Từ bối cảnh đó, bài viết áp dụng lí thuyết về phát huy sức sáng tạo của quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc - đất nước đã thực hiện tương đối thành công việc nâng cao sức sáng tạo theo định
Trang 1Vai trò của sức sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng
quốc gia phát triển bền vững
Hứa Thanh Bình
Tóm tắt:
Sức mạnh của tư duy, năng lực sáng tạo ngày càng thể hiện rõ ưu thế hơn bao giờ hết trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế Trên quan điểm vĩ mô, trong thời đại của nền kinh tế tri thức, sức sáng tạo quyết định sức mạnh toàn diện và khả năng cạnh tranh của một quốc gia Đối với Việt Nam chúng ta phải thừa nhận rằng, sức sáng tạo độc lập của Việt Nam còn yếu kém, thiếu công nghệ cốt lõi và quyền sở hữu trí tuệ độc lập, điều đó
đã trở thành một “nút cổ chai” hạn chế phát triển kinh tế của Việt Nam Để đạt được bước phát triển nhảy vọt, bền vững, Việt Nam không còn con đường nào khác là phát huy vai trò tư duy sáng tạo, đây là cốt lõi của chiến lược phát triển, là chìa khóa để cải thiện toàn diện sức mạnh quốc gia nhằm thực hiện con đường đổi mới độc lập, tự chủ Từ bối cảnh đó, bài viết áp dụng lí thuyết về phát huy sức sáng tạo của quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc - đất nước đã thực hiện tương đối thành công việc nâng cao sức sáng tạo theo định hướng quốc gia, trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, nhằm cung cấp tài liệu tham khảo và một số gợi ý để nâng cao vai trò sức sáng tạo của doanh nghiệp trong nền kinh tế
Đặt vấn đề
Để thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan là lợi nhuận nhỏ trong thị trường cấp thấp, và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp, chống lại các khả năng rủi do Hiện nay các nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển đều nhận ra tính trọng yếu của sức sáng tạo độc lập, để từ đó xây dựng chiến lược cải thiện cơ chế để có thể cạnh tranh trên quy mô quốc gia và cả phạm vi toàn cầu
Quan niệm về sáng tạo trong bối cảnh hiện nay đã mở rộng, không còn giới hạn với hoạt động R&D hay xuất bản các bài báo khoa học, mà còn bao gồm những sáng tạo về tổ chức, quản lý kinh tế xã hội Trên góc độ phát triển doanh nghiệp, sức sáng tạo có các đặc tính sau:
một là, tính mục đích; hai là, tính biến đổi; ba là, tính mới lạ; bốn là, tính vượt trước; năm là,
tính giá trị Khái quát lại: sức sáng tạo dùng để chỉ các doanh nghiệp không ngừng tạo ra những
ý tưởng mới, quan niệm niệm mới, và việc sử dụng những ý tưởng, quan niệm mới thông qua
Trang 2tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tạo ra hiệu quả kinh doanh, phát triển thị trường, quản lý và đạt được một lợi thế cạnh tranh, cuối cùng đạt được mục tiêu chiến lược bền vững
Đối với Việt Nam cần nâng cao vai trò của sức sáng tạo là do: (1) Khả năng tự chủ sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam là yếu kém; (2) Do sự cần thiết của chiến lược tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên và tiến tới tiếp cận nền Kinh tế xanh (Green Economy); (3) Nâng cao năng lực sáng tạo là con đường cơ bản nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững của doanh nghiệp Thuận lợi cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cấu trúc tăng trưởng kinh tế; (4) Là yêu cầu tối ưu hóa và nâng cấp cơ cấu sản nghiệp, giữ cho nền kinh tế phát triển bền vững; (5) Là yêu cầu để thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải thiện khả năng cạnh tranh quốc tế; (6) Là yêu cầu tất yếu phải tăng cường sự độc lập, tự chủ để hội nhập kinh tế thế giới
I Sức sáng tạo theo định hướng quốc gia ở Trung Quốc – gợi ý đối với Việt Nam
Sáng tạo theo định hướng quốc gia ở Trung Quốc, đề cập đến sự sáng tạo khoa học và công nghệ là một chiến lược cơ bản, sự gia tăng đáng kể trong đổi mới công nghệ, sản phẩm, quản lý nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh quốc gia trong cộng đồng quốc tế Trước thực trạng Trung Quốc phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài hơn 50%, trong khi Hoa Kỳ, Nhật Bản chỉ
Vụ viện Trung Quốc tổ chức), nhằm tăng cường đổi mới công nghệ, phát triển công nghiệp công nghệ cao Trong đó, sự sáng tạo được định nghĩa là: kiến thức doanh nghiệp và ứng dụng các công nghệ sáng tạo mới, quy trình mới, phương thức mới của chế độ sản xuất và quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển và sản xuất sản phẩm, dịch vụ mới, chiếm lĩnh thị trường và đạt giá trị thị trường Việc đề cao sức sáng tạo được cụ thể hóa tại Báo cáo của Đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ XVII: nâng cao khả năng sáng tạo độc lập, xây dựng một đất nước đổi mới, đó là cốt lõi của chiến lược phát triển, để cải thiện sức mạnh quốc gia
Thực hiện chiến lược này Trung Quốc đã đưa giáo dục đi trước một bước, từ những năm 90 của thế kỷ 20 đến nay, Trung Quốc đã tăng mạnh mẽ chất lượng giáo dục thông qua các dự án giáo dục sáng tạo, vì vậy tài năng công nghệ cao lớp lớp xuất hiện Đây là bước đón đầu, đồng thời là để chuẩn bị trước cho việc bước vào thời đại kinh tế tri thức
Để cải thiện khả năng sáng tạo, chính phủ Trung Quốc đã xác lập vai trò của doanh nghiệp, đẩy nhanh xây dựng các dự án nghiên cứu, hệ thống đổi mới công nghệ, nỗ lực để đạt được công nghệ mới trong lĩnh vực công nghiệp Trong chiến lược của mình chính phủ đã tạo
(1)
Trang 3ra môi trường và chính sánh tốt nhất thúc đẩy sức sáng tạo, cụ thể như: (1) Chính phủ tăng đầu
tư vào khoa học, đặc biệt là khoa học cơ bản và công nghệ cao; (2) Chính phủ hỗ trợ doanh nghiệp có quyền sở hữu trí tuệ và khả năng sáng tạo độc lập, doanh nghiệp trọng điểm của các thương hiệu toàn cầu; (3) Chính phủ mua sắm hay trực tiếp tham gia chuyển giao công nghệ để hình thành quyền sở hữu trí tuệ độc lập quốc gia; (4) Tăng cường hệ thống pháp luật để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp; (5) Xây dựng chính sách đãi ngộ cán bộ khoa học, thu hút nhân tài; (6) Cho ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp đổi mới độc lập; (7) Cùng với các công ty mũi nhọn thiết lập viện nghiên cứu đặc biệt và quỹ phát triển sáng tạo Hỗ trợ cho doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm công nghệ cao; (8) Thay đổi hệ thống thi cử theo định hướng giáo dục sáng tạo, phát huy mạnh mẽ sự sáng tạo của những người trẻ tuổi
Kế hoạch dài hạn Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ (2006 – 2020) là thúc đẩy nghiên cứu, hợp tác đổi mới để tăng cường khả năng sáng tạo độc lập Đồng thời khẳng định các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học là lực lượng cơ bản trong đổi mới khoa học và công nghệ, có vai trò trọng yếu trong hệ thống sáng tạo quốc gia Để thực hiện chiến lược, Trung Quốc đã xây dựng hệ thống các khu vực có đặc trưng và ưu thế riêng như Zhongguancun - Bắc Kinh, Donghu - Vũ Hán, Zhangjiang - Thượng Hải, Hợp Phì trở thành khu vực kiểu mẫu nâng cao sức sáng tạo, tiến tới nhân rộng mô hình toàn quốc gia Dưới sự định hướng chiến lược quốc gia, một số doanh nghiệp đã từng bước được hình thành và phát triển các công nghệ cốt lõi của mình, một số kĩ thuật, công nghệ ở Trung Quốc đã vượt biên giới quốc gia và đứng đầu thế giới Trước suy thoái kinh tế toàn cầu làm tổn thương ngành công nghiệp xuất khẩu của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã khuyến khích các công ty địa phương và các công ty nước ngoài thiết lập các nhà máy ở Trung Quốc để cải thiện khả năng sáng tạo Điển hình như trong các ứng dụng bằng sáng chế mới, nhà sản xuất các thiết
bị viễn thông Huawei Technologies(3) đã trở thành một nhà thương hiệu toàn cầu; nhà sản xuất thiết bị viễn thông ZTE cũng đã vươn lên đứng thứ sáu thế giới trong lĩnh vực cung cấp điện thoại di động; Lenovo, Haier, TCL trong thời gian ngắn cũng đã trở thành một thương hiệu quốc tế nổi tiếng Thành tựu đổi mới độc lập đó đã khẳng định các doanh nghiệp là trụ cột của
sự đổi mới công nghệ, nếu năm 2001 trong danh sách xếp hạng 500 siêu máy tính mạnh nhất thế giới không có hãng nào của Trung Quốc, thế nhưng chỉ gần một thập kỷ sau Trung Quốc đã
có 61 trong tổng số 500 siêu máy tính, và hai trong số này đứng trong top 5 các siêu máy tính
nghiên cứu chiếm 19,7% số nhà nghiên cứu trên thế giới
(3) 20 năm trước, Huawei chỉ là một công ty nhỏ, với sự tăng cường đầu tư cho R & D, và văn hóa độc đáo của sự đổi mới, Huawei đã phá vỡ sự độc quyền của các hãng thiết bị truyền thông khổng lồ nước ngoài tại thị trường Trung Quốc
p.01
Trang 4Năm 2009, doanh nghiệp dẫn dắt hoặc tham gia trong chương trình hỗ trợ Quốc gia khoa học và công nghệ là 95%, chiếm hơn 60% trong tổng số 863 dự án lớn Các doanh nghiệp Trung ương đều thành lập cơ chế dài hạn để đảm bảo tăng trưởng ổn định đầu tư vào khoa học
và công nghệ, R & D Cũng trong năm 2009, Boston Consulting Group phát hành khảo sát báo cáo mang tên "30 quốc gia sáng tạo nhất của thế giới", xếp hạng đổi mới toàn cầu của các nước Trung Quốc xếp hạng 27 Viện Nghiên cứu Chiến lược Phát triển Công nghệ Trung Quốc trong năm 2011 phát hành "Chỉ số Đổi mới Quốc gia 2010" cho thấy chỉ số đổi mới của Trung Quốc 57,9, xếp hạng 21 trong 40 quốc gia lớn trên thế giới Trung Quốc chiếm tỷ lệ 12,3% trong tổng chi phí R & D trên thế giới trong năm 2010, chỉ sau Hoa Kỳ Trung Quốc phát minh, ứng dụng, bằng sáng chế trong năm 2008 đạt 20,3 triệu USD, đứng thứ ba sau Mỹ và Nhật Trong nghiên cứu của giáo sư Winter(5) , giáo sư đã rút ra bốn nét đặc trưng về cách thức người Trung Quốc đổi mới: đổi mới tại chỗ; đổi mới để giảm chi phí; đổi mới phù hợp; và đổi mới sản phẩm nhanh chóng Nhìn chung, các doanh nghiệp Trung Quốc trên bề mặt sức sáng tạo thực sự đã đạt được những tiến bộ đáng kể, và một số thậm chí đạt mức độ tiên tiến trên thế giới Tuy nhiên, theo thông báo tổng điều tra kinh tế của Trung Quốc trên quy mô tổng số doanh nghiệp, chỉ có 11,9% hoạt động khoa học và công nghệ, trong đó chỉ có 38,4% các doanh nghiệp lớn và vừa để phát triển khoa học và công nghệ; chi tiêu nghiên cứu doanh nghiệp R & D tài trợ là chỉ
có 0,71% các doanh thu bán hàng(6) Nhiều nhà nghiên cứu cho dù tham gia vào công tác nghiên cứu và phát triển, nhưng cũng chủ yếu hướng vào nghiên cứu lý luận cơ bản, vì vậy vẫn chưa gắn liền với doanh nghiệp và thị trường
Trung Quốc coi vấn đề cốt lõi là nỗ lực cải thiện khả năng sáng tạo công nghệ, thừa nhận sức sáng tạo không chỉ bao gồm vật chất mà bao gồm cả các yếu tố phi vật thể như: văn hóa doanh nghiệp, cơ chế ra quyết định, phân cấp doanh nghiệp coi đó là điều kiện để các doanh nghiệp tồn tại và phát triển, đây là yếu tố quyết định và cách duy nhất
II Sức sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam: một số suy nghĩ và đề xuất
1 Hiện trạng năng lực sáng tạo của các doanh nghiệp Việt Nam
Hiện nay Việt Nam có khoảng 400.000 DN đang hoạt động, trong đó hơn 90% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhiều ngành sản xuất chủ yếu vẫn là gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng không cao Nhưng cốt lõi vấn đề là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều đang sử dụng loại công nghệ lạc hậu từ 3-4 thế hệ so với công nghệ mới hiện nay Bộ Khoa học và Công nghệ đã thẳng thắn thừa nhận, Việt Nam đang tụt hậu rất xa so với các nước Theo báo cáo của Bộ Khoa học
( 5 )
Professor Winter Nie is Professor of Operations and Service Management at IMD She teaches on Orchestrating Winning Performance and Managing the Global Supply Chain
03
Trang 5và Công nghệ trình Chính phủ: năng suất công nghiệp phần mềm của Việt Nam khoảng 10.000USD/người/năm, ở Trung Quốc vào khoảng 14-18.000USD và ở Mỹ, là 140.000USD/người/năm, đủ thấy sự tụt hậu của Việt Nam sau các nước đến cỡ nào Trong công nghiệp chế tạo, tỷ trọng nhóm sản phẩm công nghệ thấp chiếm 60%, công nghệ cao chỉ chiếm trên 20%; đóng góp GDP của nhóm sản phẩm công nghệ cao chỉ bằng 5,73% GDP và
Nam chủ yếu là nhập ngoại, mỗi năm Việt Nam bỏ ra trên 10-15 tỷ USD mua máy móc, thiết, trong khi đó, mức đầu tư, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam rất thấp, chỉ chiếm khoảng 0,2- 0,3% doanh thu của doanh nghiệp Tỷ lệ này ở Ấn Độ là khoảng 5%, Hàn Quốc là 10%
Ở các nước phát triển, cộng đồng doanh nghiệp là nhà đầu tư lớn nhất cho hoạt động khoa học, công nghệ, đặc biệt là công tác nghiên cứu và thương mại hóa kết quả Ở Việt Nam lại khác, khoảng 70% kinh phí cho hoạt động khoa học, công nghệ vẫn là từ ngân sách quốc gia Điều tra của Tổng cục Thống kê thực hiện trong giai đoạn 2007-2010 cho thấy thực trạng là chỉ
có 0,2% doanh nghiệp trả lời về tình hình đầu tư cho khoa học, công nghệ Trong số 509/290.767 DN trả lời trong năm 2010 thì chi phí bình quân của mỗi đơn vị dành cho khoa học, công nghệ là khoảng 5 tỷ đồng, chiếm 2,8% nguồn vốn của doanh nghiệp Khoản ngân sách 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho khoa học, công nghệ được cho là sử dụng kém hiệu quả Ngay cả bản thân các doanh nghiệp FDI cũng thường là doanh nghiệp sản xuất gia công, lắp ráp và dựa trên thiết kế sản phẩm đã có, công nghệ phổ biến Đáng chú ý là, rất hiếm có doanh nghiệp FDI nào lại đặt tổ chức nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam Tài sản mềm mang giá trị quan trọng nhất trong lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế tương lai, đó là tài sản con người; thương hiệu quốc gia; vị thế trên thị trường; văn hóa doanh nghiệp; phải nói chúng ta hầu như chưa có gì, ví dụ như tài sản con người: hai yếu tố tạo mũi nhọn cho đội ngũ nhân lực là sáng tạo và năng động, mặc dù chúng ta tự hào về số lượng nguồn nhân lực, dẫn đầu ASEAN về tiềm lực con người, nhưng còn chất lượng? Công ty Intel đã không tìm ra đủ
180 nhân viên cho nhà máy 1 tỷ đô la ở Thủ Đức và phải nhập khẩu từ Malaysia và Philippines
về Nếu như năm 2011 trên Bảng chỉ số đổi mới/sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index )Việt Nam đứng trên mức trung bình - đứng thứ 51 trong 125 nước Thì năm 2012 lại tụt xuống thứ 76 trên 141 nước!
Bảng: thứ bậc, điểm đánh giá chỉ số đổi mới /sáng tạo
Năm
Số
nước
Điểm cao nhất
Điểm Bậc Điểm Bậc Điểm Bậc Điểm Bậc
Trang 6
2008 153 5.8 2.38 65 3.47 26 4.1 7 3.01 34
(nguồn: Bộ Khoa học Công nghệ - Báo Tia sáng)
Bên cạnh những hạn chế chưa khắc phục được, cũng cần thừa nhận rằng từ khi thực hiện đổi mới đến nay, nhất là giai đoạn sau hội nhập WTO sức sáng tạo của Việt Nam tăng lên rõ rệt, dần khẳng định thương hiệu của mình, đi đầu là lĩnh vực công nghệ thông tin với chiến lược nhằm tạo năng lực công nghệ đủ mạnh để đảm bảo tính cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực
Ví dụ, như Viettel được đánh giá là mạng di động có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới, đứng thứ 24/746 nhà khai thác dịch vụ di động toàn thế giới về thuê bao và thứ 4 trong số 51
tìm kiếm tiếng Việt; Bkis, phần mềm Bkav đã chiếm lĩnh được thị trường nội địa; công ty robot TOSY đã xuất khẩu đồ chơi đĩa bay sang Nhật, Mỹ, và châu Âu dựa trên sáng chế riêng của mình Thực hiện Nghị định số 80/2007/NĐ-CP, ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đến nay số lượng các tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã chiếm hơn 80%, số lượng doanh nghiệp đủ điều kiện để công nhận là doanh nghiệp khoa học công nghệ khoảng 2000, trong đó số doanh nghiệp khởi nguồn từ các viện
sáng tạo của các tổ chức khoa học công nghệ Ở thể chế đổi mới chúng ta có ưu thế, chế độ XHCN có lợi thế về ổn định chính trị tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập của các lực lượng và nguồn lực để thúc đẩy hệ thống sáng tạo Hơn nữa thực tiễn gần 30 năm cải cách thể chế tiến bộ, ổn định, đã tạo nên “quán tính” tiến về phía trước Nhưng thông tin tốt nhất là từ Trung ương đến địa phương, người dân đã và đang tập trung nâng cao sức sáng tạo của quốc gia, điều đó làm sâu sắc thêm sự đồng thuận của tiến trình đổi mới - sáng tạo
2 Những nguyên nhân chủ yếu
2.1 Thiếu đầu tư cho R&D
Hoạt động R&D ở Việt Nam hiện chủ yếu tập trung trong lĩnh vực công nghệ thông tin Mặc dù R & D chi phí tăng năm theo năm, nhưng nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp chịu tác động hạn chế của cơ chế cũ, các doanh nghiệp chưa trở thành chủ thể đầu tư
Tạp chí Cộng sản, số 64, p.38)
Trang 7hoàn toàn của R&D, vẫn chủ yếu tồn tại bằng tái sản xuất mở rộng, do vậy thường không đi kèm cách thức nâng cao sức sáng tạo sản phẩm mới, công nghệ tự chủ mới Cộng đồng doanh nghiệp quốc tế nói chung tin rằng chi phí R & D đạt hơn 5% của thu nhập bán hàng thì các doanh nghiệp có đủ sức cạnh tranh, nếu chỉ 2% thì chỉ đủ sức duy trì, trong khi ít hơn 1% thì doanh nghiệp sẽ khó mà tồn tại Năm 2007, Nhật Bản đầu tư cho R&D là 3,4% GDP, Hàn Quốc là 3,3% Trong khi đó Mỹ 2,5 %, Đức 2,4% Singapore 1,1% Trung Quốc đầu tư vào R&D mới chỉ chiếm 1,54% GDP năm 2008 và hiện nay đã phấn đấu tăng lên 2,2% GDP Nhưng ở Việt Nam, khoản đầu tư cho lĩnh vực này quá khiêm tốn, chiếm 0,1- 0,2% GDP
Các doanh nghiệp Việt Nam (nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ) chưa coi vấn đề R&D cùng với vấn đề thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ là trở ngại lớn cho sự phát triển bền vững của mình Chương trình hỗ trợ hỗ trợ đầu tư trực tiếp R&D cho doanh nghiệp còn ít, mà hầu hết kinh phí R&D từ ngân sách nhà nước chủ yếu vẫn hướng sự hỗ trợ tới các trường học, viện nghiên cứu Hay chính sách hỗ trợ doanh nghiệp làm R&D bằng cách cho phép giữ lại 10% thu nhập trước thuế để đầu tư cho hoạt động R&D nhưng thực tế chưa hiệu quả Ví dụ như TP Hồ Chí Minh, theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố thì đến nay cũng chỉ có 31 doanh nghiệp lập được quỹ này Một thực tế là 95% doanh nghiệp Việt Nam thuộc diện nhỏ và siêu nhỏ, do vậy 10% lợi nhuận là quá nhỏ không đủ cho đầu tư đổi mới công nghệ, nói gì đến hoạt động R&D
2.2 Ý thức tự chủ sáng tạo của doanh nghiệp không cao
Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp sau cổ phần hóa tồn tại phổ biến quyền sở hữu không rõ ràng, không thể thích ứng với hiện trạng hoàn cảnh thay đổi không ngừng, do vậy trong quản lý kinh doanh xảy ra hiện tượng “gặp sao hay vậy” Song song với nó là việc chạy theo lợi ích ngắn hạn, càng kích thích thêm hành vi trục lợi trong doanh nghiệp Thành quả của doanh nghiệp có quyền sở hữu trí tuệ độc lập của R & D không nhiều, do đó hạn chế niềm đam
mê, sự nhiệt tình ngay từ trong tư tưởng để nuôi dưỡng sự sáng tạo của cả nhà quản lý cũng như nhân viên Ngoài ra, rất nhiều giám đốc điều hành công ty, đặc biệt là quản lý cấp cao, thiếu lý thuyết và kinh nghiệm quản lý kinh doanh, nhất là trong môi trường kinh doanh quốc
tế nên không có một ý thức mạnh mẽ chấp nhận rủi ro, đồng thời đánh giá thấp sự sáng tạo, do vậy không thể thiết lập và nuôi cấy ý thức tự chủ sáng tạo trong tập thể doanh nghiệp
2.3 Thiếu tài năng sáng tạo
Đại đa số nguồn tài năng sáng tạo nằm trong các viện, trường đại học, nhưng việc liên kết viện, trường và doanh nghiệp vẫn còn hố rất sâu ngăn cách Việc thiếu các chuyên gia công nghệ của doanh nghiệp là một trở ngại nghiêm trọng cho sự đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam Hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa hoàn thiện chiến lược phát triển nguồn
Trang 8nhân lực và cơ chế quản lý Vì lý do lịch sử và thực tế, phần lớn các nhà lãnh đạo kinh doanh
và khả năng sáng tạo của nhân viên nói chung là thấp, sự thiếu hụt nghiêm trọng của nhân viên quản lý có trình độ đổi mới quan niệm lỗi thời, thiếu nhận thức về tinh thần sáng tạo, cơ chế dòng chảy tài năng và cơ chế khuyến khích chưa hoàn hảo Báo cáo của UNESCO cho thấy trong thời gian 2000 - 2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế Trong khi đó Nhật Bản đứng đầu với 46139 bằng sáng chế, kế đến là Hàn Quốc với 12262 bằng sáng chế, Trung Quốc được xếp thứ 8 với 3174 bằng sáng chế; Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore với 4.8 triệu dân có 647 bằng sáng chế Đứng thứ hai là Malaysia với 161 bằng sáng chế Trong khi đó, Việt Nam không có bằng sáng chế nào đăng kí ở Mỹ trong năm 2011(10)
2.4 Năng lực đổi mới công nghệ yếu
Không thể phủ nhận thực tế là công nghệ của Việt Nam rất lạc hậu, các thiết bị trọng điểm trong các doanh nghiệp đạt hoặc gần cấp độ quốc tế chỉ khoảng 10%, điều này cũng một phần do cơ chế kế hoạch hóa và chịu sự cấm vận lâu dài Do vậy, thiếu các điều kiện cần thiết cho sự đổi mới và theo kịp tiến bộ công nghệ hiện đại Ngoài ra, việc thực hiện các chính sách
có liên quan không được đầy đủ và đúng chỗ, hoàn cảnh thị trường không đạt tiêu chuẩn hóa dẫn đến nguy cơ rủi ro của các kênh đầu tư cao; cơ cấu, tổ chức nghiên cứu tách rời doanh nghiệp nên tính ứng dụng rất thấp; các doanh nghiệp thiếu các tổ chức nghiên cứu đổi mới, các
cơ chế trung gian không thể cung cấp dịch vụ tốt cho việc chuyển giao Theo nghiên cứu của Trường Quản lý Khoa học-Công nghệ, các doanh nghiệp Việt Nam mới dành 0,2-0,3% doanh thu cho đầu tư đổi mới công nghệ, trong khi chỉ số này ở Ấn Độ là 5% , Hàn Quốc là 10% Trong ba giai đoạn của chu trình phát triển công nghệ, doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu là tiếp thu công nghệ, chưa đạt được mục tiêu làm chủ và sáng tạo công nghệ Đáng lưu ý là có đến 57,7% doanh nghiệp Việt Nam không muốn mua công nghệ trong nước, tạo sự kìm hãm thúc đẩy sáng tạo công nghệ trong nước
3 Những nhân tố tác động đến năng lực sáng tạo tự chủ của doanh nghiệp
Từ những năm 50 của thế kỷ 20, cùng với việc không ngừng đẩy mạnh nghiên cứu đổi mới cả lý thuyết và thực hành, các học giả thế giới cũng bắt bắt đầu nghiên cứu và phân tích các yếu tố tác động, dẫn đến đến sự thành công hay thất bại của sự sáng tạo Rothwell (11) bắt đầu từ các dự án ở cấp độ doanh nghiệp, thông qua phân tích, thực nghiệm, ông tổng kết đề xuất thành 4 yếu tố xác định sự thành công hay thất bại của sức sáng tạo doanh nghiệp, bao gồm: văn hóa khuyến khích sự sáng tạo; khai thông các vấn đề của dự án; định hướng thị
(10)
Văn phòng thương hiệu và bằng sáng chế Mỹ (USPTO)
(11) William J Rothwell, Tiến sĩ, Chuyên gia nhân sự, là Chủ tịch của Rothwell & Associates, Inc Ngoài ra, ông còn là giáo
sư về phát triển nguồn nhân lực của Đại học Pennsylvania State, Hoa Kỳ.)
Trang 9trường mạnh mẽ; sự linh hoạt trong tổ chức Các điều tra, phân tích hoạt động nâng cao sức sáng tạo của doanh nghiệp Trung Quốc chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: yếu tố nội
bộ như, các bộ phận R & D, bộ phận marketing, hợp tác sản xuất, khả năng của các nhà quản lý, nhân viên, văn hóa doanh nghiệp ; Các yếu tố bên ngoài là, bối cảnh thị trường; người tiêu dùng; nhà cung cấp hợp tác, hợp tác với các trường đại học; dịch vụ tư vấn Do vậy, thực sự có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng, nhưng trong bối Việt Nam có thể khái quát bao gồm:
3.1 Tri thức
Nâng cao khả năng sáng tạo của doanh nghiệp là một quá trình tích lũy kiến thức, Do đó, tính chuyên dụng của kiến thức liên quan chặt chẽ đến hoàn cảnh môi trường cụ thể, có tác động rất lớn vào việc đổi mới doanh nghiệp Sử dụng nguồn tài nguyên tri thức của doanh nghiệp nó mang tính nguyên tắc hướng dẫn hành vi tổ chức, quy trình công nghệ, kỹ xảo nguồn tài nguyên tri thức bổ sung nguồn lực thông qua sự tích hợp vai trò của các bộ phận trong doanh nghiệp, hình thành khả năng thực thi nhiệm vụ đổi mới sản xuất Vì vậy đồng thời với việc mở rộng đầu tư sản xuất thì trình độ tri thức của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên, và qua đó doanh nghiệp có thể tối ưu hóa mục đích Tài nguyên kiến thức thông qua thiết kế công việc, luân chuyển nhiệm vụ trong nội bộ doanh nghiệp nó có tác dụng hữu hiệu trong việc truyền tải chính xác thông tin, do đó sẽ tối đa hóa việc tiếp cận với kiến thức mới, qua đó tăng nhanh vận xuất đổi mới Cạnh đó, nó cũng cho phép tăng cường tích lũy kiến thức trong toàn
bộ doanh nghiệp, tăng cơ hội học hỏi lẫn nhau giữa các thành viên, tăng sự phản hồi thông tin tích cực, để có thể tăng tốc độ cải tiến công nghệ, tạo thành quá trình sáng tạo liên tục, toàn diện Do vậy, việc sở hữu tri thức là then chốt để hình thành và đề cao sức sáng tạo của doanh nghiệp
3.2 Kỹ thuật, công nghệ
Công nghệ là phương tiện cơ bản của đổi mới sản xuất, kinh doanh, quá trình sáng tạo là quá trình thay đổi công nghệ và thực hiện công nghệ mới, các yếu tố cộng nghệ chủ yếu biểu hiện ở hai khía cạnh: tổng thể trình độ công nghệ của doanh nghiệp và cơ cấu công nghệ Tổng thể trình độ công nghệ bao gồm cả công nghệ vật chất và cơ cấu tổ chức và quản lý công nghệ
Nó sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình đổi mới kinh doanh Năng lực xử lý thông tin nhanh chóng của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp tìm thấy cơ hội sáng tạo kịp thời và chính xác Bố trí lực lượng và kết cấu công nghệ hợp lý mới cho phép doanh nghiệp phát huy sáng tạo; Tóm lại, trình độ công nghệ tổng thể, kết cấu công nghệ đều ảnh hưởng trực tiếp đến sức sáng tạo của doanh nghiệp Chỉ có khai thác đầy đủ và không ngừng nâng cao tiềm lực công nghệ, thông qua kết cấu hợp lý, phát huy các phương diện tích cực sáng tạo của nhân viên mới
có thể bảo đảm cung cấp công nghệ cho sức sáng tạo của doanh nghiệp
Trang 103.3 Thông tin
Người tiêu dùng là lực lượng góp phần quyết định đến sự hình thành sức sáng tạo của doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp là từ việc người tiêu dùng chấp nhận các sản phẩm hoặc dịch vụ của họ cung cấp Vì vậy, làm thế nào để nắm bắt được thông tin người tiêu dùng, hiểu và đáp ứng nhu cầu của người sử dụng đã trở thành mục tiêu của sự đổi mới cũng như mục đích theo đuổi của doanh nghiệp Tuy nhiên, hiểu biết chính xác về nhu cầu của người sử dụng không phải là dễ dàng, do mâu thuẫn giữa người sử dụng (khách hàng) nắm giữ thông tin
về nhu cầu của các sản phẩm và dịch vụ với các giải pháp kiểm soát doanh nghiệp (làm thế nào
để đáp ứng), vả lại nhu cầu thường rất phức tạp, tinh tế và thay đổi nhanh chóng Do vậy, các công ty phải luôn thông qua các kênh khác nhau để tìm cách thu thập thông tin về nhu cầu người sử dụng Quá trình sáng tạo sản phẩm là một quá trình thử-sai, người sử dụng trở thành nguồn thông tin để giảm bớt mâu thuẫn nói trên, do đó giảm bớt chi phí thực nghiệm, để đạt được tình huống cả hai đều có lợi (win-win) giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp Từ ý nghĩa này thì năng lực sáng tạo của doanh nghiệp thực sự gắn liền với khả năng thu thập thông tin từ người tiêu dùng
3.4 Tổ chức
Các nhân tố tổ chức như: cơ cấu bộ máy; chất lượng của đội ngũ nhân viên; văn hóa doanh nghiệp; khả năng ra quyết sách trong đó các doanh nhân là chủ thể cốt lõi của quá trình sáng tạo Từ ý thức đổi mới của bản thân, ý nghĩa riêng của nó là khả năng để tạo bầu không khí sáng tạo, ra quyết định, và cường độ của việc giám sát, đôn đốc có ảnh hưởng quan trọng vào thành công đổi mới hay không Trong suốt quá trình đổi mới, tổ chức của doanh nghiệp cần phải không ngừng hoàn thiện, Để đảm bảo rằng các thành viên làm công việc của mình trên
cơ sở hiểu biết lẫn nhau, hòa hợp, và phát huy sự nhiệt tình, tính tích cực của sự sáng tạo cá nhân trong môi trường cạnh tranh và lợi ích bình đẳng Chỉ có thiết lập việc đánh giá sáng tạo một cách hợp lý, mới có thể phát huy hết sức tính sáng tạo của mỗi cá nhân Vì vậy, yêu cầu cơ bản nhất là cải thiện môi trường tổ chức nội bộ cùng hệ thống khuyến khích sáng tạo, đồng thời nắm bắt lượng thông tin cơ bản để có thể ra quyết định hợp lý
3.5 Cơ chế và yếu tố hoàn cảnh bên ngoài
Môi trường, hoàn cảnh bên ngoài bao gồm cả môi trường thể chế, chính sách, pháp lý, thị trường, dịch vụ thông tin, môi trường nghiên cứu ứng dụng Nó không chỉ cung cấp các nguyên tắc hoạt động, mà quan trọng hơn là nó quyết định các phương thức hoạt động cụ thể, ảnh hưởng đến quyết định chính sách phân phối lợi ích cụ thể của doanh nghiệp với quốc gia
và doanh nghiệp với người lao động Như chính sách phân phối nó trực tiếp tác động khích thích hay hạn chế hành vi của người lao động; Xây dựng cơ cấu đầu tư chuyên biệt, các ưu đãi