1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của sự sáng tạo trong quản trị

17 3K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 103 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUSự vận động phát triển của thế giới trong những năm gần đây với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã tạo ra những thách thức mới trong kinh doanh. Sản phẩm có thể được thiết kế tại một quốc gia, sản xuất, lắp ráp tại quốc gia khác, thị trường là toàn cầu. Các nhà sản xuất, phân phối và khách hàng ngày nay có quyền lựa chọn sản phẩm hàng hóa có chất lượng với giá cả phù hợp ở tất cả mọi nơi trên thế giới. Việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan, tự do hóa thương mại làm cho các doanh nghiệp nếu muốn tồn tại phát triển phải nâng cao chất lượng, hạ giá thành. Cuộc cạnh tranh toàn cầu đã, đang và sẽ trở nên ngày càng mạnh mẽ với qui mô và phạm vi ngày càng lớn. Sự phát triển của khoa học và công nghệ cho phép các nhà sản xuất nhạy bén có khả năng đáp ứng ngày càng cao nhu cầu khách hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh. Trước tình hình kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với những vấn đề khó khăn vĩ mô như tiếp cận nguồn vốn, lạm phát…thì trên cương vị là lãnh đạo trong doanh nghiệp thì việc phải đối mặt với những vấn đề bất ổn đó hàng ngày là chuyện đương nhiên. Và một lãnh đạo giỏi phải có trách nhiệm sao cho vẫn hoàn thành tốt được công việc của mình đồng thời vượt qua bất ổn, đó là sự thành công trong kinh doanh. Và con đường dẫn tới thành công đó chắc chắn nhất liên quan đến sáng tạo, đổi mới, cải cách. Điều này rất dễ hiểu, vì chỉ khi một doanh nghiệp đưa ra được những sản phẩm mới, những ý tưởng mới, những mô hình kinh doanh mới cũng như những hoạt động tác nghiệp mới thì mới tạo ra những giá trị mới thay thế cho cái tiền đề hiện có. Chính vì vậy mà thông qua việc sáng tạo để tạo ra một tương lai mới và kiểm soát được tương lai đó là chìa khóa thành công rõ rệt nhất cho doanh nghiệp. Có thể kể đến các loại hình sáng tạo và cải tiến khác nhau như: sáng tạo kỹ thuật, sáng tạo trong quy trình, sáng tạo trong điều hành và sáng tạo trong mô hình kinh doanh. Để quả trị được vấn đề sáng tạo thì vai trò của nhà quản lý và yếu tố văn hóa kinh doanh là vô cùng quan trọng. Việc tạo ra DNA ở trong máu của tổ chức yếu tố quyết định sự sáng tạo của một tổ chức, có thể tạo dựng được nhờ những nhà quản lý có tố chất. Với nội dung quan trọng đó chúng em đã chọn đề tài “Vai trò sự sáng tạo trong quản trị” làm đề tài nghiên cứu.Mặc dù đã cố gắng trong quá trình tìm hiểu để hoàn thành bài tiểu luận nhưng không thể tránh khỏi những sai sót, mong thầy và các bạn góp ý kiến bổ sung để bài tiểu luận lần sau được tốt hơn. Qua đây, nhóm chúng e xin gửi lời chân thành đến giáo viên bộ môn đã giúp chúng em trong quá trình tìm hiểu bài tiểu luận. Chúng em xin chân thành cảm ơn

Trang 1

MỞ ĐẦU

Sự vận động phát triển của thế giới trong những năm gần đây với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã tạo ra những thách thức mới trong kinh doanh Sản phẩm có thể được thiết kế tại một quốc gia, sản xuất, lắp ráp tại quốc gia khác, thị

trường là toàn cầu Các nhà sản xuất, phân phối và khách hàng ngày nay có quyền

lựa chọn sản phẩm hàng hóa có chất lượng với giá cả phù hợp ở tất cả mọi nơi trên thế giới Việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan, tự do hóa thương mại làm cho các doanh nghiệp nếu muốn tồn tại phát triển phải nâng cao chất lượng, hạ giá thành Cuộc cạnh tranh toàn cầu đã, đang và sẽ trở nên ngày càng mạnh mẽ với qui mô và phạm vi ngày càng lớn Sự phát triển của khoa học và công nghệ cho phép các nhà sản xuất nhạy bén có khả năng đáp ứng ngày càng cao nhu cầu khách hàng, tạo

ra lợi thế cạnh tranh

Trước tình hình kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với những vấn đề khó khăn

vĩ mô như tiếp cận nguồn vốn, lạm phát…thì trên cương vị là lãnh đạo trong doanh nghiệp thì việc phải đối mặt với những vấn đề bất ổn đó hàng ngày là chuyện đương nhiên Và một lãnh đạo giỏi phải có trách nhiệm sao cho vẫn hoàn thành tốt được công việc của mình đồng thời vượt qua bất ổn, đó là sự thành công trong kinh doanh Và con đường dẫn tới thành công đó chắc chắn nhất liên quan đến sáng tạo, đổi mới, cải cách Điều này rất dễ hiểu, vì chỉ khi một doanh nghiệp đưa ra được những sản phẩm mới, những ý tưởng mới, những mô hình kinh doanh mới cũng như những hoạt động tác nghiệp mới thì mới tạo ra những giá trị mới thay thế cho cái tiền đề hiện có Chính vì vậy mà thông qua việc sáng tạo để tạo ra một tương lai mới và kiểm soát được tương lai đó là chìa khóa thành công rõ rệt nhất cho doanh nghiệp Có thể kể đến các loại hình sáng tạo và cải tiến khác nhau như: sáng tạo kỹ

PHOTO QUANG TUẤN ĐT: 0972.246.583 & 0166.922.4176

Gmail: vtvu2015@gmail.com ; Fabook: vttuan85

Trang 2

thuật, sáng tạo trong quy trình, sáng tạo trong điều hành và sáng tạo trong mô hình kinh doanh

Để quả trị được vấn đề sáng tạo thì vai trò của nhà quản lý và yếu tố văn hóa kinh doanh là vô cùng quan trọng Việc tạo ra DNA ở trong máu của tổ chức - yếu

tố quyết định sự sáng tạo của một tổ chức, có thể tạo dựng được nhờ những nhà

quản lý có tố chất Với nội dung quan trọng đó chúng em đã chọn đề tài “Vai trò

sự sáng tạo trong quản trị” làm đề tài nghiên cứu.

Mặc dù đã cố gắng trong quá trình tìm hiểu để hoàn thành bài tiểu luận nhưng không thể tránh khỏi những sai sót, mong thầy và các bạn góp ý kiến bổ sung để bài tiểu luận lần sau được tốt hơn Qua đây, nhóm chúng e xin gửi lời chân thành đến giáo viên bộ môn đã giúp chúng em trong quá trình tìm hiểu bài tiểu luận

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

NỘI DUNG

I. Những vấn đề chung trong hoạt động quản trị và sự sáng tạo trong công tác quản trị.

1 Định nghĩa quản trị

Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản trị, nhưng nhìn chung thì có thể hiểu:

Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường

Dưới đây là các định nghĩa về các hoạt động quản trị trong từng lĩnh vực:

- Quản trị tổ chức là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến động

- Quản trị doanh nghiệp là sự tác động của chủ thể quản trị tới đối tượng quản trị (tập thể người lao động) để tổ chức phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Quản trị sản xuất bao gồm các hoạt động: sắp xếp, bố trí các yếu tố đầu vào theo một thể thức, quan hệ hợp lý nào đó, đến các việc tiếp theo như tổ chức các quá trình phối hợp hoạt động của các yếu tố, bộ phận trong quá trình sản xuất có hiệu quả

- Quản trị hoạt động khoa học - kỹ thuật và công nghệ là việc sử dụng một hệ thống các biện pháp để bố trí, phối hợp và thực hiện có hiệu quả nhất các yếu tố khoa học - kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất kinh doanh

Trang 4

- Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp là quá trình tổ chức, khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên nhân lực trong doanh nghiệp Mặc dù có nhiều nghành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhưng nhìn chung một nhà quản trị tốt cần có cái nhìn sâu rộng, đổi mới trong tư duy sáng tạo

2 Tính sáng tạo trong quản trị

Hoạt động sáng tạo có thể diễn ra tại bất cứ nơi đâu Khi các vấn đề liên quan đến công nghệ và các yếu tố xã hội ngày càng trở nên phức tạp, có vẻ như không đúng lắm khi khẳng định rằng những ý tưởng hoặc những đề xuất sáng tạo thường được tiến hành một cách độc lập, riêng rẽ Trình độ và kinh nghiệm khác nhau cũng mang lại cái nhìn với những chiều sâu khác nhau cho từng cá nhân Trong quá trình thảo luận để đưa ra các ý tưởng, có nhiều đề xuất cần được cân nhắc khi đưa ra quyết định lựa chọn cuối cùng Chúng ta có thể thấy được rằng có rất nhiều những phát minh và sáng kiến khoa học ra đời từ giao điểm giữa hai hoặc nhiều giới hạn

Bằng cách này hay cách khác chúng ta có thể thu hút ý tưởng sáng tạo bằng cách ứng dụng những kiến thức, kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình hoạt động, và ứng dụng một cách công khai Chúng ta cũng có thể thiết lập các hệ thống nhất quán và dễ triển khai đến tất cả mọi nhân viên để họ biết được cách thu hút lãnh đạo chú ý đến các đề xuất của họ đồng thời tạo điều kiện để các đề xuất ấy được coi trọng như những đề xuất khác Nhìn chung khi đưa ra ý tưởng đổi mới, thay vì hướng đến những phần thưởng có giá trị vật chất lớn, người ta thường muốn được đảm bảo rằng những nỗ lực đóng góp của họ (bằng các ý tưởng mà họ đề xuất) không phải là vô ích trong sự phát triển của công ty

Trang 5

Chúng ta biết rằng có một số “lầm tưởng” về tính sáng tạo nhóm làm cản trở những quan tâm mà các lãnh đạo giành cho các ý tưởng sáng tạo xuất hiện trong nhóm mà họ lãnh đạo Những “lầm tưởng” đó là:

-Tạo ra doanh thu chỉ bởi một số ít người

- Sáng tạo là một quá trình tư duy độc lập

- Thông minh có tầm quan trọng hơn sáng tạo

- Không thể quản lý được sự sáng tạo (Chúng ta vạch ra một quy trình trong đó kích thích và dẫn dắt những ý tưởng sáng tạo)

- Những nhóm sáng tạo chỉ được lập nên ở những công ty công nghệ cao hay là các tổ chức làm công tác nghệ thuật

- Sáng tạo thường chỉ liên quan đến những “ý tưởng vĩ đại”

- Sáng tạo chỉ là đưa ra những ý tưởng mới (mà không thực thi chúng)

Để tránh những điều như trên vừa đưa ra chúng ta cần phải tư duy sáng tạo.Tư duy sáng tạo là khả năng ứng phó, tìm hướng xử lý những vấn đề hay điểm mấu chốt mới, độc đáo được đặt ra trong những tình huống khác nhau Khi ứng dụng vào trong quản trị kinh doanh sẽ tạo ra những tương tác vào tổ chức giúp làm chuyển hoá môi trường làm việc theo hướng tích cực, gia tăng hiệu quả của việc sắp xếp cấu trúc tổ chức, giúp các bộ phận chức năng liên kết với nhau chặt chẽ hơn, ăn ý với nhau hơn trong công việc

Trang 6

II Vai trò sự sáng tạo trong quản trị

1 Các mức sáng tạo trong quản trị

Quản trị chiến lược có 5 mức sáng tạo Năm mức sáng tạo là công cụ cơ bản của TRIZ (lý thuyết giải các bài toán sáng chế viết tắt theo tên tiếng Nga) nhằm phân loại sáng chế vào từng mức khác nhau Không chỉ có vậy, công cụ này còn được vận dụng để phân loại các giải pháp sáng tạo hay là các chiến lược giải quyết vấn

đề trong kinh doanh (nói ngắn gọn là chiến lược) theo một số tiêu chí như: tính mới của giải pháp, kiến thức sử dụng, và mức độ thay đổicủa doanh nghiệp Theo đó có các chiến lược sau:

Chiến lược mức 1 sử dụng các ý tưởng có sẵn, kiến thức được áp dụng trong

nghề doanh nghiệp đang vận hành Mức độ thay đổi của doanh nghiệp tương đối ít khi áp dụng giải pháp này Chiến lược ở mức này tương ứng với giải pháp cắt giảm chi phí hoặc tổ chức lại công việc

Chiến lược mức 2 sử dụng ý tưởng tối ưu trong số các ý tưởng có sẵn, kiến

thức sử dụng để giải quyết vấn đề có trong nghành và mức độ thay đổi thường liên quan đến một bộ phận hoặc chức năng trong doanh nghiệp Chiến lược này giúp tối

ưu hoá quy trình hoạt động, làm cho doanh nghiệp hiệu quả hơn

Chiến lược mức 3 là chiến lược đưa ra sản phẩm-dịch vụ mới, về góc độ tính

mới, giải pháp này thường là cải tiến trên các giải pháp tối ưu ở mức 2 Ví dụ, doanh nghiệp đưa ra sản phẩm mới phù hợp hơn với thị trường, thuận tiện cho sử dụng hoặc có thêm một số tính năng mới trên nền sản phẩm có trước Khi đó, khác với chiến lược mức 2 là chỉ có một bộ phận thay đổi thì ở mức độ chiến lược này toàn bộ doanh nghiệp thay đổi

Trang 7

Chiến lược mức 4, doanh nghiệp phát triển sang lĩnh vực hoàn toàn mới Khi

đó kiến thức để tiếp cận giải quyết bài toán ở mức độ này là mới với toàn bộ doanh nghiệp, tức là họ chưa từng thực hiện công việc hay kinh doanh trong lĩnh vực này Dẫn đến có sự thay đổi lớn trong toàn bộ doanh nghiệp và cả các đối tượng liên quan, ví dụ như cổ đông, khách hàng, nhà cung cấp

Chiến lược mức 5, doanh nghiệp thay đổi về mặt nguyên lý hoạt động, tương

đương với việc thay đổi tầm nhìn, sứ mệnh và mô hình kinh doanh Phương thức kinh doanh trước đây được thay bằng mô hình mới ưu việt hơn Ví dụ như việc đấu giá trước đây được thực hiện khi mà người mua cần có mặt ở địa điểm đầu giá, Ebay đã thay đổi hoàn toàn cách thức đấu giá truyền thống bằng phương thức đấu giá trực tuyến sử dụng công nghệ giao dịch trên web

Dựa vào phân tích các mức chiến lược, có thể nhận thấy:

Mức chiến lược thấp 1 và 2 thường dễ thực hiện vì kiến thức sử dụng gần gũi, mức độ thay đổi ít dẫn đến lực cản không nhiều, thông thường đem lại hiệu quả nhìn thấy ngay Nhưng chiến lược mức thấp không đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, nó chỉ giúp doanh nghiệp tồn tại hoặc hoạt động hiệu quả hơn Không có sự phát triển đột phá khi áp dụng chiến lược mức độ này

Ngược lại, chiến lược mức cao 3, 4 và 5 khó thực hiện hơn vì mức độ thay đổi thường lớn, liên quan đến nhiều bộ phận do đó độ phức tạp, sức cản chống lại thay đổi lớn Ngoài ra, do phải đưa sản phẩm mới, thâm nhập thị trường mới hoặc vận dụng một mô hình kinh doanh mới sẽ có rủi ro nhiều hơn so với việc cải tiến quy trình hay cắt giảm chi phí Tuy nhiên ưu điểm của các chiến lược mức cao là sẽ có

ưu thế cạnh tranh bao gồm thời gian tham gia thị trường, thông tin và tri thức tính luỹ được qua quá trình nghiên cứu và thâm nhập thị trường Thành công khi thực

Trang 8

hiện chiến lược này sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh vượt trội so với đối thủ về nhiều mặt như công nghệ, vốn, thương hiệu, trình độ nhân lực

Nhà quản trị cần phải nắm bắt và vận dụng cách thức sáng tạo trong nền kinh tế dịch vụ Hầu hết những gì chúng ta biết về quản lý sự sáng tạo đều xuất phát từ kết quả nghiên cứu sản phẩm và công nghệ Tuy nhiên phần lớn GDP của các nền kinh

tế phát triển nhất hiện nay lại đến từ lĩnh vực dịch vụ chứ không phải sản phẩm hay nông nghiệp Để duy trì sự thịnh vượng và lao động lương cao ở các nền kinh tế phát triển, chúng ta sẽ phải tìm hiểu xem sự sáng tạo trong lĩnh vực dịch vụ diễn ra như thế nào (quá trình này có thể khác với sáng tạo trong lĩnh vực sản phẩm.)Tính sáng tạo là chìa khóa để gia tăng hiệu quả, hiệu suất công việc Sự cộng hưởng các yếu tố trên sẽ tạo nên sự đột phá mạnh mẻ cho Doanh nghiệp Sự cộng hưởng chỉ xảy ra khi tất cả các hành động đều nhằm về một hướng Nhà quản trị phải tìm cách tối ưu phương pháp xử lý công việc cũng như tích cực, chủ động sáng tạo trong mọi tình huống để đạt được các mục tiêu do Công ty đề ra Người được tin tưởng và được giao trọn quyền mà không vì thế quan liêu cửa quyền mà trái lại để

có thể tận dụng và phát huy tối đa mọi nguồn lực trong công việc nhằm thực hiện mục tiêu chung của toàn Công ty Chúng ta có thể xem xét hiện tượng có trong thực tế sau đây:

Làn sóng quản lý thứ tư – quản lý sáng tạo : "Làn sóng văn minh thứ tư" đang hướng các công ty Nhật Bản đến phá vỡ chương trình cạnh tranh cũ thông qua mở

ra những cạnh tranh mới : các sản phẩm phải được thiết kế từ gốc (không vay mượn); tăng đầu tư vào sáng tạo; đổi mới các qui trình công nghệ, sản xuất, marketing đáp ứng yêu cầu này Các tiêu điểm quản lý sáng tạo trong các công ty Nhật Bản tập trung vào các hoạt động chính

Trang 9

- Xây dựng chiến lược : bắt đầu xây dựng các chiến lược dài hạn (7 - 10 năm)

trong đó sáng tạo trở thành trung tâm của chiến lược quản lý

- Tổ chức : tái thiết kế tổ chức theo hướng mạng dựa trên việc trao đổi ý kiến

giữa các bộ phận và cấp độ tổ chức khác nhau nhằm tối ưu hoá các cơ hội sáng tạo

- Nhân sự : ưu đãi những người dẫn đầu các hoạt động sáng tạo, tạo cơ hội

bình đẳng sáng tạo cho tất cả mọi người cùng với các hệ thống khen thưởng, khuyến khích sáng tạo

- Thông tin : hướng tới một xã hội thông tin sáng tạo (khác với xã hội thông tin

tiêu dùng ở làn sóng thứ ba) tăng cơ hội thiết lập và triển khai ý tưởng mới

Đó là điểm nhấn trong tính sáng tạo đang từng bước giữ vai trò hàng đầu của cuộc cách mạng quản lý diễn ra ở Nhật Bản trong những năm cuối cùng của thế kỷ 20

Hay có thể lấy ví dụ về sáng tạo trong cách tư duy doanh nhân mà một số CEO nhận định như sau:

“Tư duy doanh nhân :Thực tế, đúc kết của bà Nghị từng được Arielle Patrice

Scott, nhà sáng lập kiêm CEO của GenJuice –mạng kết nối những người trẻ sáng tạo, các nhà khởi nghiệp và Larry Popelk, CEO của GameChanger – Cty tư vấn chuyên về phát triển thương hiệu và những sáng kiến mới gói gọn trong cụm từ: "tư duy doanh nhân".Độ tuổi khởi nghiệp đang được "trẻ hóa" nhờ tác động từ xu hướng toàn câu hóa Cơ hội phát triển kinh doanh cao hơn và nhiều động lực cho các bạn trẻ khởi nghiệp hơn Nhưng, thực tế, số lượng DN có thể tồn tại qua 2 năm đầu phát triển không nhiều Con số này tiếp tục rút thu hẹp khi DN sang tuổi thứ 5, rồi thứ 8

Trang 10

Một DN chỉ được tạm coi là phát triển bền vững nếu vẫn khẳng định chu kỳ

"sinh" sau kỷ niệm ngày nhật lần thứ 10 Nguyên nhân vì sao ? Có rất nhiều lý do, nhưng đúc kết lại vẫn là thiếu sáng tạo mang tính đột phá trong quản trị DN

Để có cơ hội nắm bắt điều gì đó mang tính chất đột phá, DN cần đến những người có tư duy của doanh nhân ở tất cả các cấp quản lý để có thể phá vỡ các giới hạn và thúc đẩy hoạt động của Cty Chỉ có những nhà khởi nghiệp mới dám đưa ra những quyết định không dựa trên kinh nghiệm sẵn có mà chấp nhận sự đầu tư mạo hiểm để có thể cạnh tranh được với những Cty lớn Tuy vậy, tạo ra các phát kiến để thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp luôn là điều mà các nhà quản trị mơ ước, nhưng lại rất khó nắm bắt Chia sẻ với Chương trình Khởi nghiệp, bà Nghị cho rằng, cần phải có sự chuẩn bị sẵn sàng và đội ngũ nhân sự tốt Không có phát kiến nào nảy sinh mà thiếu nền tảng tri thức và không có cơ hội tạo ra sự đột phá nào mà thiếu những kế hoạch chuẩn bị cần thiết

Có một thực tế trong chuyện kinh doanh rằng chính những thành công của ngày hôm nay là sự cản trở cho bước đường thành công trong tương lai Nếu đã gặt hái được những thành công thì việc can đảm thay đổi để đưa doanh nghiệp của mình phát triển lên một bước cao hơn là điều không dễ thực hiện Việc này khiến cho chúng ta phải hy sinh, từ bỏ một số điều giúp cho chúng ta thành công trước đây

Là một nhà lãnh đạo, phải biết quyết định từ bỏ và can đảm từ bỏ một số điều đúng lúc để tạo ra những đột phá Trong lịch sử, ông chia sẻ, đã có những bài học thất bại từ việc sự lo lắng thay đổi mô hình kinh doanh sẽ làm mất đi thị phần hiện có của công ty đã khiến cho chính công ty đó mất đi thị phần của tương lai với những sản phẩm đón đầu thị trường Đó từng là trường hợp của công ty 3M trên lĩnh vực sản xuất đĩa mềm lưu trữ.”

Ngày đăng: 10/09/2014, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w