện nay, ở Việt Nam có khoảng 37 NHTMCP nội ñịa, trong ñó hơn 20 ngân hàng chưa ñạt mức vốn yêu cầu[22] Trong thời gian tới, hầu hết các ngân hàng với mức vốn pháp ñịnh trên

và dưới 3.000 tỷ ñều ñang ráo riết tăng vốn Ngân hàng chưa ñủ 3.000 tỷ thì cố tăng cho ñủ

ñiều kiện, những ngân hàng ñã ñạt trên ngưỡng 3.000 tỷ cũng muốn tăng cường năng lực cạnh

tranh, mở rộng ảnh hưởng ðây là một trong những nhân tố chủ yếu khiến cho cuộc ñua tăng vốn cổ phần trở nên “nóng” hơn bao giờ hết, nhất là ñối với những ngân hàng mà mức vốn pháp ñịnh còn cách xa ngưỡng 3.000 tỷ Thống ñốc NHNN ñã khẳng ñịnh sẽ xử lý chặt chẽ

ñối với những ngân hàng không theo kịp lộ trình tăng vốn và cũng cho biết, NHNN ñã chuẩn

bị sẵn các phương án có thể áp dụng ñối với những ñối tượng này, kể cả phương án buộc sáp nhập[13],[21]

Ngân hàng chưa ñủ 3.000 tỷ thì cố tăng cho ñủ ñiều kiện, những ngân hàng ñã ñạt trên ngưỡng 3.000 tỷ cũng muốn tăng cường năng lực cạnh tranh, mở rộng ảnh hưởng ðây là một trong những nhân tố chủ yếu khiến cho cuộc ñua tăng vốn cổ phần trở nên “nóng” hơn bao giờ hết, nhất là ñối với những ngân hàng mà mức vốn pháp ñịnh còn cách xa ngưỡng 3.000 tỷ Thống ñốc NHNN ñã khẳng ñịnh sẽ xử lý chặt chẽ ñối với những ngân hàng không theo kịp

lộ trình tăng vốn và cũng cho biết, NHNN ñã chuẩn bị sẵn các phương án có thể áp dụng ñối với những ñối tượng này…

Về phần các công ty bảo hiểm, mức vốn tối thiểu cho các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ lần lượt là 600 tỷ và 300 tỷ ñồng Hạn cuối ñể hoàn tất lộ trình tăng vốn ñược Bộ Tài chính quy ñịnh là sau 3 năm kể từ khi Nghị ñịnh có hiệu lực[12] Quy ñịnh này xuất phát từ thực tế hoạt ñộng kém hiệu quả của không ít doanh nghiệp bảo hiểm, nhất là bảo hiểm phi nhân thọ cũng như tình trạng tài chính yếu kém của hầu hết doanh nghiệp hiện hành Theo thống kê, tính tới thời ñiểm hiện tại có 5 doanh nghiệp có vốn pháp ñịnh dưới 300 tỷ VND và

cả 5 doanh nghiệp này ñều cam kết tăng vốn theo yêu cầu trong năm 20101

Trên thị trường vốn dài hạn, các CTCK có phần nhẹ nhàng hơn với quy ñịnh tăng vốn ñiều lệ Tức là việc tăng vốn ñiều lệ không thực sự liên quan ñến vấn ñề tồn vong của doanh nghiệp

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước gia hạn cho các CTCK phải ñảm bảo mức 300 tỷ cuối năm

nay thì mới ñược kinh doanh ñầy ñủ các dịch vụ Không ít CTCK ñã ráo riết tìm ñối tác chiến lược ñể vừa tăng năng lực cạnh tranh vừa ñáp ứng quy ñịnh Nhà nước Tuy nhiên, những doanh nghiệp chưa ñạt mức 300 tỷ VND vẫn có thể tiếp tục hoạt ñộng song phải rút bớt nghiệp vụ kinh doanh Hiện nay, có khoảng 70% trong tổng số hơn 100 CTCK tại Việt Nam [2] có vốn ñiều lệ dưới 300 tỷ ñồng- nhu cầu M&A của các CTCK có thể nói là rất cao

Thêm vào ñó, hành lang pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ tới thị trường M&A Nhìn

chung, tại Việt Nam chưa có một bộ Luật quy ñịnh về M&A doanh nghiệp song cũng ñã có những quy ñịnh cơ bản bằng những ñiều khoản trong Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Cạnh tranh 2004, Luật ðầu tư 2005, Luật ðầu tư chứng khoán 2006[16]… cùng với một số văn bản dưới luật khác Mặc dù hoạt ñộng mua bán doanh nghiệp, nhượng bán cổ phần thực chất là

1

Ông Trịnh Thanh Hoan, Cục trưởng Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm - Bộ Tài chính, VnEconomy.vn

Trang 5

5

việc người mua và người bán tự tìm đến với nhau và thực hiện thương vụ, nĩ gần như mang tính tự nhiên khơng thể quy định bởi luật vì khĩ cĩ điều luật nào quy định xu hướng tăng giảm của cung cầu hàng hĩa trên thị trường Song, cần cĩ những quy định cụ thể hướng dẫn thi hành, kết thúc và các vấn đề pháp lý hậu M&A cũng như ngăn chặn tình trạng cạnh tranh khơng lành mạnh hay độc quyền lũng đoạn thị trường Về mặt này, pháp luật Việt Nam vẫn chưa thực sự đi sâu đi sát với diễn biến thị trường và gây khơng ít khĩ khăn, bỡ ngỡ khi doanh nghiệp tiến hành các thủ tục M&A cần thiết

Thời gian gần đây, cùng với sự gia tăng thương vụ M&A, đã cĩ nhiều văn bản của các cơ quan quản lý hướng dẫn cụ thể hơn cho các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch của mình NHNN đã ban hành Thơng tư 04/2010/TT-NHNN quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD[15]

Thị trường chứng khốn và thị trường bảo hiểm cĩ phần chậm chân hơn so với các NHTM Thơng tư, Nghị định hướng dẫn hoạt động mua bán cổ phần, mua bán doanh nghiệp đang trong quá trình được hồn thiện Hiện nay, chưa cĩ quy định cụ thể cả đối với doanh nghiệp trong nước lẫn doanh nghiệp nước ngồi Tuy nhiên, việc tái cấu trúc doanh nghiệp và thị trường bằng mua bán, sáp nhập đang được các cơ quan quản lý khuyến khích ðây đã là một thuận lợi khơng nhỏ để các bên tiến hành hợp tác Song, sẽ là cản trở lớn nếu Nhà nước khơng mau chĩng hồn thiện những văn bản pháp quy cần thiết quy định, hướng dẫn thủ tục này

Tác động của khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới

Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đã qua đi song những hệ lụy mà nĩ để lại khơng hề nhỏ[28] Các nền kinh tế cả lớn lẫn nhỏ đều đang dốc sức cải thiện tình hình tài chính sau cơn bão Việt Nam tuy khơng phải gánh chịu hậu quả nặng nề như nhiều quốc gia khác trên thế giới, song các doanh nghiệp cũng rất chật vật để xoay sở trong giai đoạn khĩ khăn này[28] Khi các doanh nghiệp ngoại quốc gặp khĩ khăn sẽ khiến cho nguồn đầu tư (chủ yếu là FDI và ODA) khơng cịn dồi dào như trước nữa

Trong giai đoạn phục hồi kinh tế, hoạt động M&A theo truyền thống được đánh giá là sẽ tăng trưởng mạnh hơn giai đoạn khủng hoảng Song với những gì mà cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu 2008 gây ra cho nền kinh tế thế giới, hoạt động của các doanh nghiệp cĩ phần khĩ khăn hơn nhất là trong giai đoạn đầu của hồi phục Do tác động này mà M&A tại Việt Nam nĩi chung và M&A trong khu vực tài chính ngân hàng nĩi riêng trong năm tới được dự báo sẽ khĩ đạt được sự sơi động thực sự

1.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

Bên cạnh những nhân tố khách quan tác động đến việc các tổ chức tài chính ngân hàng mua lại, sáp nhập trong ngành cịn cĩ những nhân tố xuất phát từ chính bản thân doanh nghiệp, tác

động khơng nhỏ đến xu hướng kết hợp mới mẻ và đầy hấp dẫn này Cĩ thể kể đến một vài

nhân tố như khát vọng nâng cao năng lực cạnh tranh và hơn hết là vấn đề tồn vong của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh cĩ thể đến từ rất nhiều nhân tố Trong đĩ, tăng cường thị phần thơng qua việc tiến hành song song cả với khách hàng truyền thống lẫn phát triển thị trường mới đĩng vai trị rất quan trọng Thị trường dịch vụ tài chính ngân hàng của Việt Nam là một thị trường giàu tiềm năng chưa được khai thác triệt để, vì thế rất hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngồi Hạn chế mức đĩng gĩp 30% cổ phần trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ngân hàng[27] hay 49% trong các CTCK phần nào giúp cho các doanh nghiệp Việt tránh được nguy cơ bị nước ngồi thâu tĩm Song điều đĩ khơng cĩ nghĩa là các cơng ty, tập đồn tài chính nước

Trang 6

6

ngoài không ựược phép ựầu tư vào thị trường Việt Nam Thêm vào ựó, ranh giới giữa các khu vực dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng trên thị trường tài chắnh ngày càng ựược xóa nhòa Thay vì chỉ tập trung vào khối ngân hàng như trước ựây, người dân có kể tìm ựến các doanh nghiệp bảo hiểm ựể gửi tiền hay ựem tiền ựầu tư trên thị trường chứng khoán điều ựó cũng gây áp lực phải nâng cao năng lực ựể không những cạnh tranh với doanh nghiệp cùng ngành

cả trong và ngoài nước mà còn cạnh tranh với các doanh nghiệp ngoài ngành nhưng có loại hình dịch vụ tương tự hoặc có thể thay thế ựược

Trong khu vực tài chắnh ngân hàng hiện nay, dưới áp lực tăng vốn ựiều lệ và khả năng tăng vốn ựiều lệ của nhiều doanh nghiệp, không ắt trong số ựó ựã tắnh ựến việc tìm ựối tác chiến lược ựể chuyển nhượng cổ phần hay thậm chắ bán toàn bộ công ty như một giải pháp hàng

ựầu ựể tiếp tục hoạt ựộng điều này hoàn toàn dễ hiểu, ựặc biệt là những doanh nghiệp ựang

khó khăn trong hoạt ựộng và khó có thể duy trì trong tương lai Họ ựóng vai trò là người bán,

là nguồn cung trên thị trường Như ựã thể hiện ở phần ựầu của bài viết, những doanh nghiệp, TCTD và kể cả CTCK thuộc ựối tượng này chiếm con số ựáng kể trên thị trường tài chắnh ngân hàng của Việt Nam hiện nay

2 TỔNG QUAN HOẠT đỘNG M&A TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

2009

2.1 Về số lượng thương vụ M&A

Xét về tổng thể, số lượng thương vụ M&A năm 2009 tăng so với năm liền trước ựó Theo báo cáo thường niên của PwC[6],[7], số thương vụ so với năm 2008 tăng 133%, từ 167 lên 295 thương vụ đóng góp ựáng kể trong ựó là các thương vụ của khu vực công nghiệp Ngành tài chắnh ngân hàng có sự sụt giảm ựáng kể về thứ bậc Nếu như năm 2008 ựứng ựầu về số lượng giao dịch ựược công bố thì năm 2009, ngành này chỉ về thứ 3 (sau ngành công nghiệp và ngành năng lượng) Trong tổng số giao dịch ựược công bố (không xét ựến giá trị), ngành tài chắnh ngân hàng chỉ chiếm 12% năm 2009, trong khi năm 2008 là 22%

Những con số trên, mặc dù chưa thực sự ựầy ựủ song cũng cho ta cái nhìn khái quát về hoạt

ựộng nhượng bán cổ phần trong các giao dịch chiến lược kiểu M&A của khối kinh doanh dịch

vụ tài chắnh ngân hàng từ 2007 ựến 2009 Số lượng thương vụ ựã tăng mạnh trong năm 2008

và ngay năm sau ựó thì giảm xấp xỉ 30%, chỉ còn khoảng 13 thương vụ trong năm 2009 mặc

dù tình hình kinh tế năm sau tốt hơn năm trước với các dấu hiệu phục hồi Về cơ bản toàn ngành giảm, riêng khối các công ty bảo hiểm có sự cải thiện hơn Tuy nhiên, khối ngân hàng vẫn chiếm vị trắ áp ựảo về tỷ trọng số lượng thương vụ so với ngành bảo hiểm và chứng khoán Trong giai ựoạn 2007- 2009, giao dịch M&A liên quan ựến các NHTM tại thị trường Việt Nam luôn chiếm trên 50% cho thấy sức hấp dẫn và sôi ựộng của ngành

Trang 7

7

2.2 Về giá trị thương vụ

Trong một nghiên cứu mới đây[4], gần 30% thương vụ M&A trong khối ngân hàng được cơng bố khơng cơng khai khía cạnh tài chính của thương vụ Do đĩ, đây là một hạn chế lớn để

cĩ thể nhận xét về xu hướng tăng trưởng giá trị M&A của ngành Từ Bảng 1 cĩ thể thấy giá trị giao dịch M&A của năm 2008 tăng gần 40% so với năm trước đĩ Song năm 2009 lại giảm gần 370 triệu USD, tương đương với mức giảm 54% so với năm 2008 và giá trị này thậm chí chưa bằng 70% tổng giá trị của năm 2007 So với xu hướng M&A của tồn thị trường thống

kê trong Bảng 2, cĩ thể nhận định rằng trong thời kỳ này khu vực tài chính ngân hàng đang nhường lại vị trí quán quân cho các ngành khác

Mặc dù vậy, rất nhiều các thương vụ “đình đám” nhất lại nằm trong khu vực tài chính ngân hàng[1] Chẳng hạn[4]: tháng 01/2009 HSBC mua cổ phần của Tập đồn Bảo Việt với tổng giá trị 200 triệu USD, nâng số cổ phần mà Ngân hàng này sở hữu tại cơng ty bảo hiểm lớn nhất Việt Nam hiện nay từ 10% lên 18%; tháng 09/2008 tập đồn May Bank Group mua 15%

cổ phần của ABBank với trị giá 93 triệu USD hay CTCK Hướng Việt đã chuyển nhượng 49%

cổ phần cho Morgan Stanley với giá trị thương vụ là 9 triệu USD vào trung tuần tháng 02/2008…

2.3 Về phương thức và thành phần tham gia

Trang 8

8

Các thương vụ ựược thực hiện dưới dạng mua lại một phần cổ phần của ựối tác ựể trở thành

cổ ựông chiến lược[1],[4] Tham gia vào M&A trong thời gian vừa qua khá ựa dạng, bao gồm

cả ngân hàng, công ty bảo hiểm hay các công ty chứng khoán cả trong lẫn ngoài nước Các ngân hàng, tập ựoàn bảo hiểm, quỹ ựầu tư nước ngoài ựóng vai trò là người ựi mua chủ yếu[4] Những tên tuổi thường ựược nhắc ựến như BNP Parisbas, Deutsche Bank, HSBC, Manulife, Morgan Stanley, Prudential, QBE, Standards & CharteredẦ

Bên cạnh ựó, cũng ựã xuất hiện ngân hàng, công ty bảo hiểm trong nước ựi mua cổ phần của

ựối tác khác trong nước và thậm chắ là ngoài nước Thương vụ ựiển hình cho xu hướng này là

CTCP đầu tư và phát triển IDCC (100% vốn Việt Nam thành lập bởi BIDV và Công ty Phương Nam) mua lại Ngân hàng đầu tư thịnh vượng PIB (một ngân hàng tư nhân của Campuchia)[1] Song những trường hợp như vậy vẫn còn rất hiếm

2.4 đánh giá chung về xu hướng M&A năm 2009

- Tỷ trọng so với toàn ngành giảm dù vẫn có nhiều giao dịch diễn ra: Năm 2009, M&A trong

khu vực tài chắnh ngân hàng kém sôi ựộng so với hai năm trước ựó Như những thống kê và phân tắch ựã có, so với năm 2007 và 2008, giá trị giao dịch và số lượng thương vụ M&A của khối ngân hàng tài chắnh có phần giảm ựáng kể Sự trầm lắng này khác biệt với ''sức nóng'' mà ngành có ựược thời gian qua Nếu như 2 năm trước ngành Tài chắnh- Ngân hàng luôn dẫn ựầu thì năm vừa qua ngành Công nghiệp ựã giành vị trắ quán quân với số lượng giao dịch và giá trị bứt phá và có vẻ như sự tăng trưởng cả về số lượng thương vụ cũng như giá trị của M&A toàn thị trường có ựược là nhờ khu vực này Trong khi ựó, ngành Tài chắnh- Ngân hàng ựã tụt xuống ở vị trắ thứ hai điều ựáng chú ý là sự suy giảm này khá mạnh và do nhiều nguyên nhân: Sức hấp dẫn của Ngành giảm, tác ựộng của khủng hoảng tài chắnh làm giảm luồng vốn nước ngoài ựầu tư vào Việt Nam, các vấn ựề về công khai thông tin và thu thập số liệuẦ

- Doanh nghiệp trong nước ựang dần chủ ựộng hơn: Từ trước ựến nay, hầu như bên ựi mua là

các nhà ựầu tư chiến lược nước ngoài[1],[4], ựặc biệt trong lĩnh vực Ngân hàng- Tài chắnh Một phần do M&A còn là lĩnh vực rất mới ở Việt Nam, các doanh nghiệp trong nước còn lạ lẫm và thiếu nhiều ựiều kiện quan trọng cần thiết, trong khi ựó ựối tác nước ngoài có quá nhiều lợi thế ựể tiến hành M&A Tuy nhiên, BIDV, Tắn Nghĩa Group hay Vietcombank có thể

ựược dẫn chứng như những bên mua ựiển hình tiên phong cho xu hướng doanh nghiệp nội ựóng vai trò là người mua chiến lược mua lại các doanh nghiệp trong nước và thậm chắ là

ngân hàng nước ngoài[1]

- Tăng trưởng giữa các ngành còn chênh lệch: điều này hoàn toàn dễ thấy khi xét tương quan

giữa ngân hàng- bảo hiểm và các CTCK Mặc dù không chiếm ựa số về lượng thương vụ diễn

ra và thống kê ựược, song ngành bảo hiểm dẫn ựầu năm vừa qua về giá trị thương vụ Giá trị chuyển nhượng lên tới hơn 200 triệu USD, gấp nhiều lần so với 2 ựối tượng còn lại Sự thay

ựổi ựột ngột này có thể chưa minh chứng ựược sức hấp dẫn của ngành có thực sự tăng song

cũng ựánh dấu triển vọng khả quan ựối với thị trường bảo hiểm Bởi trong năm vừa qua, do các tác ựộng không mong muốn của khủng hoảng tài chắnh khiến cho các ngân hàng và các CTCK phải chật vật[17] thì doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam lại có kết quả kinh doanh tương

ựối khả quan, hầu như không mấy bị ảnh hưởng do khủng hoảng[9] Các CTCK xem ra vẫn

rất khó khăn trong việc tìm kiếm người mua chiến lược cũng như xoay sở với tình hình khó khăn trên TTCK, chắnh vì thế mà sau giai ựoạn hưng thịnh 2007, các con số thống kê vẫn chưa thực sự khả quan

Trang 9

9

3 XU HƯỚNG M&A TRONG KHU VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NHỮNG THÁNG CUỐI NĂM 2010

Cơn bão tài chính ñã qua và nhiều dấu hiệu cho thấy kinh tế thế giới cũng như Việt Nam ñang phục hồi khả quan hơn dự kiến Sự tăng trưởng này là ñộng lực quan trọng ñể tăng dòng chảy vốn ñầu tư nước ngoài vào các nước ñang phát triển Hành lang pháp lý ñang dần ñược hoàn thiện và cụ thể hóa theo từng lĩnh vực, ngành nghề bởi sự chú trọng của các cơ quan có thẩm quyền Cùng với ñó là sức ép cạnh tranh toàn cầu hóa, hơn cả là khát vọng cũng như nỗ lực cạnh tranh ñể tồn tại của bản thân các doanh nghiệp hiện nay Trong ñiều kiện ñó, hoàn toàn

có thể kỳ vọng một thị trường M&A sôi ñộng của các ngân hàng, công ty bảo hiểm và CTCK năm 2010, nhất là vào cuối năm

- Trong năm này, khu vực tài chính ngân hàng hứa hẹn sẽ chứng kiến nhiều thương vụ thâu tóm, sáp nhập, nhất là trong khối các NHTM ngoài quốc doanh Bởi lẽ, thời gian ñể các ngân hàng quy mô nhỏ, hoạt ñộng yếu kém tăng vốn ñiều lệ theo Nghị ñịnh 141/2006/Nð-CP không còn nhiều Còn những kế hoạch tăng vốn nhờ vào sức mạnh cổ ñông, nhân viên hay từ chuyển ñổi trái phiếu ít khả thi Nhằm tạo thị trường mạnh và an toàn hơn, NHNN cam kết sẽ tiến hành mạnh tay, chấm dứt tư cách pháp nhân của những ñối tượng không thực hiện ñúng

lộ trình tăng vốn theo quy ñịnh[13] Chính vì thế, thời ñiểm cuối năm 2010 dự kiến sẽ có nhiều thương vụ M&A diễn ra không chỉ dưới hình thức mua cổ phần hay tăng tỷ lệ sở hữu của cổ ñông chiến lược mà còn dưới hình thức mới hơn như sáp nhập, mua lại toàn bộ ngân hàng Bên góp vốn, mua cổ phần vẫn chủ yếu là các ñối tác nước ngoài song khả năng bên ñi mua, nhận sáp nhập của ngân hàng nội là rất cao nếu có chỉ ñịnh sáp nhập của NHNN

- Cùng với xu hướng ñó, khu vực bảo hiểm hứa hẹn sẽ thu hút nhiều vốn ñầu tư nước ngoài bởi cho tới nay thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng chưa ñược khai thác Các công ty kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, nhất là công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong nước cũng thuộc diện phải hoàn tất lộ trình tăng vốn (theo Nghị ñịnh 46) vào cuối năm Do ñó, việc chào bán cổ phần các công ty bảo hiểm sẽ vẫn diễn ra mặc dù không ráo riết như các NHTM

ðối tác ñược kỳ vọng nhiều nhất hiện nay vẫn là các công ty nước ngoài ñang muốn thâm

nhập thị trường Việt Nam, sáp nhập có thể ít xảy ra song việc mua lại cổ phần có khả năng rất cao

- Năm vừa qua, hoạt ñộng của các công ty chứng khoán trong M&A có phần trầm lắng do thiếu những ñiều kiện thiết yếu, nhất là khó khăn trong việc tìm kiếm ñối tác chiến lược ñể kêu gọi góp vốn hay bán công ty ðộng thái này chủ yếu ñến từ phía những công ty chứng khoán kinh doanh kém hiệu quả ðây cũng là cơ hội lớn cho các công ty chứng khoán hiện ñã

và ñang có chỗ ñứng mạnh mẽ trên TTCK Việt Nam Song trong năm nay, do TTCK ñang trong thời kỳ phục hồi, chưa thực sự ổn ñịnh và sức hấp dẫn không còn ñược như thời kỳ ñỉnh cao 2007 nữa nên việc các CTCK nội mua lại cổ phần hay toàn bộ CTCK khác là rất khó khăn Thêm vào ñó, các CTCK chưa chịu áp lực tăng vốn như các NHTM hay các công ty bảo hiểm và họ có thể rút bớt nghiệp vụ kinh doanh nếu không ñạt ñược mức vốn quy ñịnh là

300 tỷ Vì thế, dự kiến ít khả năng xảy ra M&A trong các CTCK và nếu có cũng sẽ rất nhỏ lẻ, chủ yếu dưới dạng mua lại cổ phần

Kết luận

Trải qua hơn 20 năm ñổi mới, Việt Nam ñã có những bước tiến vượt bậc trong phát triển kinh tế- xã hội song cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 vừa qua như một hồi chuông cảnh tỉnh cho thấy nhu cầu tái cơ cấu thị trường là rất bức thiết Công tác này ở tầm vi mô lẫn vĩ mô ñều

Trang 10

10

có thể thực hiện ñược bằng nhiều cách, trong ñó M&A doanh nghiệp ñược ñặc biệt lưu tâm bởi tính hữu dụng của nó ñối với bản thân doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế ðối với một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, ñiều kiện cho M&A phát triển thực sự chỉ giới hạn trong một số ngành nghề nhất ñịnh Ngành Tài chính- Ngân hàng ñược ñánh giá là một trong những khu vực năng ñộng và sôi nổi nhất về hoạt ñộng mua bán, sáp nhập doanh nghiệp trong những năm qua

Những thay ñổi nhất ñịnh về các ñiều kiện kinh tế trong và ngoài nước, những ñộng lực ñến

từ phía các doanh nghiệp ñã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về M&A các ngân hàng, công ty bảo hiểm và CTCK với những mảng màu khá tươi sáng trong năm 2009

Cuối cùng, hoạt ñộng M&A nói chung và của từng ngành nói riêng phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố vĩ mô, vi mô Ở từng giai ñoạn khác nhau với từng quốc gia khác nhau, các nhân tố lại có tầm ảnh hưởng khác nhau Chính vì lẽ ñó, khi xem xét xu hướng trong mỗi bối cảnh sẽ cho những nhận ñịnh không tương ñồng, ñó là chưa kể ñến tính chủ quan trong quá trình ñưa

ra ý kiến của người nghiên cứu Nhìn chung, ñánh giá tác ñộng của các nhân tố bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp sẽ cho ta cái nhìn khái quát nhất và ñóng vai trò rất quan trọng ñối với quá trình nhận ñịnh xu hướng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Avalue Việt Nam, Báo cáo M&A Việt Nam 2009 và triển vọng 2010

[2] ThS Nguyễn Thanh Phương, Tái cơ cấu tài chính các CTCK Việt Nam thông qua M&A,

Hội thảo Tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp thời kỳ hậu khủng hoảng, Khoa Tài chính- Học viện Ngân hàng, tháng 5/2010

[3] Ingo Walter, MERGERS AND ACQUISITIONS IN BANKING AND FINANCE: What

works, what fails and why, Oxford University Press (2004)

[4] Q.H Vuong, T.D Tran, T.C.H Nguyen, M&A in Vietnam's emerging market ecomomy

1990- 2009, Research Institute in Management Sciences -Centre Emile Bernheim, 2010

[5] Nguyen Hong Son, Ph.D, Assoc Professor of Economics, Banking system of Vietnam:

Reform Strategies and Transition Assessment, Research paper written under the grant of Thai

Research Fund, Hanoi, May 2009

[6] PricewaterhouseCooper, Vietnam M&A activity review- 2009, 01/2010

[7] PricewaterhouseCooper, Vietnam M&A activity review- 2008, 01/2009

[8] Lan Hương, Thị trường bảo hiểm: "chiến ñấu" ñến cùng, bỏ quên hiệu quả?,

VnEconomy- http://vneconomy.vn/2010040511095182P0C6/thi-truong-bao-hiem-chien-dau-den-cung-bo-quen-hieu-qua.htm

[9] Lan Hương, Thị trường bảo hiểm cần ổn ñịnh theo hướng lành mạnh,

http://vneconomy.vn/20090910094015173P0C6/thi-truong-bao-hiem-can-on-dinh-theo-huong-lanh-manh.htm

[10] Phùng ðắc Lộc- TS Phí Trọng Thảo, Cẩm nang bảo hiểm nhân thọ dành cho khách

hàng, 2007, www.avi.org.vn

[11] Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Thông tin hội viên, 15/05/2010, www.avi.org.vn

[12] Chính phủ, Nghị ñịnh 46/2007/Nð- CP về việc quy ñịnh chế ñộ tài chính ñối với doanh

nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm, ðiều 4 và ðiều 5

[13] Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Công văn số 3417/NHNN-TTGSNH về việc thực hiện

Nghị ñịnh 141, ngày 15/05/2010

[14] Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Nghị ñịnh 69/2007/Nð-CP về việc nhà ñầu tư nước

ngoài mua cổ phần của NHTM Việt Nam, ngày 20/04/2007

[15] Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Thông tư số 04/2010/TT-NHNN về việc sáp nhập, hợp

nhất, mua lại tổ chức tín dụng, ngày 11/02/2010

Ngày đăng: 25/05/2016, 04:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w